Tống Chân Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tống Chân Tông
宋真宗
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Zhenzong.jpg
Tranh vẽ Tống Chân Tông.
Hoàng đế nhà Tống
Trị vì 10 tháng 5 99723 tháng 3 1022
Tiền nhiệm Tống Thái Tông
Kế nhiệm Tống Nhân Tông
Thông tin chung
Thê thiếp xem văn bản
Hậu duệ xem văn bản
Tên húy Triệu Đức Xương (趙德昌)
Triệu Nguyên Hưu (趙元休)[1]
Triệu Nguyên Khản (趙元侃)[2]
Triệu Hằng (趙恆)[3]
Tước hiệu Hoàng đế
Niên hiệu
Thụy hiệu

Ưng phù Kê cổ Thần công Nhượng đức Văn minh Vũ định Chương Thánh Nguyên Hiếu hoàng đế
膺符稽古神功讓德文明武定章聖

元孝皇帝[4]
Miếu hiệu Chân Tông (真宗)
Triều đại Nhà Tống
Thân phụ Thái Tông Triệu Khuông Nghĩa
Thân mẫu Nguyên Đức hoàng hậu Lý thị
Sinh 23 tháng 12 năm 968
Mất 23 tháng 3 năm 1022
Trung Quốc
An táng Vĩnh Định Lăng
Tôn giáo Phật giáo, Đạo giáo

Tống Chân Tông (chữ Hán: 宋真宗, 23 tháng 12 năm 968 - 23 tháng 3 năm 1022), thụy hiệu đầy đủ Ưng phù Kê Cổ Thần Công Nhượng Đức Văn Minh Vũ Định Chương Thánh Nguyên Hiếu hoàng đế, tên thật là Triệu Đức Xương (趙德昌), Triệu Nguyên Hưu (趙元休), Triệu Nguyên Khản (趙元侃) và Triệu Hằng (趙恆), là vị hoàng đế thứ ba dưới triều Bắc Tống trong lịch sử Trung Quốc.

Tống Chân Tông là hoàng tử 3 của Tống Thái Tông Triệu Quýnh với bà Lý hoàng hậu, chào đời vào năm 968. Do hoàng huynh Triệu Nguyên Tá mắc bệnh và bị Thái Tông phế bỏ, nên Triệu Nguyên Khản được lập làm thái tử. Năm 997, ông tức vị hoàng đế sau khi vua cha qua đời và cai trị Trung Quốc trong 25 năm tiếp theo.

Trong thời kì đầu cai trị Chân Tông luôn chủ trương tiết kiệm, quan tâm đến triều chính, xã hội ổn định. Về tình hình bên ngoài, năm 1004, quân Khiết Đan tấn công triều Tống, đánh đến tận căn cứ Thiền Uyên, cửa ngõ vào thành Biện Kinh. Chân Tông được sự khuyến khích của tể tướng Khấu Chuẩn, đích thân sang bờ bắc Hoàng Hà đốc quân, do vậy quân Tống có thêm tinh thần và đánh bại người Liêu. Sau trận đó, hai nước kí bản hiệp ước Thiền Uyên, Tống được xưng là anh nhưng phải nộp tiền và lụa hằng năm cho Khiết Đan. Từ đó, hai nước không động can qua trong hơn 100 năm.

Sau hòa ước Thiền Uyên, ông cách chức hiền tài, trọng dụng gian thần, quá tin vào Đạo giáo, khiến cho đời sống nhân dân cơ cực, tài chính thất thoát, nền chính trị hủ bại và mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt. Trong cung, hoàng hậu Lưu thị kết bè kết cánh hòng thao túng quyền lực. Năm 1022, Tống Chân Tông qua đời, ngôi hoàng đế được truyền cho người con trai duy nhất là Triệu Thụ Ích, tức là Tống Nhân Tông.

Thân thế và cuộc sống ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Đức Xương chào đời vào ngày 23 tháng 12 năm 968[5][6], tức ngày 2 tháng 12 ÂL năm thứ năm Càn Đức dưới thời Tống Thái Tổ (960 - 976) tại phủ đệ Tấn vương (tước vị mà Thái Tông đang mang khi đó). Trước đó, mẹ ông là Lý thị nằm mộng mặt trời, sau đó mang thai. Khi Đức Xương chào đời, có ánh sáng màu đỏ chiếu khắp gian phòng; gia nhân xem thấy bên chân trái của ông có mấy đường nét tựa như chữ thiên[6].

Đức Xương từ nhỏ đã thông minh hơn người. Mỗi lần chơi trò đánh trận giả đều tự xưng là Nguyên soái. Thái Tổ yếu mến, thường triệu vào cung. Có lần ở điện Vạn Tuế, Đức Xương tự dưng ngồi tót lên bảo tọa, Thái Tổ ngạc nhiên hỏi

Đó là chỗ của thiên tử.

Đức Xương đáp

Như vậy là do thiên mệnh (muốn ta làm vua)[6].

Thái Tổ qua đời, Tấn vương theo di chiếu của thái hậu khi trước, tự lập lên ngôi, là Tống Thái Tông (976 - 997)[7]. Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 8 (984), Triệu Đức Xương được gia phong Kiểm giáo thái bảo, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự, tước Hàn vương; đổi tên là Nguyên Hưu. Năm Đoan Củng nguyên niên (988), được cải phong là Tương vương, đổi tên thành Nguyên Khản. Tháng 9 ÂL năm thứ năm Thuần Hóa (994), được đổi phong làm Thọ vương, Kiểm giáo thái phó, Khai Phong doãn[6].

Theo di chiếu của Đỗ thái hậu, Thái Tổ nhường ngôi lại cho em là Thái Tông, Thái Tông lại phải nhường ngôi cho em nữa là Đình Mỹ rồi sau đó đến lượt con của Thái Tổ. Thái Tông sau khi lên ngôi, có ý nhường ngôi lại cho mình, nên đã tìm cách giáng chức của Đình Mỹ khiến ông này uất ức mà chết. Lại ép con trưởng của Thái Tổ là Đức Chiêu phải tự sát, con thứ là Đức Phương đột nhiên qua đời[8]. Thái Tông có ý lập con trưởng là Nguyên Tá làm thái tử, nhưng Nguyên Tá vốn thân với Đình Mĩ, thấy việc làm của Thái Tông, có ý bất mãn, lâu ngày sinh bệnh, thần trí không tỉnh táo, đến nỗi một hôm phóng hỏa đốt phủ đệ, do vậy Nguyên Tá mất lòng Thái Tông và bị phế làm thứ nhân. Thái Tông lại định lập người con thứ 5 là Nguyên Kiệt, nhưng vì Nguyên Kiệt bất kính với thấy là Diêu Đản, nên cũng không được lập. Bấy giờ hoàng tử thứ hai là Nguyên Hi mất sớm, nên Nguyên Khản trở thành sự lựa chọn hàng đầu.

Tháng 8 ÂL năm nguyên niên Chí Đạo (995), nhân Khấu Chuẩn dâng sớ đề nghị lập tự, Thái Tông quyết định lập Nguyên Khản làm thái tử, đổi tên là Hằng[6]. Thái Tông tổ chức nghi lễ lập thái tử rất long trọng, đây là nghi lễ lập tự đầu tiên sau gần 100 năm kể từ cuối Đường, vì trong nước trước kia chiến loạn liên miên. Lại lệnh Lý Hàng, Lý Chi làm tân khách của thái tử. Thái tử lấy lễ thầy trò đối với họ, khi gặp thì bái chào.

Tháng 3 năm 997, Thái Tông lâm bệnh và qua đời. Tuyên chánh sứ Vương Kế Ân và hoàng hậu Lý thị và bọn Lý Xương Linh, Hồ Đán âm mưu với nhau, định phế bỏ thái tử, lập Nguyên Tá cho dễ khống chế. Hoàng hậu cho triệu tể tướng Lã Đoan vào cung. Lã Đoan dùng kế giam lỏng Vương Kế Ân trong phủ, rồi vào gặp hoàng hậu. Hoàng hậu đòi lập trưởng tử, nhưng Lã Đoan không chịu vì đã có thái tử. Rồi sai nội thị đón thái tử vào cung, tức vị hoàng đế, là Tống Chân Tông[6][9].

Thời kỳ trị vì của Tống Chân Tông đáng chú ý vì sự thống nhất quyền lực và sự tăng cường sức mạnh quân sự. Đất nước phồn thịnh và quân đội của Tống được tăng cường sức mạnh. Tuy nhiên, nó cũng đánh dấu sự sai lệch trong chính sách ngoại giao về phía đế quốc Khiết Đan (tức nhà Liêu) ở phía bắc mà cuối cùng dẫn tới kết quả bị bẽ mặt[cần dẫn nguồn].

Làm hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Những công việc đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lên kế vị, Triệu Hằng tỏ rõ quyết tâm cải cách chế độ. Năm 998, Chân Tông lại tiến hành điều chỉnh nhân sự, điều chỉnh đội ngũ quan lại để xóa bỏ triệt để những thói hư tật xấu trong xã hội do tham quan ô lại gây ra. Từ khi lên ngôi ông luôn đặt nhiệm vụ trị nước lên hàng đầu, ông kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động của hoàng thân quốc thích và hoạn quan trong triều. Đồng thời với cải cách chính trị, Chân Tông còn áp dụng rất nhiều biện pháp khác để phát triển nông nghiệp, như khuyến khích trồng dâu nuôi tằm, giảm thuế khóa, mở rộng đồn điền, khai khẩn đất hoang... Chân Tông cũng là người cho lập ra lò nung gốm sứ được tán dương nhiều nhất trên thế giới tại Cảnh Đức Trấn năm 1004, tại đây người ta tiếp tục sản xuất đồ sứ cho hoàng cung các triều đại sau này của Trung Quốc cho tới tận khi nhà Thanh sụp đổ hơn 900 năm sau. Ông cũng là người cho vận chuyển 30.000 giạ thóc giống ngắn ngày từ Phúc Kiến tới khu vực hạ du sông Trường Giang trong năm 1011-1012, để cải tạo nông nghiệp trong khu vực này. Nhìn chung trong giai đoạn mới lên kế vị, Chân Tông luôn dốc lòng xây dựng đất nước, lại áp dụng những biện pháp tích cực để thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển nên tình hình xã hội lúc này tương đối ổn định, nhân dân được hưởng an lạc thái bình.

Cùng năm 997 Chân Tông tôn hoàng hậu Lưu thị và mẹ ruột là Hiền phi Lý thị làm hoàng thái hậu, nhũ mẫu Lưu thị làm Tần quốc Diên Thọ Bảo Thánh phu nhân, xá thiên hạ. Tiến phong Lã Đoan là Hữu bộc xạ, Lý Hàng, Lý Chi làm Tham chính; hoàng đệ Việt vương Nguyên Phân làm Ung vương, Ngô vương Nguyên Kiệt làm Duyện vương, kiêm Trung thư lệnh; Từ quốc công Nguyên Ác làm Bành Thành quận vương, Kính quốc công Nguyên Xưng làm An Định quận vương, Nguyên Nghiễm làm Tào quốc công; cháu là Duy Cát làm tiết độ sứ Vũ Tín. Truy phong Đình Mĩ là Tần vương, Ngụy vương Đức Chiêu làm thái phó, Kì vương Đức Chiêu làm thái bảo. Phục chức cho hoàng huynh Nguyên Tá, là Sở vương, Đồng bình chương sự[6]. Lại lập vợ kế là Quách thị làm hoàng hậu; Quách hậu là con gái của Tuyên Nam huy viện sứ Quách Thủ Văn. Nguyên phối của Chân Tông (đã mất) là Cử quốc phu nhân Phan thị, con gái Phan Mĩ được truy tặng Trang Hoài hoàng hậu[10].

Chân Tông lại lưu đày bọn Vương Kế Ân, Lý Xương Linh, Hồ Đán ra châu xa. Dùng Tào Bân làm Xu mật sứ; Lý Duy Thanh làm Ngự sử trung thừa, Hướng Mẫn Trung, Hạ Hầu Kiệt đều làm Xu mật phó sứ. Năm 998, dùng niên hiệu Hàm Bình. Mùa đông năm đó, Lã Đoan xin trí sĩ, Lý Chí cũng bị bãi. Chân Tông dùng Trương Tề Hiền, Lý Hãng làm Bình chương sự, nắm quyền tể tướng. Tham chính Ôn Trọng Thư, Xu mật phó sứ Hạ Hầu Kiệu cũng bị bãi chức[11]. Hướng Mẫn Trung được tấn phong làm Tham tri chính sự, rồi Xu mật sứ kiêm Thị trung (999).

Mùa hạ năm 999, Lỗ quốc công Tào Bân bị bệnh nặng. Chân Tông ngự giá tới thăm, hỏi về việc chống Khiết Đan. Bân tiến cử hai con của mình là Vĩ, Sán[12]. Gia phong Trương Tề Hiền, Lý Hãng làm Trung thư, Môn hạ thị lang. Năm 1000, tể tướng trí sứ Lã Đoan qua đời[13].

Bấy giờ ở Ích châu, vào Tết năm 1000, binh sĩ nổi dậy giết Binh mã kiềm hạt Phù Chiêu Thọ và đuổi tri châu Ngưu Miện. Loạn quân muốn tôn Đô tuần kiểm điêm Lưu Thiệu Vinh làm hoàng thượng, Thiệu Vinh đành tự sát. Loạn quân liền tôn Vương Quân làm hoàng thượng, đặt quốc hiệu là Đại Thục. Vương Quân đánh ra Hán châu. Chân Tông được tin, mệnh Lôi Hữu Chung làm Chiêu An sứ Xuyên Thiểm cùng Lý Huệ, Thạch Phổ, Lý Thủ Luân dẫn 8000 binh vào Thục dẹp loạn. Trương Tư Quân lấy lại Hán châu, Lôi Hữu Chung đưa quân tới Tiên Kiều, đánh thắng Trương Quân một trận rồi cho quân giết người cướp của, hãm hiếp phụ nữ. Vương Quân bèn phản công, giết Lý Huệ, đuổi Lôi Hữu Chung về Hán châu. Hữu Chung cùng Thạch Phổ bàn nhau dùng kế mai phục, đánh bại Vương Quân. Quân rút về thành cố thủ. Hữu Chung dùng hỏa pháo tấn công, phá thành, Vương Quân bỏ chạy. Mùa đông năm đó, quân Tống tiến vào thành, phóng hỏa thiêu rụi, dân chúng chết không biết bao nhiêu mà kể. Vương Quân chạy đến Phú Thuận Giám thì bị đuổi kịp, phải tự tử; cuộc nổi dậy chấm dứt.

Chiến tranh với Khiết Đan, Tây Hạ[sửa | sửa mã nguồn]

Về việc duy trì mối quan hệ láng giềng, Chân Tông lại kém xa Thái Tổ, thậm chí còn không bằng Thái Tông cha ông, trước các thế lực phương Bắc ông luôn tỏ ra yếu đuối và có những suy nghĩ tiêu cực. Từ khi lên kế vị, ông dường như chưa một lần dám đối diện với sự uy hiếp quân sự của tộc Đảng Hạngnhà Liêu mà luôn chủ yếu áp dụng thế phòng thủ, thông qua một số biện pháp như khai sông lấn biển, khai khẩn ruộng nước... ngoài biên giới để xây dựng hệ thống phòng thủ tiêu cực.

Mùa thu năm 999, Tiêu thái hậuKhiết Đan nghe tin Tống mới có vua mới, lại thêm Tào Bân vừa mất, quyết định đánh xuống phía nam, vào hai châu Trấn, Định. Tướng giữ thành Phó Tiềm giữ mà không ra, tướng dưới quyền Phạm Đình Triệu nhận được thánh chỉ từ Biện Kinh, buộc Phó Tiềm ra quân, Tiềm chỉ phát cho 8000 quân. Đình Triệu cầu cứu Khang Bảo Duệ ở Tinh châu. Bảo Duệ đưa quân tới giúp nhưng bị Khiết Đan giết chết, Đình Triệu lui về Doanh châu. Tướng giữ Toại thành là Dương Diên Chiêu dùng kế tưới nước lên thành, đợi tới mùa đông nước đóng băng, quân Khiết Đan phá mãi không được, bèn đổi hướng, vượt sông từ Đức, Lệ. Giữa mùa đông, Chân Tông hạ chiếu thân chinh, đến Hà Bắc, để Lý Hãng làm lưu thủ Đông Kinh.

Đầu năm 1000, Chân Tông đến trú tại phủ Đại Danh, hạ lệnh cách chức Phó Tiềm, chiếu theo tội chém đầu mà giảm một bậc, đày ra Phòng châu; Trương Chiêu Doãn ra Đạo châu, cử Cao Quỳnh thay Phó Tiềm. Quân Khiết Đan nghe tin Chân Tông thân chinh, bèn rút lui. Quân Tống thừa cơ đuổi theo đến tận Mạc châu, giết hơn 10.000 quân Liêu, thu lại nhiều của cải bị cướp. Chân Tông phong cho Dương Diên Chiêu làm thứ sử Mạc châu, ban thưởng nhiều vàng bạc; sau đó xa giá về kinh[14].

Mùa đông năm 1000, Khiết Đan lại đến xâm lấn, Dương Diên Chiêu cùng thứ sử Đăng châu Dương Tự dùng kế mai phục, đánh lui được quân địch. Cuối năm đó, tể tướng Trương Tề Hiền vì say rượu thất lễ nên bị cách chức, điều ra Kinh Nguyên. Lúc này người Hạ đang uy hiếp vùng Linh Vũ[15]. Thủ lĩnh nước Hạ Lý Kế Thiên tiến đánh Định châu và Hoài Viễn quân, song bị đẩy lui. Đến năm 1002, Lý Kế Thiên lại đánh Linh Vũ và chiếm được thành, tri Linh châu Bùi Tế tử trận[16]. Có thủ lĩnh Lục Cốc là Ba Lạt Tế chống lại Lý Kế Thiên, xin cùng giành lại Linh châu; được triều Tống phong làm tiết độ sứ Sóc Phương. Trong khi đó quân Hạ tiến đánh Tây Lương, giết Đinh Duy Thanh, rồi dụ hàng Ba Lạt Tế. Tuy nhiên Kế Thiên đến đất người Phiên, bị thích sát, thương nặng ở mắt rồi chết vào năm 1004, con là Lý Đức Minh lên kế nhiệm. Triều Tống đành phải cho Đức Minh làm Tây Bình vương, kiểm soát 5 châu Tĩnh Nam thì tình hình mới tạm yên.

Tại triều đình, năm 1001, Chân Tông đổi dùng Lã Mông Chánh, Hướng Mẫn Trung làm Bình chương sự, gia phong tể tướng Lý Hãng làm Môn hạ thị lang[17]. Đầu năm 1004, Chân Tông dùng niên hiệu là Cảnh Đức, dùng Lý Hãng làm Hữu bộc xạ. Mùa hạ năm đó, thái hậu Lý thị bị bệnh và mất, tôn thụy là Đức Minh. Sang mùa thu, tể tướng Lý Hãng cũng mất, Chân Tông đích thân đến dự lễ tang[18]. Chân Tông bổ dụng Tất Sĩ An, Khấu Chuẩn làm Đồng bình chương sự.

Hòa ước Thiền Uyên[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa thu năm 1004, Tiêu thái hậu cùng Khiết Đan chủ Long Tự đích thân dẫn 200.000 quân tấn công nhà Tống. Tướng Khiết Đan là Tiêu Thát Lãm đánh phá Bảo châu và Bắc Bình. Chân Tông triệu tập quần thần bàn kế; Khấu Chuẩn chủ chiến, Tất Sĩ AnVương Khâm Nhược chủ hòa. Ban đầu quân Tống nắm ưu thế, đẩy lui Khiết Đan ở Uy Lỗ, Khả Lâm, An Thuận, Định châu. Vua Khiết Đan sai sứ đến chỗ Thạch Phổ ở Mạc châu, xin được hòa nghị[19]. Chân Tông sai Tào Lợi Dụng cầm quốc thư đến trại Liêu. Tuy nhiên giữa đường thì người Khiết Đan đổi ý, tiến công Đức Thanh quân, Kí châu, Đàn châu. Cả triều đình nhà Tống chấn động. Chân Tông đích thân đến phủ Khấu Chuẩn hỏi ý kiến, Khấu Chuẩn xin nhà vua đích thân ra trận, đốc thúc quân sĩ. Chân Tông sợ phải ra trận, dùng dằng không muốn đi. Tất Sĩ An cũng đến khuyên vua ra trận, Chân Tông buộc phải nghe theo. Khi triệu tập quần thần, Vương Khâm Nhược bàn nên dời đô về Kim Lăng, Trần Nghiêu Tẩu khuyên dời đô ra Thục. Khấu Chuẩn biết tin, đòi chém những kẻ nghị hòa, xin Chân Tông thân chinh. Chân Tông vờ tỏ ý bằng lòng, sau đó cử Vương Khâm Nhược ra Thiên Hùng quân[20] đốc sư kháng địch.

Quân Khiết Đan tiến công Thiền châu[21]. Đây là cửa ngõ vào Biện Kinh, địa thế rất quan trọng. Tướng giữ thành Lý Kế Long biết Tiêu Thát Lãm đến cướp trại, bèn cho quân mai phục bốn phía, Thát Lãm quả nhiên trúng kế và bị trúng tên, tử trận. Lúc này Chân Tông đang ngự giá ra Hà Bắc, có kẻ tả hữu khuyên nên lui về Kim Lăng, Chân Tông đã định nghe theo, nhưng bởi có Khấu Chuẩn một mực khuyên can, đành thôi. Khấu Chuẩn lại cùng Cao Quỳnh liên danh đề nghị nhà vua vượt sông, ra Hà Bắc khích lệ tướng sĩ. Chân Tông đồng tình. Có kẻ tả hữu dâng áo lông cừu, Chân Tông từ chối, bảo đem cho tướng sĩ ngoài sa trường. Quân Tống nghe được, rất phấn khích, càng đánh càng hăng. Chân Tông được Cao Quỳnh hộ giá, vượt sông đến phía bắc Thiền châu, ngự trên thành lâu, quân sĩ gặp được vua, hô to vạn tuế, tiếng la vang cả chục dặm, đến trại Khiết Đan. Tiêu thái hậu nghe tin, sai quân đến đánh thành hòng tóm Chân Tông. Khấu Chuẩn mở cổng thành nghênh chiến, giết hơn một nửa quân Khiết Đan, số quân còn lại buộc phải tháo chạy.

Khi đó Tào Lợi Dụng cùng sứ Khiết Đan tới trại, sứ yêu cầu trả lại Quan Nam thì có thể nghị hòa. Khấu Chuẩn vào tâu, nói rằng quân ta đang thắng lớn, cứ buộc Khiết Đan trả lại Yên, Vân; dâng biểu xưng thần rồi mới cho hòa. Chân Tông chán nản việc binh đao nên không muốn theo kế đó. Chân Tông sai Tào Lợi Dụng đi sứ, chỉ dặn không được cắt đất, còn tiền bạc thì sao cũng được, Khấu Chuẩn đòi không được quá 30 vạn. Tào Lợi Dụng vào yết kiến Tiêu thái hậu, phía Liêu đòi Tống trả lại Quan Nam. Sau nhiều lần thương nghị, hai bên định ra hòa ước với nội dung như sau

  1. Biên giới hai nước để như trước.
  2. Tống chủ xưng là anh, Khiết Đan chủ xưng là em. Tống Chân Tông dùng lễ thúc mẫu đối với Tiêu thái hậu
  3. Mỗi năm Tống tặng cho Khiết Đan 10 vạn lạng bạc, 20 vạn xúc lụa.

Sử gọi đây là bản hòa ước Thiền Uyên. Từ đó nam - bắc hòa hảo suốt hơn 100 năm.

Chuyện thiên thư và phong thiền[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1005, Chân Tông triệu Vương Khâm Nhược về kinh làm Tham tri chính sự[22]. Khâm Nhược thấy uy tín của Khấu Chuẩn đang cao, nên lại xin bãi quan, làm Tư chính điện học sĩ. Lúc này Khấu Chuẩn được gia phong Trung thư thị lang, Thượng thư bộ Công. Vương Khâm Nhược tìm cớ hãm hại, gièm pha với Chân Tông rằng trận đánh ở Thiền châu là Khấu Chuẩn đưa vua vào chỗ chết, do may mắn mới thắng được, còn nếu rủi thì không biết sẽ ra sao, khiến Chân Tông thay đổi thái độ với Khấu Chuẩn. Năm 1006, Chân Tông bãi quan của Khấu Chuẩn, điều ra Thiểm Tây[23]. Sau đó lại dùng Tham chính Vương Đán làm Bình chương sự.

Vương Khâm Nhược bàn với Chân Tông chuyện phong thiền, trước hết là có điềm lành. Tết năm 1008, Hoành Thành ty tấu rằng phía nam Thừa Thiên Môn có cuốn sách bọc bằng lụa xanh dài tới vài trượng. Chân Tông cùng trăm quan đích thân ra xem, bảo rằng cuốn sách này hợp với giấc mơ khi trước của mình, trong mơ Chân Tông được thượng đế báo mộng sẽ được ban thiên thư. Tể tướng Vương Đán được lệnh lấy sách rồi dâng lên Chân Tông. Chân Tông mở sách ra xem, thấy có 21 chữ

Triệu thụ mệnh, hưng ư Tống, phó ư quyển. Cư kì khí thủ ư chính. Thế thất thất, cửu cửu định.

Sai Xu mật sứ Trần Nghiêu Tẩu giở sách ra đọc, đọc xong thì Chân Tông quỳ xuống nhận sách, rồi bọc lại cất trong hộp vàng. Chân Tông cùng quần thần lấy cớ đó chuẩn bị tế trời, đổi niên hiệu Đại Trung Tường Phù để tưởng nhớ sự kiện này[24]. Lại đổi Thừa Thiên Môn thành Thừa Thiên Tường Phù, lập Thiên thư nghi vệ phù trí sứ. Tể tướng Vương Đán suất bách quan xin Chân Tông làm lễ phong thiền. Mệnh Vương Đán làm Đại lễ sứ, Vương Khâm Nhược làm Kinh độ chế trí sứ, cùng Phùng Chửng, Đinh Vị cùng lo việc đó. Ở Sơn đông có người thợ mộc là Đổng Tộ, một hôm thấy một dải lụa vàng trên ngọn cây, liền báo về triều. Chân Tông và Vương Khâm Nhược lại bày ra chuyện trời ban Thiên thư. Quần thần dâng Thiên thư ở Hàm Phương Viên, nghi lễ hệt như lần trước. Lại thấy 32 chữ triện

Nhữ sùng hiếu phụng, dục dân quảng phúc, tích nhĩ gia đoan, lê thứ hàm hòa. Mật thủ tư ngôn, thiện giải ngô ý. Quốc tộ thiên vĩnh, thọ lịch hà tuế.

Sau việc đó, bách quan dâng tôn hiệu cho Chân Tông là Sùng Văn Quảng Võ Nghi Thiên Tôn Đạo Bảo Ứng Chương Cảm Thánh Minh Nhân Hiếu hoàng đế. Từ đó về sau biết bao nhiêu điềm lành xuất hiện. Mùa đông năm đó, Chân Tông xây cung Chiêu Ứng để thờ cúng Thiên thư. Công trình này hoàn thành sau 7 năm, tốn kém không biết bao nhiêu mà kể, dân tình bị bóc lột đến khốn cùng. Người Khiết Đan đến vay tiền, Chân Tông xuất luôn 3 vạn lượng bạc, 3 vạn xúc lụa, còn bảo số nợ lần trước quá nhỏ không cần trả.

Ngày 2 tháng 10 ÂL, Chân Tông khởi hành từ Biện Kinh đến Thái Sơn phong thiền, Ngọc lộ chở thiên thư đi trước. Lễ xong, Chân Tông lệnh cho dân chúng mở tiệc vui chơi 3 ngày, thiết đãi phụ lão ở điện môn. Khi về ngang qua miếu Khổng Tử, Chân Tông truy phong cho Khổng Tự là Hiển Thánh Văn Tuyên vương. Sau đó về cung.

Lúc đó chính trị, kinh tế đều tuột dốc. Mất mùa, đói kém xảy ra liên miên, nhưng Chân Tông vẫn làm ra vẻ thái bình, ngày đêm mở hội, cúng tế. Lúc đó Từ Duyện bị lũ lụt, Giang Hoài hạn hán, Kim Lăng hỏa hạn nên việc phong thiền ở phía tây bị hoãn. Đến năm 1010, lại thực hiện phong thiền ở phía tây, cực kì xa hoa tốn kém. Sau khi phong thiền, Chân Tông phong Vương Khâm Nhược làm Xu mật sứ, Đinh Vị làm Tham chính, Vương Đán gia phong Trung thư thị lang, tri Xu mật viện sự, Thượng thư bộ Hình.

Từ 1013-1015 ông đã ban hành chỉ dụ để tôn thờ Ngọc Hoàng như là vị chúa tể tối cao của Thiên đình[25].

Hoàng hậu Lưu thị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1007, hoàng hậu Quách thị qua đời, thụy là Chương Mục. Lúc đó ở trong cung, Chân Tông sủng ái mĩ nhân Lưu thị. Đức phi từ nhỏ mồ côi, đi thei gặp được một nghệ nhân kim hoàn tên Cung Mỹ. Chân Tông khi đó chưa lên ngôi, từng triệu Cung Mĩ vào phủ, có Lưu thị đi theo. Lưu thị thông minh xinh đẹp, lại cùng tuổi với Triệu Hằng nên cả 2 nhanh chóng thân thiết với nhau. Tống Thái Tông biết chuyện, trục xuất Lưu thị khỏi kinh thành, nhưng thái tử vẫn lén giấu bà trong nhà của Trương Kỳ.

Năm 1004, Chân Tông đưa Lưu thị vào cung, phong làm Mĩ nhân. Lưu mĩ nhân đã 36 tuổi, nhưng ôn nhu chừng mực, cử chỉ tao nhã, rất được Chân Tông yêu quý, chuyển sủng trong cung. Sau khi Quách hậu mất, Chân Tông muốn lập Lưu thị, nhưng quần thần phản đối và đề nghị lập Thẩm thị, con gái tể tướng Thẩm Luân. Lúc đó, cung nữ Lý thị hầu cận Lưu mỹ nhân gặp được mộng tiên nhân, báo rằng sẽ sinh hoàng tử. Lưu thị tương kế tựu kế, cho Lý thị vào hầu Chân Tông, sau 1 đêm quả nhiên có thai.

Năm 1010, Lý thị hạ sinh hoàng tử Thụ [26][27]. Chân Tông phong Lý thị làm Sùng Dương huyện quân. Lưu thị đem hoàng tử về, nuôi làm con và cấm không ai được nói chuyện này ra. Năm 1012, tấn phong Lưu mĩ nhân làm Lưu Đức phi. Cuối năm này, Chân Tông định lập Đức phi làm hậu. Hàn lâm học sĩ Lý Địch và Tham chính Triệu An Nhân đều phản đối nhưng chả ăn thua[28]. Lưu hậu nhận Cung Mĩ là biểu ca, tìm người trong tông tộc họ Lưu phong quan chức để tạo phe cánh, dần can dự vào việc triều chính.

Cai trị thời kì cuối[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1017, Vương Đán bị bệnh xin từ chức và tiến cử Khấu Chuẩn đến cuối thu thì qua đời[29]. Trước kia Vương Khâm Nhước và Xu mật phó sứ Mã Trì Tiết mâu thuẫn với nhau, Chân Tông bèn bãi chức cả hai, đến đây triệu Khâm Nhược về làm tể tướng. Năm 1018, Chân Tông lập hoàng tử Triệu Thụ Ích làm thái tử, đổi tên thành Triệu Trinh.

Năm 1019, Vĩnh Hưng quân tuần kiểm Chu Năng nhặt được một quyển sách, lại phao là thiên thư. Khấu Chuẩn ở Vĩnh Hưng liền đưa quyền sách về triều. Tri phủ Hà Dương Tôn Thích dâng sớ nói Chu Năng là kẻ gian trá, cần phải chém đi, Chân Tông không theo. Lúc này Vương Khâm Nhược có quan hệ về việc tàng trữ sách cấm nên bị bãi tướng[30]. Chân Tông khôi phục tướng vị của Khấu Chuẩn và dùng Đinh Vị làm Tham chính. Ít lâu sau, Chân Tông gia phong Khấu ChuẩnHướng Mẫn Trung làm Hữu bộc xạ,

Đầu năm 1020, Chân Tông bị thấp khợp, không thể lên triều, Lưu hoàng hậu nắm hết đại quyền trong tay. Khấu Chuẩn lo sợ hoàng hậu chuyên chính, nên dâng biểu xin Chân Tông hãy nhường ngôi thái tử, lui về tĩnh dưỡng. Chân Tông đồng ý, lệnh Dương Ức soạn chiếu cho thái tử giám quốc. Đinh Vị vốn có hiềm khích với Khấu Chuẩn, nhân cơ hội này méc với hoàng hậu. Hoàng hậu giận lắm, giáng Khấu Chuẩn làm thái tử thái phó; Lý ĐịchĐinh Vị lên đảm nhận chức Bình chương sự; việc này Chân Tông không hề hay biết.

Hoài Chính bàn với Khấu Chuẩn đưa binh giết Đinh Vị, bắt giam Lưu hậu, Khấu Chuẩn cho là không nên nhưng Hoài Chính vẫn làm. Việc bị phát giác, quan Thiêm thư Xu mật viện là Tào Vĩ xét tội Hoài Chính nhưng không đá động tới Khấu Chuẩn. Lưu hậu đem việc tâu với Chân Tông, còn định truy xét đến thái tử, song do có Lý Địch can ngăn, nên thôi. Đinh Vị tố giác Chu Năng, Hoài Chính ngụy tạo thiên thư, Khấu Chuẩn cũng có liên can bị đày ra Tương châu[31], rồi giáng tư mã Đạo châu. Từ đó, quyền hành trong triều về tay Đinh Vị.

Lý Địch sau đó lại bất hòa với Đinh Vị. Vào năm 1021, Đinh Vị muốn cho Lâm Đặc làm Khu mật phó sứ, Lý Địch phản đối, chửi Đinh Vị giữa triều. Chân Tông hạ chiếu bãi tướng cả hai. Đinh Vị vào nói mấy lời ngon ngọt với Chân Tông rồi cho thu lại lệnh, Vị vẫn là tể tướng. Lúc này bệnh tình của Chân Tông ngày càng nặng, hạ chiếu việc nước phải có thánh chỉ như cũ, thái tử và tể tướng, xu mật cùng tham nghị việc nước. Triệu Lý Tăng về giữ chức Tham tri chính sự.

Năm 1022, Chân Tông cải nguyên là Càn Hưng, xá thiên hạ. Tiến phong Đinh Vị làm Tần quốc công; Phùng Chửng làm Ngụy quốc công; Tào Lợi Dụng làm Hàn quốc công. Dịp Tết nguyên tiêu, Chân Tông dù đang mang bệnh vẫn đến Đông Hoa môn ngắm đèn lồng, khi trở về bệnh tình trở nặng, nằm không dậy được. Ngày 23 tháng 3, Chân Tông qua đời, thọ 55 tuổi, làm vua 25 năm. Trước khi mất, ông ủy thác cho Lưu hậu lên triều nghe chính và dặn phải dùng lại Lý Địch, Khấu Chuẩn[32].

Thái tử Triệu Trinh năm đó 13 tuổi nối ngôi, là Tống Nhân Tông; thái hậu Lưu thị buông rèm nhiếp chính. Nhân Tông cho đem mấy cuốn thiên thư khi trước táng cùng với Chân Tông.

Tống Chân Tông cũng là một thi nhân. Các tác phẩm nổi tiếng còn lại tới nay có Lệ học thiên, Khuyến học thi (khuyến học văn).

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Tống Thái Tông Triệu Quýnh.
  • Mẹ: Nguyên Đức hoàng hậu Lý thị (元德皇后 李氏, 943 - 977). Là một phi tần, tước vị Phu nhân (夫人). Khi Chân Tông lên ngôi mới truy phong thành hoàng hậu.
  • Hậu phi:
  1. Chương Hoài hoàng hậu Phan thị (章怀皇后 潘氏, 968 - 989), người Đại Danh, con gái của Phan Mỹ (潘美). Chính thất lúc chưa đăng cơ. Qua đời trước khi Chân Tông lên ngôi.
  2. Chương Mục hoàng hậu Quách thị (章穆皇后 郭氏, 975 - 1007), con gái của Quách Thủ Văn (郭守文). Hoàng hậu chính thức thứ 1 được sắc phong lúc còn sống.
  3. Chương Hiến Minh Túc hoàng hậu (章献明肃皇后, 968–1033), tên là Lưu Nga (刘娥), người Ích Châu, con gái của Lưu Thông (刘通), trước được sắc phong làm Mỹ nhân, sau thăng vị Tu nghi, Đức phi rồi thành Hoàng hậu. Hoàng hậu chính thức thứ 2 được sắc phong lúc còn sống.
  4. Chương Ý hoàng hậu Lý thị (章懿皇后 李氏, 987–1032), con gái Lý Nhân Đức (李延嗣), là cung nữ của Lưu hoàng hậu. Phong vị Uyển nghi (婉仪), thời Nhân Tông phong làm Thuận dung (顺容), rồi Thần phi (宸妃). Sau này mới truy phong làm Hoàng hậu.
  5. Chương Huệ hoàng hậu Dương thị (章惠皇后 楊氏, 984–1036), con gái Dương Tri Nghiễm (杨知俨). Thân thiết với Lưu hoàng hậu, tước vị vốn là Dương Thục phi (楊淑妃). Cùng Lưu hoàng hậu bảo dưỡng Tống Nhân Tông, sau tôn phong Hoàng thái phi (皇太妃). Khi Lưu thái hậu tạ thế, tôn làm Bảo Khánh hoàng thái hậu (保慶皇太后). Rồi khi qua đời được truy tôn ngôi Hoàng hậu.
  6. Chiêu Tĩnh quý phi Thẩm thị (昭静贵妃沈氏, 994 – 1076), con gái Thẩm Kế Tông (沈继宗), cháu gái Tể tướng Thẩm Luân (沈伦). Từ vị Tài nhân (才人), lên Mỹ nhân (美人), Tiệp dư (婕妤), Sung viên (充媛) rồi Đức phi (德妃). Bà tính hiền hậu, khoan dung, không xa hoa lãng phí, Chân Tông quý mến kính trọng. Thời Nhân Tông tôn làm Quý phi (贵妃), đến khi qua đời truy tôn làm Chiêu Tĩnh quý phi (昭静贵妃).
  7. Đỗ Quý phi (貴妃杜氏, ? - 1046), tên là Quỳnh Chân (琼真), xuất gia có tên là Ngộ Chân đại sư (悟真大师). Từ vị Tiệp dư, tiến phong Sung dung (充容) rồi Hiền phi (贤妃). Sau khi qua đời mới truy tặng làm Quý phi (贵妃).
  8. Tào Hiền phi (曹贤妃, ? - 1026), tước vị là Tu viên (修媛), cô ruột của Tống Nhân Tông Tào hoàng hậu.
  9. Trần Quý phi (陳貴妃).
  10. Trần Hiền phi (陳贤妃, ? - 996).
  11. Đái Thuận dung (戴順容).
  12. Từ mỹ nhân (徐美人).
  13. Trần tài nhân (陳才人).
  • Hậu duệ:
  1. Ôn vương Triệu Đề (赵禔). Chết non.
  2. Điện Hiến thái tử Triệu Hữu (悼献太子赵祐). Chết khi 10 tuổi. Mẹ là Chương Mục hoàng hậu.
  3. Xương vương Triệu Kỳ (赵祇). Chết non.
  4. Tín vương Triệu Chỉ (赵祉).
  5. Khâm vương Triệu Kỳ (赵祈). Chết non.
  6. Tống Nhân Tông Triệu Trinh (赵祯). Mẹ đẻ là cung nhân Lý thị, sau truy phong là Chương Ý hoàng hậu. Ông được nhận nuôi bởi Chương Hiến hoàng hậu và Chương Huệ hoàng hậu.
  7. Huệ Quốc công chúa (惠國公主), chết non.
  8. Thăng Quốc đại trưởng công chúa (升國大長公主). Sau theo đạo, hiệu Thanh Hư Linh Chiếu đại sư (清虚灵照大师). Em gái cùng mẹ với Tống Nhân Tông.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tên của ông được đổi thành Nguyên Hưu năm 983.
  2. ^ Tên của ông được đổi thành Nguyên Khản năm 986.
  3. ^ Tên của ông được đổi thành Hằng năm 995 khi được tấn phong thái tử. Tên này thành kỵ húy khi ông lên ngôi vua năm 997.
  4. ^ Đây là thụy hiệu cuối cùng đặt năm 1047.
  5. ^ Academia Sinica - Chuyển hoán Trung Tây 2000 năm
  6. ^ a ă â b c d đ Tống sử, quyển 6.
  7. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 8
  8. ^ Tống sử, quyển 244
  9. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 19
  10. ^ Tống sử, quyển 242
  11. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 20
  12. ^ Tống sử, quyển 258
  13. ^ Tống sử, quyển 281
  14. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 21
  15. ^ Ngân Xuyên, Hồi Ninh Hạ, Trung Quốc hiện nay; về sau là kinh đô Tây Hạ
  16. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 23
  17. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 22
  18. ^ Tống sử, quyển 282
  19. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 24
  20. ^ Hàm Đan, Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay
  21. ^ Bộc Dương, Hà Nam, Trung Quốc hiện nay
  22. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 25
  23. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 26
  24. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 27
  25. ^ Jonathan D. Spence. God's Chinese Son. New York, 1996, tr.42
  26. ^ Tống sử, quyển 9
  27. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 28
  28. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 30
  29. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 33
  30. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 34
  31. ^ Tương Phàn, Hồ Bắc, Trung Quốc hiện nay
  32. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 35