Bước tới nội dung

Juana I của Castilla

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Juana I của Castilla và Aragón
Nữ vương của CastillaLeón
Tại vị26 tháng 11, năm 1504
12 tháng 4, năm 1555
(50 năm, 137 ngày)
Đồng cai trịPhilipp I
Carlos I
Tiền nhiệmIsabel I Vua hoặc hoàng đếFernando V Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệmCarlos I Vua hoặc hoàng đế
Nữ vương của Aragón, Sicilia, Naples, ValenciaSardegna
Nữ Bá tước xứ Barcelona
Tại vị23 tháng 1, năm 1516
- 12 tháng 4, năm 1555
(39 năm, 79 ngày)
Cùng trị vìCarlos I Vua hoặc hoàng đế
Tiền nhiệmFerrando II Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệmCarlos I Vua hoặc hoàng đế
Nữ vương Navarra
Tại vị23 tháng 1 năm 1516 - 12 tháng 4 năm 1555
(39 năm, 79 ngày)
Tiền nhiệmFernando I Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệmCarlos IV Vua hoặc hoàng đế
Đồng trị vìCarlos IV Vua hoặc hoàng đế
Nữ vương Napoli
Tại vị23 tháng 1 năm 1516 - 24 tháng 7 năm 1554
(38 năm, 182 ngày)
Tiền nhiệmFerdinando III Vua hoặc hoàng đế
Đồng cai trịCarlo IV Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệmFilippo I Vua hoặc hoàng đế
Công tước phu nhân xứ Bourgogne
Tại vị20 tháng 10 năm 149625 tháng 9 năm 1506
(9 năm, 340 ngày)
Tiền nhiệmMaximilian của Áo
Kế nhiệmIsabel của Bồ Đào Nha
Thông tin chung
Sinh(1479-11-06)6 tháng 11 năm 1479
Toledo, Tây Ban Nha
Mất12 tháng 4 năm 1555(1555-04-12) (75 tuổi)
Tordesillas, Tây Ban Nha
An tángCapilla Real, Granada, Tây Ban Nha
Phối ngẫuPhilipp của Áo
Hậu duệ
Vương tộcNhà Trastámara
Nhà Habsburg (kết hôn)
Thân phụFerrando II của Aragón Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫuIsabel I của Castilla Vua hoặc hoàng đế

Juana I của Castilla và Aragón (tiếng Tây Ban Nha: Juana I de Castilla; tiếng Bồ Đào Nha: Joana I de Castela; tiếng Anh: Joanna of Castile; tiếng Đức: Johanna I. von Kastilien; tiếng Hà Lan: Johanna I van Castilië; 6 tháng 11 năm 147912 tháng 4 năm 1555), là Nữ vương của Vương quốc CastillaAragón.[1] Trong lịch sử Châu Âu, Juana được biết đến với biệt danh Juana, Bà Chúa Điên (Juana La Loca).

Là con gái của Quân chủ Công giáo, Song vương Ferrando II của AragónIsabel I của Castilla, Juana trở thành Trữ quân của Vương quyền Castilla cùng Aragón sau cái chết liên tiếp của anh trai, chị gái và cháu trai. Từ việc hợp nhất xứ Castilla và Aragón, sự lên ngôi của Juana đã đánh dấu ấn quan trọng trong việc hình thành nhà nước Tây Ban Nha hiện đại. Juana kết hôn với Philipp của Áo, người trở thành Quốc vương vào năm 1506, đại diện dòng họ nhà Habsburg trị vì Castilla do hệ thống "Jure uxoris", cho phép người chồng có quyền hoặc tước vị dựa vào hôn phối với người vợ, trở thành Philipp I của Castilla. Thế nhưng Vua Phillipp qua đời cùng năm đó không lâu. Những tưởng rằng Juana sẽ phải đến một Tu viện cho quãng đời còn lại khi cha bà là Quốc vương Ferrando II tuyên bố quyền nhiếp chính của Castilla, Juana cuối cùng vẫn duy trì tư cách là Nữ vương của Castilla, sau đó còn thuận lợi kế tục trở thành quân chủ của Aragón khi cha bà là Quốc vương Ferrando II qua đời vào năm 1516. Theo sự kiện này, Juanna là vị quân chủ, cũng là Nữ vương đầu tiên của toàn bộ Tây Ban Nha thống nhất trong lịch sử Tây Ban Nha.

Từ năm 1517, con trai bà là Karl của Áo đến và tiếp nhận Vương vị của Castilla cùng Aragón, trở thành Quốc vương Carlos I của Castilla và Aragón , còn Juana tiếp tục cai trị cùng con trên cương vị là người đồng cai trị.

Thân thế

[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ vương Juana xuất thân từ gia tộc nhà Trastámara lừng danh của hai Vương quốc cổ Castilla và Aragón, bà được sinh ra ở Toledo, kinh đô khi đó của Vương quốc Castilla. Bà là người con thứ 3 và là con gái thứ hai của Quốc vương Ferrando II của Aragón và Nữ vương Isabel I của Castilla. Trong gia đình hầu hết là con gái, Juana là em gái của Isabel, chị của MaríaCatalina của Aragón, người sau này lấy Henry VIII của Anh và trở thành Vương hậu nước Anh.

Từ khi còn nhỏ, Juana là một người được đánh giá là thông minh và siêng năng, đồng thời là một học sinh giỏi. Mẹ bà là Nữ vương Isabel thường lui tới phòng học và kiểm tra bài vở của bà cùng với ba chị em gái khác là Isabel, MaríaCatalina.

Giáo dục

[sửa | sửa mã nguồn]

Juana được giáo dục và đào tạo bài bản để chuẩn bị cho một cuộc hôn nhân quan trọng, nhằm tạo nên liên minh hoàng gia giúp mở rộng quyền lực, đảm bảo an ninh, cũng như tăng cường ảnh hưởng và duy trì quan hệ hòa bình với các thế lực cai trị khác. Là một Infanta, bà không được kỳ vọng sẽ trở thành người thừa kế ngai vàng của cả Castile hay Aragon, mặc dù sau này do các cái chết trong hoàng tộc, bà lại thừa hưởng cả hai ngai vàng.[2]

Học vấn của Juana bao gồm luật giáo hội và luật dân sự, phả hệ và huy hiệu học, ngữ pháp, lịch sử, ngôn ngữ, toán học, triết học, đọc, chính tả và viết. Trong số các tác giả văn học cổ điển mà bà đọc có các nhà thơ Kitô giáo Juvencus và Prudentius, các giáo phụ như Thánh Ambrose, Thánh Augustine, Thánh GregoryThánh Jerome, cũng như chính khách La Mã Seneca.[2]

Tại triều đình Castile, những người gia sư chính của Juana gồm linh mục Dòng Đa Minh Andrés de Miranda, nhà giáo dục Beatriz Galindo, thành viên triều đình của vương hậu. Nền giáo dục của Juana còn bao gồm nấu ăn, nghi thức triều đình, khiêu vũ, vẽ, kỹ năng cưỡi ngựa, âm nhạc, cùng các nghệ thuật khâu thêu, may vá, dệt, quay sợi và thêu thùa.[2] Bà học các ngôn ngữ Romance bán đảo Iberia như tiếng Castilla, tiếng León, tiếng Galicia-Bồ Đào Nhatiếng Catalunya, đồng thời thành thạo tiếng Pháptiếng Latinh. Bà cũng được rèn luyện các hoạt động ngoài trời như săn chim ưng và săn bắn. Juana giỏi khiêu vũ và âm nhạc bà còn chơi được các nhạc cụ như clavichord, guitarmonochord.

Hôn nhân

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1496, khi mới 16 tuổi, Juana đã được hứa hôn với Philipp của Áo, lúc đó 18 tuổi, tại các Vùng đất thấp. Cha mẹ của Philipp là Maximilian I, Hoàng đế La Mã Thần thánh, và người vợ đầu tiên của ông, Nữ công tước Marie I xứ Bourgogne. Cuộc hôn nhân này là một trong những liên minh gia đình giữa nhà Habsburg và nhà Trastámara, nhằm tăng cường sức mạnh cả hai bên trước sự mở rộng quyền lực của Pháp.

Juana đã tiến hành hôn lễ đại diện tại Palacio de los Vivero ở thành phố Valladolid, Castile, nơi cha mẹ bà đã bí mật kết hôn vào năm 1469. Vào tháng 8 năm 1496, Joanna rời cảng Laredo ở phía bắc Castile, trên Vịnh Biscay của Đại Tây Dương. Ngoại trừ năm 1506, khi bà gặp người em gái út Catherine, lúc đó là Công chúa góa phụ xứ Wales, Juana không bao giờ gặp lại các anh chị em còn lại.

Juana bắt đầu hành trình đến Brabant trong Vùng đất thấp, gồm các phần của Hà Lan, Bỉ, Luxembourg, Pháp và Đức ngày nay, vào ngày 22 tháng 8 năm 1496. Cuộc hôn nhân chính thức diễn ra vào 20 tháng 10 năm 1496 tại Lier, phía bắc Brussels hiện nay.

Trong giai đoạn từ 1498 đến 1507, Juana sinh sáu người con, gồm hai trai và bốn gái, tất cả đều lớn lên và trở thành Hoàng đế hoặc Vương hậu.

Nữ Thân vương xứ Asturias

[sửa | sửa mã nguồn]

Cái chết của người anh trai Juan của Juana, việc sinh non của con gái Juan, cùng với cái chết của chị gái lớn Isabel và con trai của Isabel là Miguel, đã khiến Juana trở thành người thừa kế các vương quốc Tây Ban Nha. Các anh chị em còn lại của bà là Maria (1482–1517) và Catalina (1485–1536), lần lượt nhỏ hơn Juana ba và sáu tuổi.

Năm 1502, Hội đồng Castila tại Toro công nhận bà là người thừa kế ngai vàng Castila và Philipp là phò mã của bà. Bà được phong danh hiệu Nữ Thân vương xứ Asturias, danh hiệu truyền thống dành cho người thừa kế ngai vàng của Castila. Cũng trong năm 1502, Hội đồng Aragon họp tại Zaragoza để tuyên thệ công nhận Joanna là người thừa kế; tuy nhiên, Tổng Giám mục Zaragoza, Alonso de Aragón, nhấn mạnh rằng lời tuyên thệ này chỉ có thể trở thành cơ sở pháp lý khi có một thỏa thuận chính thức về quyền kế vị giữa Hội đồng và nhà vua.

Trong năm 1502, Philipp, Juana và phần lớn triều đình đã đi tới Toledo để nhận lời trung thành từ Hội đồng Castila với tư cách là Nữ Thân vương xứ Asturias, người thừa kế ngai vàng Castila. Chuyến đi này được Antoon I van Lalaing ghi chép lại một cách chi tiết. Philipp cùng phần lớn triều đình trở về Các tỉnh Thấp vào năm sau, để lại Juana đang mang thai tại Madrid, nơi bà sinh người con thứ tư, Ferdinand, người sau này trở thành một quân chủ Trung Âu quan trọng và Hoàng đế La Mã Thần thánh với tên gọi Ferdinand I.

Nữ vương của toàn Tây Ban Nha

[sửa | sửa mã nguồn]

Lên ngôi

[sửa | sửa mã nguồn]

Khi mẹ bà qua đời vào tháng 11 năm 1504, Juana trở thành Nữ vưong trị vì Castila chồng bà, Philipp thành vua đồng cai trị với vợ năm 1506. Cha bà, Ferdinand II, mặc dù theo di chúc của vợ có quyền cai trị nếu con gái không thể trị vì hoặc cho đến khi đủ 20 tuổi, nhưng không chấp nhận việc mất quyền lực trực tiếp. Ông đúc tiền theo tên mình và Juana, thuyết phục Hội đồng rằng bà không đủ khả năng cai trị, từ đó trở thành người giám hộ và quản lý vương quốc.

Philipp, với tư cách là chồng Juana, cũng không muốn từ bỏ quyền lợi và đúc tiền theo tên mình và vợ, tạo nên một cuộc tranh quyền lực phức tạp giữa cha và con rể. Trong khi đó, Juana từng bị giam giữ tại Các tỉnh Thấp nhưng được thả khi ông nội chồng đến thăm vào ngày 24 tháng 8 năm 1505. Trong thời gian này, Juana xuất hiện với vai trò một nữ vuơng thông thái và thận trọng, tham gia các sự kiện công khai, cho thấy khả năng ứng xử chính trị và ngoại giao. Khi Philipp tìm cách kêu gọi các quý tộc Castila chống lại cha vợ Ferdinand, bà kiên quyết không tham gia hành động chống lại cha mình, thể hiện lòng trung thành và nguyên tắc của bà.

Ferdinand tái hôn với Germaine de Foix, nhằm củng cố quyền lực để tìm người thừa kế cho Aragon, nhưng điều này lại làm tăng sự ủng hộ cho Philipp và Joanna. Cuối năm 1505, hai vợ chồng quyết định lên đường đến Castila. Trước khi khởi hành, Juana cấm một con tàu chở các nữ thị nữ đi cùng, vì lo ngại Philipp có thể có quan hệ bất chính với họ. Hành động này, dù xuất phát từ sự thận trọng, lại bị lợi dụng trong chiến dịch tuyên truyền chống lại bà.

Ngày 10 tháng 1 năm 1506, họ rời Flanders nhưng tàu gặp nạn trên bờ biển Anh và phải tạm trú tại Lâu đài Windsor, dưới sự tiếp đón của Henry, Thân vương xứ Wales và chị gái, Catherine của Aragon. Họ không thể rời đi cho đến ngày 21 tháng 4, thời điểm xung đột dân sự tại Castila gia tăng. Philipp từng cân nhắc đến nơi tại Andalusia để triệu tập quý tộc chống Ferdinand, nhưng cuối cùng hai vợ chồng đặt chân đến tại A Coruña ngày 26 tháng 4. Ngay sau đó, các quý tộc nhanh chóng từ bỏ Ferdinand. Ngày 27 tháng 6 năm 1506, Ferdinand gặp Philipp tại Villafáfila và ký Hiệp ước bí mật, theo đó Juana được coi là không đủ khả năng cai trị, bị loại khỏi chính quyền và tước quyền tự do. Tuy nhiên, Ferdinand ngay lập tức bác bỏ thỏa thuận này, khẳng định con gái ông không bao giờ bị tước quyền Nữ vương và trở về Aragon, để Philipp cai trị thay bà. Trong suốt quá trình này, Juana được ghi nhận là giữ thái độ kiên định, trung thành và thông minh, dù phải đối mặt với áp lực từ cả cha và chồng, là nhân vật trung tâm trong những tranh chấp quyền lực phức tạp tại Castila, thiết lập nền tảng cho vai trò chính thức của bà trong triều đại sau này.

Cái chết của Philipp

[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Hiệp ước Villafáfila, các đại diện Hội đồng Castila họp tại Valladolid ngày 9 tháng 7 năm 1506 và vào ngày 12 tháng 7 tuyên thệ trung thành với Philipp I và Juana với tư cách Vua và Nữ vương Castila và León, đồng thời công nhận con trai họ, Karl, là người thừa kế. Tuy nhiên, chế độ này chỉ kéo dài vài tháng. Ngày 25 tháng 9 năm 1506, Philipp qua đời sau năm ngày ốm tại Burgos. Nguyên nhân được cho là sốt thương hàn, có tin đồn cho rằng cha vợ của ông, Ferdinand II đã đầu độc. Juana khi đó đang mang thai đứa con thứ sáu, một bé gái tên Catalina (1507–1578), sau này trở thành vương hậu Bồ Đào Nha.

Đến ngày 20 tháng 12 năm 1506, Juana có mặt tại làng Torquemada, cố gắng thực thi quyền lực của mình với tư cách Nữ vương Castila. Tuy nhiên, đất nước rơi vào hỗn loạn. Con trai và người thừa kế Karl mới sáu tuổi được đưa đến nuôi dưỡng tại Flanders bởi cô của mình, trong khi Ferdinand II vẫn ở Aragon, khiến khủng hoảng lan rộng.

Một hội đồng nhiếp chính dưới quyền Tổng Giám mục Cisneros được thành lập trái ý Juana, nhưng không thể kiểm soát tình trạng hỗn loạn ngày càng nghiêm trọng; dịch bệnh và nạn đói hoành hành, khiến một nửa dân số thiệt mạng. Lúc này, bà không thể huy động đủ tài chính để bảo vệ quyền lực của mình. Trước tình hình đó, Ferdinand II trở lại Castile vào tháng 7 năm 1507. Sự trở lại của ông trùng với thời điểm dịch bệnh và nạn đói giảm bớt, ổn định tình hình và tạo ấn tượng rằng sự hiện diện của Ferdinand đã cứu vãn sức khỏe của vương quốc.

Ferrando nhiếp chính

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 7 năm 1507, Ferdinand II gặp Juana tại Hornillos, ông buộc bà nhường quyền lực cai trị vương quốc cho ông. Ngày 17 tháng 8, ba thành viên Hội đồng được triệu tập, được cho là nhân danh Juana, để thông báo với các quý tộc về việc Ferdinand trở lại quyền lực, nhưng bà từ chối ký các chỉ thị và khẳng định bà không chấp nhận việc nhường quyền. Tuy nhiên, kể từ đó, Juana chỉ còn là nữ vương danh nghĩa,văn kiện dù được ban hành nhân danh bà đều mang chữ ký của Ferdinand.

Ferdinand được Hội đồng Castila chỉ định làm quản lý vương quốc năm 1510, giao việc cai trị chính cho Tổng Giám mục Cisneros. Tháng 2 năm 1509, bà bị giam trong Cung điện Hoàng gia Tordesillas, gần Valladolid, sau khi tất cả người hầu trung thành của bà thay thế và một nhóm nhỏ chỉ phục vụ Ferdinand được bổ nhiệm. Trong thời gian này, có những ghi chép cho rằng Juana có dấu hiệu vấn đề sức khỏe tâm thần bất ổn.

Khi Ferdinand II qua đời ngày 23 tháng 1 năm 1516, Juana lại trở thành Nữ vưong Aragon. Tuy nhiên, Hội đồng nhiếp chính và Cisneros giấu tin này, giả vờ Ferdinand vẫn còn sống. Con trai bà, Karl lúc đó 17 tuổi, đến Asturias vào tháng 10 năm 1517. Trước khi ông đến, Aragon do Tổng Giám mục Alonso de Aragón quản lý, Castila do Hồng y Francisco Jiménez de Cisneros cai trị. Ngày 4 tháng 11, Karl và gái Eleanor gặp Joanna tại Tordesillas, được bà đồng ý cho Charles làm đồng vương Castile, León và Aragon. Dù đồng ý, bà vẫn bị giam giữ, và Charles tiếp tục che giấu nhiều tin tức quan trọng với bà, bao gồm cái chết của Hoàng đế Maximilian năm 1519.

Năm 1519, Charles I trở thành vua thống nhất Aragon và Castile, đồng thời được bầu làm Hoàng đế La Mã Thần thánh. Các vương quốc Castila, Aragon (và Navarre) vẫn tồn tại dưới hình thức liên minh cá nhân cho đến khi hợp nhất về mặt pháp lý vào đầu thế kỷ 18.

Con trai đồng vị

[sửa | sửa mã nguồn]

Cái chết

[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu duệ

[sửa | sửa mã nguồn]
Tên Chân dung Ngày sinh và ngày mất Ghi chú
Leonor, Vương hậu Bồ Đào Nha, sau thành Vương hậu Pháp 15 tháng 11 năm 1498
- 25 tháng 2 năm 1558
(59 tuổi)
Kết hôn với Quốc vương Manuel I của Bồ Đào Nha, sau tái hôn với François I của Pháp. Cuộc hôn nhân đầu của bà cho ra hậu duệ.
Carlos V, Hoàng đế La Mã Thần thánh 24 tháng 2 năm 1500
– 21 tháng 9 năm 1558
(58 tuổi)
Kế thừa vị trí Hoàng đế của Thánh chế La Mã từ ông nội, Hoàng đế Maximiliam. Là vị Hoàng đế trứ danh, quân chủ quyền lực nhất Châu Âu đương thời.

Kết hôn với Isabel của Bồ Đào Nha - em họ bên họ ngoại, có hậu duệ là Felipe II của Tây Ban Nha.

Isabel, Vương hậu của Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển 18 tháng 7 năm 1501
- 19 tháng 1 năm 1526
(24 tuổi)
Kết hôn với Quốc vương Christian II của Đan Mạch. Có hậu duệ.
Fernando I, Hoàng đế La Mã Thần thánh 10 tháng 3 năm 1503
- 25 tháng 7 năm 1564
(61 tuổi)
Một nhà quân sự lỗi lạc và hết mực trung thành dưới triều anh trai Karl V, và sau đó ông được anh trai chỉ định kế thừa vị trí Hoàng đế của Thánh chế La Mã.

Kết hôn với Anna của Bohemia và Hungary, có hậu duệ, bao gồm Hoàng đế Maximilian II của đế quốc La Mã Thần thánh.

María, Vương hậu Hungary, sau thành Nữ Thống chế của Hà Lan thuộc Habsburg 15 tháng 9 năm 1505
- 18 tháng 10 năm 1558
(53 tuổi)
Kết hôn với Quốc vương Lajos II của Hungary, không có hậu duệ.

Sau khi Vua Louis II tử trận trong cuộc chiến với Đế quốc Ottoman, Maria trở thành nhiếp chính Hungary, về sau lại trở thành Nữ Thống chế của Hà Lan thuộc Áo.

Catalina, Vương hậu Bồ Đào Nha 14 tháng 1 năm 1507
- 12 tháng 2 năm 1578
(71 tuổi)
Khác với 5 người anh chị khác, Catalina bị giam cùng mẹ mình tại Tordesillas, mãi cho đến khi quá tuổi kết hôn, bà mới được anh trai là Hoàng đế của Thánh chế La Mã, Karl V, chỉ định làm vợ của người em họ là João III của Bồ Đào Nha. Có hậu duệ.

Phả hệ

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Con gái của John xứ Gaunt với người vợ đầu là Blanche xứ Lancaster,[8] điều đó khiến bà là em cùng cha khác mẹ với Catherine của Lancaster. Mẹ của Catherine là Constanza của Castilla.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Fueros, observancias y actos de corte del Reino de Aragón; Santiago Penén y Debesa, Pascual Savall y Dronda, Miguel Clemente (1866) Lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2008 tại Wayback Machine, page 64 Lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2008 tại Wayback Machine
  2. ^ a b c Gelardi, Julia P. (2009). In Triumph's Wake: Royal Mothers, Tragic Daughters, and the Price They Paid for Glory. St. Martin's Griffin.
  3. ^ a b Isabella I, Queen of Spain tại Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh)
  4. ^ a b c Henry III, King of Castille tại Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh)
  5. ^ a b Ferdinand I, King of Aragon tại Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh)
  6. ^ a b Leese, Thelma Anna, Blood royal: issue of the kings and queens of medieval England, 1066–1399, (Heritage Books Inc., 1996), 222.
  7. ^ a b c Sidney Lee, biên tập (1896). "Philippa of Lancaster" . Dictionary of National Biography. Quyển 45. Luân Đôn: Smith, Elder & Co. tr. 167.
  8. ^ Armitage-Smith, Sydney (1905). John of Gaunt: King of Castile and Leon, Duke of Aquitaine and Lancaster, Earl of Derby, Lincoln, and Leicester, Seneschal of England. Charles Scribner's Sons. tr. 77. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2018.
  9. ^ a b c Gerli, E. Michael; Armistead, Samuel G. (2003). Medieval Iberia. Taylor & Francis. tr. 182. ISBN 9780415939188. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2018.
  10. ^ a b Chisholm, Hugh, biên tập (1911). "Ferdinand V. of Castile and Leon and II. of Aragon" . Encyclopædia Britannica. Quyển 10 (ấn bản thứ 11). Cambridge University Press.
  11. ^ a b Chisholm, Hugh, biên tập (1911). "John II of Aragon" . Encyclopædia Britannica. Quyển 15 (ấn bản thứ 11). Cambridge University Press.
  12. ^ a b Miron, E. L. (1913). "Doña Leonor of Alburquerque". The Queens of Aragon: Their Lives and Times. Brentano's. tr. 265. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2018.
  13. ^ a b c d Ortega Gato, Esteban (1999). "Los Enríquez, Almirantes de Castilla" [The Enríquezes, Admirals of Castille] (PDF). Publicaciones de la Institución "Tello Téllez de Meneses" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Quyển 70. tr. 42. ISSN 0210-7317.
  14. ^ a b "Mariana de Ayala Córdoba y Toledo". Ducal House of Medinaceli Foundation. Truy cập 21 tháng 8 2018.