Chém đầu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Xử trảm Sứ đồ Phaolô. Tranh vẽ của Enrique Simonet năm 1887

Chém đầu hay chặt đầu là sự tách đứt đầu ra khỏi cơ thể, trong hình phạt tử hình bằng hình thức chém đầu còn được gọi là xử trảm. Chặt đầu thường đề cập đến hành vi có chủ ý, ví dụ, như là một phương tiện giết người hoặc tử hình, nó có thể được thực hiện bằng đao, rìu, kiếm, dao, dây, hoặc bằng các phương tiện tinh vi hơn ví dụ như một máy chém. Trong lịch sử, sau khi xử trảm đôi khi còn kèm theo hình thức đem đầu treo ở chốn đông đúc để mọi người nhìn thấy (bêu đầu thị chúng). Người thực hiện hành động xử trảm được gọi là đao phủ hoặc đao phủ thủ.

Bị đứt đầu do tai nạn có thể bị gây ra bởi một tai nạn cháy nổ, tai nạn giao thông hoặc tai nạn lao động,[1] bị xử tử bằng hình thức treo cổ không đúng cách hoặc các chấn thương nặng khác. Tự sát bằng hình thức chặt đầu rất hiếm nhưng đã từng được biết đến.[2]

Chém đầu nhanh chóng gây tử vong cho con người và hầu hết các động vật khác vì não bộ sẽ chết trong vòng vài phút vì không có máu mang dưỡng khí lưu thông. Tuy nhiên, một số loài động vật và côn trùng (chẳng hạn như gián) có thể vẫn sống sau khi bị đứt đầu, nhưng sau đó lại chết vì đói.[3] Việc cấy ghép đầu thông qua nối các mạch máu đã thành công ở động vật,[4] tuy nhiên việc cấy ghép đầu người (để thành công hoàn chỉnh, cuộc cấy ghép phải nối được tủy sống, các cơ ở cổ và nhiều mô quan trọng khác) chưa được thực hiện thành công. Chặt đầu cũng có thể ám chỉ việc cắt đầu của một xác chết (để đem đầu thị chúng, hoặc khiến cho xác chết không thể nhận dạng hay để giữ lạnh xác chết,...).

Đôi khi việc loại khỏi vòng chiến người thủ lĩnh hoặc nhân tố lãnh đạo của một tổ chức cũng được miêu tả bằng từ "chặt đầu" hay các từ ngữ liên quan, ví dụ như "chiến lược chặt đầu" là chiến lược mà các đảng chính trị áp dụng nhằm huyền chức những thành viên cốt cán của các đảng địch thủ.[5]

Lịch sử áp dụng tại các quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Các thi thể tướng lĩnh bị chém đầu, tại Bắc Kinh, Trung Quốc, 1905

Tại Trung Quốc, chặt đầu đã được coi là một trừng phạt nặng hơn thắt cổ, mặc dù thắt cổ gây ra đau đớn kéo dài hơn. Điều này là bởi vì truyền thống Nho giáo cho rằng thân thể là món quà từ cha mẹ, và do vậy bị chặt đầu là thiếu tôn trọng đối với tổ tiên. Tuy nhiên Trung Quốc đã có những hình phạt khác, chẳng hạn như phanh thây. Ngoài ra, cũng có chém ngang lưng, đó là một phương pháp tử hình phổ biến trước khi bị bãi bỏ vào đầu triều đại nhà Thanh vì nó gây ra cái chết kéo dài. Trong một số câu chuyện, người ta không chết ngay lập tức sau khi bị chém đầu.[6][7][8][9]

Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

sĩ quan người Anh John Masters ghi lại trong cuốn tự truyện của mình rằng những người Pathan ở Ấn Độ thuộc Anh trong cuộc chiến Anh-Afghanistan sẽ chặt đầu các binh sĩ đối phương bị bắt, chẳng hạn như những người lính Anh và Sikh.[10][11][12][13]

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Một tù binh Úc bị bắt ở New Guinea, Sgt. Leonard Siffleet, sắp bị lính Nhật Bản chém đầu với một thanh kiếm shin guntō, 1943.

Tại Nhật Bản, chặt đầu là một hình phạt phổ biến, đôi khi chỉ vì những vi phạm nhỏ. Samurai thường được cho phép chém đầu lính đào ngũ, vì việc đó được coi là hèn nhát. Chặt đầu đã được thực hiện như bước thứ hai trong seppuku (mổ bụng tự sát). Sau khi nạn nhân đã tự mổ phanh bụng, một chiến binh sẽ chặt đầu họ từ phía sau với một thanh kiếm katana giúp người tự sát chết nhanh hơn và giảm đau đớn. Nhát chém đã được dự kiến ​​sẽ là đủ chính xác để giữ lại nguyên vẹn một dải da nhỏ ở phía trước cổ nhằm tránh gây khó xử cho những người chứng kiến phải thấy ​​một cái đầu bị lăn đi, hoặc rơi về phía người xem; nếu chặt rơi đầu sẽ bị coi là không hay. Nhát kiếm sẽ được thực hiện khi người tự sát tỏ ra một chút đau đớn và khóc nhằm tránh tiếng xấu cho người đó và những người chứng kiến nghi lễ tự sát này. Do cần kỹ năng tốt, chỉ có những chiến binh đáng tin cậy nhất mới được giao trách nhiệm chặt đầu. Trong thời kỳ hậu Sengoku, việc chặt đầu được thực hiện ngay sau khi người mổ bụng tự sát rạch một vết thương nhỏ trên bụng họ.

Chặt đầu (không mổ bụng) được coi là một hình thức trừng phạt rất nghiêm trọng và hạ cấp. Một trong những vụ chặt đầu tàn bạo nhất là của Sugitani Zenjubō (ja:杉谷善住坊), người đã ám sát hụt Oda Nobunaga, một daimyo nổi bật năm 1570. Sau khi bị bắt, Zenjubō đã bị chôn sống trong lòng đất chừa đầu ra ngoài, và cái đầu đã bị chặt từ từ bằng cưa tre do những người qua đường cưa trong vài ngày (trừng phạt bằng cưa; nokogiribiki ja:鋸挽き).[14] Những hình phạt khác thường này đã được bãi bỏ trong thời đại tiền Meiji. Cảnh khủng khiếp này được nhắc tới trong trang cuối cùng của tiểu thuyết "Shogun" của James Clavell.

Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lịch sử, chặt đầu đã từng là phương pháp tử hình phổ biến nhất thực hiện tại Triều Tiên, cho đến khi nó được thay thế bằng cách treo cổ vào năm 1896. Đao phủ chuyên nghiệp được gọi là mangnani (망나니) và là tầng lớp công dân thấp nhất.[15]

Thái Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Ở miền Nam Thái Lan, đã có ít nhất 15 trường hợp Phật tử đã bị chặt đầu vào năm 2005. Các quan chức Thái nghi ngờ những kẻ tấn công là một phần của lực lượng nổi dậy Hồi giáo Nam Thái Lan đang tìm cách tách riêng phần nam Thái Lan ra khỏi nước này.[16][17]

Syria[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng Hồi giáo nổi dậy (thường là các nhóm IS) thường xuyên thực hiện chặt đầu con tin.[18]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Máy chém dưới thời Ngô Đình Diệm. Hiện máy đang được trưng bày tại Bảo tàng TP. Cần Thơ, Việt Nam. Theo John Guinane, chỉ tính từ 1957 tới 1959, đã có hơn 2.000 người bị Việt Nam Cộng hòa hành quyết với tội danh ủng hộ những người cộng sản, thường là bằng máy chém[19]

Tại Việt Nam, hình thức xử tử bằng máy chém được thực hiện đến năm 1960 mới kết thúc.

Thời phong kiến, việc chém đầu được thực hiện bằng đao phủ cầm đao. Đến thế kỷ 19, máy chém được thực dân Pháp đưa sang từ cuối thế kỷ 19. Sau khi quân Pháp rút khỏi Việt Nam vào năm 1954, trại giam Hỏa Lò còn 4 cái.

Khởi nghĩa Yên Bái chống thực dân Pháp thất bại. Ngày 8 tháng 5 năm 1930, xảy ra vụ hành hình bằng máy chém bốn nhân vật quan trọng của cuộc khởi nghĩa Yên Bái: Đặng Văn Tiệp, Đặng Văn Lương, Nguyễn Thanh Thuyết, Ngô Hải Hoằng. Đến ngày 17 tháng 6 năm 1930, thêm 13 người nữa lên đoạn đầu đài: Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Bùi Tư Toàn, Bùi Văn Chuân, Đào Văn Nhít, Nguyễn Như Liên, Nguyễn Văn An, Nguyễn Văn Tiềm, Ngô Văn Du, Hà Văn Lao, Đỗ Văn Tư, Nguyễn Văn Cửu, Nguyễn Văn Thịnh. Trước khi lên máy chém, nhà cách mạng Nguyễn Thái Học đã đọc hai câu thơ, trong đó có câu "Chết vì Tổ quốc chết vinh quang".[20]

Việt Nam Cộng hòa thời Đệ nhất Cộng hòa đề ra đạo luật 10/59, theo đó người bị kết tội là theo chủ nghĩa cộng sản sẽ bị hành quyết bằng cách chém đầu[21]. Một máy chém như vậy được trưng bày ở Bảo tàng Chứng tích chiến tranh tại thành phố Hồ Chí Minh.[22] Theo một số nguồn, từ 1957 - 1959, đã có hơn 2.000 người bị Việt Nam Cộng hòa hành quyết với tội danh nổi loạn hoặc ủng hộ chủ nghĩa cộng sản, thường là bằng máy chém[23]

Ba Cụt (1923-1956) là thủ lĩnh quân sự của giáo phái Hòa Hảo, ly khai lại chính quyền của Thủ tướng Ngô Đình DiệmQuân đội Quốc gia Việt Nam vào những năm 1954-1956. Ông sau đó bị bắt sống và cũng bị xử tử bằng máy chém.

Người Việt Nam cuối cùng bị hành quyết bằng máy chém là Hoàng Lê Kha, Tỉnh ủy viên Đảng bộ Tây Ninh.[24] Ông bị hành quyết ngày 12 tháng 3 năm 1960 theo đạo luật 10/59. Sau vụ hành hình Hoàng Lê Kha, chính quyền Việt Nam Cộng hòa không còn sử dụng công cụ này nữa.[25]

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Xem Isadora Duncan
  2. ^ “Guillotine death was suicide”. BBC News. Ngày 24 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2008. 
  3. ^ Fact or Fiction?: A Cockroach Can Live without Its Head: Scientific American
  4. ^ Roach, Mary (2004). Stiff: The Curious Lives of Human Cadavers. W.W. Norton & Co. tr. 208. ISBN 0-393-32482-6. 
  5. ^ Carlin, Brendan; David Sapsted (ngày 4 tháng 5 năm 2005). “Defiant Kennedy takes 'decapitation' strategy into Tory heartland”. The Telegraph (London). Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2008. 
  6. ^ 原來斬頭係唔會即刻死既(仲識講野)中國有好多斬頭案例!!
  7. ^ “无头人”挑战传统医学 人类还有个“腹脑”?
  8. ^ 福州晚報
  9. ^ 换人头
  10. ^ John Masters (1956). Bugles and a tiger: a volume of autobiography. Viking Press. tr. 190. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2011. 
  11. ^ Michael Barthorp, Douglas N. Anderson (1996). The Frontier ablaze: the North-west frontier rising, 1897-98. Windrow & Greene. tr. 12. ISBN 1-85915-023-3. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2011. 
  12. ^ John Clay (1992). John Masters: a regimented life. the University of Michigan: Michael Joseph. tr. 62. ISBN 0-7181-2945-8. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2011. 
  13. ^ John Masters (ngày 13 tháng 6 năm 2002). Bugles and a Tiger. Cassell Military (ngày 13 tháng 6 năm 2002). tr. 190. ISBN 0-304-36156-9. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2011. 
  14. ^ [1] Asahi Dictionary of Japanese Historical Figures
  15. ^ Doosan Encyclopedia
  16. ^ “Buddhist decapitated in Thailand”. Herald Sun. Ngày 26 tháng 7 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008. 
  17. ^ “Man beheaded, two shot dead the man was later found in a shallow grave.”. News Limited. Ngày 14 tháng 10 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008. 
  18. ^ “Syrian Rebels used a child to behead a prisoner”. Human Rights Investigation. Ngày 12 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2013. 
  19. ^ “Where Have All the Flowers Gone”. Google Books. Truy cập 4 tháng 10 năm 2015. 
  20. ^ Cổng giao tiếp điện tử Yên Bái
  21. ^ Mrs Nguyen Thi Dinh; Mai V. Elliott (1976). No Other Road to Take: Memoir of Mrs Nguyen Thi Dinh. Cornell University Southeast Asia Program. tr. 27. ISBN 087727102X. 
  22. ^ Farrara, Andrew J. (2004). Around the World in 220 Days: The Odyssey of an American Traveler Abroad. Buy Books. tr. 415. ISBN 074141838X. 
  23. ^ “Where Have All the Flowers Gone”. Google Books. Truy cập 4 tháng 10 năm 2015. 
  24. ^ Saigon guillotine
  25. ^ Bất khuất Hoàng Lê Kha