Vũ Miên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Vũ Miên
武檰

Sinh1718
Lâm Thao, Lương Tài, Bắc Ninh
Mất1782
Bắc Ninh
Bút danhVũ Liên Khê
Công việcNhà Lê trung hưng:
Nhập thị hành Tham tụng
Quốc sử quán Tổng tài
Quốc tử giám Tế tửu
...
Quốc tịchĐại Việt
Tác phẩm nổi bậtĐại Việt sử ký tục biên
Đại Việt lịch triều đăng khoa lục
Tam thiên tự lịch đại văn Quốc âm
Vợ/chồngTừ Đức phu nhân
Con cáiVũ Chiêu
Thân nhânVũ Trinh

Vũ Miên (武檰, 1718 - 1782), hiệu Hy Nghi tiên sinh, là một danh sĩ, sử gia, và là một đại quan trong lịch sử Việt Nam[1].

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ Miên là người làng Xuân Lan, huyện Lương Tài, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc xưa, nay là thôn Ngọc Quan, xã Lâm Thao, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.

Dòng họ Vũ của Vũ Miên có gốc từ làng Mộ Trạch, Hải Dương - một dòng họ có nguồn gốc từ thủy tổ Vũ Hồn đỗ Tiến sĩ của Trung Quốc thời Đường làm quan An Nam Kinh lược sứ. Bởi vậy, ngày nay, trong nhà thờ ông tại quê nhà thôn Ngọc Quan có câu đối:

Vũ Miên xuất thân dòng dõi khoa bảng: cha của Vũ Miên tên Vũ Khuê là Cống sĩ thi đậu Tam trường khoa thi Hội, làm quan Huấn đạo phủ Lâm Thao (thuộc Phú Thọ ngày nay), được phong đến chức Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Công bộ tả Thị lang, Đông các điện Đại học sĩ, tước Lan Khê hầu (Lan Khê là tên cũ làng Xuân Lan).

Vũ Miên nổi tiếng thông minh ngay từ thuở nhỏ: mới 15 tuổi Vũ Miên đã đỗ đầu xứ, 18 tuổi thi đỗ Hương giải, được ra kinh đô học tại Quốc tử giám. Năm 31 tuổi, Vũ Miên dự thi Hội đỗ Hội nguyên[2], văn sách, phú thi đều xếp thứ nhất, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 9 (1748) đời Lê Hiển Tông. Đình thí xếp sau 2 người, sách Đăng khoa lục sưu giảng của Trần Tiến[3](Trần Tiến: con trai Tham tụng Trần Cảnh; đỗ Tiến sĩ cùng khoa với Vũ Miên) ghi:

"Vũ Miên: Người làng Xuân Lan, huyện Lương Tài, học rộng tài cao. Năm 31 tuổi, đỗ Tiến sĩ (Hội nguyên khoa Mậu Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng). Ngày hôm Đình thí, đầu bài nghĩa sách nhớ thuộc vanh vách, hỏi đâu biết đấy, thả sức làm văn; nghĩ rằng đoạt khôi nguyên, như thò tay vào túi lấy đồ vật gì vậy; không ngờ khi đi thi, đương viết văn mới viết được một lúc, ngòi bút đã cùn sạch, chỉ còn trơ lại quản bút, không thể nào viết được, nên phải viết trả lời mấy câu hỏi qua loa.

Vậy thì, khoa bảng tự trời cho, cân nhắc phúc đức mà định số phận."

Giai thoại:

Là Nho sĩ có danh tiếng nên xung quanh cuộc đời, sự nghiệp của Vũ Miên có những giai thoại trong dân gian, trong đó có câu chuyện hư cấu về chuột báo ơn ông thi đỗ Hội nguyên, Vũ trung tùy bút của Sinh đồ Phạm Đình Hổ có chép lại câu chuyện kỳ lạ này như sau:

“Vũ Miên người Liên Trì khi nhỏ học rất tối tăm, suốt ngày đọc đi đọc lại chỉ được một trang sách mà vẫn cố sức học mãi không thôi, về sau cũng nổi tiếng văn học trong thời ấy; nhưng văn chương ông nghèo nàn, viết suốt ngày vẫn thường không đủ. Khoa thi năm Mậu Thìn (1748), vào đến trường đệ tứ, ông gặp đề bài đều nhớ cả nhưng viết không kịp, đến xẩm tối mới nộp xong quyển thi mà đi ra. Về đến nhà trọ, cởi áo ra nghỉ ngơi, xem lại thì thấy nộp nhầm quyển nháp, còn quyển chính có đóng dấu vẫn còn ở trong ống. Bấy giờ ngồi than thở ân hận mãi, sau đem những đoạn văn làm ban ngày ra nhuận sắc, viết lại tinh tươm vào quyển có đóng dấu. Trời gần sáng thì viết xong rồi chợp mắt, ngủ mãi đến trưa mới tỉnh dậy. Xem trong ống quyển thì quyển văn có đóng dấu ấy không thấy đâu nữa, trong bụng hoang mang, chỉ sợ bộ Lễ đòi quyển có dấu thì không biết lấy đâu ra mà trả lại được. Bàng hoàng lo sợ tới năm bảy ngày. Đến khi yết bảng thì thấy tin đồn rằng ở Liên Trì có Vũ Miên đỗ Hội nguyên, ông vẫn không tin bèn đến đình Quảng Văn xem yết bảng, quả nhiên có tên mình thật.

Ông vừa vui mừng vừa kinh ngạc, không biết duyên cớ làm sao. Có người bảo rằng: Nhà ông ba đời không nuôi mèo cho nên được báo cái ơn ấy, chẳng biết có phải không?”.

Việc chuột báo ơn, mang quyển thi của Vũ Miên đến để vào nơi chấm thi đem lại vận may đỗ đạt chỉ là câu chuyện hoang đường, ông là danh nho Phú thi đứng đầu cả nước được Nho sĩ đương thời trọng vọng; bởi vậy đó chỉ là một giai thoại vui về Vũ Miên được dân gian xây dựng, nó cũng như bao giai thoại nhuốm màu sắc lạ kỳ về các danh nhân trong lịch sử Việt Nam mà chúng ta đã biết.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Vũ Miên đỗ đạt, ông liên tục làm quan dưới triều Lê - Trịnh, là vị quan có cương vị cao, cùng lúc giữ nhiều trọng trách. Ông được giữ đồng thời nhiều chức quan, trong đó có: Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Nhập thị hành Tham tụng, Quốc sử quán Tổng tài, Quốc tử giám Tế tửu[4].

Bìa tư liệu Tế tửu Quốc tử giám Vũ Miên (1718-1782) Con người và Sự nghiệp - Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội 2014
Bích Ung đại chuông

Vũ Miên có đóng góp quan trọng ở lĩnh vực sử học. Khi làm Tổng tài Quốc sử quán, ông được giao chủ trì biên soạn Đại Việt sử ký tục biên (1775). Nhóm biên soạn gồm Ngô Thì Sĩ, Phạm Nguyễn Du, Ninh Tốn và Nguyễn Sá; việc trông coi biên soạn do Vũ Miên, Lê Quý Đôn, Nguyễn Hoàn phụ trách. Bộ sách này chép sự việc từ niên hiệu Vĩnh Trị đời Lê Hy Tông đến niên hiệu Vĩnh Hựu đời Lê Ý Tông, gồm 6 quyển.
Hoàn thành bộ quốc sử, Vũ Miên lại cùng Nguyễn Hoàn, Uông Sĩ Lãng, Phan Trọng Phiên biên soạn sách Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (1779) chép danh sách đỗ đạt Trạng nguyên, Tiến sĩ từ 1075 đến 1787.
Trong thời gian kiêm chức Tế tửu Quốc tử giám, ông đã có nhiều đóng góp vào việc chấn hưng giáo dục, đào tạo nhân tài cho đất nước. Cùng với Nguyễn Nghiễm, ông cho tu sửa lại nhà Thái học, đúc Bích Ung đại chuông, tham gia tổ chức các khoa thi Tiến sĩ Nho học để lựa chọn nhân tài.
Vũ Miên nổi tiếng về thơ, phú. Tác phẩm của ông có thơ, văn được chép trong các tư liệu: Quốc âm thi, Lịch đại quần anh thi văn tập, Việt thi tục biên, Hồng ngư trú tú lục, Cẩm tuyền vinh lục, Đạo giáo nguyên lưu...Ông có tập Bắc sứ tự thuật ký kể về chuyến đi sứ từ Thăng Long đến Yên Kinh (Bắc Kinh) và các nơi danh thắng trên đường đi.
Cùng với Nguyễn Lệ (tức Nguyễn Khản), Ninh Tốn, Phạm Khiêm trong nhóm Cúc Lâm cư sĩ, Vũ Miên tham gia dịch tác phẩm Tam thiên tự lịch đại văn, lấy tên là Tam thiên tự lịch đại văn Quốc âm để giảng dạy.
Ở trên cương vị nào, Vũ Miên cũng dốc lòng, hết sức vì công việc, sống nhân ái, gần gũi với nhân dân; có lần về quê ông đã mời tất cả những người có nợ trong tổng Lâm Thao, Lương Tài đến ăn cơm và lấy gia sản để xóa hết nợ cho mọi người. Với quê hương, ông là tấm gương về tinh thần hiếu học, nhân nghĩa, tình yêu thương và trách nhiệm. Đình Ngọc Quan, chùa Sen, đường làng, cổng làng...nơi đâu cũng ghi dấu công lao của ông. Bởi vậy, dân làng đã tôn ông làm hậu thần từ khi ông còn sống để tỏ lòng ngưỡng vọng, biết ơn.
Năm 1782 ông bị ốm nặng, chúa Trịnh Sâm sai trung sứ đến thăm hỏi. Ông bảo người nhà đỡ dậy, tự tay viết tờ khải, khuyên Trịnh Sâm định thứ tự trưởng - ấu cho đúng với đạo đời và lòng dân[5].
Khi mất Vũ Miên được truy tặng chức Binh bộ Thượng thư và được ban tên thụy là Ôn Cẩn.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm của Vũ Miên, có:

  • Đại Việt sử ký tục biên (1775) Nguyễn Hoàn, Vũ Miên, Lê Quý Đôn...hợp soạn, 6 quyển, nối tiếp bộ Đại Việt sử ký toàn thư.
  • Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (1779) Nguyễn Hoàn, Vũ Miên, Uông Sĩ Lãng, Phan Trọng Phiên hợp soạn.
  • Có nhiều bài thơ chữ Hán được chép trong Việt thi tục biên, do Nguyễn Thu biên soạn: Hỗ giá tỉnh phương cung ký thứ tùng thần vận, Trú Châu Giang kiều thứ tụng thần vận, Thần Phù hải khẩu, Tiễn Diên Hà Quế Đường Lê Quý Đôn Bắc sứ, Hòa tiễn Lan Khê Tham tụng Nguyễn Hoàn trí sỹ, Tùng giá du Diên Dực sơn, Du Dục Thúy sơn thứ sứ thạch Phạm Công Khắc Thạch thi vận
  • Bắc sứ tự thuật ký viết bằng chữ Nôm theo thể thơ lục bát, kể về chuyến đi sứ từ Thăng Long đến Yên Kinh (Yenching, tức Bắc Kinh).
  • Tam thiên tự lịch đại văn Quốc âm. Nhóm Cúc Lâm cư sĩ gồm: Vũ Miên, Nguyễn Lệ, Ninh Tốn, Phạm Khiêm dịch tác phẩm Tam thiên tự lịch đại văn của Từ Côn Ngọc, nhà Thanh.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng họ Vũ Miên tại làng Xuân Lan (nay là Ngọc Quan, huyện Lương Tài) là dòng dõi khoa bảng nổi tiếng xứ Kinh Bắc, trong gần 200 năm (1717-1919) có tới 43 người thuộc dòng họ thi đậu khoa bảng trong tổng số 46 vị khoa bảng của Ngọc Quan, làm cho làng Xuân Lan trở thành Kinh Bắc danh hương.

  • Con trai: Vũ Chiêu, đỗ Hương giải, làm quan đến chức Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Tham đồng, Đề lĩnh Tứ thành quân vụ.
  • Cháu nội: Vũ Trinh, đỗ Giải nguyên, làm quan đến chức Tham tri Chính sự (Phó Tể tướng), Lại bộ hữu Thị lang, kiêm Hình bộ hữu Thị lang thời Chiêu Thống Đế; được Ngô Thì Nhậm nhiều lần tiến cử làm quan nhưng từ chối không theo Tây Sơn; Gia Long thống nhất đất nước vời ra làm quan đến Hình bộ hữu Tham tri, 2 lần làm Chánh sứ sang Yên Kinh, tham gia soạn bộ Nguyễn triều Hình luật.
  • Vũ Giác, đỗ Phó bảng thời Nguyễn(còn gọi là Ất Tiến sĩ 乙進士), làm quan đến chức Thái Nguyên tỉnh Bố chính sứ; có nhiều đóng góp cho Khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật.

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Tên của danh nhân Vũ Miên hiện nay đã được đặt cho một con đường ở Thành phố Đà Nẵng, một con phố ở Thành phố Bắc Ninh (gần Văn Miếu Bắc Ninh), một con phố tại thị trấn Thứa (huyện Lương Tài), một con phố ở phường Yên Phụ (quận Tây Hồ).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tế tửu Quốc tử giám Vũ Miên (1718-1782) Con người và Sự nghiệp - Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội - 2014
  2. ^ Lịch triều hiến chương loại chí - Phan Huy Chú
  3. ^ Đăng khoa lục-Sưu giảng 登科錄搜講 - Trần Tiến
  4. ^ Đại Việt lịch triều đăng khoa lục - Nguyễn Hoàn, Vũ Miên, Phan Trọng Phiên, Uông Sĩ Lãng
  5. ^ Khâm định Việt sử Thông giám cương mục - Quốc sử quán triều Nguyễn

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lịch triều tạp kỷ - Lê Cao Lãng
  • Lịch đại danh hiền phổ (Nguyễn Thượng Khôi dịch) [Saigon] : Bộ Quốc-gia Giáo-dục, 1962