Tể tướng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tể tướng (chữ Hán: 宰相) là một chức quan cao nhất trong hệ thống quan chế của phong kiến Á Đông, sau vị vua đang trị vì.

Chức nhiệm chính của Tể tướng là thay mặt vua giải quyết mọi việc về chính sự của quốc gia. Ban đầu chức vụ này chỉ có một người độc bá, nhưng theo các triều đại về sau muốn tránh lạm quyền, chức vụ này dần bị khống chế và san sẻ quyền lực bằng một số Hội đồng được lập ra tùy thời kì.

Nguồn gốc tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Đây không phải là tên một chức quan chính thức, mà chỉ là một cách gọi không chính thống để chỉ "một người quan viên đứng đầu triều đình" trong quan chế phong kiến. Từ Tể (宰) nguyên chỉ tội nhân làm việc chấp sự[1], có ý tứ nói về một người chuyên quản tổng quan mọi việc.

Qua các đời, Tể tướng còn được gọi như Thừa tướng (丞相), Tướng quốc (相國) hay Tổng lý đại thần (總理大臣),... để xưng gọi một quan viên, viên chức nhà nước đứng đầu (thường là tối cao) trong bộ máy quan chế.

Có sự khác nhau giữa Thừa tướngTướng quốc khá tinh vi. Chu Thiệu Hầu trong "Tổng tập lược truyện các Tể tướng trong lịch sử Trung Quốc" có chỉ ra điều này:

Tướng quốc có địa vị và quyền thế cao hơn thừa tướng. Căn cứ theo Bách quan công khanh biểu trong Hán thư thì thừa tướng là người có trách nhiệm phò tá thiên tử, giúp giải quyết các việc quan trọng, nghĩa là thừa tướng là trợ thủ của vua; còn đối tượng mà tướng quốc giúp là đất nước. Thiên cường quốc trong sách Tuân Tử có ghi "tướng quốc trên thì được một vua, dưới thì được một nước"[2].

Chức tướng quốc vốn được gọi là tướng bang. Kết quả khảo cổ còn cho thấy những chữ "tướng bang Lã Bất Vi" (nước Tần) khắc trên cái qua hay ấn "tướng bang Hung Nô". Từ khi Lưu Bang lên làm vua, chức này được đổi gọi là tướng quốc vì kiêng tên húy của ông[2].

Dù có sự phân biệt khá tinh vi giữa hai danh hiệu, nhưng trên thực tế tướng quốc hay thừa tướng đều là quan đầu triều, chỉ ở dưới vua và trên các quan khác. Các triều đại có thể phân quyền chức quan đầu triều cho 2 người bằng cách đặt ra các chức Tả, Hữu thừa tướng chứ không bao giờ vừa đặt tướng quốc vừa đặt thừa tướng. Điển hình là đầu thời Hán. Năm 205 TCN, Lưu Bang để Tào Tham là giả Tả thừa tướng; đến khi thống nhất quốc gia thì nhập làm một, lấy Tiêu Hà làm thừa tướng (không chia Tả, Hữu nữa). Năm 196 TCN Tiêu Hà có công lừa giết Hàn Tín, được thăng làm tướng quốc. Sau khi ông mất, Tào Tham nối làm tướng quốc. Sau khi Tào Tham chết thì Lã Hậu không để ai ở ngôi tướng quốc nữa, ngôi thừa tướng được thiết lập lại và lại chia ra Tả, Hữu thừa tướng[3].

Tại Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Tần Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thời nhà Thương, có chức quan Tể dùng để gọi người quản lý gia vụ và đối đãi nô lệ. Sang thời nhà Chu, có chức quan đứng đầu gọi là Thái tể (太宰), coi việc gia vụ của quan viên gọi là Gia tể (家宰), coi việc ăn uống là Bào tể (庖宰) hay coi một huyện, ấp gọi là Ấp tể (邑宰).

Vào thời Xuân Thu, Tể tướng trở thành một tên gọi quan danh đứng đầu, xuất hiện ở cuốn Hiển học thiên (显学篇) - Hàn Phi Tử, sách nói:"Cố minh chủ chi lại, Tể tướng tất khởi với châu bộ, mãnh tướng tất phát với tốt ngũ."[4]. Quản Trọng là người đầu tiên trở thành Tể tướng nước Tề thời Tề Hoàn công. Đến thời kỳ Chiến Quốc thì tại các nước chư hầu khác của nhà Chu đều lập ra chức này.

Thời nhà Tần, tên gọi chính thức của chức vụ này là Thừa tướng. Thời kỳ đầu Tây Hán, mô hình tương tự như thời kỳ nhà Tần, lại có bậc Tướng quốc (相国) cao hơn một chức, và đặt thêm Ngự sử đại phu (御史大夫) là phó, phụ giúp. Đến thời Hán Vũ Đế mới lấy những người theo Nho học làm Thừa tướng để xử lý các công việc hành chính thường ngày nhưng các công việc hành chính quan trọng vẫn do nội đình giải quyết. Tể tướng khi đó là người đứng đầu Thượng thư đài (尚书台). Đến thời Hán Ai Đế, chức này được đổi thành Đại tư đồ (大司徒).

Thời kỳ Đông Hán do Tư đồ (司徒), Tư không (司空), Thái uý (太尉) cùng chấp chính, tức Tam công. Quyền thần đa phần xưng Đại tư mã (大司馬). Năm Kiến An thứ 13 (208) thời Hán Hiến Đế, lại phục hồi chức danh Thừa tướng, và Tào Tháo là người nắm giữ chức vụ này cho tới ngày 15 tháng 3 năm 220. Lúc này, quyền lực của Tế tướng lấn át hoàng đế. Điều này thường xảy ra khi một triều đại trở nên yếu kém, và cũng thường sụp đổ không lâu sau đó.

Thời nhà TấnNam Bắc triều, danh vị Thừa tướng hay Tướng quốc là những quyền thần có địa vị tối cao tự xưng. Thời Nam Bắc triều chế độ biến đổi nhiều, hoặc là Hoàng đế trực tiếp bàn chính sự hoặc ủy quyền cho Cơ mật giả (机密者), tức Tể tướng. Chức danh có Trung thư giám (中书监), Trung thư lệnh (中书令), Thị trung (侍中), Thượng thư lệnh (尚书令), Bộc xạ (仆射) hoặc Tướng quân; ngoài ra còn có quyền lớn nhất, tức chức Lục thượng thư sự (录尚书事).

Tùy Đường[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Tùy định ra Tam tỉnh chế (三省制), các chức quan đứng đầu tam tỉnh bao gồm: Nội sử tỉnh (内史省) là Nội sử lệnh (内史令), Môn hạ tỉnh (门下省) là Nạp ngôn (纳言); Thượng thư tỉnh (尚书省) là Thượng thư lệnh (尚书令). Lúc này cả 3 chức quan san sẻ quyền lực, đều được liệt vào hàng Tể tướng vậy. Nhà Đường cải Nội sử tỉnh thành Trung thư tỉnh (中书省); chức Nội sử lệnh thành Trung thư lệnh (中书令); chức Nạp ngôn thành Thị trung (侍中). Từ thời Đường Cao Tông trở đi, không lập Thượng thư lệnh, mà có Đồng trung thư môn hạ tam phẩm (同中书门下三品), chính là Tể tướng mới. Thời Đường Huyền Tông, thiết ra Đồng trung thư môn hạ bình chương sự (同中书门下平章事), gọi tắt là Đồng bình chương sự (同平章事), là hàm gia tặng chứng minh là Tể tướng.

Nhà Tống lấy Đồng bình chương sự, Thị trung là tên gọi chính thức của chức vụ Tể tướng, với Tham tri chính sự (参知政事) là phó; hai người cùng bình luận chính sự, bổ nhiệm quan viên, giải quyết tấu chương, hợp xưng Tể chấp (宰執). Song từ Hán đến Đường, thiên tử dùng lễ đãi Tể tướng, là cho phép ngồi bàn, nhưng Tống Thái Tổ phế bỏ phép này, Tể tướng đứng thẳng đáp, này có thể coi là cố ý kiềm chế địa vị vậy. Đến niên hiệu Nguyên Phong (1078 - 1085) thời Tống Thần Tông, lại cải cách chế độ, cho 2 người đảm nhận công việc của Tể tướng, với chức danh của quan đứng đầu là Thượng thư tả bộc xạ kiêm môn hạ thị lang (尚书左仆射兼门下侍郎), phó là Thượng thư hữu bộc xạ kiêm trung thư thị lang (尚书右仆射兼中書侍郎); lập ra thêm Môn hạ Thị lang (门下侍郎), Trung thư Thị lang (中书侍郎) , Thượng thư Tả thừa (尚书左丞) cùng Thượng thư Hữu thừa (尚书右丞) làm phó tướng, giúp đỡ Lưỡng tướng.

Đến niên hiệu Chính Hòa (1111 - 1118) thời Tống Huy Tông, đổi Tả bộc xạ thành Thái tể kiêm Môn hạ thị lang (太宰兼门下侍郎), Hữu bộc xạ thành Thiếu tể kiêm Trung thư thị lang (少宰兼中书侍郎). Niên hiệu Tĩnh Khang (1126-1127) thời Tống Khâm Tông, lại đổi trở lại thành Thượng thư tả bộc xạ kiêm môn hạ thị langThượng thư hữu bộc xạ kiêm trung thư thị lang như cũ. Đến niên hiệu Kiến Viêm (1127-1130) thời Tống Cao Tông, lại đổi tên gọi chức quan của Tể tướng thành Thượng thư bộc xạ Đồng trung thư môn hạ bình chương sự (尚书仆射同中书门下平章事), phó tể tướng thành Tham tri chính sự. Niên hiệu Càn Đạo (1165-1173) thời Tống Hiếu Tông, đổi thành Tả, Hữu Thừa tướng cho gọn gẽ.

Nhà NguyênTrung thư tỉnh là cơ quan hành chính cao nhất, chức quan đứng đầu Trung thư lệnh thường do Hoàng thái tử đảm nhận, dưới có Tả Hữu thừa tướng, sau lại có Bình chương chính sự (平章政事); chức phó có Tả hữu thừa (左右丞) cùng Tham tri chính sự.

Minh Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ đầu nhà Minh cũng đặt Trung thư tỉnh với Tả Hữu Thừa tướng đứng đầu. Năm Hồng Vũ thứ 13 (1380), Minh Thái Tổ bãi bỏ Trung thư tỉnh, phế chức vụ Thừa tướng, mọi công việc triều chính do Hoàng đế tự quyết. Chế độ Tể tướng bị bãi bỏ từ đây. Sau, Hoàng đế do nhiều công việc nên đặt ra chức vụ Nội các đại học sĩ (内阁大学士) hàm Chính ngũ phẩm, đảm nhận công việc văn thư. Sau do chức vụ này trở nên quan trọng, thành ra Đại học sĩ có thể coi như là đảm nhận công việc của Tể tướng, xưng là Phụ thần (辅臣), làm việc tại Thủ phụ (首辅).

Nhà Thanh noi theo chế độ nhà Minh, sau Ung Chính Đế thiết lập Quân cơ xứ (军机处), Nội các (内阁); chức vụ Quân cơ đại thần (军机大臣) đảm nhận công việc của Tể tướng. Cuối cùng, mô phỏng theo chế độ của Nhật Bản đổi thành Tổng lý đại thần (总理大臣).

Tên gọi qua các triều đại[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ tể tướng trong các triều đại phong kiến tại Trung Quốc không thống nhất về tên gọi. Bảng dưới đây liệt kê tên gọi qua các thời kỳ.

Triều đại Chức vụ Nội dung Ghi chú
Chu Chủng tể Đứng đầu các quan, tức Thái tể
Tần, Tây Hán Thừa tướng
Thái úy
Ngự sử đại phu
Đại tư đồ - phụ tá hoàng đế, tổng quản chính vụ, đứng đầu các quan
Đại tư mã - tổng quản quân sự
Đại tư không - quan giám sát
Tam công
Đông Hán Tư đồ
Thái úy
Tư không
Thừa tướng đổi thành tư đồ, ngự sử đại phu đổi thành tư không
Thực quyền ở các thượng thư, thành ra chỉ là chức vụ danh dự
Tam công
Thượng thư thư ký của hoàng đế
Ngụy, Tấn Thừa tướng Phục hồi tam công
Lục thượng thư sự Thượng thư là chức vụ tối cao
Thượng thư lệnh
Môn hạ thị trung
Trung thư lệnh
Phân biệt với thượng thư trước đó
Cận kề hoàng đế
thư ký trưởng của hoàng đế
Đường Thượng thư lệnh
Thị trung
Trung thư lệnh
Quan đứng đầu Thượng thư tỉnh
Quan đứng đầu Môn hạ tỉnh
Quan đứng đầu Trung thư tỉnh
Quan đứng đầu tam tỉnh
Thượng thư bộc xạ
Thị trung
Trung thư lệnh
Do Thái Tông từng là thượng thư lệnh nên chức này sau bị bỏ trống, thượng thư bộc xạ vốn là phó cho thượng thư lệnh được nâng lên thành quan đứng đầu thượng thư tỉnh
Đồng trung thư môn hạ bình chương sự Từ năm Chí Đức đời Đường Túc Tông trở đi
Bắc Tống Đồng bình chương sự
Môn hạ thị lang kiêm tả bộc xạ
Trung thư thị lang kiêm hữu bộc xạ
Nam Tống Thừa tướng Các chức bộc xạ đổi thành tả, hữu thừa tướng
Nguyên Thừa tướng Phế bỏ thượng thư tỉnh và trung thư tỉnh, phỏng theo phong tục phương Bắc, hữu thừa tướng cao hơn tả thừa tương
Minh Thừa tướng Do thừa tướng Hồ Duy Dung chuyên quyền nên phế bỏ
Nội các đại học sĩ thư ký của hoàng đế kiêm giáo dục quan viên
Thanh Nội các đại học sĩ Thủ trưởng nội các
Quân cơ đại thần Thủ trưởng quân cơ xứ
Nội các tổng lý đại thần Mô phỏng chế độ Nhật Bản

Các tể tướng nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Qua các thời kỳ, chức vụ Tể tướng thay đổi:

Chức vụ này được coi là tương đương với thủ tướng ngày nay.

Một số tể tướng nổi tiếng:[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên Sinh mất Chức vụ Gia phong Ghi chú
Nhà Triệu Lữ Gia ?-111 TCN Thái phó, Thừa tướng
Nhà Tiền Lý Triệu Túc ?-545 Thái phó
Lý Phục Man Thái úy Phò Mã
Nhà Đinh Nguyễn Bặc Hành Khiển Định Quốc Công
Nhà Tiền Lê Phạm Cự Lượng 944-984 Thái úy
Từ Mục Đại Tổng Quản
Nhà Lý Trần Cảo Tướng Công
Lý Thường Kiệt Thái úy Thái phó Phụ Quốc
Lý Đạo Thành Bình chương quốc quân trọng sự Thái phó
Tô Hiến Thành Nhập Nội kiểm hiệu

Bình Chương Quốc Quân Trọng Sự

Thái phó
Đỗ Kính Tu Thái úy Đế Sư, Thái phó, Thái Bảo
Đỗ Anh Vũ Phụ Chính Thái úy
Đỗ An Di ?-1118 Phụ Chính, Đồng Bình Chương Sự Thái Sư
Lưu Khánh Đàm Thái úy
Đàm Dĩ Mông Phụ Chính Thái phó
Trần Tự Khánh Thái úy
Trần Thủ Độ Phụ Chính Thái úy
Nhà Trần
Trần Nhật Hiệu Tướng Quốc Thái úy Khâm Thiên Vương
Trần Liễu Thái úy Yên Sinh Vương
Trần Quang Khải Tể Tướng, thái úy Thái Sư, Thượng tướng

Chiêu Minh Đại Vương

Trần Quang Triều Nhập Nội Kiểm hiệu Tư Đồ Văn Huệ Vương
Trần Khắc Chung Đại hành Khiển, Tể Tướng
Mạc Đĩnh Chi Nhập Nội Hành khiển
Lê Quát Thượng thư hữu bật, Nhập Nội Hành Khiển
Ngô Miễn Hành khiển Thượng Thư lệnh,

Đồng bình chương quốc quân trọng sự

Nguyễn Trung Ngạn Đại Hành Khiển, Thượng Thư hữu bật
Trần Nguyên Đán Đại Tư Đồ Chương Túc quốc thượng hầu
Hồ Quý ly Phụ Chính Thái Sư
Nhà Hồ
Hồ Nguyên Trừng Tư Đồ
Nhà Lê Sơ
Nguyễn Xí Nhập Nội hữu Tướng Quốc, Thái úy,

Thiếu bảo Tri quân dân sự,

Khai Phủ Nghi Đồng Tam ty,Nhập Nội Kiểm hiệu,

Bình Chương Quốc Quân Trọng Sự.

Thái Sư, Thái phó,

Sái Quận Công, Á Quận hầu.

Lê Thận Nhập Nội Kiểm Hiệu Tư Đồ Bình Chương Sự,

Đại Tư Đồ, Bình Chương Quốc Quân Trọng Sự,

Thái phó, Hoằng Quốc Công,

Huyện Thượng hầu

Lê Sát Nhập Nội Kiểm Hiệu, Đại Tư Đồ,

Tư khấu Bình Chương Quốc quân Trọng Sự

Dương Vũ Tĩnh nạn Công thần,

Huyện Thượng Hầu

Lê Thụ Thái úy Huyện hầu
Trần Nguyễn Hãn Tả Tướng Quốc, Thái úy, Tư Đồ.
Nguyễn Trãi Nhập Nội Hành Khiển Tri Tam Quán Sự Vinh Lộc Đại Phu,Tán Trù Bá,

Tế Văn Hầu

Trịnh Khả Khai Phủ Nghi Đồng Tam ty,Nhập Nội Kiểm hiệu,

Bình Chương Quốc Quân Trọng Sự,

Thượng Trụ Quốc.

Thái Tể, Thiếu phó, Liệt Quốc Công,

Hiển Khánh Vương.

Trịnh Trọng Ngạn Thái úy, Phụ Quốc
Trịnh Thúc Thông Thái uý, Phụ Quốc Đề Quốc Công
Trịnh Thúc Tùng Thái úy, Phụ Quốc Vinh Quốc Công
Trịnh Đại Hưng Thái úy, Phụ Quốc Huyền Quốc Công
Đào Công Soạn Nhập Nội Hành Khiển Tri Tam Quán Sự Hầu tước
Thân Nhân Trung Nhập Nội Phụ Chính
Mạc Đăng Dung Thái phó Nhân Quốc Công
Nhà Mạc
Mạc Kính Điển Phụ Chính Khiêm Vương
Mạc Đôn Nhượng Phụ Chính Ứng Vương
Nhà Lê Trung Hưng
Nguyễn Kim Chưởng Nội Ngoại Sự Thái Sư, Hưng Quốc Công
Đặng Huấn Chưởng Sự, Thái úy Nghĩa Quận Công
Nguyễn Mậu Tuyên 1518-1599 Tể Tướng Thiếu Sư, Quỳnh Quận Công
Nguyễn Văn Giai 1553-1628 Tham Tụng, Lại Bộ Thượng Thư Thái bảo, Lễ Quận Công, Đại tư Đồ
Lưu Đình Chất 1566-1627 Tham Tụng, Hộ Bộ Thượng Thư Thiếu Sư, Thiếu bảo, Phúc Quận Công
Nguyễn Danh Thế 1573-1645 Tham Tụng, Thái phó, Đường Quận Công, tả Tư Không
Nguyễn Nghi 1588-1657 Tham Tụng, Lại Bộ Thượng Thư Thiếu Phó
Đặng Thế Khoa 1593-1656 Tham Tụng Thiếu phó, Liêm Quận Công Phủ chúa Trịnh
Hoàng Đình Ái 1527-1607 Thái tể Thái tể, Vinh Quốc công, Hữu tướng quốc, thượng tướng quân, Vinh lộc đại phu
Vũ Duy Chí 1604-1678 Tham Tụng, Lễ Bộ Thượng Thư Quốc Lão Thiếu Phó, Phương Quận Công
Trần Đăng Tuyển 1614-1673 Tham Tụng, Binh Bộ Thượng Thư Thiếu Sư
Đồng Tồn Trạch 1616-1962 Tham Tụng Thái bảo, Nghĩa Quận Công
Nguyễn Mậu Tài 1616-1688 Tể Tướng, Tham Tụng, Lễ Bộ Thượng thư Thiếu bảo, An Lĩnh Bá
Nguyễn Đăng Đạo 1651-1719 Tể Tướng Cung Vua
Hà Tông Huân 1697-1766 Tham Tụng Thiếu bảo, Huy Quận Công
Hồ Sĩ Dương 1621-1681 Tham Tụng Thiếu bảo, Duệ Quận Công
Nguyễn Quán Nho 1638-1708 Tể Tướng, Tham Tụng, Lễ Bộ Thượng Thư Quận Công
Nguyễn Viết Thứ 1644-1692 Tham Tụng, Lại Bộ Thượng Thư Tử Tước
Lê Hy 1646-1702 Tham Tụng, Binh Bộ Thượng Thư Lai Sơn bá
Nguyễn Quang Thuận 1678-1758 Tham Tụng, Lễ Bộ Thượng Thư Đại Tư Mã
Nguyễn Hiệu 1674-1735 Tham Tụng, Lễ Bộ Thượng Thư Thiếu bảo, Nông Quận Công
Nguyễn Công Cơ 1676-1733 Tham Tụng, Binh Bộ Thượng Thư Thiếu Phó, Tảo Quận Công
Ngô Đình Chất 1679-1751 Tể Tướng Thái bảo, nhuệ Quận Công Cung Vua
Nguyễn Khiêm Ích 1679-1740 Tham Tụng, Lại Bộ Thượng Thư Thái Tể, Đại Tư Không
Nguyễn Công Hãng 1680-1732 Tham Tụng, Lại Bộ Thượng Thư Thái Bảo
Nguyễn Công Thái 1684-1758 Tham Tụng, Lại Bộ Thượng Thư Thái Tử Thái phó
Lê Hữu Kiều 1691-1760 Tham Tụng, Binh Bộ Thượng Thư Thiếu Phó, Quận Công
Nguyễn Đức Vĩ 1700-1775 Tể Tướng Thái Tử Thái Bảo Cung Vua
Trịnh Tuệ 1701-? Tham Tụng, Hình Bộ Thượng Thư Quận Công, Đô Đốc Trụ Quốc Thượng tướng
Nguyễn Nghiễm 1708-1776 Tham Tụng, Hộ Bộ Thượng Thư Thái Tử Thái Bảo, Đại Tư Đồ, Xuân Quận Công
Nguyễn Hoàn 1713-1792 Tham Tụng Thái Tử Thái Bảo, Quốc Sư, Viện Quận Công
Vũ Miên 1718-1782 Hành Tham Tụng, Binh Bộ Thượng Thư Liên Khê Hầu
Phan Huy Cẩn 1722-1789 Bình Chương Sự, Tham Tụng, Khuê Phong Bá
Hồ Sĩ Đống 1739-1785 Hành Tham Tụng Ban Quận Công
Trần Văn Kỷ ? - 1801
Hoàng Đình Bảo 1743-1782 Phụ Chính Huy Quận Công
Nhà Tây Sơn
Bùi Đắc Tuyên ? - 1794 Thái sư
Trần Văn Kỷ ? - 1801 Phụng chính Trung thư lệnh Kỷ Thiện hầu
Nhà Nguyễn
Bùi Văn Dị 1833-1895 Lại Bộ Thượng Thư
Nguyễn Hữu Bài 1863-1935 Võ Hiển Điện Đại học Sĩ, Lại Bộ Thượng Thư, Cơ Mật Viện trưởng Đại thần Thái phó
Phạm Quỳnh 1892-1945 Lại Bộ Thượng Thư
Ngô Đình Diệm 1901-1963 Lại Bộ Thượng Thư

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chu Thiệu Hầu (2003), Tổng tập lược truyện các Tể tướng trong lịch sử Trung Quốc, tập 1-2, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 說文:「宰,罪(辠)人在屋下執事者,從宀、從辛。辛,罪也。」
  2. ^ a ă Chu Thiệu Hầu, sách đã dẫn, tr 9
  3. ^ Chu Thiệu Hầu, sách đã dẫn, tr 10
  4. ^ Nguyên văn: 故明主之吏,宰相必起于州部,猛将必发于卒伍。
  5. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, trang 175