Đế quốc Tây Ban Nha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đế quốc Tây Ban Nha

  • Imperio Español
  • Monarquía universal Española
  • Monarquía Hispánica
1492–1975
Quốc kỳ Đế quốc Tây Ban Nha
Quốc kỳ
Khẩu hiệu: "Plus ultra" (tiếng Latinh)
"Mở rộng hơn nữa"
Lãnh thổ trên toàn thế giới trong đó bao gồm từng là lãnh thổ quân chủ Tây Ban Nha và Đế quốc.
Lãnh thổ trên toàn thế giới trong đó bao gồm từng là lãnh thổ quân chủ Tây Ban Nha và Đế quốc.
Địa vịĐế chế Thiên chúa[1]
Thủ đôMadrid (1561–1601, 1606–1975) Valladolid (1601–1606)
Ngôn ngữTiếng Tây Ban Nha
Tôn giáo
Thiên chúa giáo
Vua 
Lịch sử 
1402–1496
• Tây Ban Nha đổ bộ tới châu Mỹ
năm 1492
1512
1580–1640
1808–1833
10 tháng 12 năn 1898
• Rút khỏi Sahara thuộc Tây Ban Nha
năm 1975
Tiền thân
Kế tục
Vương quyền Castile
Vương quyền Aragon
Vương quốc Granada
Vương quốc Navarre
Hà Lan Burgundy
Công quốc Giáo phận Utrecht
Đế quốc Aztec
Đế quốc Inca
Văn minh Maya
Thổ dân châu Mỹ
Vương quốc Tondo
Liên hiệp Madja-as
Louisiana (Tân Pháp)
Tây Ban Nha
Đệ nhất Đế quốc México
Đại Colombia
Các tỉnh thống nhất Río de la Plata
Chile
Bolivia
Bảo hộ Peru
Đệ Nhất Cộng hòa Philippines
Guinea Xích đạo
Cộng hòa Dân chủ Ả Rập Sahrawi
Louisiana (Tân Pháp)
Lãnh thổ Florida
Chính phủ Quân sự Hoa Kỳ tại Cuba
Puerto Rico
  Lãnh thổ bị mất do Hiệp ước Utrecht-Baden (1713–1714).
  Lãnh thổ bị mất do Chiến tranh độc lập Châu Mỹ khỏi Tây Ban Nha (1808–1833).
  Lãnh thổ bị mất do Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ (1898–1899).
  Lãnh thổ cấp độc lập do Phi thực dân hóa Châu Phi (1956–1976).
  Lãnh thổ hiện quản lý bởi Tây Ban Nha.

Đế quốc Thực dân Tây Ban Nha (tiếng Tây Ban Nha: Imperio español) là một trong những đế quốc lớn nhất thế giới và là một trong những đế quốc toàn cầu đầu tiên trên thế giới. Đạt tới thời kỳ cực thịnh về quân sự, quyền lực chính trị và kinh tế dưới vương triều Habsburgs Tây Ban Nha, trong thế kỷ 16 và 17, có phạm vi rộng nhất dưới vương triều Bourbon, khi tích hợp với Đế quốc Bồ Đào Nha trong một hệ thống chung gọi là Liên minh Iberia, từ 1580 đến 1640. Đế quốc Tây Ban Nha trở thành siêu cường trong thời gian đó và là đế quốc đầu tiên được gọi là "đế quốc mặt trời không bao giờ lặn".

Vào thế kỷ thứ 15 và 16 Tây Ban Nha là quốc gia tiên phong cho phong trào thám hiểm thế giới và chủ nghĩa bành trướng thuộc địa của châu Âu cũng như tiên phong trong việc mở các lộ trình giao thương qua đại dương, với việc thông thương phát triển nở rộ qua Đại Tây Dương giữa Tây Ban Nha với Mỹ và qua Thái Bình Dương giữa Châu Á - Thái Bình Dương với México qua Philippines. Những người Tây Ban Nha đi khai phá thuộc địa đã lật đổ những nền văn minh Aztec, Inca, Maya và tuyên bố chủ quyền với một dải đất bao la ở BắcNam Mỹ. Trong một khoảng thời gian, đế chế Tây Ban Nha thống trị các đại dương nhờ hạm đội tàu giàu kinh nghiệm, một sức mạnh bậc nhất toàn cầu, và họ thống trị những chiến trường ở châu Âu với một lực lượng bộ binh dày dạn và thiện chiến có tên là tercios. Tây Ban Nha trải qua thời kỳ vàng son về văn hóa trong thế kỷ 16 và 17.

Từ giữa thế kỷ 16, vàng và bạc từ các mỏ ở châu Mỹ đã tăng cường tiềm lực quân sự của Tây Ban Nha Habsburg trong một chuỗi các cuộc chiến tại châu Âu và Bắc Phi. Vào thế kỷ 17 và 18, đế chế Tây Ban Nha có được một lãnh thổ rộng lớn nhất trên thế giới, dù nó có trải qua sự biến động trong quân đội và tài sản kinh tế từ thập niên 1640. Phải đương đầu với kinh nghiệm và thử thách mới trong việc xây dựng đế chế, các nhà tư tưởng Tây Ban Nha đã công thức ra một vài ý tưởng tân tiến trong các đạo luật thiên nhiên, quyền tối cao độc lập, đạo luật quốc tế, chiến tranh và kinh tế - họ thậm chí đặt dấu hỏi về tính hợp pháp của chủ nghĩa đế quốc - liên quan đến những trường phái ý tưởng về tính tập thể như trường phái Salamanca.

Những bất đồng thường xuyên với các thế lực thù địch đã gây ra các cuộc chiến về lãnh thổ, giao thương và tôn giáo mà đã góp phần không nhỏ vào sự suy tàn dần dần của đế chế Tây Ban Nha từ giữa thế kỷ 17. Trên Địa Trung Hải, Tây Ban Nha thường xuyên giao chiến với đế quốc Ottoman, trên lục địa châu Âu, Pháp vươn lên với một sức mạnh tương đương. Ở bên ngoài, Tây Ban Nha ban đầu bị cạnh tranh bởi Bồ Đào Nha, rồi sau đó là AnhHà Lan. Thêm vào đó, các lực lượng phá rối dưới sự đỡ đầu của Anh, Pháp và Hà Lan cùng với việc phạm tội quá mức của quân đội Tây Ban Nha, sự tham nhũng gia tăng của chính phủ và sự đình trệ về kinh tế gây ra bởi các chi tiêu quân đội đã phần nào đóng góp cho sự đi xuống của đế chế này.

Đế chế Tây Ban Nha tại châu Âu đã không thể thực hiện được do hiệp ước Utrecht (1713), hiệp ước đã cắt bỏ những lãnh thổ còn lại của Tây Ban Nha ở Ý và các quốc gia thuộc vùng đất thấp. Tài sản của Tây Ban Nha tăng lên sau đó, nhưng nó vẫn duy trì là một sức mạnh thứ hai về chính trị tại lục địa châu Âu.

Tuy nhiên, Tây Ban Nha duy trì và mở rộng đế chế bên ngoài của nó cho đến thế kỷ 19, cú sốc của cuộc chiến tranh bán đảo đã tạo nên một làn sóng tuyên bố độc lập tại Quito (1809), Colombia (1810), VenezuelaParaguay (1811) đồng thời các cuộc cách mạng liên tiếp nổ ra đã cướp đi các thuộc địa của đế chế tại Đại Lục Châu Mỹ. Tây Ban Nha cố gắng duy trì những mảnh vụn của đế chế tại vùng Caribbean (CubaPuerto Rico); Châu Á (Philippines), và Châu Đại Dương (Guam, Micronesia, Palau, và Quần đảo Bắc Mariana) cho đến tận chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ nổ ra năm 1898. Sự tham gia của Tây Ban Nha trong cuộc tranh chấp châu Phi là rất nhỏ; vùng Maroc Tây Ban Nha (thuộc địa Maroc của Tây Ban Nha) được duy trì cho đến năm 1956, Guinea Tây Ban Nha và Sahara Tây Ban Nha được duy trì cho đến năm 1968 và 1975. Quần đảo Canaria, Ceuta, Melilla là những khu vực hành chính hiện vẫn là một phần của Tây Ban Nha trong khi Isla de Alborán, Isla Perejil, Islas Chafarinas, Peñón de Alhucemas, và Peñón de Vélez de la Gomera vẫn là các lãnh thổ thuộc Tây Ban Nha. Và theo UN, "Sahara Tây Ban Nha/Tây Sahara" hiện vẫn dưới sự điều hành của Tây Ban Nha.

Định nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

"Đế quốc Tây Ban Nha" thường có nghĩa là các thuộc địa hải ngoại của Tây Ban Nha ở Mỹ, Thái Bình Dương và các nơi khác. Nhưng không rõ phần nào của Đế quốc Tây Ban Nha phải có. Ví dụ, theo truyền thống, các khu vực như Lowland được đưa vào vì chúng thuộc về Quốc vương Tây Ban Nha, được cai trị bởi các quan chức Tây Ban Nha và được duy trì bởi các lực lượng Tây Ban Nha. Nhưng nhà sử học người Anh Henry A. Kamen đã viết rằng những khu vực này chưa bao giờ là một phần của nhà nước "Tây Ban Nha" và thay vào đó là khu vực Habsburg trước đây rộng hơn. Do đó, nhiều nhà sử học sử dụng thuật ngữ "Habsburg" và "Tây Ban Nha" khi thảo luận về vương quốc Carlos I hoặc Felipe II. Chỉ từ quan điểm của "Anglosakson" là quan điểm này là chính xác, với tất cả các hậu quả của nó, rằng Quốc gia thấp là một phần của Tây Ban Nha trong thời kỳ này.

Bồ Đào Nha bị chiếm giữ bởi các lực lượng Tây Ban Nha và được kiểm soát bởi cùng một người cai trị trong sự thống nhất cá nhân, nhưng Bồ Đào Nha vẫn là một quốc gia riêng biệt. Đế quốc Bồ Đào Nha tiếp tục cai trị từ Lisbon trong thời gian này. Sau đó, có một sự làm chủ chung của Tây Ban Nha-Bồ Đào Nha một thời gian. Hai quốc gia này đôi khi được gọi là Đế quốc Tây Ban Nha-Bồ Đào Nha, nhưng hai quốc gia này không phải là một phần của một quốc gia.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Một phần của loạt bài về
Lịch sử Tây Ban Nha
Coat of Arms of Spain
Thời kỳ đầu
Iberia tiền sử
Hispania La Mã
Tây Ban Nha Trung cổ
Visigoth
Vương quốc Asturias
Vương quốc Suebi
Byzantine Spania
al-Andalus
Reconquista
Vương quốc Tây Ban Nha
Thời kỳ mở rộng
thời kỳ Khai sáng
Cộng hòa
Reaction and Revolution
Đệ nhất Cộng hòa Tây Ban Nha
Phục Hưng
Đệ nhị Cộng hòa Tây Ban Nha
Thời kỳ Franco
Nội chiến Tây Ban Nha
Tây Ban Nha thời Franco
Tây Ban Nha hiện đại
Chuyển sang chế độ dân chủ
Tây Ban Nha hiện đại
Các chủ đề
Lịch sử Kinh tế
Lịch sử Quân đội
Chủ đề Tây Ban Nha
Bài chi tiết: Lịch sử Tây Ban Nha

Thành lập (1402–1521)[sửa | sửa mã nguồn]

Sự thống nhất của các vương quốc Aragón, Castilla, LeonNavarre đã làm nên nền tảng của đất nước Tây Ban Nha hiện nay và Đế chế Tây Ban Nha. Tây Ban Nha đã trở thành một trong những quốc gia hùng mạnh hàng đầu châu Âu trong thế kỷ 16 và nửa đầu của thế kỷ 17, vị thế đó được tạo nên bởi thương mại phát triển và sự chiếm hữu thuộc địa. Tây Ban Nha đã vươn tới đỉnh cao dưới sự trị vì của hai vua đầu tiên của hoàng triều HabsburgCarlos I (1516-1556) và Felipe II (1556-1598).

Hệ thống thuộc địa ở đế chế Tây Ban Nha trải rộng khắp Trung MỹNam Mỹ, México, một phần lớn miền nam Hoa Kỳ, Philippines ở Đông Nam Á, bán đảo Iberia (trong đó có cả Bồ Đào Nha), miền nam Ý, đảo Sicilia và một số nơi ngày nay thuộc các nước Đức, Bỉ, LuxembourgHà Lan. Tây Ban Nha là đế quốc đầu tiên được gọi là đế quốc mặt trời không bao giờ lặn. Thời kỳ này được gọi là Kỷ nguyên Khai phá với việc các nước châu Âu đi chiếm thuộc địa, mở ra các trung tâm buôn bán. Cùng với nguồn kim loại, hương liệu, các mặt hàng xa xỉ phẩm mang về từ thuộc địa, các nhà thám hiểm Tây Ban Nha và châu Âu đã mang về rất nhiều kiến thức, làm thay đổi cách nhìn của người châu Âu về thế giới.

Thời đại hoàng kim của Tây Ban Nha: Ngày của đế quốc (1521–1643 TK 16-17)[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thế kỉ 16 và thế kỉ 17, Tây Ban Nha cũng bắt đầu đối mặt với nhiều khó khăn. Đầu thế kỉ 16, bọn cướp biển Barbary hung hãn dưới sự bảo hộ của đế quốc Ottoman đã đột kích vào những vùng ven biển của Tây Ban Nha, với âm mưu lập ra các vùng đất Hồi giáo mới. Thời gian này, những cuộc chiến tranh giữa Tây Ban Nha và Pháp cũng thường nổ ra tại Ý và một vài nơi khác. Tiếp đó, phong trào cải cách tôn giáochâu Âu đã khiến đất nước rơi vào bãi lầy của những cuộc chiến tranh tôn giáo.

Giữa thế kỉ 17, những dấu hiệu của sự căng thẳng tại châu Âu ngày càng lộ rõ. Triều đại Habsburg ở Tây Ban Nha đã liên tiếp vướng vào những cuộc xung đột về chính trị, tôn giáo, gây ra nhiều hậu quả về kinh tế. Tây Ban Nha đã giúp đỡ Đế quốc La Mã Thần thánh chống lại những người theo Đạo Tin lành. Nhưng Tây Ban Nha sau đó lại phải công nhận quyền độc lập của Bồ Đào NhaHà Lan, từ bỏ một số vùng đất cho Pháp. Từ năm 1640, Tây Ban Nha ngày càng suy yếu dần.

Cuộc tranh luận về quyền kế thừa ngôi báu đã nổ ra vào những năm đầu của thế kỷ 18. Cuộc chiến tranh về quyền thừa kế đã nổ ra tại Tây Ban Nha (1701-1714) với cái giá phải trả là Tây Ban Nha đã mất đi vị trí là một cường quốc ở khu vực. Vương triều Bourbon Pháp đã lên thay thế. Vị vua Bourbon đầu tiên là Felipe V đã thống nhất đất nước dưới một chính quyền tập trung, thủ tiêu rất nhiều đặc quyền đặc lợi của quý tộc địa phương. Thế kỉ 18 chứng kiến sự phục hồi dần dần và sự thịnh vượng đã quay trở lại Tây Ban Nha dưới triều đại Bourbon. Những ý tưởng của Thời kỳ Khai sáng đã phát huy tác dụng. Vào cuối thế kỉ 18, thương mại tăng trưởng nhanh chóng. Sự giúp đỡ quân sự đối với các thuộc địa Anh trong cuộc Chiến tranh giành độc lập Bắc Mỹ đã cải thiện vị thế quốc tế của Tây Ban Nha.

Habsburg thuộc Tây Ban Nha 1516–1700[sửa | sửa mã nguồn]

Đế quốc Tây Ban Nha (bao gồm các lãnh thổ được yêu sách) và các lãnh thổ Habsburg của Tây Ban Nha (bao gồm cả các lãnh thổ được quản lý trong thời gian Liên minh Iberia)

Thời kỳ từ thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ 17 được gọi là "Thời đại hoàng kim của Tây Ban Nha" (theo tiếng Tây Ban Nha, Siglo de Oro). Là kết quả của chính trị hôn nhân của các Quốc vương Công giáo (tiếng Tây Ban Nha, Reyes Católicos), cháu trai Habsburg của họ Charles đã thừa kế đế chế Castilian ở Mỹ, Vương quốc Aragon ở Địa Trung Hải (bao gồm một phần lớn của nước Ý hiện đại), vùng đất ở Đức, các quốc gia thấp, Franche-Comté và Áo (điều này, cùng với phần còn lại của các lãnh địa Habsburg di truyền, gần như ngay lập tức được chuyển cho Ferdinand, anh trai của Hoàng đế).

  • Habsburgs đã theo đuổi một số mục tiêu:
  • Làm suy yếu sức mạnh của Pháp và chứa nó ở biên giới phía đông của nó
  • Bảo vệ châu Âu chống lại Hồi giáo, đáng chú ý là Đế chế Ottoman trong các cuộc chiến tranh Ottoman của Habsburg
  • Duy trì quyền bá chủ của Habsburg trong Đế chế La Mã thần thánh và bảo vệ Giáo hội Công giáo La Mã chống lại cuộc Cải cách Tin lành
  • Truyền bá (Công giáo) Kitô giáo đến người bản địa chưa được chuyển đổi của Thế giới mới và Philippines

Khai thác tài nguyên của châu Mỹ (vàng, bạc, đường) và giao dịch với châu Á (sứ, gia vị, lụa)

Không bao gồm các cường quốc châu Âu khác từ những tài sản mà nó tuyên bố ở Thế giới mới

Tây Ban Nha đã bắt gặp một thực tế đế quốc mà không tìm thấy lợi nhuận ngay từ đầu. Nó đã kích thích một số ngành thương mại và công nghiệp, nhưng các cơ hội giao dịch gặp phải bị hạn chế. Do đó, Tây Ban Nha bắt đầu đầu tư vào Mỹ với việc thành lập các thành phố, bởi vì Tây Ban Nha ở Mỹ vì lý do tôn giáo. Các vấn đề bắt đầu thay đổi vào những năm 1520 với việc khai thác bạc quy mô lớn từ các mỏ giàu có của vùng Guanajuato của Mexico, nhưng đó là việc khai thác các mỏ bạc ở Zacatecas và Potosí của Mexico ở Thượng Peru (ngày nay là Bolivia) vào năm 1546. trở thành huyền thoại. Trong thế kỷ 16, Tây Ban Nha nắm giữ số tiền tương đương 1,5 nghìn tỷ đô la Mỹ (năm 1990) bằng vàng và bạc nhận được từ Tây Ban Nha mới. Những hàng nhập khẩu này đã góp phầnlạm phát ở Tây Ban Nha và châu Âu từ những thập kỷ cuối của thế kỷ 16. Việc nhập khẩu bạc lớn cũng khiến các nhà sản xuất trong nước không bị cạnh tranh và cuối cùng khiến Tây Ban Nha phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu thô và hàng hóa sản xuất của nước ngoài. "Tôi đã học được một câu tục ngữ ở đây", một du khách người Pháp năm 1603 nói: "Mọi thứ đều thân yêu ở Tây Ban Nha ngoại trừ bạc". Các vấn đề gây ra bởi lạm phát đã được thảo luận bởi các học giả tại Trường Salamanca và trọng tài. Sự phong phú tài nguyên thiên nhiên đã gây ra sự suy giảm trong tinh thần kinh doanh vì lợi nhuận từ việc khai thác tài nguyên ít rủi ro hơn. Những người giàu có thích đầu tư tài sản của họ vào nợ công (judos). Triều đại Habsburg đã dành sự giàu có của người Castilian và người Mỹ trong các cuộc chiến tranh trên khắp châu Âu thay cho lợi ích của Habsburg và tuyên bố lệnh cấm (phá sản) nhiều lần cho các khoản thanh toán nợ của họ. Những gánh nặng này đã dẫn đến một số cuộc nổi dậy trên khắp lãnh thổ của Habsburg của Tây Ban Nha, bao gồm cả vương quốc Tây Ban Nha của họ, nhưng các cuộc nổi loạn đã bị dập tắt.

Trận Pavia và Hòa ước Augsburg (1525–1555)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1525, Charles V đã đánh bại Pháp trong trận Pavia, khiến nhiều người Ý và Đức ngạc nhiên, và lo lắng rằng ông sẽ tiếp tục bành trướng. Chẳng bao lâu, Giáo hoàng Clementine VII củng cố sự ủng hộ của một số quốc gia thành phố quan trọng ở Pháp và Ý, và tuyên bố nhân danh Thiên Chúa rằng hiệp ước nghĩa trang được ký bởi Francois I và Charles V là không hợp lệ; Clementum VII cũng đã chủ động Đã tham gia vào cuộc chiến liên minh Cognac chống lại đế chế Habsburg (1526-1529). Charles V do đó giận dữ, với Charlie nhận được mệt mỏi Klein Meng Qishi can thiệp Pope ông tin rằng tôn giáo không có gì để làm với các giao dịch, vì vậy năm 1527 sự sụp đổ của Roma, các giáo hoàng xấu hổ. Kết quả là, sau khi Clay Meng Qishi và người kế nhiệm Đức Giáo Hoàng khi đối phó với lực lượng thế tục, đã trở nên thận trọng hơn, không trái với các vua của Tây Ban Nha. Năm 1529, Giáo hoàng và Charlie đã ký hiệp ước hòa bình ở Barcelona để thiết lập một mối quan hệ hài hòa hơn. Tây Ban Nha chính thức trở thành người bảo vệ Công giáo, và Charlie đã được Giáo hoàng lên ngôi Vua Ý (Bologna), bởi vì Giáo hoàng cần Tây Ban Nha của Charlie để gửi quân đội lật đổ Cộng hòa Florence tự duy trì. Năm 1533, Giáo hoàng Kelly VII đã từ chối để vua Henry VIII ly hôn, chủ yếu vì ông không muốn chọc giận Hoàng tử Charles V, và Rome lại một lần nữa bị cướp phá.

Năm 1522, Ferdinand Magellan người Bồ Đào Nha đã dẫn đầu một hạm đội Tây Ban Nha đi thuyền vòng quanh thế giới, qua đời ở Philippines. Juan Sebastian Elcano sẽ tiếp tục dẫn dắt công việc và làm cho chuyến đi thành công.

Năm 1528, Đô đốc nổi tiếng Andrea Doria và Allied League V đã thành lập một liên minh để đánh bại quân đội Pháp, tái độc lập ở Genova và cũng cho phép Charlie cải thiện các cơ hội tài chính. Cũng trong năm đó, ngân hàng Genova đã lần đầu tiên mượn Charlie.

Tây Ban Nha tích cực hơn trong việc thiết lập các thuộc địa ở Thế giới mới, thành lập New Granada (Colombia ngày nay) vào những năm 1530 và Buenos Aires vào năm 1536.

Trận Pavia năm 1525, Tây Ban Nha đã đánh bại Pháp và thành công như là cường quốc đầu tiên ở Tây Âu.

Tây Ban Nha đã ban hành luật để bảo vệ người dân bản địa của các thuộc địa Mỹ. Luật pháp đầu tiên được thành lập năm 1542. Ý nghĩa pháp lý của luật pháp đã trở thành cơ sở của luật pháp quốc tế hiện đại. Thông qua sự xa xôi của các thuộc địa, thực dân châu Âu cảm thấy nổi loạn khi quyền lực bị kiềm chế, và một số luật mới (Leyes Nuevas) bị bãi bỏ. Sau đó, một luật ít ràng buộc hơn đã được ban hành để bảo vệ thổ dân, nhưng hồ sơ cho thấy những luật này không đủ hiệu lực. Encomienda (Encomienda) tái lập, người da đỏ không được bảo vệ, thay vì được khai thác.

Năm 1543, vua Pháp Fulangsuowa tôi công bố lần đầu tiên với Ottoman Sultan Suleiman the Magnificent liên minh với quân đội Ottoman chiếm đóng thành phố ở Tây Ban Nha kiểm soát đẹp. Vua Henry VIII, mặc dù ly dị hạnh phúc của Charles V để ngăn chặn anh ta, nhưng không hài lòng hơn với Pháp, vì vậy với cuộc xâm lược của Charles V của Pháp với nhau. Mặc dù Tây Ban Nha ở Savoy 's chiến dịch Qieleisuolai chịu một thất bại lớn, nhưng người Pháp vẫn còn khó khăn để kiểm soát các mối đe dọa của Milan Tây Ban Nha, mà còn ở phía bắc đánh bại Henry VIII, do đó buộc phải chấp nhận điều kiện không thuận lợi. Ferdinand, em trai của Charles V, lãnh đạo quân đội Áo và tiếp tục chiến đấu với quân đội Ottoman ở phía Đông. Charlie đã giải quyết các vấn đề trong nước chưa được giải quyết, liên minh Schmalkalden của các giáo hoàng Luther của Đức và các quốc gia Tin lành khác.

Thế kỉ 19[sửa | sửa mã nguồn]

Bức tranh của danh họa Goya vẽ cuộc khởi nghĩa ngày 2 tháng 5 năm 1808

Cuối thế kỷ 18, Tây Ban Nha (cùng với Anh, Áo, đế quốc OttomanPhổ,...) giúp đỡ Hoàng gia Bourbon mất ngôi trong Chiến tranh Cách mạng Pháp chống lại nước Cộng hòa Pháp. Nhưng sự thất bại trên chiến trường đã dẫn đến việc vua Carlos IV(1788_1808) phải có những thỏa hiệp với nước Pháp cách mạng. Năm 1804, Đế chế thứ nhất được Hoàng đế Napoléon I của Pháp thành lập. Các cuộc chiến giữa Napoléon và Liên minh chống Pháp của Anh, Áo, Phổ,... xảy ra liên miên trong khi Tây Ban Nha bấy giờ về phe Pháp. Trong trận Trafalgar vào năm 1805, Hải quân Anh do Đô đốc Horatio Nelson thống lĩnh đập tan tác hạm đội hỗn hợp của Hải quân Tây Ban Nha và Pháp, và Đô đốc Tây Ban Nha bị thương chí mạng.[2] Sau đó, việc Tây Ban Nha rút khỏi Hệ thống phong tỏa Lục địa đã khiến Napoléon hết sức tức giận. Ông ta đã đem quân chiếm đóng và hạ bệ vua Carlos IV của Tây Ban Nha. Người dân Tây Ban Nha phản ứng rất mãnh liệt và quyết định ủng hộ con trai vua Carlos là Fernando. Ngày 2 tháng 5 năm 1808, cuộc khởi nghĩa giành độc lập người dân thủ đô Madrid bùng nổ, chống lại quân đội Pháp chiếm đóng.

Tây Ban Nha bị đặt vào vòng phong tỏa của Đế quốc Anh. Trong khi đó, các ủy ban hành chính tuyên bố ủng hộ Fernando, và họ mong có được nhiều quyền tự trị từ Madrid với một bản hiến pháp tự do. Năm 1812, Cádiz Cortes đã thành lập bản hiến pháp đầu tiên của nước Tây Ban Nha, Hiến pháp năm 1812 (19/3/1812) (còn có tên là La Pepa).

Quân đội Anh, dưới sự lãnh đạo của công tước Wellington, đã đánh bại quân đội Pháp ở bán đảo Iberia. Cuộc chiến tranh ở bán đảo Iberia có thể coi là cuộc chiến tranh du kích đầu tiên trong lịch sử cận đại Tây Âu. Những con đường tiếp tế của quân Pháp đã bị ngăn chặn và phá hủy bởi những chiến sĩ du kích Tây Ban Nha. Quân đội Pháp chính thức bị đánh bại trong trận Vitoria năm 1813, và đến năm sau, Fernando IV đã trở thành vua của Tây Ban Nha.

Sự xâm lược của Pháp đã để lại nhiều hậu quả tai hại cho Tây Ban Nha. Nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, các thuộc địa của Tây Ban Nha ở châu Mỹ Latinh đua nhau đòi độc lập, nước này chỉ còn lại mỗi hai thuộc địa ở châu Mỹ là CubaPuerto Rico.

Tấm bản đồ Tây Ban Nha năm 1850

Từ năm 1820-1823, một cuộc cách mạng đã diễn ra ở Tây Ban Nha đòi vua Fernando VII phải thực hiện bản Hiến pháp 1812, lãnh đạo bởi Rafael del Riego (1785_1823) và được người dân ủng hộ. Trước phong trào cách mạng, nhà vua đã phải thừa nhận bản hiến pháp và một số cải cách tư sản đã được tiến hành. Đến tháng 11 năm 1823, quân Bourbon của Pháp do Công tước của Angoulême chỉ huy đã theo lệnh của Liên minh Thần thánh tiến vào đàn áp, Riego bị xử tử.

Năm 1873, nền cộng hòa đầu tiên ở Tây Ban Nha được thành lập. Nhưng đến năm 1874, nền cộng hòa đã bị Nhà thờ Thiên chúa giáo La Mã đàn áp.

Vào cuối thế kỉ 19, những phong trào dân tộc bùng nổ ở CubaPhilippines, gây ra những cuộc chiến tranh đòi độc lập. Hoa Kỳ đã can thiệp vào các nước này và vào năm 1898, cuộc chiến tranh Hoa Kỳ-Tây Ban Nha bùng nổ. Kết quả là Tây Ban Nha đã mất nốt những thuộc địa cuối cùng của mình là Philippines, Guamchâu ÁCuba, Puerto Rico ở biển Caribbean.

Đầu thế kỉ 20[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu thế kỉ 20, tình hình Tây Ban Nha tương đối ổn định. Tây Ban Nha đã chiếm một số thuộc địa ở châu Phi như Tây Sahara, MarocGuinea Xích Đạo. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh nổ ra tại Morocco vào năm 1931 đã làm suy giảm ảnh hưởng của Tây Ban Nha tại các thuộc địa này. Khoảng thời gian cai trị độc tài của tướng Miguel Primo de Rivera (1923-1931) kết thúc với việc nền cộng hòa thứ hai được thành lập. Chính quyền cộng hòa đã trao quyền tự trị cho các vùng như xứ Basque, CataloniaGalacia, đồng thời công nhận quyền bầu cử của phụ nữ.

Năm 1936, cuộc nội chiến Tây Ban Nha bùng nổ giữa phe của viên tướng độc tài Francisco Franco, được sự ủng hộ của các nước phát xít ĐứcÝ với phe Cộng hòa, được 54 quốc gia trên thế giới ủng hộ, trong đó có Liên Xô. Song do nội bộ chính phủ Cộng hòa thiếu thống nhất nên lực lượng ngày càng yếu đi. Ngày 21 tháng 3 năm 1939, Franco chiếm được thủ đô Madrid, chính phủ Cộng hòa bị lật đổ. Franco thiết lập nền thống trị độc tài ở Tây Ban Nha và ông ta trở thành nguyên thủ của đất nước này cho đến khi mất. Cuộc Nội chiến ở Tây Ban Nha được coi là trận chiến mở màn cho Chiến tranh thế giới thứ hai sau đó. Dưới thời Franco, Tây Ban Nha giữ vai trò trung lập trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, nhưng vẫn ủng hộ cho phe Trục của các nước phát xít.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cierva, Ricardo de la (2010). Historia total de Espana / Total History of Spain. . Madrid: Editorial Fenix. ISBN 8488787618. 
  2. ^ Julia Ortiz Griffin, William D. Griffin, Spain and Portugal: a reference guide from the Renaissance to the present, trang 393