Trịnh Giang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trịnh Giang
Chúa Trịnh (chi tiết...)
Trịnh Giang.png
Chân dung Trịnh Giang trong Trịnh gia chính phả
Tại vị 1729 - 1740
Tiền nhiệm Trịnh Cương
Thời vua Đế Duy Phường
Lê Thuần Tông
Lê Ý Tông
Kế nhiệm Trịnh Doanh
Thông tin chung
Tên đầy đủ Trịnh Giang
Tước hiệu Uy Nam Vương (威南王)
Thụy hiệu Thuận Vương (順王)
Miếu hiệu Dụ Tổ (裕祖)
Hoàng tộc Chúa Trịnh
Thân phụ Trịnh Cương
Thân mẫu Vũ Thị Ngọc Nguyên
Sinh 1711
Mất 1762

Uy Nam Vương Trịnh Giang (chữ Hán: 鄭杠, 17111762), thụy hiệu là Dụ Tổ Thuận vương (裕祖順王), là vị chúa Trịnh thứ bảy thời Lê Trung Hưng, ở ngôi từ tháng 10 năm 1729 đến tháng giêng năm 1740. Ông người làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá, Việt Nam.

Trong thời gian cai trị của mình, Trịnh Giang làm nhiều việc mất lòng người như giết vua và nhiều đại thần được trọng vọng; lại sa vào con đường ăn chơi xa xỉ, tin dụng hoạn quan, gian nịnh khiến chính sự ngày càng đổ nát, cơ đồ của họ Trịnh rơi vào con đường suy vong. Đến nửa cuối giai đoạn trị vì của ông, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra, thành một làn sóng mạnh mẽ khắp Đàng Ngoài càng làm lung lay sự thống trị của họ Trịnh. Trước tình hình đó, vào đầu năm 1740, mẹ ông là Thái phi Vũ thị cùng một số đại thần trong phủ chúa đã lật đổ ông và đưa người em trai là Trịnh Doanh lên quyền. Trịnh Giang được tôn làm Thái thượng vương nhưng bị giam lỏng trong cung điện cho đến lúc qua đời.

Thân thế và cuộc sống ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Uy Nam vương Trịnh Giang là con trưởng của An Đô Vương Trịnh Cương, mẫu thân là bà Vũ Thị Ngọc Nguyên, người xã Mĩ Thứ, huyện Đường Yên. Ông chào đời năm 1711 dưới triều Lê Dụ Tông. Khi ông còn làm thế tử, bảo phó của ông là Nguyễn Công Hãng đã dâng mật sớ nhận xét rằng ông là người ươn hèn, không thể gánh vác được ngôi chúa. Trịnh Cương đã có ý định thay đổi ngôi thế tử, nhưng vẫn chưa kịp tiến hành. Mùa đông năm 1729, Trịnh Cương đi tuần du ở Như Kinh, giữa đường thì bị bệnh chết, các quan bí mật đưa về phủ chúa rồi phát tang. Trịnh Giang với tư cách thế tử lên nối ngôi chúa.

Sau khi lên ngôi, Trịnh Giang có ý thực hiện một số cải cách với quy mô nhỏ. Theo lời đề nghị của Nguyễn Công Hãng, vào đầu năm 1730, chúa ra lệnh giảm bớt thuế tô cho ruộng tư theo các hạng; Thanh Hoa và Nghệ An không có đường đê cũng miễn cho tiền thuế điệu, hạng chính đinh được giảm bớt một nữa, hạng hoàng đinh và hạng lão thì nhất luật miễn trừ; sau đó còn có lệnh định lại niên hạn làm sổ đinh. Về sau còn ra lệnh bãi một số thứ thuế nặng như thuế thổ sản, thuế muối...[1].

Mùa hạ tháng 4 ÂL, Trịnh Giang tự tiến phong làm Nguyên soái, Thống quốc chính, Uy Nam vương, tôn tỗ mẫu Trương Thị làm Thái tôn Thái phi, mẹ đẻ là Vũ thị làm thái phi. Trịnh Giang là người hay nghi kỵ, lấy cớ rằng các viên trấn thủ trị nhậm ở trấn lâu ngày, được lòng quân dân, e sẽ sinh ra việc biến động, bèn đổi Nguyễn Minh Châu, hiện trấn thủ Kinh Bắc, đi trấn thủ Nghệ An, đại tư mã Đặng Đình Lân đi trấn thủ Sơn Nam. Những viên trấn thủ khác ở các xứ, phần nhiều thay đổi[1].

Tháng 6 ÂL, Trịnh Giang muốn biết số tài chính, thuế khóa thu chi thừa thiếu thế nào, bèn sai Nguyễn HiệuPhạm Khiêm Ích hội đồng viên chức trong lục phiên để kiểm điểm tra xét việc chi dùng của lục cung. Lại theo lời bàn của các quan, tăng tiền thuế dung, thuế điệu những hộ bỏ làng đi trú ngụ (khách hộ) và bọn tạp lưu. Vì có lần giặc giã, phải chi tiêu nhiều cho đến năm (1731), Trịnh Giang lập sổ chi thu biên rõ đồng niên thu vào được bao nhiêu và chi ra mất bao nhiêu, để liệu sự chi dụng cho vừa; lại đặt quan chức để cùng Hộ phiên trông nom các sổ ấy[2].

Tàn sát[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 ÂL năm 1731, Trịnh Giang hạ lệnh cho bầy tôi nói thẳng. Thái thường khanh Bùi Sĩ Tiêm dâng sớ trình bày 10 điều, đại khái là về việc truyền ngôi năm trước[3] và việc chấn hưng nho học, lại chỉ trích những sự tệ hại lúc bấy giờ. Vì thế các quan lại ra sức phản bác Bùi Sĩ Tiêm, cuối cùng Trịnh Giang cách chức, đuổi Sĩ Tiêm về quê[1].

Mùa thu tháng 8 ÂL năm 1732, Trịnh Giang vì muốn ra uy với thiên hạ, bèn lấy cớ Lê hoàng tư thông với phi tần của Trịnh Cương rồi truất Lê Đế Duy Phường làm Hôn Đức công, Thái hậu làm quận quân[1]. Sau đó triệu 12 người con của Dụ Tông Hòa hoàng đế vào để xem mặt. Lê Duy Tường là con trưởng, được lập làm vua, tức là Lê Thuần Tông. Đó là ngày 14 tháng 10 năm 1732.

Sau việc đó, Trịnh Giang tự tiến phong Đại nguyên soái, Thượng sư, Uy vương, bổ dụng Nguyễn Hiệu làm Thượng thư bộ Lễ, vào phủ chúa giữ chức Tham tụng; bãi chức của tể tướng Lê Anh TuấnNguyễn Công Hãng, chuyển ra địa phương. Tháng 11 ÂL, Trịnh Giang và tay chân vu cao Nguyễn Công Hãng các tội: cùng kết thành bè đảng, Công Hãng mưu tính việc chôn cất hài cốt tiên tổ ở một kiểu đất to; rồi bắt phải tự tử[1].

Tháng 7 ÂL năm 1734, do ghét người quận Vân Đỗ Bá Phẩm, chúa đã truất làm tuần thủ ở Yên Quảng, lại muốn giao cho tể tướng Nguyễn Hiệu tìm cớ định tội. Hiệu chần chừ nên bị giáng chức, sau đó chúa bắt ép Bá Phẩm phải tự tử. Cuối năm này, Trịnh Giang tự tiến phong Đại nguyên soái, Tổng quốc chính, Thượng sư Thái phụ, Thông Đức Anh Nghị Thánh Công Uy vương, lại giết Lê Anh Tuấn, đốc trấn Lạng Sơn vì nghi ông ta trước kia có mưu đồ phế mình. Mùa thu tháng 9 ÂL năm 1735, Trịnh Giang sai giết Hôn Đức công bằng cách thắt cổ.

Tháng 4 ÂL năm 1735, sao Thái Bạch phạm vào vị trí của sao Hỏa; nhà vua mất. Trịnh Giang bỏ hoàng trưởng tử Duy Diêu đã lớn mà lập con thứ 11 của Dụ Tông là Duy Thận, từ nhỏ được nuôi dạy trong phủ chúa lên ngôi. Ngày 17 tháng 6 năm 1735, Duy Thận lên ngôi, là Lê Ý Tông[1]. Tháng 5 ÂL năm 1736, bè đảng tên hoạn quan Hoàng Công Phụ to nhỏ trước mặt Trịnh Giang rằng Thiêm quận công Trương Nhưng (em ruột Trương thái phi, Trịnh Giang gọi là ông cậu) đang giữ chức trấn thủ Nghệ An có ý làm phản. Vì thế, chúa sai Dật Trung hầu thắt cổ giết Trương Nhưng, dùng Nguyễn Minh Châu thay giữ công việc trấn Nghệ An. Sau đó, Giang lại toan dùng kế để giết Minh Châu, nhưng Minh Châu biết chuyện, nên việc ấy mới thôi[1].

Hưởng lạc[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa đông năm 1729, Trịnh Giang cho sửa chữa xây dựng hai ngôi chùa Quỳnh Lâm[4] và Sùng Nghiêm[5]. Sửa chữa xây dựng hai ngôi chùa này, công việc phiền phức nặng nề, phải dỡ lấy gỗ ở phủ Cổ Bi thả xuống sông chở xuôi để cung cấp vào việc xây dựng. Lại hạ lệnh cho dân ba huyện Đông Triều, Thủy Đường và Chí Linh phải gánh vác công việc này, bắt dân khơi đường sông để việc vận tải được lưu thông, dân phải kéo gỗ, xe đá, thường có hàng vạn người làm, ngày đêm không được nghỉ ngơi[1].

Lúc ấy nhân lâu ngày được bình yên, Trịnh Giang hạ lệnh cho bầy tôi bàn định lễ nhạc. Khi bàn định xong, ngày chúa Trịnh ra coi chầu, phường nhạc sắp hàng ở phủ đường, cửa phủ đường bên tả và bên hữu đã mở, thì bắt đầu cử nhạc, các quan văn quan võ lạy xong, lúc ấy tiếng nhạc sẽ ngừng. Phàm khi chúa đi tuần du hoặc xuất phát quân lính, thì bắn ba tiếng súng, buổi trưa lúc đi nghĩ, ban đêm lúc đi nằm cũng theo quy tắc như thế; khi ra đi thì có cờ lệnh, phường nhạc chia nhau đi trước dẫn đường... Những buổi không có triều hội, ông thường mời các quan đến cùng ngâm tụng thơ ca, bình luận văn sách và các lối viết chữ; ra đề tại chỗ cho mọi người cùng làm thi và có thưởng. Trịnh Giang còn khuyến khích các nho thần sưu tầm thơ văn.

Trịnh Giang thích chơi bời, cung quán chùa chiền xây dựng kế tiếp. Đầu năm 1736, chúa cho xây chùa Hồ Thiên[6], bắt dân phải phục dịch. Từ đường, phủ đệ ở các làng ngoại thích như Tử Dương và Mi Thữ xây dựng cực kỳ nguy nga đẹp đẽ. Những người xưng là nội sứ tỏa ra bốn phương bắt lấy vật liệu, vì bọn này ức hiếp hà khắc, nên người làm ruộng, người đi buôn mất hết nghề nghiệp. Nhân dân trở nên khốn cùng[7].

Trịnh Giang có người em thứ ba là Trịnh Doanh, tuổi còn trẻ nhưng có tài kiêm văn võ, được ông rất tin tưởng. Do không tha thiết việc chính sự, nǎm 1736 Trịnh Giang phong cho Doanh lúc đó mới 17 tuổi làm Tiết chế thủy bộ chủ quân, chức Thái úy, tước Ân Quốc công, cho mở phủ Lượng Quốc. Mỗi tháng ba lần, Doanh thay Giang triều kiến trǎm quan ở Trạch Các để nghe tâu trình công việc. Giang rảnh tay vào ǎn uống, chơi bời, tin dùng hoạn quan Hoàng Công Phụ. Giang cho xây dựng rất nhiều cung quán, chùa chiền rất nguy nga và tốn kém: Chùa Hồ Thiên, hành cung Quế Trạo, Tử Dương, phủ đệ ở các làng họ ngoại như làng Tử Dương, làng My Thữ. Việc xây cất, chơi bời của Trịnh Giang làm tốn kém nhiều tiền của nên Giang ra lệnh tăng các thứ thuế khoá và bắt dân lao dịch nặng nề khiến nhân dân rất bất bình. Bấy giờ trong nước đã nhiều kì thi Đình mà không lấy đỗ Trạng nguyên; nên vào khoa thi năm 1736, Trịnh Giang nghe lời nội giám Hoàng Công Phụ cho triệu sĩ tử vào thi ở phủ đường, cất nhắc Trịnh Tuệ đỗ cập đệ đệ nhất danh, còn các sĩ tử khác đỗ cập đệ và xuất thân có người cao người thấp khác nhau. Do việc đó mà Trịnh Tuệ bị mọi người chê bai[7].

Ngoài ra để có tiền chi xài, Trịnh Giang đẩy mạnh việc buôn bán quan tước. Năm 1736, chúa ra lệnh: Quan và dân đều cho phép nộp tiền, sẽ được cất nhắc trao cho chức phẩm: Các viên quan trong triều ban từ lục phẩm trở xuống, ai nộp 600 quan tiền sẽ được thăng chức một bậc; nhân dân, ai nộp 2.800 quan được bổ thụ tri phủ, nộp 1.800 quan được bổ thụ tri huyện[7].

Trước kia triều đình chỉ có hai ban văn và võ. Đến đây, hoạn quanHoàng Công Phụ lộng quyền, nên vào mùa hạ năm 1739, Trịnh Giang đặt ra thêm giám ban, ngang hàng với hai ban trên; hạ lệnh: ai thi khảo trúng cách sẽ được trao cho quan chức. Các quan lấy thế làm hổ thẹn, nhưng không ai dám nói[7].

Tháng 9 ÂL năm 1739, Trịnh Giang tiến xưng là Bác Đạt Mậu Hòa Tuy Du Dụ Nghĩa Trịnh vương. Khi đó đang tuần du ở xã Quế Trạo[8], là quê hương Hoàng Công Phụ. Chúa mật sai Nguyễn Trác LuânTrần Văn Hoán từ kinh sư chạy trạm lên, nói thác ra rằng sứ thần nhà Thanh sang nước ta, phong cho Giang làm An Nam thượng vương, ngang hàng với vua nhà Lê[7].

Khởi nghĩa nông dân[sửa | sửa mã nguồn]

Trước những việc làm ngang ngược của Trịnh Giang, nền chính trị ngày càng hủ bại, kinh tế cũng tuột dốc, mất mùa đói kém xảy ra; vì thế các cuộc khởi nghĩa cũng bắt đầu. Mùa xuân năm 1734, Quách Công Thi ở Lạc Thổ[9] làm phản, hô hào tụ hợp nhiều người đi cướp bóc, đó là mầm móng đầu tiên của phong trào nông dân kéo dài hơn 30 năm ở Đàng Ngoài.

Tháng 9 ÂL năm 1737, nhà sư Nguyễn Đương Hưng lãnh đạo nhân dân nổi dậy ở núi Tam Đảo. Lúc ấy, nhân trong nước thái bình, dân không hiểu biết việc binh, chợt nghe có tin báo nguy cấp, thì lo sợ, dắt díu nhau ra ngoài thành, hay chôn giấu của cải, sắp sẵn lương khô làm thức ăn phòng khi nghĩa quân đánh vào Thăng Long. Tuy nhiên quân Trịnh nhanh chóng đánh bại được cuộc khởi nghĩa này. Sau việc đó, triều đình Lê-Trịnh hạ lệnh cho các lộ Sơn Tây và Thanh Hoa đều đặt đồn hỏa hiệu ở trên đỉnh núi, bắt dân sở tại ngày đêm canh giữ, nếu có nguy cấp thì đốt lửa để thông báo về triều[7].

Mùa đông tháng 12 ÂL năm 1738, bọn hoàng thân nhà Lê là Duy Mật, Duy Chúc, Duy Quy tức giận về việc họ Trịnh lấn quyền, giết vua, bèn cùng quan trong triều là bọn Phạm Công Thế, Vũ Thước và thuộc hiệu là Lại Thế Tế bàn mưu đốt kinh thành, nhưng không xong. Vì sợ công việc bị lộ, nên các hoàng thân đều bỏ trốn. Giang sai binh lính đuổi theo không kịp. Bọn Vũ Thước bị bắt, đem giam trong ngục rồi giết đi. Duy Chúc và Duy Quy sau bị bệnh chết, Duy Mật bèn chiếm cứ mặt thượng du vùng tây nam. Ngoài Lê Duy Mật ra, ở khắp các vùng, dân chúng đã nổi lên khởi nghĩa dưới cờ các thủ lĩnh Vũ Đình Dung, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Vũ Trác Oánh, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Công Chất, Nguyễn Danh Phương, v.v... với danh nghĩa "phù Lê diệt Trịnh". Triều đình bất lực, không trị nổi.

Từ khi đó đất nước rối loạn, triều đình tăng cường bắt lính, hạ lệnh: tuyển thêm thủy binh ở Thanh - Nghệ, 5 huyện thuộc Thanh Hoa, theo ngạch cũ, cứ 6 suất đinh lấy một người làm lính[7]. Lại lập ra phép đoàn kết, quy định mỗi xã, cứ 10 dân đinh thì lấy 2 người, bắt tự sắm lấy đồ binh khí, đặt điếm canh để canh giữ; cứ 4, 5 xã hoặc 6, 7 xã địa thế tiếp giáp nhau kết hợp làm một đặt dưới sự quản lí của một quan chức địa phương, gặp có sự nguy cấp thì theo tình thế mà chống; nếu không đủ sức, thì báo cho nơi khác đến tiếp ứng. Vì vậy nên ở dân gian đâu đâu cũng có binh khí. Bọn gian nhân sự sơ hở, tụ họp nhau đi cướp bóc ngày càng quá tệ, vì thế không lâu sau phép này phải bãi bỏ[7].

Chính biến năm 1740[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa thu năm 1739, chúa bổ dụng Trịnh Tuệ làm thượng thư bộ Hình, vào phủ đường giữ chức tham tụng, giáng chức Tham tụng Phạm Khiêm Ích, bồi tụng Cao Huy Trạc.

Trịnh Giang lao vào ǎn chơi, ham mê tửu sắc nên sức khỏe ngày càng kém sút. Ông quan hệ cả với cung nữ của cha là Kỳ Viên họ Đặng, điều cấm kỵ thời phong kiến. Sau Vũ Thái phi biết chuyện, bắt ép Đặng thị phải tự tử. Một hôm bất ngờ Trịnh Giang bị sét đánh gần chết. Từ đó Giang mắc bệnh "kinh quý", tâm thần bất định, hoảng hốt và hay sợ hãi. Bọn hoạn quan Hoàng Công Phụ nói dối rằng: "Đấy là vì dâm dục mà bị ác báo. Muốn không bị hại chỉ có cách là trốn xuống đất." Nhân đó các hoạn quan hạ lệnh đào đất, làm hầm cho chúa, gọi là cung Thưởng Trì. Từ đó Trịnh Giang ở hẳn dưới hầm, không hề ra ngoài[7]. Công Phụ càng có điều kiện để lộng quyền.

Còn Trịnh Doanh là người sáng suốt, quả quyết, có tài văn võ, rất được lòng người, Nhưng bị Hoàng Công Phụ ngăn trở nên chẳng nắm được quyền hành. Trước tình hình đó, vào đầu năm 1740, bà Trịnh thái phi Vũ thị cho triệu Bồi tụng Hữu tư giảng Nguyễn Quý Cảnh, nhờ đến khuyên Trịnh Doanh lên thay Trịnh Giang. Quý Cảnh đem việc ấy nói với bồi tụng Nguyễn Công Thái và các đại thần Trịnh Đạc, Vũ Tất Thận, Nguyễn Đinh Hoàn, họ đều đồng tình[7].

Lúc đó Hoàng Công Phụ đã đem quân đánh Nguyển Tuyển ở Ninh Xá, thành Thăng Long bỏ trống. Quý Cảnh chia binh giữ các cung điện và các ngỏ ngách trong thành, rồi vào ngày khai bảo[10] họp các quan phò lập Trịnh Doanh lên làm chúa.

Bọn hoạn quan ở cung Thưởng Trì được tin, vội tập hợp lực lượng đánh Quý Cảnh và tôn Trịnh Giang làm chúa như cũ, nhưng bị hương binh của Quý Cảnh đánh bại, giết sạch. Trăm quan cùng đem nhau đến lạy mừng. Trịnh Doanh tự tiến phong Nguyên soái, tổng quốc chính, Minh Đô vương, tôn Trịnh Giang làm Thái thượng vương. Kể từ đó đến khi chết, ông bị giam lỏng luôn ở cung Thưởng Trì do chính mình dựng nên.

Trịnh Giang ở ngôi được 11 nǎm (1730-1740) rồi lánh ở cung Thưởng Trì thêm 20 nǎm nữa mới mất (tháng 12 âm lịch năm 1761, tức đầu năm 1762), thọ 51 tuổi, được tôn là Dụ Tổ Thuận Vương[11]. Về sau, khi cháu nội Trịnh Doanh là Trịnh Tông bị Tây Sơn tiêu diệt (1786), con Trịnh Giang là Trịnh Bồng được lập lên ngôi chúa, tức là Án Đô Vương, chúa Trịnh cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

Bình luận[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Giang là người làm hỏng chính sự Đàng Ngoài, khiến thế nước của Bắc Hà suy yếu. Giang vu cho vua Lê Duy Phường tư thông với vợ của cha mình để phế truất nhưng rồi chính ông lại phạm vào điều cấm đó với Kỳ Viên họ Đặng, là một trong những nguyên nhân khiến ông bị mất ngôi. Ham chơi bời, háo sắc, bỏ bê chính sự, sợ sấm sét và bị mất địa vị, những nét đó của Trịnh Giang khá giống với Mạc Mậu Hợp. Tuy nhiên, vì họ Trịnh đã xây dựng được bộ máy cai trị nề nếp, quy củ từ nhiều đời trước nên cơ đồ vẫn được giữ vững bởi tay Trịnh Doanh và nhờ đó Trịnh Giang mới được sống vô sự đến hết đời.

Dưới đây là lời cẩn án trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục[cần số trang] thời Nguyễn:

Trịnh Giang bạo nghịch giết vua, cũng như Vương Mãng, Đổng Trác nhà Hán. Có người nói "Đế Duy Phường là con của người khác". Câu nói ấy chẳng qua kẻ bè đảng với họ Trịnh bịa ra để gở tội cho Giang mà thôi. Tra trong Ngọc Phả nhà Lê nói: "Duy Phường là con của Dụ Tông". Thế hệ nhà Lê nói: "Giang vu cho nhà vua thông gian với vợ Trịnh Cương mà phế truất đi". Ngọc Phả và Thế Hệ đều chép rành rành như thế, có thể dùng làm chứng cớ. Thế mà người tục biên Lê Sử lại nói rằng: "Nhà vua hoang dâm càn rỡ không kiêng kỵ gì", nhưng họ không nêu rõ được sự việc. Chép như thế là hồ đồ, họ theo ý riêng mình mà múa mép câu văn, toan đem việc ấy để buộc tội Duy Phường. Tội Trịnh Giang phải trừng trị không tha thứ được mà người tục biên Lê Sử chép như thế, thì còn có thể gọi được là bộ sử đáng tin không? Lại còn việc này nữa: Duy Tường là con trưởng, Cương phế truất đi mà lập Duy Phường; Duy Phường đã lên ngôi vua rồi, Giang lại phế truất đi mà lập Duy Tường. Sử cũ chép về việc truất bỏ Duy Phường thì nói: "Lễ số gia ân đều xén bớt"; về việc lập Duy Tường thì nói: "Dẫn hoàng tử vào trong phủ để xem mặt". Vua tôi là nghĩa lớn, bỏ vua này lập vua kia là việc lớn. Lúc ấy, mũ và giầy lộn ngược như thế, cũng có phải tội lỗi chỉ tại một mình họ Trịnh đâu!.[12]

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e Cương mục, chính biên quyển 37
  2. ^ Trịnh gia chính phả, đời Dụ Tổ Thuận vương Trịnh Giang.
  3. ^ Năm 1729, Trịnh Cương ép Dụ Tông Hòa hoàng đế nhường ngôi cho cháu mình là Lê Đế Duy Phường
  4. ^ Ở dưới chân núi Quỳnh Lâm thuộc xã Hà Lôi, huyện Đông Triều, trấn Hải Dương (nay là Quảng Ninh), do thầy chùa Minh Không thời nhà Lý dựng lên. Ở đây có viện Quỳnh Lâm, am Bích Động
  5. ^ Ở xã Nam Giản, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương
  6. ^ Nay thuộc huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
  7. ^ a ă â b c d đ e ê g Cương mục, chính biên quyển 38
  8. ^ Nay thuộc huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
  9. ^ Nay thuộc huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, Việt Nam
  10. ^ Chế độ đời phong kiến, hàng năm cứ đến hạ tuần tháng chạp dùng một ngày nào đó làm lễ hạp tỉ của vua chúa, hoặc hạp ấn của các quan, nghĩa là bỏ ấn tín vào một cái hộp khóa lại và niêm phong cẩn thận, bắt đầu từ ngày ấy, mọi công việc quan đều nghĩ cả. Đến đầu tháng giêng năm sau sẽ dùng một ngày nào đó làm lễ khai bảo tỉ của vua chúa và ấn tín của các quan, lúc ấy mới vắt đầu làm việc.
  11. ^ Cương mục, chính biên quyển 42
  12. ^ [Sự thật về vụ án vua thông dâm với vợ chúa http://khoevadep.com.vn/tham-cung-bi-su/su-that-ve-vu-an-vua-thong-dam-voi-vo-chua-17871.html]
  • Việt Nam sử lược
  • Khâm định Việt sử Thông giám cương mục
  • Các triều đại Việt Nam - Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, NXB Thanh niên, 2001