Trịnh Sâm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trịnh Sâm
Chúa Trịnh (chi tiết...)
Trịnh Sâm.png
Chân dung chúa Trịnh Sâm trong Trịnh gia chính phả
Tĩnh Đô Vương
Trị vì 17671782
Tiền nhiệm Trịnh Doanh
Thời vua Lê Hiển Tông
Kế nhiệm Trịnh Cán
Thông tin chung
Thê thiếp Dương Thị Ngọc Hoan
Đặng Thị Huệ
Hậu duệ
Tên thật Trịnh Sâm
Tước hiệu Tĩnh Đô Vương (靖都王)
Thụy hiệu Thịnh Vương (盛王)
Miếu hiệu Thánh Tổ (聖祖)
Hoàng tộc Chúa Trịnh
Thân phụ Trịnh Doanh
Thân mẫu Nguyễn Thị Ngọc Diễm
Sinh 1739
Mất 1782
Việt Nam

Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm (chữ Hán: 靖都王鄭森;[1] 9 tháng 2 năm 173913 tháng 9 năm 1782 ÂL), thụy hiệu Thành Tổ Thịnh vương, là vị chúa Trịnh thứ 9 thời Lê Trung Hưng trong lịch sử Việt Nam, cai trị từ năm 1767 đến 1782. Ông người làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá, Việt Nam.

Trịnh Sâm là con trai trưởng của Minh vương Trịnh Doanh, vị chúa Trịnh thứ tám với mẹ là thái phi Nguyễn thị. Từ nhỏ ông đã được ăn học tử tế và có được trí thông minh, quyết đoán hơn người. Năm 1767, sau khi cha qua đời, Trịnh Sâm lên nối ngôi. Trong những năm đầu cai trị, ông chính thức hoàn thành công cuộc đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa nông dân, sửa sang nền chính trị và tiến hành nam chinh, thu được đất Thuận Hóa; bên trong tiếp tục hiếp chế vua Lê, giết chết thái tử Duy Vĩ. Từ sau năm 1775, Trịnh Sâm ngày càng sa vào tửu sắc, chính trị suy bại, cuộc sống người dân trở nên cơ cực. Ông sủng ái Tuyên phi Đặng Thị Huệ và quận Huy Hoàng Đình Bảo; đến năm 1780, thế tử Trịnh Tông nổi loạn nên bị phế truất, con Tuyên phi là Trịnh Cán mới 4 tuổi được lập làm thế tử. Trịnh Sâm sau đó cũng mắc bệnh và qua đời năm 1782, Trịnh Cán lên nối ngôi; họ Trịnh ngày càng lún sâu vào con đường suy sụp.

Thân thế và cuộc sống ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Sâm chào đời vào ngày 9 tháng 2 năm 1739 dưới triều Ý Tông Huy hoàng đế nhà Lê. Khi đó, cha ông là Trịnh Doanh còn chưa lên ngôi chúa, nhưng đã được Trịnh Giang giao phó nắm binh quyền. Sau cuộc đảo chính năm 1740, Trịnh Doanh chính thức lên địa vị chúa Trịnh. Trịnh Doanh tỏ ra cẩn trọng việc nuôi dạy con, bổ dụng 2 tiến sĩ là Dương Công ChúNguyễn Hoàn làm tư giảng cho Trịnh Sâm.

Cuối năm 1753, theo đề nghị từ quần thần, Trịnh Doanh chính thức sách lập Trịnh Sâm làm thế tử, bổ dụng tham tụng Nguyễn Công Thái giữ chức sư phó để dạy Trịnh Sâm[2]. Năm 1758, Trịnh Sâm được phong làm tiết chế thủy bộ chư quân, chức Thái úy, tước Tĩnh quốc công, mở phủ Lượng quốc, quyết định công việc nhà nước. Tư giảng Nguyễn Hoàn dâng 10 bài châm, gồm: Bụng nghĩ phải ngay thẳng; Học hỏi phải rộng khắp; Tề chỉnh việc chính trị trong nước; Phòng ngừa việc đối với người thân cận; Thống nhất căn bản chính sự; Cẩn thận việc sai phái, cất nhắc; Mở rộng việc thu nhận những lời khuyên can; Giữ phép tắc đã sẵn có; Hiệu lệnh phải cho tin thực; Việc nào đáng rộng rãi hay đáng nghiêm ngặt, nên suy xét kĩ; Trịnh Sâm đều tiếp nhận[3].

Đầu năm 1767, Trịnh Doanh mất, Trịnh Sâm lên ngôi chúa; bấy giờ đã 30 tuổi, tự xưng là nguyên soái, tổng quốc chính, Tĩnh Đô vương. Lại phong mẹ đẻ là Hoa Dung Nguyễn thị[4] làm thái phi.

Dẹp Hoàng Công Chất và Lê Duy Mật[sửa | sửa mã nguồn]

Phong trào khởi nghĩa nông dân nổ ra từ những năm 1730 đến đây đã bị dập tắt gần hết, chỉ còn hai thế lục của Hoàng Công Chất ở Lai Châu và Lê Duy Mật ở Nghệ An, Trịnh Sâm cũng lập kế hoạch diệt trừ tận gốc.

Mùa hạ năm đó, Lê Duy Mật biết tin Trịnh Doanh mất, liền dẫn lực lượng ra bắc, tràn xuống địa phận huyện Hương Sơn và Thanh Chương. Trịnh Sâm sai Nguyễn Nghiễm làm hiệp đốc suất cùng Bùi Thế Đạt đem quân đi đánh. Duy Mật rút quân chạy. rịnh Sâm nhận thấy rằng, nếu không diệt trừ được Duy Mật, chung quy vẫn làm ngăn trở cho vùng Thanh, Nghệ; bèn dụ hỏi Thế Đạt về hình thế đóng quân của Duy Mật và kế hoạch tiến quân, tải lương. Thế Đặt đem hết tình trạng Duy Mật bày tỏ ở triều đường, và nói

Có 2 con đường có thể tiến quân vào Trấn Ninh được; đường chính là con đường Trà Lân, có đường thủy, có thể vận lương, quân đi được yên ổn thuận tiện.

Trịnh Sâm bèn hạ lệnh bắt lấy thuyền đi biển của Thanh và Nghệ, dự tải thóc công chứa ở kho Vĩnh Doanh và Sa Nam, để phòng bị cấp phát cho quân. Một mặt, sai thêm bọn Lê Đình Châu đem 5000 quân đi theo; lại lấy cớ xứ Thanh Hoa gần liền phủ Trấn Ninh, bèn hạ lệnh cho lưu thủ Nguyễn Đình Diễn chia quân đóng đồn phòng ngự, chặn giữ nơi xung yếu[5].

Mùa đông năm 1767, Hoàng Công Chất đem quân xâm phạm Hưng Hóa và Thanh Hoa. Triều đình sai bọn Trịnh Phương, Nguyễn Trọng Điển, Nguyễn Đình Diễn ra đón đánh, Công Chất phải bỏ chạy. Lúc đó Công Chất chiếm đất 10 châu; triều đình nhiều năm chưa dẹp đường. Đến đầu năm 1768, Lưu thủ Sơn Tây Hoàng Phùng Cơ và trấn thủ Hải Dương Phạm Ngô Cầu và bọn Phan Lê Phiên, Nguyễn Xuân Huyên, Nguyễn Đình Huân, hội hợp quân các đạo để tiến đánh Thanh Châu[6].

Đầu năm 1769, Nguyễn Đình Huấn giao chiến với Hoàng Công Chất, tiến thoái lưỡng nan, gửi thư về triều. Đoàn Nguyễn Thục không bằng lòng cũng làm tờ khải nói rõ mười việc trái phép của Đình Huấn. Trịnh Sâm lập tức hạ lệnh triệu Đình Huấn về, mà bổ Nguyễn Thục kiêm giữ chức thống lãnh các đạo Sơn Tây, cầm quân thay Đình Huấn, lại đổi bổ Vũ Huy Đĩnh giữ chức giám quân, Nguyễn Trọng Hoành giữ chức tán lý. Lúc đó Hoàng Công Chất đã mất, con là Hoàng Công Toản lên thay, Nguyễn Thục tiến quân vào Thanh Châu, không xâm phạm đến dân. Công Toản cố giữ Thẩm Cô và đặt mai phục ở các nơi hiểm yếu. Đoàn Nguyễn Thục sai toán quân nhanh nhẹn sắc bén tiến lên trước đánh úp, tiếp đó sai toán quân mạnh khỏe theo đường tắt hợp sức cùng đánh, phá tan được quân địch. Công Toản lỏn chạy sang Vân Nam, cuộc khởi nghĩa chấm dứt[5].

Mùa thu năm 1769, sai Bùi Thế Đạt làm thống lãnh Nghệ An, Nguyễn Phan làm chánh đốc lãnh Thanh Hoa, Hoàng Đình Thể làm đốc lãnh Hưng Hóa cùng đi đánh Lê Duy Mật ở Trấn Ninh. Lê Duy Mật liều chết chống giữ. Đầu năm 1770, Hoàng Ngũ Phúc dùng mưu dụ dỗ mẹ Lại Thế Thiều, con rể Lê Duy Mật, sai mụ ta viết thư dụ dỗ Thế Thiều để làm nội ứng. Thế Thiều bèn khuyên đồ đảng là Lê Văn Bản mở cửa thành ngoài cho quan quân tiến vào. Lê Duy Mật cùng gia quyến tự thiêu mà chết. Thất bại này cũng là chấm dứt phong trào nông dân khởi nghĩa hơn 30 năm ở Bắc Hà. Sau bàn luận công đánh dẹp, gia phong Bùi Thế Đạt làm đại tư đồ, Nguyễn Phan làm thái tể, Hoàng Đình Thể làm thiếu bảo; ... Sau chiến thắng đó, Trịnh Sâm sinh ra lòng thích đánh dẹp, khinh thường việc dùng binh lính[5].

Năm 1774, Trịnh Sâm hạ lệnh cho Nguyễn Đình Huấn châm chước định thể lệ cấp tiền thóc cho các quân trong kinh, ngoài trấn; chiếu theo ngạch lính và số đinh, bớt chỗ nhiều, thêm cho chỗ ít, châm chước cân nhắc, san sẽ lại, cốt làm cho được quân bình, nhưng cũng không thể nào thay đổi hết tệ cũ.

Mâu thuẫn nội bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Sâm là người cứng rắn, thông minh, quyết đoán; phần nhiều công việc đều đổi mới, không theo nếp cũ. Ngay sau khi lên ngôi, ông định rõ thể lệ kiện tụng, về việc người đương sự kêu xin xét lại, cho phép người nào thấy bản án xử lí không đúng có thể xin xử lại, nếu xét lại còn vẫn chưa tỏ rõ được lý lẽ, thì cho phép người đương sự đánh mõ tâu bày[7]. Đến mùa thu cùng năm, vì trời đã lâu không mưa, Trịnh Sâm theo lời Nguyễn Bá Lân, bổ dụng hai đại thần Lê Quý Đôn làm thị thư, Phan Cẩn làm Cấp sự trung[5]. Đến tháng 9 ÂL, ông lại định thể lệ khám đê điều, quy định đường đê, cửa cống, các quan huyện kiểm tra đến tháng 8 ÂL thì báo lên ti Thừa chính ở trấn, tháng 9 ÂL, ti Thừa chính lại đi khám rồi báo về quan chính đường, tháng 11 ÂL khám lại lần nữa rồi khởi công các công trình. Cuối năm đó cải cách hành chính, hợp lại hoặc bỏ bớt gồm 4 phủ, 29 châu huyện. Những phủ và châu huyện này đều cho phủ huyện tiếp cận tùy tiện kiêm lý. Lại dùng Nguyễn Nghiễm giữ công việc ở Quốc Tử giám, Vũ Miên kiêm giữ chức Tế tửu, Lê Quý ĐônPhan Lê Phiên giữ chức tư nghiệp; lại ra lệnh mỗi tháng cứ ngày mồng một và ngày rằm tập văn; mỗi năm cứ 4 tháng trọng thi khảo xét duyệt; ai vượt trội thì cất nhắc trao cho quan chức; ngoài các trấn cũng vậy. Do đấy phong thái học trò được phấn chấn dần. Đầu năm 1768, Trịnh Sâm phong thầy là Nguyễn Hoàn làm quốc sư.

Mùa thu năm 1767, em trai Trịnh Sâm là Trịnh Lệ mật mưu với bọn Phan Huy Cơ, Dương Trọng Khiêm, Nguyễn Huy Bá làm phản; định đến ngày 24 tháng này sẽ khởi sự. Nhưng bọn Trọng Khiêm lại sợ rằng việc không thành, sẽ bị vạ lây, bèn lẻn lút đem công việc đến cáo tố với nội giám Phạm Huy Đĩnh, Huy Đĩnh đem báo cáo với Sâm. Sâm giết Huy Cơ và bắt giam Trịnh Lệ. Dương Trọng Khiêm trước bị bãi chức, nay vì có công nên trả lại cho chức cũ và được thăng hai bậc; Huy Bá được thăng năm bậc. Thiêm đô ngự sử Đoàn Nguyễn Thục dâng sớ nói Trọng Khiêm, Huy Bá không đáng lĩnh công; Trịnh Sâm khen và nhận tờ khải của Nguyễn Thục, bèn hạ lệnh tước bỏ cấp bậc đã cho Trọng Khiêm được thăng, chỉ cho được khôi phục chức cũ; thưởng cho Nguyễn Thục 30 lạng bạc[5].

Trước kia Trịnh Sâm và thái tử Duy Vĩ bất hòa với nhau. Thái tử lúc còn nhỏ, thông minh, nhanh nhẹn, xem rộng sách Kinh, sách Sử, đối với sĩ phu rất lễ độ; thần dân không ai là không mến yêu thái độ, dung nghi. Trịnh Doanh rất trọng tài, đem con gái gả cho. Nhưng Thái tử vẫn bực tức về nỗi nhà Lê mất quyền bính, khẳng khái có chí thu nắm lấy quyền cương. Trịnh Sâm lúc lớn lên làm thế tử, đối với thái tử đã có ghen tức. Một hôm, thái tử và Sâm cùng ở phủ đường được chúa Trịnh ban cho ăn cơm và bảo cùng ngôi một măm, Nguyễn thái phi can rằng

Thái tử với thế tử có danh phận vua tôi, lẽ nào được ngồi cùng mâm? Nên phân biệt ngồi làm hai chiếu.

Sâm đổi nét mặt, bước ra về, nói với người ngoài rằng:

Ta với Duy Vĩ hai người, phải một chết một sống, quyết không song song cùng tồn tại được.

Đến khi lên ngôi, bàn với Hoàng Ngũ PhúcPhạm Huy Đĩnh hại thái tử nhưng không có chứng cứ, bèn vu cho thái tử tư thông với người phủ thiếp của Trịnh Doanh. Tháng 3 ÂL năm 1769, Sâm rồi đem tội trạng ấy tâu bày với nhà vua, rồi giả chiếu chỉ truất thái tử làm thứ nhân, rồi giam vào ngục. Sách Cương mục phê rằng

Một việc vô cùng thê thảm, đau đớn đến ngàn đời. Đọc Sử đến đây làm cho lỗ mũi người ta phải chua xót! Việc này cùng với việc phá tường để bắt Phục Hậu[8] cùng một cảnh đáng đau lòng. Lại đáng giận lúc ấy khanh tướng đầy triều đình, mà không một người nào dám nói, chỉ có Nguyễn Lệ vì liên can mới phải tự tiết mà thôi, như thế có thể trong triều lúc bấy giờ không có người nào ra gì cả. Đến cả Nguyễn Thị là mẹ Trịnh Sâm cũng không nói một lời để giải cứu, thế thỉ bụng dạ Nguyễn Thị ra thế nào? Thà rằng trước kia đừng phân biệt chỗ ngồi lại còn hơn. Đem so sánh với Vũ Thị[9] thì Nguyễn Thị còn kém nhiều lắm.[5]

Tháng 8 ÂL cùng năm, Trịnh Sâm tự tiến phong làm Đại nguyên soái tổng quốc chính, Thượng sư Tĩnh vương; lại tâu xin nhà vua lập hoàng tử thứ tư là Lê Duy Cận làm Hoàng thái tử, vì Duy Cận ra vào phủ chúa Trịnh, tôn thờ mẹ Trịnh Sâm là thái phi Nguyễn Thị rất kính cẩn. Mùa đông năm 1770, Trịnh Sâm tự gia phong làm Thượng sư Thượng phụ, Duệ Đoán Văn Công Vũ Đức Tĩnh vương. Mùa thu năm 1771, Lê Quý Đôn (trước vì việc hối lộ mà lên chức Hữu thị lang bộ Hộ) nhân khi khám xét hạt Thanh Hoa trở về, lại dâng hơn một ngàn lạng bạc đã ăn của đút, nên thăng Tả thị lang bộ Công, quyền giữ chức Đô ngự sử. Quý Đôn dâng sớ tấu trình bốn việc, Trịnh Sâm khen phải và cho thi hành[5]. Cuối năm đó, Hoàng Ngũ Phúc cùng Phạm Huy Đĩnh liên danh nói gia khách của thái tử là Vũ Bá Xưởng, Lương Giản lập mưu cướp lấy thái tử ra khỏi ngục". Trịnh Sâm hạ lệnh bắt Bá Xưởng và bắt luôn người khác là Nguyễn Lệ. Lệ nói:

Thái tử là người sẽ nối ngôi vua sau này của một nước, nay không có tội gì mà bị giam cầm nhục nhã, thì định mưu cướp lấy thái tử đem ra là một việc nghĩa, nhưng thực tình tôi không được dự biết việc ấy. Nay nếu bức bách về sự khảo tả mà thú phục xằng, thì không phải là người có dũng khí, việc không mà nói có, thì không phải là người có nghĩa. Vả lại, việc này bảo là Lệ này tự định mưu, họa chăng còn có lý, chứ thái tử ở trong nhà giam, đến vợ con cũng không được ra vào, thì Lệ này từ đâu để yết kiến thái tử mà cùng nhau mưu tính được? Bây giờ chỉ có việc chết mà thôi, chứ Lệ này chả biết nói gì cả!

Nguyễn Lệ bị đánh tới nát hết da thịt mà vẫn không thay đổi lời khai, Huy Đĩnh bèn tự dựng thành bản án dâng lên. Chúa sai Huy Đĩnh thắt cổ giết thái tử Duy Vĩ, lại giết cả bọn Nguyễn Lệ và Bá Xưởng. Lại hạ lệnh thu lấy sắc phong nhà vua ban cho Trần hoàng hậu là mẹ đẻ của thái tử, các hoàng tôn Duy Khiêm (tức là Mẫn Đế về sau), Duy Trù và Duy Chi đều bị tống vào ngục[5].

Đánh Thuận Hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1772, chúa bổ dụng Nguyễn Nghiễm giữ chức Tham tụng[10]. Mùa hạ năm 1773, bổ dụng hoạn quan Phạm Huy Đĩnh giữ chức thự phủ sự, Lê Quý Đôn làm bồi tụng. Hai thằng gian thần này câu kết với nhau, mê hoặc lòng chúa, ức hiếp bá tánh và làm đại hoại triều cương. Đến tháng 5 ÂL năm đó, nhân việc làm lại sổ hộ tịch, Quý Đôn lại cùng Phạm Huy Đĩnh tra xét vùng ven biển thuộc lộ Sơn Nam hạ, trích ra được hơn chín ngàn mẫu ruộng lậu thuế, đều đăng ký vào ngạch thuế bắt phải chịu tô. Nhân dân phần nhiều ta oán.

Bấy giờ ở miền nam, cuộc khởi nghĩa Tây Sơn do Nguyễn Văn Nhạc lãnh đạo đã bùng nổ. Tổ tiên Văn Nhạc là người Nghệ An, trong chiến tranh Trịnh - Nguyễn thì bị chúa Nguyễn bắt về nam. Nguyễn Văn Nhạc được giữ chức Biện lại ở tuần Vân Đồn nhưng vì đánh bạc tiêu mất tiền công bèn trốn vào Tây Sơn khởi nghĩa, cùng em Văn Huệ, Văn Lữ tung hoành một cõi, lấy danh nghĩa tôn phò hoàng tôn, lật đổ quyền thần Trương Phúc Loan[10]. Thế lực tây Sơn phát triển rất nhanh, chúa Nguyễn lâm vào tình trạng khốn đón. Khi đó là tháng 5 ÂL năm 1774, chúa được tin ở nam hạ, gian thần Trương Phúc Loan lộng quyền ngang ngược, lại có Văn Nhạc nổi loạn; nên muốn thừa cơ nam hạ. Lại có trấn thủ Nghệ An Bùi Thế Đạt và quận Việp Hoàng Ngũ Phúc nói hiện trạng Thuận Hóa có thể đánh lấy được; chúa bèn khởi phục Ngũ Phúc làm thống tướng, cùng Phan Lê Phiên, Đoàn Nguyễn Thục, Hoàng Phùng Cơ, Hoàng Đình Thể... thống lãnh tướng sĩ 33 doanh cùng quân thủy, quân bộ các đạo Thanh, Nghệ, vùng đông nam, gồm 3 vạn quân tiến xuống phía nam. Trịnh Sâm chia đặt ba trường sở lương thực, dự bị xếp đặt điều khiển để cung cấp lương thực cho binh lính; và dụ bảo quận Việp rằng

Ông đến Nghệ An, nên tùy cơ mà trù tính định liệu, trước hết đưa thư cho các tướng giữ biên giới, nói thác ra rằng việc hành quân này chỉ cốt phòng bị giặc Tây Sơn chạy trốn để thăm dò tình hình của họ. Nếu họ (chúa Nguyễn) đã bình định được giặc Tây Sơn, thì lại đưa thư đề đạt ý chí rồi dẫn quân về, đừng làm cho họ sinh nghi, lại gây hấn khích ở nơi biên giới.[10]

Mùa đông năm đó, quận Việp đưa quân qua sông Gianh, tiến sát đến doanh lũy Trấn Ninh[11]; rồi nhanh chóng san phẳng lũy. Chúa thấy Ngũ Phúc đem đạo quân trơ trọi một mình đi vào quá sâu, bèn quyết kế thân chinh để viện trợ, cử Nguyễn Đình Thạch, Nguyễn Hoàn, Nguyễn Đình HuấnLê Quý Đôn ở lại trấn thủ kinh thành, chia quân làm bốn đạo tiền hậu tả hữu, bản thân Trịnh Sâm tự thống suất đại binh ở giữa để tiếp ứng. Tháng 11, chúa tiến quân đến Nghệ An, đóng ở Hà Trung. Tháng 12 ÂL, các tướng Nguyễn bắt Trương Phúc Loan nộp cho Trịnh, Hoàng Ngũ Phúc trả lời rằng giặc Tây Sơn chưa tiễu trừ xong, xin hội quân ở Phú Xuân để ứng tiếp. Quân Nguyễn cố sức chống cự nhưng không được. Đầu năm 1775, Trịnh Sâm bổ dụng Hoàng Ngũ Phúc lãnh chức Đại Trấn phủ, sai ban cho ông ta 100 lạng vàng và viết thư dặn bảo rằng:

Nay đã bình được Thuận Hóa rồi, còn Quảng Nam cũng nên lần lượt bình định nốt. Việc này, nếu không phải tay nguyên lão, không ai có thể đương nổi trách nhiệm. Vậy phàm điều khiển các việc, vỗ về hay đánh dẹp, đều cho phép được tùy tiện thi hành.

Rồi chúa dẫn đại binh trở về Thăng Long[10]. Hoàng Ngũ Phúc tiến vào Quảng Nam, lúc này chúa Định vương Nguyễn Phúc Thuần lánh vào Gia Định, trước mặt quân Trịnh là quân Tây Sơn. Tháng 2 ÂL, quân Tây Sơn do Nguyễn Văn NhạcTập Đình, Lý Tài chỉ huy đón đánh quân của Ngũ Phúc ở Cẩm Sa nhưng thất bại một trận lớn phải lui về Bản Tân[12]. Quân Tây Sơn bèn dùng kế giả hàng, sai sứ đem vàng lụa đến xin hàng và xin làm tiền khu. Ngũ Phúc tin lời, nhân dâng biểu xin cho Văn Nhạc làm tiền phong tướng quân, giữ chức hiệu trưởng Tây Sơn; Trịnh Sâm bằng lòng. Khi đó Hoàng Ngũ Phúc tiến đến đóng ở Châu Ổ[13]. Lúc ấy phát sinh bệnh dịch, quân sĩ nhiều người chết, quận Việp bèn bí mật trù tính rút quân về. Nguyễn NghiễmNguyễn Lệnh Tân đều muốn lui quân ở Quảng Nam, Ngũ Phúc không theo và cho người chạy thư về triều xin về Thuận Hóa, để Quảng Nam đấy rồi sẽ tính sau. Trịnh Sâm y cho. Do đấy, hai phủ Thăng Bình và Điện Bàn lại bị Văn Nhạc chiếm cứ. Sau, vì Ngũ Phúc có bệnh phải triệu về triều, bèn sai Bùi Thế ĐạtNguyễn Đình Đống trấn giữ thay. Sau đó, bổ dụng Lê Quý ĐônNguyễn Mậu Dĩnh giữ chức Hiệp đồng, xếp đặt công việc trong quân, cho phép cứ 10 ngày một lần đề đạt tình hình về triều một lần[10].

Chính trị suy bại[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sự kiện ở Thuận Hóa, chúa Trịnh đã giành khỏi tay chúa Nguyễn một vùng đất rộng lớn. Nhưng cũng kể từ đó, chính quyền Lê-Trịnh tiếp tục lún sâu vào lục đục, suy yếu; chúa Trịnh Sâm ngày một sa đọa, bỏ bê việc nước, gian thần Hoàng Đình Bảo thừa cơ lộng hành, cùng với Tuyên phi Đặng Thị Huệ mưu phế bỏ ngôi thế tử. Mùa thu năm 1776, trong nước gặp cảnh hạn hán, mất mùa, dân bị đói, giá gạo cao, mà ruộng chiêm thì khô nẻ, công việc làm ruộng không được tiện lợi. Người sang trọng phải nhòm từng cửa để xin làm thuê hoặc vay mượn mà cũng không đắt, họ hợp nhau ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp. Nhân dân không được yên nghiệp làm ăn[10].

Tháng 8 ÂL năm đó, Trịnh Sâm triệu Bùi Thế Đạt về triều, cử quận Tạo Phạm Ngô Cầu lên thay, cho phép Ngô Cầu được tùy tiện thi hành mọi công việc, để Nguyễn Mậu DĩnhNguyễn Lệnh Tân ở lại giúp việc, đổi sai binh lính 10 doanh, cơ, đội đến thú thủ. Tháng 10 ÂL, hạ lệnh: nếu ai có giấy tờ niên phong tâu bày việc mất, viên quan có trách nhiệm phải lập tức đề đạt, theo như thể lệ cũ; nếu người nào để chậm trễ sẽ có tội[10].

Đầu năm 1777, chúa hạ lệnh cho Lê Quý Đôn xét định ngạch tô thuế của binh và dân ở Thuận Hóa. Lúc đó vua Thái Đức Nguyễn Nhạc sai bộ thuộc xin với Trịnh Sâm để được trấn thủ Quảng Nam. Lúc ấy, Trịnh Sâm ngại về việc dụng binh, nhân đấy, chuẩn y cho. Vua Tây Sơn bèn sắm sửa binh khí, tích trữ lương thực, chặn lấp nơi hiểm yếu, phòng giữ nơi quan ải, tiến dần lên thế thịnh vượng hùng cường. Nguyễn Lệnh Tân, muốn trừ Nguyễn Nhạc nhưng Phạm Ngô Cầu không cho. Lệnh Tân bèn dâng biểu xin bãi Ngô Cầu. Nhưng Trịnh Sâm cho Ngô Cầu là người trầm tỉnh cẩn trọng, không cho lời Lệnh Tân nói là đúng. Sau đó, Sâm cho triệu Lệnh Tân về[14].

Mùa hạ cùng năm, Nghệ An bị đói to, thây chết đói nối liền với nhau. Ti Hiến sát đem tình trạng ấy tâu bày. Triều đình bèn hạ lệnh cho bọn Nguyễn Đình Diễn và Ngô Phúc Lâm trích 15.000 quan tiền và 15 vạn bát quan thóc trong kho, chia ra phát chẩn. Lúc đó cháu Hoàng Ngũ PhúcHoàng Đình Bảo giữ chức quyền phủ sự, thay Ngũ Phúc quản lĩnh binh lính bản bộ. Đến nay, vì Nghệ An hàng năm bị đói, giặc cướp có nơi hô hào tụ hợp, Trịnh Sâm toan thử dùng tài Đình Bảo. Giữa lũ ấy Phạm Ngô Cầu, trấn thủ Thuận Hóa, cho trạm chạy thư về triều nói: Nguyễn Văn Nhạc, giặc Tây Sơn, cướp bóc quấy rối mặt Nam, cần phải phòng bị.

Chúa bèn hạ lệnh cho Đình Bảo thay Hoàng Đình Thể làm trấn thủ và Bùi Huy Bích giúp việc, mà sai Đình Thể đốc suất binh lính 5 cơ, đội đóng ở Bố Chính, để làm thanh thế viện trợ cho Ngô Cầu. Khi đó Trịnh Sâm có ý cướp ngôi nhà Lê, nhân gặp kỳ tuế cống, Sâm làm tờ biểu mật tâu với nhà Thanh nói:

Nhà Lê không có người con cháu nào hiền tài.

Rồi căn dặn Vũ Trần Thiệu đem việc ấy vào tâu với vua nhà Thanh. Lại sai nội giám (sót họ tên) cùng đi để dâng của đút và xin phong tước. Khi đi đến hồ Động Đình, Trần Thiệu giả vờ có bệnh, đương đêm đem tờ biểu đốt trước mặt sứ bộ, rồi uống thuốc tự tử[14]. Đầu năm 1778, có giặc cướp ở hai huyện Đông Thành và Quỳnh Lưu[15] nổi dậy. Trấn thủ Thanh Hoa Ngô Đình Hoành muốn hội hợp binh lính hai xứ để đánh phá tiễu trừ. Đình Bảo sai người ngăn lại và bảo chớ có động binh. Nhân đấy, Đình Bảo lập mưu săn bắt được, đồ đảng của giặc còn sót lại bị tan tác, vì thế trong hạt được yên. Vì thế, Trịnh Sâm phong cho Đình Bảo làm Huy quận công. Mùa hạ cùng năm, vì cớ hạn hán, Trịnh Sâm cầu lời nói thẳng. Lê Thế Toại dâng sớ kể tội bọn Lê Quý ĐônNguyễn Lệ xin nghiêm khắc trừng trị để yên dân, chúa không theo. Lúc đó mất mùa, hạn hán liên tục, triều đình mở kho phát chẩn, quan các trấn tìm cách ngó lơ mệnh lệnh; chỉ có Hoàng Đình Bảo thực hiện nghiêm túc. Tháng 7 ÂL, nhân dân vùng đông nam vì mất mùa đói khát mà nổi dậy. Trấn thủ Sơn Nam Ngô Đình Hoành bị thua trận. Giặc nhân thế thắng, kéo đến xã Thận Vi[16], chia quân cướp phá. Vì thế dân sở tại bị rối loạn.

Trịnh Sâm hỏi bầy tôi, ai có thể làm tướng đi đánh giặc được. Nội giám Thân Xuân Thự xin đi. Trịnh Sâm y cho, nhưng cũng không được gì. Lúc ấy, trong quân nổi dậy có nhiều người là thuộc tướng của quận Việp, chúng cho rằng quận Huy tất có mưu toan làm việc trái phép, bèn sai người lén lút tới nơi, suy tôn làm minh chủ. Đình Bảo viết thư trả lời chúng, rồi liền đem bức thư của giặc kèm với thư của mình làm tờ khải trình bày đầy đủ về triều. Trịnh Sâm cho là người trung thành, bèn bổ Đình Bảo làm thống lãnh, đem châu suất quân tiến ra càn quét. Giặc nghe tin Đình Bảo kéo quân, đều tự chạy. Lê Quý Đôn lại sai người chiêu dụ, mọ người đều đầu hàng[14].

Thấy quận Huy ở Nghệ An được lòng dân, Trịnh Sâm nghi là có ý phản, bí mật bàn mưu với Nguyễn LệNguyễn Phương Đĩnh giết Đình Bảo. Đình Bảo vì có vợ thân thiết với Đặng Tuyên phi đang được sủng ái, nên biết chuyện, bèn làm tờ khải xin về triều, chúa y cho. Đình Bảo không được lòng thế tử Trịnh Tông nên quay sang ủng hộ Đặng Thị Huệ[17], ngầm chủ trương mưu kế bỏ người này lập người khác, Đặng Thị cũng hết sức giúp đỡ Đình Bảo, và biện bạch là Đình Bảo bị vi oan, lại cho Đình Bảo có thể dùng giữ việc trọng đại được. Trịnh Sâm tin lời. Do đấy, Đình Bảo được vào giữ chức trong chính phủ, lãnh chức trấn thủ Sơn Nam bằng cách vắng mặt. Quyền thế Đình Bảo làm nghiêng lệch cả trong kinh, ngoài trấn. Bọn quản binh và trấn thủ đều là môn hạ, chỉ có Nguyễn Lệ ở Sơn Tây và Nguyễn Khắc Tuân ở Kinh Bắc cùng Đình Bảo vẫn ngầm có ý đánh đổ Đình Bảo. Cương mục đánh giá

Họ Trịnh dùng nhiều quan thị, hơn cả nhà Hán, nhà Đường; bầy tôi lại đều giữ lòng riêng, gây bè đảng, thế mà Trịnh Sâm tin dùng. Như thế, không bại vong sao được?[14]

Chính biến năm Canh Tí[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa thu năm 1779, Thổ tù Hoàng Văn Đồng lại làm phản, xưng hiệu là Tân vương. Triều đình sai Nguyễn LệNguyễn Phan đi đánh, Văn Đồng lại xin hàng. Bấy giờ công tử cả là Trịnh Tông, con là Dương thị, không được chúa yêu. Theo thể lệ cũ, con chúa cứ đến 7 tuổi, cho ra ở nhà riêng để học, nếu là con trưởng thì đến 13 tuổi cho mở phủ đệ và được phong làm thế tử. Nhưng chúa cho rằng Tông không phải do vợ cả sinh ra, nên chỉ dùng Hân quận công Nguyễn Phương Đĩnh làm bảo phó. Đến năm 9 tuổi, Trịnh Tông mới đi học, dùng Nguyễn LệLý Trần Thản làm Tả, Hữu tư giảng. Chưa được bao lâu, Trần Thản mất, Nguyễn Lệ trấn thủ Sơn Tây, chúa cho Khải đến ở nhà riêng Nguyễn Phương Đĩnh, có lệnh mới được vào phủ.

Bấy giờ Đặng Tuyên phi được sủng ái, lại có viện trợ từ Hoàng Đình Bảo, nuôi ý lập con mình là Cán làm kế tự, Tông cảm thất bất an bởi khi Trịnh Sâm mắc bệnh, nhiều lần Tông bị cấm vào yết kiến; bèn bàn mưu với gia thần là Đàm Xuân Thụ và bọn đầy tớ nhỏ là Thế và Thẩm; bí mật chứa sẵn binh khí, chiêu mộ dũng sĩ, dự định khi Trịnh Sâm mất thì đóng cửa thành lại, giết Đình Bảo, bắt giam Tuyên phi, rồi báo cho quan hai trấn Tây, Bắc vào hộ vệ. Tông nghe theo, vay ngầm của nội thị Chu Xuân Hán 1.000 lạng bạc, để nuôi dũng sĩ và sắm khí giới[14].

Việc này bị Nguyễn Huy Bá phát giác, tố cáo với Đặng Thị Huệ. Bà ta bèn cùng Ngô Thời Nhiệm[18] tố cáo thế tử. Chúa giận lắm, cho triệu Đình Bảo vào phủ bảo về việc này, muốn trị tội ngay. Đình Bảo xin trước hết là triệu Nguyễn LệNguyễn Khắc Tuân trở về để phòng biến cố khác. Trịnh Sâm cho là phải, bèn triệu hai người đó. Sau đó giam lại cùng với Nguyễn Phương Đĩnh. Rồi sai Lê Quý Đôn tra hỏi, bọn Xuân Thụ, Thế và Thẩm nhận hết tội lỗi. Sâm bèn truất Khải xuống làm con út[14], giam ở nội phủ. Bọn Xuân Thụ đều bị giết. Nguyễn LệNguyễn Khắc Tuân bị giam vào ngục. Quận Hân Nguyễn Phương Đĩnh vì nuôi dưỡng Trịnh Tông không tốt, nên bị lột hết chức tước đuổi về làng. Khắc Tuân và Chu Xuân Hán đều uống thuốc độc chết[14]. Trịnh Tông đã bị phế, bị giam lỏng. Lúc ấy có viên tri châu cũ là Lê Vĩ, dâng thư biện bạch cho Tông là bị tội oan, nhưng không được Trịnh Sâm xét đến.

Lập con nhỏ và qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Họa phẩm mô tả Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm và Tuyên phi Đặng Thị Huệ thưởng trà tại Tả Vọng đình.

Mùa đông năm 1780, người thổ nhà Thanh chiếm đất sáu châu ở phủ An Tây, từ đó suốt đời Lê không còn khôi phục lại được. Mùa đông năm 1781, nhân Trịnh Cán (con Tuyên phi) đỡ bệnh, bầy tôi xin lập Cán làm thế tử. Thái phi nói với chúa rằng

Tông với Cán đều là cháu của già này, nhưng già nghĩ cháu Tông đã trưởng thành, mà cháu Cán còn nhỏ tuổi lại quặt quẹo luôn, già mong vương thượng coi tôn miếu xã tắc làm trọng hơn, hãy để trống ngôi kế tự, ngõ hầu Khải có lòng răn chừa; nếu không thế thì đợi khi Cán đến tuổi trưởng thành cũng chưa có gì là muộn.

Trịnh Sâm đáp

Tên Cán và tên Tông là đối với mẹ là cháu, chưa bằng đối với tôi là con. Người xưa nói biết con không ai bằng cha. Tôi cũng chưa đến nỗi mê mệt, vả lại triều đình bàn bạc chung chứ cũng chẳng phải là tôi yêu quý con nhỏ mới bày ra việc này. Mẹ há chẳng biết rõ rồi hay sao. Nếu không sớm định người kế tự, thì lũ tiểu nhân dòm nom, không biết tai họa đến lúc nào. Việc lớn nhà nước, chỉ cốt phó thác được người xứng đáng. Đã coi tôn xã làm trọng, thì dẫu con đẻ ra cũng không được tư túi, lẽ nào tôi lại tư túi với con nhỏ. nếu bệnh của Cán vẫn không khỏi, thì thà rằng lập quận Côn[19], để trả lại cơ nghiệp cho ngành cà của nhà bác, chứ không đành lòng phó thác cho đứa con bất hiếu làm hỏng cơ nghiệp của tổ tiên![20]

Thái phi không nói nữa. Trịnh Sâm lập Trịnh Cán làm thế tử; dùng quận Huy nuôi dạy. Lúc đó chúa mắc bệnh trĩ không ra ngoài, quyền hành đều do Tuyên phi và Đình Bảo thao túng[14]. Bấy giờ chúa bệnh cũ tái phát, rất sợ nắng gió, thường ở trong cung sâu kín, ban ngày cũng phải đốt nến, nếu không phải ngày đại triều, không bao giờ ra ngoài. Đến tháng 9 ÂL năm 1782, bệnh trở nặng, chỉ có Đình Bảo, Doanh Thùy và Đình Châu được vào hầu. Đặng Thị Huệ khóc nói

Thiếp nhờ ơn vương thượng yêu đương quyến luyến, nay trăm tội đỗ lên đầu thiếp, không biết một ngày kia mẹ con thiếp sẽ gửi thân vào nơi nào?

Chúa đáp

Danh vị thái tử đã ấn định rồi, sau này nước là nước của thế tử, còn phải lo lắng gì nữa?

Lại nói với Hoàng Đình Bảo

Nhà ngươi cố sức bảo hộ thế tử để ta yên lòng.

Đình Bảo đáp

Tôi đâu dám chẳng hết lòng, cùng lắm thì đem cái chết để báo ơn chúa. Nhưng xin ngay bây giờ cho thế tử nối ngôi và sách phong chính cung Tuyên phi cùng tham dự xét đoán công việc chính trị, để có mệnh lệnh sẵn sàng. Nhận lời trối trăn lại để giúp việc chính trị, tôi không dám đảm đang một mình. Trịnh Kiều (con thứ 5 của Trịnh Cương, chú Trịnh Sâm), người rất thân trong họ nhà chúa; Nguyễn Hoàn, bậc sư bảo đại thần; Lê Đình ChâuPhan Lê Phiên đều ở trong chính phủ vẫn có danh dự đức vọng; Trần Xuân HuyTạ Danh Thùy đều là a bảo tín thần. Xin cho các viên ấy cùng tôi vâng chịu cố mệnh[14].

Chúa y cho, sai Phan Lê Phiên viết tờ cố mệnh, Nhữ Công Điền viết chế sách về Đặng thị. Khi viết xong, Đình Bảo để trong tay áo, vào phủ đường, xin phê chữ. Lúc ấy chúa đã sắp tắt thở, bèn cho triệu bọn Trịnh KiềuNguyễn Hoàn vào nhận cố mệnh. Khi bọn họ vào, Trịnh Sâm khóc và nói:

"Tiểu tử này mắc bệnh không sống được nữa. Nay thế tử Cán nối ngôi, rất mong thúc phụ và sư thần1 cùng lòng giúp rập, vượt qua trong buổi khó khăn.

Đình Bảo nhân lấy tờ thư trong tay áo ra dâng trình, Sâm xua tay gạt đi. Đình Bảo nói:

Thư cố mệnh còn chưa ghi tên, xin cho vương thân là Trịnh Kiều ghi tên thay.

Chúa gật đầu. Kiều nghi tên Cán xong, liền dâng trình, thì Trịnh Sâm đã nhắm mắt rồi[14]. Năm đó, Trịnh Sâm được 44 tuổi, làm chúa 15 năm. Trịnh Cán vừa lên 6 nối ngôi, ngày tàn của họ Trịnh đã không còn xa nữa.

Thê tử[sửa | sửa mã nguồn]

Phi tần[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Biểu nhất lãm áp dụng cho lịch sử Việt Nam, trang 2413, Từ điển Hán Việt - Hán ngữ cổ đại và hiện đại, Trần Văn Chánh biên soạn, 2005
  2. ^ Cương mục, chính biên quyển 41.
  3. ^ Cương mục, chính biên quyển 42.
  4. ^ Người xã Linh Đường, nay là thôn Linh Đàm, xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
  5. ^ a ă â b c d đ e Cương mục, quyển 43 .
  6. ^ Xưa gọi Mường Thanh, nay là đất Ninh Biên, tỉnh Lai Châu
  7. ^ Năm Cảnh Hưng thứ 8 (1747), Trịnh Doanh đặt cái chuông và cái mõ ở ngoài cửa phủ đường, để cho ai muốn bày tỏ công việc hiện thời thì đánh chuông; ai có đều oan ức chưa được xét rõ lý lẽ thì đánh mõ tâu bày.
  8. ^ Cuối đời Tây Hán, Tào Tháo làm thừa tướng, nắm hết quyền lực. Vợ vua Hán Hiến Đế là Phục hậu lập mưu giết Tháo, việc bại lộ, Tháo sai Hoa Hâm đem quân vào cung để bắt. Phục hậu đóng cửa lại rồi núp ở bức tường trong cung, Hoa Hâm phá cửa, đạp đỗ tường lôi ra. Phục hậu bảo Hiến Đế rằng: "Chả thể sống được để trông thấy nhau đâu!". Hiến Đế nói: "Tính mạng của tôi cũng chưa biết sống chết lúc nào đây!"
  9. ^ Tức thái phi Vũ Thị Ngọc Duyên, vợ Trịnh Cương, mẹ Trịnh GiangTrịnh Doanh. Năm 1740, nhân Trịnh Giang có bệnh, Vũ thị bèn truất đi và lập Trịnh Doanh lên thay
  10. ^ a ă â b c d đ Cương mục, chính biên quyển 44.
  11. ^ Nay là Trường Thành Nhật Lệ, thuộc tỉnh Quảng Bình
  12. ^ Ở chỗ giáp giới hai huyện Hà Đông thuộc tỉnh Quảng NamBình Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
  13. ^ Nay là thị trấn Châu Ổ, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
  14. ^ a ă â b c d đ e ê g Cương mục, chính biên quyển 45.
  15. ^ Tên hai huyện thuộc tỉnh Nghệ An
  16. ^ Nay là xã Bách Thuận thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
  17. ^ Người xã Phù Đổng, nay là thôn Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội, sủng thiếp của Trịnh Sâm, có con là Trịnh Cán.
  18. ^ Nguyên tên là Ngô Thì Nhậm nhưng kiêng húy vua Tự Đức nên đổi thành như vậy
  19. ^ Côn quận công Trịnh Bồng là con của Uy Nam vương Trịnh Giang, anh họ Trịnh Sâm, nên gọi là ngành cả nhà bác
  20. ^ Hoàng Lê nhất thống chí, hồi thứ 2