Felipe II của Tây Ban Nha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Felipe II / Philip II
Portrait of King Philip II of Spain, in Gold-Embroidered Costume with Order of the Golden Fleece.jpg
Hoàng phu nước Anh
Tại vị25 tháng 7 năm 1554- 17 tháng 11 năm 1558
Vua Tây Ban Nha
Tại vị16 tháng 1 năm 1556 - 13 tháng 9 năm 1598
&0000000000000042.00000042 năm, &0000000000000240.000000240 ngày
Tiền nhiệmCarlos I Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệmFelipe III Vua hoặc hoàng đế
Vua Anh và Ireland
Tiền nhiệmMary I
Kế nhiệmElizabeth I
Đồng trị vìMary I
Vua Bồ Đào Nha và Algarves
Tại vị16 tháng 4 năm 1581 - 13 tháng 9 năm 1598
&0000000000000017.00000017 năm, &0000000000000150.000000150 ngày
Tiền nhiệmHenrique
Kế nhiệmFelipe II
Thông tin chung
Phối ngẫuMaria Manuela của Bồ Đào Nha
Mary I của Anh Vua hoặc hoàng đế
Elisabeth của Valois
Anna của Áo
Hậu duệCarlos, Hoàng tử Asturias
Isabella Clara Eugenia, Nữ công tước Brabant
Catherine Michelle, Nữ công tước of Savoy
Ferdinand, Hoàng tử Asturias
Diego, Hoàng tử Asturias
Felipe III của Tây Ban Nha
Hoàng tộcNhà Habsburg
Thân phụCarlos I của Tây Ban Nha Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫuIsabella của Bồ Đào Nha
Sinh21 tháng 5 năm 1527
Valladolid, Tây Ban Nha
Mất13 tháng 9 năm 1598 (71 tuổi)
Madrid, Tây Ban Nha

Felipe II của Tây Ban Nha (tiếng Anh: Philip II of Spain; 21 tháng 5, 152713 tháng 9, 1598), cũng gọi Felipe Cẩn Trọng (Felipe el Prudente), là vua Tây Ban Nha từ năm 1556 đến năm 1598, đồng thời là Quốc vương của Vương quốc NapoliSicilia (từ năm 1554), Jure uxoris Quốc vương AnhIreland với tư cách là chồng của Nữ vương của Anh QuốcMary I từ năm 1554 đến 1558. Ông còn là Công tước của Milano và vương chủ của 17 tỉnh Hà Lan thuộc Habsburg từ năm 1556 đến 1581. Từ năm 1581, ông là Quốc vương của Bồ Đào NhaAlgarve với tư cách là Filipe I.

Ông cũng là người trị vì trên những lãnh thổ ở châu Mỹ của Tây Ban Nha như Tân Tây Ban NhaPeru. Đồng thời, ông kiểm soát được cả Vương quốc Sicilia, Công quốc Milan, và Franche-Comté, một vùng đất chiến lược quan trọng ở biên giới phía đông với vương quốc Pháp.

Trong thời kì trị vì của mình, ông đối mặt với vấn đề tài chính lớn khi liên tục vỡ nợ, phần nhiều là do Sự thề bỏ diễn ra năm 1581 tạo nên Cộng hòa Hà Lan. Với tư cách là một người sùng đạo Công giáo, Felipe II đã phát động chiến tranh chống lại Elizabeth I của Anh, một người biến nước Anh thành Anh giáo với giáo lý của Tin Lành, một giáo lý xúc phạm mạnh đến Felipe II. Đó là nguyên nhân hình thành Hạm đội Tây Ban Nha, và thất bại thảm hại.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Felipe là con trưởng của Carlos I của Tây Ban NhaIsabella của Bồ Đào Nha. Felipe sinh ra ở Valladolid, tại Palacio de Pimentel. Cuộc sống và tín ngưỡng ở triều đình Tây Ban Nha có ảnh hưởng đến ông rất lớn, khi từ nhỏ ông đã được giáo dục bởi Juan Martínez Siliceo, về sau thành Tổng giám mục Toledo, Tây Ban Nha. Sau đó, ông được theo học một nhà nghiên cứu khoa học xã hội nổi tiếng Juan Cristóbal Calvete de Estrella.

Mặc dù thông thạo Latinh, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, song Felipe chưa bao giờ có ý định trở thành một quân vương thông thạo đa ngôn ngữ như cha mình, Hoàng đế Carlos. Măc dù là một Đại công tước người Đức của nhà Habsburg, ông lại bị nhìn nhận như một người nước ngoài ở triều đình Thánh chế La Mã. Về phương diện này rất phức tạp, ông sinh ra ở Tây Ban Nha, lớn lên tại triều đình ở đấy, ngôn ngữ chính của ông cũng là Tây Ban Nha và ông có vẻ thích sống ở Tây Ban Nha hơn. Điều này cuối cùng khiến ông không thể kế vị hoàng vị của Thánh chế La Mã.[1]

Vào tháng 4 năm 1528, khi Felipe mới được 11 tháng tuổi, ông đã nhận được lời tuyên thệ trung thành từ Cortes của Castilla với tư cách là trữ quân. Kể từ đó cho tới lúc mẹ ông Isabella qua qua đời vào năm 1539, ông đã được nuôi dạy tại triều đình Castilla dưới sự chăm sóc của mẹ và một trong những người hầu gái người Bồ Đào Nha – Doña Leonor de Mascarenhas – mà Felipe cực kỳ gắn bó. Felipe cũng thân thiết với hai người em gái của mình, MaríaJuana cũng như hai tiểu đồng của ông, hai quý tộc người Bồ Đào Nha, Rui Gomes da SilvaLuis de Requesens, con trai của thống đốc Juan de Zúñiga. Hai người này sẽ phục vụ Felipe trong suốt cuộc đời của họ, cũng giống như Antonio Pérez, thư ký riêng của Felipe kể từ năm 1541.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ James Boyden; Europe, 1450 to 1789: Encyclopaedia of the Early Modern World.
  • Pettegree, Andrew (2002), Europe in the Sixteenth Century, Oxfor:Blackwell, ISBN 0-631-20704-X.
  • Henry Kamen, Philip of Spain (New Haven, Yale University Press, 1999) – the standard modern biographical source.
  • Glyn Redworth, "Philip (1527–1598)", Oxford Dictionary of National Biography, online edition, May 2011 Retrieved 25 Aug 2011
  • Pettegree, Andrew (2002). Europe in the Sixteenth Century. Oxford: Blackwell. ISBN 0-631-20704-X. .
  • Benton Rain Patterson, With the Heart of a King: Elizabeth I of England, Philip II of Spain & the Fight for a Nation's Soul & Crown (2007)
  • Rodriguez-Salgado, M.J. "The Court of Philip II of Spain". In Princes Patronage and the Nobility: The Court at the Beginning of the Modern Age, cc. 1450–1650. Edited by Ronald G. Asch and Adolf M. Birke. New York: Oxford University Press, 1991. ISBN 0-19-920502-7.
  • Geoffrey Parker, Imprudent King: A New Life of Philip II (2014).
  • Geoffrey Parker, The Grand Strategy of Philip II (New Haven, 1998).
  • Markus Reinbold, Jenseits der Konfession. Die frühe Frankreichpolitik Philipps II. von Spanien 1559–1571 (Stuttgart, Thorbecke, 2005) (Beihefte der Francia, 61).
  • Harry Kelsey, Philip of Spain, King of England: the forgotten sovereign (London, I.B. Tauris, 2011).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]