Trịnh Kiểm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trịnh Kiểm
Chúa Trịnh (chi tiết...)
Trịnh Kiểm (2).jpg
Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm
Tại vị 1545 - 1570
Thời Vua Lê Trang Tông
Vua Lê Trung Tông
Vua Lê Anh Tông
Kế nhiệm Trịnh Cối
Thông tin chung
Thê thiếp Lại Thị Ngọc Trân
Nguyễn Thị Ngọc Bảo
Trương Thị Ngọc Lãnh
Tên đầy đủ Trịnh Kiểm
Thụy hiệu Minh Khang Thái Vương (明康太王)
Miếu hiệu Thế Tổ (世祖)
Hoàng tộc Chúa Trịnh
Thân phụ Trịnh Lâu
Thân mẫu Hoàng Thị Dốc
Sinh 14 tháng 9, 1503
Thôn Hổ, xã Vệ Quốc, huyện Yên Định, Thanh Hóa
Mất 24 tháng 3, 1570 (66 tuổi)

Trịnh Kiểm (chữ Hán:鄭檢, 15031570), tức Thế Tổ Minh Khang Thái vương, là người mở đầu sự nghiệp nắm quyền của họ Trịnh và gián tiếp tạo nên tình trạng vua Lê - chúa Trịnh tại Bắc Hà (miền Bắc Việt Nam ngày nay) cũng như là đầu mối của chiến tranh Trịnh-Nguyễn sau này.

Tuy được coi là vị chúa đầu tiên của hơn 200 năm cơ nghiệp dòng họ Trịnh, nhưng đương thời khi cầm quyền ông không xưng là chúa nhưng được đời sau truy tôn là Thái Vương. Ông là người nắm quyền chỉ huy quân đội trong triều các vua Lê thời Nam Bắc triều từ năm 1545 tới khi mất (18 tháng 2 năm Mậu Ngọ, 1570).

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Đại Việt Lê triều đế vương Trung Hưng công nghiệp thực lục, tổ tiên của Thái vương Trịnh Kiểm, là ông Trịnh Xứng sinh Cao tổ là ông Trịnh Kỷ, tằng tổ là ông Trịnh Liễu: “Nhà nghèo, ham học, tích đức, làm việc nghĩa. Họ hàng khen hiếu, làng xóm khen đễ… sau rời đến làng Biện Thượng (nay là Bồng Thượng, xã Vĩnh Hùng), làm điều thiện không mỏi, nhân hậu có thừa.

Trịnh Liễu ở sách Sóc Sơn hay cũng gọi là Sáo Sơn, huyện Vĩnh Phúc, trước năm 1533 là huyện Vĩnh Ninh, do kỵ huý với vua Lê Trang Tông (huý Ninh) nên đổi là Vĩnh Phúc, đến đời Tây Sơn đổi là Vĩnh Lộc cho đến ngày nay. Trịnh Liễu lấy vợ họ Hoàng cũng ở sách Sóc Sơn. Gia tư Trịnh Liễu nghèo đói, làm ruộng và bán nước chè kiếm sống nhưng rất ham đọc sách.

Một hôm, Trịnh Liễu đi cày ở xứ đồng trong núi, đến chỗ vực tôm, thấy một ông già hơn 90 tuổi, sắc mặt sáng tươi, thần thế thanh tú. Ông già hỏi Trịnh Liễu: “Ông ở đâu? Họ gì? Cày ruộng chăn trâu ở núi mà lại siêng học hành thế nhỉ!”. Trịnh Liễu đáp: “Tôi quán ở Sóc Sơn. Từ nhỏ mồ côi, nghèo đói, vốn thích sách vở”.

Hai người đàm đạo không hay mặt trời đã gác núi. Trịnh Liễu mời ông già về nhà nghỉ lại một đêm. Đến nhà, thấy mấy gian lợp lá và một cái chõng tre. Trịnh Liễu một mực mời lên giường ngồi, kính cẩn mời cơm nhạt. Ông già khen Trịnh Liễu có đức, nói: “'Lão đây vốn sành phong thuỷ, thấy trong đất sách này, chỗ Nanh Lợn, có một huyệt có khí quý. Táng đó thì 4 đời sau phát vương”.

Trịnh Liễu theo lời, đem hài cốt cha mẹ nhờ ông già lập hướng mà táng. Táng xong ra về. Đêm ấy, trời đất chuyển động mây mưa, gió thổi đùng đùng. Ông già hỏi Trịnh Liễu: “Ông có dám đi thăm huyệt không?”. Trịnh Liễu đáp có, rồi cắp dao đi thẳng đến huyệt mộ mới táng ban ngày.

Trịnh Liễu hết sức ngạc nhiên và sợ hãi khi thấy bốn bề đen tối, mưa gió ầm ầm nhưng trong mộ sáng như có ánh trăng. Xa trông thấy con rồng đen nằm ấp lên trên. Trịnh Liễu sợ chạy một mạch về. Ông già nói: “Rồng vàng là đế, rồng đen là vương. Nhà ông tích lại âm công. Trời giáng phúc cho đó”. Ngày hôm sau, Trịnh Liễu cùng người nhà ra thăm mộ vẫn còn thấy dấu rồng nằm, cây cỏ chung quanh gẫy rạp đến một mẫu.

Trịnh Liễu cảm kích, bán hết ruộng vườn được 73 quan cổ tiền biếu ông già. Ông già còn chỉ cho đất làm nhà tốt ở Biện Thượng, nói xong bèn lên đường. Trịnh Liễu cùng người nhà đưa chân ông già đến chỗ Cổ Dải, thuộc huyện Tống Sơn (huyện Hà Trung, Thanh Hóa ngày nay) thì thình lình mưa gió ào tới, sương mù xuống ào ạt mờ mịt cả một vùng. Chỉ một lúc sau, trời quang mây tạnh, ông già biến mất theo đám sương khói. Gánh tiền vẫn còn nguyên vẹn. Lúc ấy, Trịnh Liễu mới biết ông già chính là thần tiên hiện ra, đặc biệt đến dâng phúc. Bởi thế, về sau, nơi này, Chúa Trịnh cho lập đền thờ, truy phong tôn hiệu là Tống Thiên Vương.[1][2]

Trịnh Liễu cùng anh em lại gánh tiền đã biếu thần tiên về dựng nhà ở Biện Thượng (hay Bồng Thượng). Sau đó, Trịnh Liễu đi thi đỗ tam trường (tương đương tú tài). Con trai Trịnh Liễu là Diễn Khánh vương Trịnh Lan cũng lấy vợ họ Hoàng, người xã Biện Thượng. Con thứ của Trịnh Lan là Trịnh Lâu cũng lại lấy vợ họ Hoàng là bà Hoàng Thị Dốc ở thôn Hổ, xã Vệ Quốc, huyện Yên Định. Bà Hoàng Thị Dốc chính là người sinh hạ Thái tổ Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm. Như vậy, từ Trịnh Liễu đến Trịnh Kiểm đúng 4 đời y như tiên đoán của vị thần tiên năm nào. [2].

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Kiểm sinh ngày 24 tháng 8 năm Quý Hợi, tức ngày 14 tháng 9 niên hiệu Cảnh Thống thứ 6 (1503) dưới triều vua Hiến Tông Duệ hoàng đế nhà Hậu Lê. Ông có tên húy là Phiến, sau gọi là Kiểm, sinh ra tại quê mẹ là thôn Hổ, xã Vệ Quốc, huyện Yên Định, Thanh Hóa. Thân phụ là ông Trịnh Lâu, thân mẫu là bà Hoàng Thị Dốc. Quê cha của Trịnh Kiểm gốc ở thôn Sóc Sơn, xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Năm lên sáu tuổi thì cha mất. Từ đó gia cảnh sa sút, bị người ta khinh khi[3]. Trịnh Kiểm bèn bỏ Biện Thượng về lại quê cũ là Sóc Sơn, sinh sống bằng cách chăn trâu thuê trong núi Lệ Sơn, trong lúc đi chăn thường cùng lũ trẻ mục đồng lấy trâu bò voi ngựa, bẻ bông lau làm cờ, tập trận mạc[3], có khí khái như Đinh Tiên Hoàng khi xưa.

Trịnh Kiểm đến năm 17 tuổi thì hùng dũng hơn người, trí lực khác thường. Lúc bấy giờ, trong khoảng niên hiệu Thống Nguyên, vào năm Đinh Hợi, Mạc Đăng Dung đã tiếm ngôi vua Lê. Bề tôi nhà Lê là Nguyễn Kim ở huyện Tống Sơn, trang Gia Miêu Ngoại (Hà Trung hiện nay) ngầm rút về Cổ Lũng, huyện Cẩm Thuỷ để đánh Mạc. Tướng quân nhà Mạc là Ninh Bang hầu quán xã Biện Thượng, tiến phát quân về đóng ở huyện Vĩnh Ninh (Vĩnh Lộc ngày nay).

Mẹ Trịnh Kiểm đã đem con đến xin Ninh Bang hầu cho Trịnh Kiểm làm gia thần. Ninh Bang hầu mừng vui thu nhận. Ninh Bang hầu cho Trịnh Kiểm trông coi trại ruộng ở sách Thọ Liêu. Trịnh Kiểm nuôi trâu ngựa. Hằng ngày, ông được người bạn gốc Chàm là Vũ Thì An dạy cho cách huấn luyện ngựa, có thể biết được ngựa hay. Một thời gian sau, Trịnh Kiểm ăn cắp con ngựa tốt nhất chạy sang Mường Sùng Cổ Lũng, Bá Thước, bấy giờ là nước Ai Lao, còn bà mẹ phải trốn về quê mình là làng Vệ Quốc. Trịnh Kiểm đi theo anh họ là Trịnh Quang, lúc đó đã theo Nguyễn Kim, và đón mẹ Trịnh Kiểm sang ở. Ninh Bang hầu biết tin Trịnh Kiểm ăn cắp ngựa của mình, bỏ đi nhiều ngày không về, nên rất tức giận, bèn sai quân lính, dân các xã Sóc Sơn, Biện Thượng lùng bắt mẹ con Trịnh Kiểm.

Xã trưởng Biện Thượng tìm thấy mẹ con Trịnh Kiểm đang nấp sau nhà không những không bắt mà còn ra hiệu bằng cách ném đất và nháy mắt cho Trịnh Kiểm chui qua mấy tầng rào chạy trốn đến nhà người tên Nữu ở Yên Định. Người này đã bới đống thóc trong bồ lớn, cho Trịnh Kiểm chui vào đó rồi lấp lúa lại. Ninh Bang hầu tìm không thấy tung tích của Trịnh Kiểm nên tức tối bắt mẹ ông giam lại. Ba ngày sau, Ninh Bang hầu bắt xã Sóc Sơn đem lồng tre nhốt mẹ Trịnh Kiểm, kèm tảng đá lớn bỏ vào trong rồi ném xuống sông.

Bạn thân Trịnh Kiểm là Vũ Thì An sai con là Vũ Đình Tùng chạy đến xã Cổ Lũng mật báo cho Trịnh Kiểm biết. Nghe xong câu chuyện, Trịnh khóc sướt mướt mà than: “Người làng ta sao mà nhẫn tâm phụ bạc với ta như vậy. Ngày sau, nếu ta sáng nghiệp lớn, thề không về làng cũ nữa”. Quả vậy, sau này thành Chúa, Trịnh Kiểm chỉ xây dựng cung điện, miếu thờ ở Biện Thượng và quê mẹ bên kia sông chứ không làm ở Sóc Sơn.

Lại nói, dù rọ đã bỏ đá vào trong nhưng xác thân mẫu Trịnh Kiểm không chìm mà cứ nổi lên. Xác trôi dọc sông, bên trên, đàn vẹt đến hàng trăm con tập hợp lại như đám mây lượn quanh, bảo vệ, che chở cho thân xác bà. Xác trôi đến xứ Quai Vạc, có người chài lưới ở làng Đông Biện tên là An Dũng sáng sớm thấy thây nổi gần bờ mới về báo cho người làng đem cuốc xẻng ra an táng. Dân làng khi ra đến chỗ ấy thì vừa đúng giờ Ngọ, thình lình thấy mối đùn ra tận dòng sông, lấp kín thân xác thành ngôi mộ lớn.

Theo truyền thuyết dân làng nơi đây, đêm đến, Trịnh Kiểm cùng bạn đến định đem xác mẹ đi chôn nhưng thấy mộ bỗng dưng to lớn nên để yên vị, cùng bạn khóc bái trước mộ rồi ra về. Tuy nhiên, theo gia phả họ Trịnh, sau đó, Trịnh Kiểm nhờ cha con Thì An đang đêm bí mật đào lấy xác mẹ mang táng nơi khác vì sợ bọn Ninh Bang hầu biết mà phá. Cha con Thì An đem xác đến nửa chừng gặp hổ giữa đường mới sợ run, vác xác thân mẫu Trịnh Kiểm chạy qua ruộng khô đến đầu thôn Yên Việt thì bất ngờ nghe ầm như có tiếng súng nổ. Thấy có bóng sáng như có bóng trăng mờ, biết đó là đất tốt nên lấy chỗ đó mà táng.

Dưới trướng Nguyễn Kim[sửa | sửa mã nguồn]

Bấy giờ nhà Mạc cướp ngôi nhà Hậu Lê, các cựu thần nhà Lê như Hưng quốc công Nguyễn Kim đều phải bỏ trốn. Năm 1532, Nguyễn Kim tại Ai Lao lập hoàng tử con của vua Lê Chiêu Tông là Lê Ninh làm vua Trang Tông, trung hưng nhà Lê[4][5][6]. Thế Nam Bắc triều hình thành.

Khi mới đầu Nguyễn Kim đóng đồn ở Mường Sùng thuộc Ai Lao[3]. Trịnh Kiểm đến đầu quân cho Nguyễn Kim, được phong làm Tri Mã cơ, tước Dực Nghĩa hầu. Là người có tài, ông được Nguyễn Kim giao cho nhiều trọng trách và gả con gái là Ngọc Bảo cho[7]. Theo Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài của Alexandre De Rhodes: Khi quân Mạc tấn công vào kinh thành, quân Nguyễn Kim bị vây giữa vòng vây của địch. Kim đã giao ước với các tướng rằng ông sẽ gả con gái cho ai có thể giải cứu ông và nghĩa quân ra khỏi vòng vây ấy. Trịnh Kiểm phi ngựa xông lên hăng hái đánh giết giăc, cứu được Kim và mở đường huyết lộ cho nghĩa quân rút lui. Vì vậy, theo lời hứa, Kim gả con gái là Ngọc Bảo cho Kiểm và giao nhiều trọng trách cho ông, đặc biệt là việc huấn luyện kị binh cho nghĩa quân.

Năm 1539, ông được vua Lê Trang Tông phong làm Đại tướng quân, tước Dực Quận Công[8][9] do có công cầm binh mã sang Ai Lao đón vua Lê Trang Tông (vua Lê thấy Kiểm dung mạo tuấn tú nên phong tước cho ông, lúc đó ông 37 tuổi). Hoàng đế cũng coi ông là một đại tướng tâm phúc, ban ấn tướng quân, quản lĩnh quân giao chiến với nhà Mạc ở các vùng Thanh Hoa, thắng quân Mạc ở Lôi Dương[10]. Đến năm 1540, quân nhà Lê kéo về Nghệ An và Thanh Hóa, đến năm 1543 thì khôi phục được Tây Đô.

Giao tranh với nhà Mạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1545, Nguyễn Kim bị tướng cũ của nhà Mạc là Dương Chấp Nhất hạ độc giết chết. Trước khi chết, Nguyễn Kim giao lại toàn bộ binh mã cho Trịnh Kiểm[7]. Toàn bộ binh quyền của nhà Lê rơi vào tay Trịnh Kiểm. Mùa thu tháng 8 ÂL cùng năm ông được hoàng đế phong làm Đô úy tướng Tiết chế thủy bộ mọi dinh gồm tổng chức Ngoại Bình Chương quân quốc trọng sự hàm Thái sư, tước Lượng quốc công[11]. Trịnh Kiểm quyết định mọi công việc trong nước, bao gồm cả việc bổ nhiệm quan lại rồi mới tâu vua sau[12]. Thường dẫn quân đội giao chiến với Bắc triều, đánh đâu được đó, thanh thế ngày càng lừng lẫy.

Năm 1546, ông rước vua Trang Tông về Tây Đô, lập ra Nam triều để phân biệt với Bắc triều là lực lượng nhà Mạc. Năm 1548, vua Trang Tông mất, Trịnh Kiểm cho lập con lớn của Trang Tông là Duy Huyên lên nối ngôi lấy hiệu là Trung Tông.

Năm 1551, Trịnh kiểm giao binh cho Lê Bá Ly là tướng nhà Mạc đã về hàng đánh Sơn Nam, Vũ Văn Mật đánh Tuyên Quang, rồi cùng Kiểm tụ hội ở Thăng Long. Trước khi ra quân, ông viết 1 bức thư Nôm, kêu gọi mọi người hãy nhớ đến công ơn đức Thái tổ Lê Lợi năm xưa đã đánh đuổi giặc Minh, giành độc lập cho đất nước... để đồng lòng tôn phò vua Lê, tiêu diệt kẻ soán ngôi. Rồi cùng 3 tướng đồng loạt ra quân. Năm 1552, Trịnh Kiểm đem quân đánh dẹp miền tây nam, tướng Mạc là Nguyễn Khải Khang về hàng[13]. Sau khi chiếm thành, ông liền rút quân về Tây Đô để tránh quân Mạc huy động thêm viện binh đánh úp.

Tháng 5 tháng 1551, Trịnh Kiểm xuất quân từ Hưng Hóa qua sông Thao đến An Lạc. Sau khi đánh bại quân Mạc Kính Điển, ông tiến thẳng đến Xuân canh Lâm hạ. Mạc Phúc Nguyên sợ hãi, bỏ chạy ra Kim Thành. Quân nhà Lê tiến vào Đông Kinh, mở tiệc khao thưởng tướng sĩ[14]. Quân nhà Lê chiếm một loạt các phủ vùng Sơn Tây, Sơn Nam; bên Mạc chỉ còn hai đạo Đông, Bắc. Nguyễn Khải KhangLê Bá Ly bàn nên đón Hoàng thượng về Thăng Long, nhưng Trịnh Kiểm cho rằng nhà Mạc hãy còn mạnh,nhân tâm cũng chưa hẳn đã hướng về nhà Lê, nên không kí tên vào tờ biểu. Nhà vua xem tờ biểu, biết ý của Trịnh Kiểm, bèn hạ lệnh lui quân về. Mạc Phúc Nguyên nghe tin quân nam rút lui, bèn sai quân truy kích ở núi Công. Nhưng Trịnh Kiểm đánh tan truy binh Mạc, rồi trở về Thanh Hóa[15].

Năm 1554, dời hành dinh đến Biện Thượng[16]. Tháng 8 năm 1555, nhà Mạc sai Mạc Kính Điển đem quân đánh Thanh Hóa, lấy quận Thọ làm tiên phong, đóng quân ở Kim Sơn, còn Kính Điển đóng ở Đại Lại. Trịnh Kiểm bàn với các tướng, dặn dân hai bên bờ không được kinh động, sai Đinh Công suất các hàng tướng mai phục ở phía nam sông. Đích thân ông dẫn đại quân mai phục ở phía bắc sông, từ khoảng núi Bạch Thạch[17]. Lại sai Phạm ĐốcNguyễn Quyện đem chiến thuyền chiếm cứ mạn thượng lưu. Khi thuyền quân Mạc qua Kim Sơn không thấy bóng dáng quân nam, thì đàn sáo ca hát, như vào chỗ không người. Khi đến trưa, Trịnh Kiểm cho nổi trống, tung quân ra đánh; quân Mạc tan vỡ, bị bắt giết đến mấy vạn người. Mạc Kính Điển lui quân về Thăng Long còn các tướng Mạc không chịu hàng đều bị chém đầu ở núi Đồng Lộc[18].

Tháng 7, Mạc Kính Điển lại đánh Thanh Hóa, đến sông Thần Phù và vùng Tống Sơn[19], Nga Sơn[20]. Trịnh Kiểm sai Thanh quận công giữ Nga Sơn, Thuỵ quận công Hà Thọ Tường giữ Tống Sơn. Đích thân ông chỉ huy quân tượng, bí mật tiến đến chân núi Yên Mô; khi gặp quân địch thì tung quân ra đánh, lại đánh úp phía sau. Mạc Kính Điển trở tay không kịp, may mắn lắm mới trốn được về[21].

Tháng 8, Trịnh Kiểm sai Phạm Đốc chặn đánh quân Mạc cho Phạm Quỳnh, Phạm Giao chỉ huy đang xâm chiếm Nghệ An, dùng chiến thuyền bắt được của địch làm ngụy trang[22]. Tháng 9 năm đó, Trịnh Kiểm đem 5 vạn quân đánh Sơn Nam, bắt sống tướng Mạc Khánh quốc công. Sau khi đánh dẹp huyện Giao Thuỷ ở mạn dưới Sơn Nam, Trịnh Kiểm tự mình chỉ huy bộ binh, sai Phạm Đốc chỉ huy thuỷ quân, Vũ Lăng hầu làm tiên phong; nhưng bị trúng phải kế của Nguyễn Quyện nên thất bại, chỉ thoát được một nửa. Trịnh Kiểm phải dẫn tàn quân trở về Thanh Hóa. Ông vỗ về quân lính, chế tạo thêm binh khí. tuyển thêm người nhập ngũ để chờ dịp báo thù[23].

Tháng 9 ÂL năm 1559, Trịnh Kiểm lại dẫn 6 vạn quân bắc phạt, nói phao là 12 vạn, xuất phát từ Thiên Quang[24] ra thượng lộ Sơn Tây. Quân đi đến đâu cũng không đụng đến của cải của dân, Nhân dân đều mến phục, đua nhau đem rượu, gạo, trâu bò, lương thực, đến cung cấp cho quân[25]. Quân Lê-Trịnh chiếm các xứ Thái Nguyên, Lạng Sơn, Kinh Bắc. Đến tháng 10, Trịnh Kiểm đóng dinh ở phủ Thuận An[26], sau lại dời đến núi Tiên Du[27]. Quân nam đánh đâu thắng đó đến đầu năm 1560, Mạc Phúc Nguyên phải chạy ra Thanh Đàm[28].

Đang trên đà thắng lợi thì tháng 7 năm 1561 nhà Mạc lại sai Mạc Kính Điển đánh Thanh Hóa. Trịnh Kiểm phải bỏ hết những vùng đất đã chiếm mà lui về giữ Tây Kinh. Mạc Kính Điển nghe tin Trịnh Kiểm quay về cũng lui quân về Thăng Long. Tháng 9 năm 1564, ông xuất quân ra trung lộ xứ Sơn Nam, đánh các huyện thuộc Trường An, đến tháng 11 thì về. Tháng 4 và tháng 9 năm 1565 lại đem quân đánh Sơn Nam, nhưng rút cục bị Mạc Kính Điển đánh bại, tước Lộc quận công tử trận[29]. Tháng 9 năm 1566 ông lại tiến đánh các hạt Gia Viễn và Phụng Hóa rồi dẫn quân về. Mùa hạ tháng 4 năm 1568, dù đang bị bệnh, ông vẫn cố gượng ra trận, đánh phá các huyện Yên Mô, Yên Khang, Phụng Hoá, Gia Viễn, hạ lệnh thu thóc lúa rồi về[30].

Đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1556, vua Trung Tông mất không có con nối. Trịnh Kiểm lúc đó binh quyền rất lớn, muốn thay nhà Lê làm vua, nhưng còn ngại những lời dị nghị nên sai người đi hỏi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trạng Trình mách khéo rằng: "giữ chùa thờ Phật thì ăn oản". Trịnh Kiểm hiểu ý bèn sai người đến thôn Bố Vệ[31] rước hậu duệ của ông Lê Trừ là anh của Lê Thái Tổ tên là Duy Bang (tục gọi là Chúa Chổm) lên làm vua, tức là Lê Anh Tông[32].

Bấy giờ con trưởng của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông làm tả tướng có nhiều thế lực, bị Trịnh Kiểm nghi ngờ và giết chết. Con thứ là Nguyễn Hoàng lo sợ. Vào năm 1558, Trịnh Kiểm muốn xuất quân bắc phạt nhưng vì mưa to, dân tình đói kém đành phải hoãn lại. Ở vùng Thuận Hóa mới giành được, nhà Lê đặt chức Tam ty và phân ra các phủ, huyện để cai trị. Nguyễn Hoàng biết Thuận Hóa là mối lo của Kiểm, nên nhờ chị là công chúa Ngọc Bảo xin Trịnh Kiểm cho vào trấn đất Thuận Hóa. Tháng mười năm ấy, Trịnh Kiểm dâng biểu tấu vua Anh Tông rằng:

đất Thuận Hóa là nơi hình thắng xưa nhà nước nhờ binh tài ở đấy mà thành lên đaị nghiệp. Nay nhân tâm chưa yên, nhiều người trốn ra theo Mạc, sợ sau này có kẻ đem giặc vào cướp phá chăng? Nếu không được một người tướng giỏi chấn thủ, không sao yên được. Đoan quân công Nguyễn Hoàng vốn dòng thế tướng, gồm đủ dũng lược, có thể cho vào trấn thủ Thuận Hóa để cùng với các thủ tướng ở miền Quảng nam làm thế ỷ dốc. Như vậy nhà vua mấy khỏi cái lo về phía Nam[32].

Hoàng đế y theo, cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, sắc cho mọi việc được chuyên trách, chỉ hàng năm phải cống thuế. Tháng 3 năm 1568, trấn thủ Quảng Nam Trấn quận công chết, Trịnh Kiểm cho Nguyễn Bá Quýnh lên thay. Năm 1569, vua Lê Anh Tông gia phong cho Kiểm làm Thượng tướng Thái Quốc Công và tôn là Thượng phụ. Đến đây quyền lực của Trịnh Kiểm bao trùm của triều đình. Trịnh Kiểm tuy chưa lấy lại Thăng Long nhưng công lao trung hưng là có đóng góp rất lớn của ông. Nhà Lê nhờ Trịnh Kiểm mới trung hưng được, mà họ Trịnh lập lên nghiệp Chúa cũng là khởi đầu tự Trịnh Kiểm vậy[33].

Tháng 9 mùa thu năm 1569, Nguyễn Hoàng từ Thuận Hóa về Thanh Hóa yết kiến nhà vua ở An Trường, rồi vào phủ thái sư lạy mừng Trịnh Kiểm, hai bên tâm tình rất thân thiết[34]. Tháng 10 cùng năm, Trịnh Kiểm đau nặng, xin trí sĩ, cho con là Tuấn Đức hầu Trịnh Cối lên thay.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Kiểm qua đời ngày 18 tháng 2 năm Canh Ngọ, tức ngày 24 tháng 3 năm 1570 niên hiệu Chính trị thứ 13, hưởng thọ 68 tuổi. Vua Lê sai con trưởng của Trịnh Kiểm là Trịnh Cối làm Đạt quốc công nắm binh quyền. Trịnh Kiểm được truy tôn là Thế Tổ Minh Khang Thái Vương, hiệu là Trung Huân. Nhưng Trịnh Cối không biết thương quân sĩ, nên tướng tá không ai quy phục đều bỏ theo cả về với em là Phú Lương hầu Trịnh Tùng, Trịnh Tùng nhân đấy được nối nghiệp Vương[33].

Vai trò lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc đời ông về cơ bản là cuộc đời của một chiến binh. Các trận đánh lớn nhỏ của ông với quân nhà Mạc mà người chỉ huy của đội quân này là Mạc Kính Điển là những trận đánh bất phân thắng bại khi xét về tổng thể. Cuộc chiến tranh này đã gây nhiều đau thương tang tóc cho nhân dân. Chưa thấy có tài liệu nào ghi chép rõ ràng về vai trò quản lý kinh tế hay vai trò người đứng đầu cơ quan hành pháp của ông, có lẽ là do các vấn đề quân sự khi đó đã lấn át tất cả, chỉ thấy có một số đoạn nhỏ cho thấy vai trò quản lý nhà nước trong kinh tế của ông là sai các viên quan đi đo đạc đất đai để thu thuế hay đắp đê, làm đường.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Hưng Tổ Dục Đức vương Trịnh Lâu
  • Thân mẫu: Từ Tâm Thục phi Hoàng Thị Dốc
  • Vợ:
    • Từ Phúc Chính phi Lại Thị Ngọc Trân, thụy Từ Phúc. Người làng Long Phúc, huyện Thạch Hà. Bà là con của Thái tể Trang Quốc Công Lại Thế Vinh
    • Từ Nghi thái phi Nguyễn Thị Ngọc Bảo (? - 1574), thụy Tử Nghi. Người làng Gia Miêu Ngoại trang, huyện Tống Sơn, Thanh Hóa, con của Hưng Quốc công Nguyễn Kim
    • Hiền phi Trương Thị Ngọc Lãnh. Người sách Thọ Liêu, huyện Thạch Thành, con gái Sùng Đạo công Trương Phụ Đạo. Bà sinh ra Dương Nghĩa Công Trịnh Đỗ, mất vào năm 1646, thụy hiệu Tứ Hạnh, lăng táng ở quê nhà
  • Con trai:
    • Đạt Nghĩa công (Tuấn Đức hầu) Trịnh Cối. Con của Chính phi Lại thị.
    • Thành tổ Triết vương Trịnh Tùng. Con của thứ phi Nguyễn thị.
    • Dương Nghĩa công (Phụng quốc công) Trịnh Đỗ: Con của Hiền phi Trương thị
      • Dự phong Uy dũng tuyên lực kiệt tiết dực vận tán trị công thần truy tặng Thái tể thụy Ý Thuần
      • Năm Tân Mùi niên hiệu Chính Trị thứ 17 (1774) phong hàm Thái bảo Ngạn Quận Công
      • Năm Quý Tỵ (1593) phong hàm Thái Phó
      • Năm Bính Dần (1626) Phong tước Dương Lễ Công
      • Năm Vĩnh Tộ thứ 10 (Mậu Thìn, 1628) phong Thái úy chưởng phủ sự Dương Lễ Công Trịnh Đỗ
      • Khi ông mất được phong tặng: Thái tệ thụy Ý Thuần dự phong Dực vận tán trị Công Thần
    • Dịch Nghĩa công (Vĩnh Thọ hầu) Trịnh Đồng
      • Dự phong Dương vũ uy dũng tuyên lực kiệt tiết dực vận tán trị công thần
      • Ông không có con trai. Con gái lấy quan Lai vu bá Đinh Văn Lai (con của Cầu Quận Công Đinh Văn Giai).
    • Cần Nghĩa công (Quảng Diên hầu) Trịnh Ninh, chắt trường là phò mã vua Lê làm Tham đốc (hàm Nhị phẩm) tước Hán Trung hầu Trịnh Cát phụng tự
  • Con gái:
    • Trưởng thượng Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Xuân, thụy Đức Phương
    • Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Tôn, thụy Từ Tích

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nay thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa
  2. ^ a ă Trịnh gia chính phả, trang 10
  3. ^ a ă â Trịnh gia chính phả, bản điện tử, trang 12
  4. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, bản điện tử, Chính biên quyển 27, trang 631
  5. ^ Đại Việt sử kí toàn thư, Bản kỉ tục biên, quyển 16, tờ 1a
  6. ^ Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện, Mạc Đăng Doanh, tờ 26a
  7. ^ a ă Trịnh gia chính phả, bản điện tử, trang 13
  8. ^ Đại Việt sử kí toàn thư, Bản kỉ tục biên, quyển 16, tờ 3a
  9. ^ Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện, Mạc Đăng Doanh, tờ 27b
  10. ^ Nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
  11. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, bản điện tử, Chính biên quyển 27, trang 639
  12. ^ Đại Việt sử kí toàn thư, Bản kỉ tục biên, quyển 16, tờ 8a
  13. ^ Đại Việt sử kí toàn thư, Chính biên quyển 16, tờ 10b
  14. ^ Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện, tờ 64a
  15. ^ Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện, tờ 64b
  16. ^ Tức là làng Bồng Thượng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa
  17. ^ Tên một ngọn núi ở phía tây bắc huyện Đông Sơn, Thanh Hoá.
  18. ^ Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện, Mạc Phúc Nguyên, tờ 12b
  19. ^ Nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa
  20. ^ Nay là huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
  21. ^ Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện, Mạc Phúc Nguyên, tờ 14b
  22. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, bản điện tử, Chính biên quyển 28, trang 644
  23. ^ Đại Việt sử kí toàn thư, Bản kỉ quyển 16, tờ 15b
  24. ^ Nay thuộc huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
  25. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Bản điện tử, Chính biên quyển 28, trang 646
  26. ^ Nay thuộc tỉnh Bắc Ninh
  27. ^ Nay thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh
  28. ^ Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện, Mạc Phúc Nguyên, tờ 74b
  29. ^ Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện, Mạc Phúc Nguyên, tờ 80b
  30. ^ Đại Việt sử kí toàn thư, Bản kỉ 16, tờ 25a
  31. ^ Nay thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa
  32. ^ a ă Trịnh gia chính phả, bản điện tử, trang 14
  33. ^ a ă Trịnh gia chính phả, bản điện tử, trang 15
  34. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Bản điện tử, Chính biên quyển 28, trang 651

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  
1
Trịnh Kiểm
1556 - 1570
 
 
2
Trịnh Tùng
1570 - 1623
 
 
3
Trịnh Tráng
1623 - 1657
 
 
4
Trịnh Tạc
1657 - 1682
 
 
5
Trịnh Căn
1682 - 1709
 
 
Trịnh Vĩnh  
 
Trịnh Bính  
 
6
Trịnh Cương
1709 - 1729
 
 
   
7
Trịnh Giang
1729 - 1740
  8
Trịnh Doanh
1740 - 1767
 
   
12
Trịnh Bồng
1786 - 1787
 
12
Trịnh Tư
 ? - ?
  9
Trịnh Sâm
1767 - 1782
 
 
   
11
Trịnh Khải
1782 - 1786
  10
Trịnh Cán
1782 - 1782