Nhiếp chính

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết - một biểu tượng quan nhiếp chính của Việt Nam thời nhà Nguyễn.
Từ Hi Thái hậu - một biểu tượng của tụm từ Thùy liêm thính chính tại Trung Quốc.

Nhiếp chính (chữ Hán: 攝政), còn gọi là nhiếp chánh, tiếng Anh gọi là Regent, là một hình thức chính trị của thời kỳ quân chủ chuyên chế hoặc quân chủ lập hiến trong lịch sử của nhiều quốc gia từ Châu Âu đến Đông Á.

Đây là một dạng hội đồng, được hình thành khi một vị quân chủ không có khả năng trị vì, xử lý và điều hành nền quân chủ, thì một người, cơ quan khác sẽ thay vị quân chủ đó quản lý và giải quyết.

Quy tắc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiếp chính thường xảy ra trong trường hợp vị quân chủ vắng mặt, bị mắc bệnh tật hoặc thông thường là còn nhỏ tuổi để có thể tự cai trị. Khi đó, một Hội đồng nhiếp chính gồm các quan chức cấp cao nhất sẽ thay vị quân chủ ấy giải quyết chính sự. Đứng đầu cơ quan này, thông thường sẽ là Thái tử, lúc đó sẽ xưng Giám quốc (監國), nếu là các thân vương hoàng thất sẽ gọi là Nhiếp chính vương (摄政王), còn ngoài ra, nếu đứng đầu bộ máy nhiếp chính là quan viên hoặc ngoại thích, đều gọi chung là Phụ chính đại thần (辅政大臣).

Tuy vậy, một hiện tượng tuy không chính thức nhưng luật bất thành văn, là người mẹ của vị quân chủ ấy thường sẽ tham dự hội đồng này và có khả năng đứng đầu cơ quan này. Hiện tượng mẹ của quân chủ nhiếp chính bắt đầu từ khi Tuyên Thái hậu, mẹ của Tần Chiêu Tương vương được tôn làm Thái hậu và tham gia triều chính, mở đầu hiện tượng Thái hậu chuyên quyền trong suốt chiều dài lịch sử các quốc gia Đông Á.

Sang thời nhà Hán, Lữ hậu nhân Hán Huệ Đế bạo bệnh, chính thức lâm triều, tự xưng chiếu chỉ của mình là Chế (制), mở đầu cho một hiện tượng sử gia gọi là Lâm triều xưng chế (临朝称制) của các Hoàng thái hậu. Vào thời điểm đó, các Thái hậu có thể lên triều nghị chính. Từ sau sự việc của Võ Tắc Thiên, bà ngồi sau một bức mành (liêm tử; 帘子) để nghe việc sau lưng Đường Cao Tông, thì mới khai sinh ra một khái niệm gọi là Thùy liêm thính chính (垂帘听政), nghĩa là buông mành mà nghe chính sự. Từ đó, các đời Thái hậu hoặc Hoàng hậu, nữ quyến nhiếp chính đều ngồi sau bức mành nghe việc, làm cho cụm từ Thùy liêm thính chính từ đó ám chỉ việc phụ nữ tham dự triều chính. Các triều đại về sau dần hạn chế việc cho Hoàng hậu, Thái hậu tham gia chính sự, khi các Hoàng đế còn nhỏ thì các hội đồng nhiếp chính lập ra đều có thân vương và quan đại thần đứng đầu phụ chính. Trường hợp cũng có chấp nhận Thái hậu nhiếp chính thì đều có các quan đại thần bên cạnh, không để Thái hậu một mình độc bá, như Linh Nhân Thái hậu thời Lý có Lý Thường KiệtLý Đạo Thành, hoặc như Tuyên Từ Thái hậu thời Lê có Nguyễn XíTrịnh Khả vậy.

Việc nhiếp chính là một hiện tượng tạm thời do vị quân chủ vắng mặt, hoặc vì lý do chính trị mà quốc gia không có quân chủ, vì vậy đều có một thời gian nhất định. Đến khi vị quân chủ đủ tuổi, đủ khả năng hoặc có vị quân chủ mới lên ngôi, thì thời kỳ nhiếp chính sẽ kết thúc. Thông thường giời gian nhiếp chính là khoảng 8 năm, hoặc trong phạm vi hơn 10 năm. Tuy nhiên, những nhiếp chính có thế lực lớn đều có thời gian nhiếp chính vượt qua con số này nhiều, như Từ Hi Thái hậu.

Tại Nhật bản cổ đại, các quan nhiếp chính gọi là Quan bạch (關白). Từ năm 858, thời Thanh Hòa Thiên hoàng do ngoại tổ phụ Fujiwara no Yoshifusa nhiếp chính, thì chức quan nhiếp chính Nhật bản do dòng họ Hokke (藤原北家; Đằng Nguyên Bắc Gia) chiếm hữu, mãi đến tận thời Minh Trị.

Nhân vật nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]