Trịnh Kiểm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trịnh Kiểm
鄭檢
Chúa Trịnh (chi tiết...)
Trịnh Kiểm (2).jpg
Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm
Chúa Trịnh
Tại vị 15451570
Thời kỳ
Kế nhiệm Trịnh Cối
Thông tin chung
Thê thiếp Lại Thị Ngọc Trân
Nguyễn Thị Ngọc Bảo
Trương Thị Ngọc Lãnh
Tên đầy đủ Trịnh Kiểm (鄭檢)
Thụy hiệu Minh Khang Thái Vương (明康太王)
Miếu hiệu Thế Tổ (世祖)
Hoàng tộc Chúa Trịnh
Thân phụ Trịnh Lâu
Thân mẫu Hoàng Thị Dốc
Sinh 14 tháng 9, 1503
Thôn Hổ, xã Vệ Quốc, huyện Yên Định, Thanh Hóa
Mất 24 tháng 3, 1570 (66 tuổi)

Trịnh Kiểm (chữ Hán: 鄭檢, 15031570), tên thụy Thế Tổ Minh Khang Thái vương (世祖明康太王), là người mở đầu sự nghiệp nắm quyền của họ Trịnh sau khi Nguyễn Kim mất. Ông tiếp tục sự nghiệp phù Lê diệt Mạc và sau này những hậu dụê của ông đã hoàn thành sự nghiệp trung hưng nhà Lê, khôi phục Đông Kinh, mở ra thời kỳ vua Lê-chúa Trịnh.

Tuy được coi là vị chúa đầu tiên của hơn 200 năm cơ nghiệp dòng họ Trịnh, nhưng đương thời khi cầm quyền ông không xưng là chúa nhưng được đời sau truy tôn là Thái Vương. Ông là người nắm quyền chỉ huy quân đội trong triều các vua Lê thời Nam Bắc triều từ năm 1545 tới khi mất (18 tháng 2 năm Mậu Ngọ, 1570).

Nguồn gốc và giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các sách chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt thông sử các sử quan không chép rõ về nguồn gốc của Trịnh Kiểm. Thời điểm Trịnh Kiểm xuất hiện trong sử là năm 1539, khi Nguyễn Kim phong cho ông làm Đại tướng quân, tước Dực quận công. Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí, Trịnh Kiểm người ở làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc (Thanh Hóa), thủa hàn vi nghèo túng, thường phải đi ăn trộm để nuôi mẹ. Lớn lên có sức khỏe hơn người, đi theo Nguyễn Kim. Nguyễn Kim cho là người khác thường, đem gả con gái cho.[1][2][3]

Theo Đại Việt Lê triều đế vương Trung Hưng công nghiệp thực lục, tổ tiên của Trịnh Kiểm là Trịnh Xứng sinh Trịnh Kỷ, con là Trịnh Liễu: “Nhà nghèo, ham học, tích đức, làm việc nghĩa. Họ hàng khen hiếu, làng xóm khen đễ… sau rời đến làng Biện Thượng (nay là Bồng Thượng, xã Vĩnh Hùng), làm điều thiện không mỏi, nhân hậu có thừa.” Trịnh Liễu lấy vợ họ Hoàng cũng ở sách Sóc Sơn. Gia tư Trịnh Liễu nghèo đói, làm ruộng và bán nước chè kiếm sống nhưng rất ham đọc sách. Ngày kia, Trịnh Liễu đi cày gặp được một ông già khuyên đem táng cha mẹ vào nơi mà ông chỉ cho Trịnh Liễu. Trịnh Liễu theo lời, đem hài cốt cha mẹ nhờ ông già lập hướng mà táng.[4][5] Trịnh Liễu cùng anh em về dựng nhà ở Biện Thượng (hay Bồng Thượng). Sau đó, Trịnh Liễu đi thi đỗ tam trường (tương đương tú tài). Con trai Trịnh Liễu là Trịnh Lan cũng lấy vợ họ Hoàng, người xã Biện Thượng. Con thứ của Trịnh Lan là Trịnh Lâu cũng lại lấy vợ họ Hoàng là bà Hoàng Thị Dốc ở thôn Hổ, xã Vệ Quốc, huyện Yên Định. Bà Hoàng Thị Dốc chính là người sinh hạ Trịnh Kiểm.[5].

Trịnh Kiểm sinh ngày 24 tháng 8 năm Quý Hợi, tức ngày 14 tháng 9 niên hiệu Cảnh Thống thứ 6 (1503) dưới triều vua Hiến Tông Duệ hoàng đế nhà Hậu Lê. Ông có tên húy là Phiến, sau gọi là Kiểm, sinh ra tại quê mẹ là thôn Hổ, xã Vệ Quốc, huyện Yên Định, Thanh Hóa. Thân phụ là ông Trịnh Lâu, thân mẫu là bà Hoàng Thị Dốc. Quê cha của Trịnh Kiểm gốc ở thôn Sóc Sơn, xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Năm lên sáu tuổi thì cha mất. Từ đó gia cảnh sa sút, bị người ta khinh khi[6]. Trịnh Kiểm bèn bỏ Biện Thượng về lại quê cũ là Sóc Sơn, sinh sống bằng cách chăn trâu thuê trong núi Lệ Sơn, trong lúc đi chăn thường cùng lũ trẻ mục đồng lấy trâu bò voi ngựa, bẻ bông lau làm cờ, tập trận mạc[6], có khí khái như Đinh Tiên Hoàng khi xưa.

Trịnh Kiểm đến năm 17 tuổi thì hùng dũng hơn người, trí lực khác thường. Lúc bấy giờ, trong khoảng niên hiệu Thống Nguyên, vào năm Đinh Hợi, Mạc Đăng Dung đã tiếm ngôi vua Lê. Bề tôi nhà Lê là Nguyễn Kim ở huyện Tống Sơn, trang Gia Miêu Ngoại (Hà Trung hiện nay) ngầm rút về Cổ Lũng, huyện Cẩm Thuỷ để đánh Mạc. Tướng quân nhà Mạc là Ninh Bang hầu quán xã Biện Thượng, tiến phát quân về đóng ở huyện Vĩnh Ninh (Vĩnh Lộc ngày nay).

Mẹ Trịnh Kiểm đã đem con đến xin Ninh Bang hầu cho Trịnh Kiểm làm gia thần. Ninh Bang hầu mừng vui thu nhận. Ninh Bang hầu cho Trịnh Kiểm trông coi trại ruộng ở sách Thọ Liêu. Trịnh Kiểm nuôi trâu ngựa. Hằng ngày, ông được người bạn gốc Chàm là Vũ Thì An dạy cho cách huấn luyện ngựa, có thể biết được ngựa hay. Một thời gian sau, Trịnh Kiểm ăn cắp con ngựa tốt nhất chạy sang Mường Sùng Cổ Lũng, Bá Thước, bấy giờ là nước Ai Lao, còn bà mẹ phải trốn về quê mình là làng Vệ Quốc. Trịnh Kiểm đi theo anh họ là Trịnh Quang, lúc đó đã theo Nguyễn Kim, và đón mẹ Trịnh Kiểm sang ở. Ninh Bang hầu biết tin Trịnh Kiểm ăn cắp ngựa của mình, bỏ đi nhiều ngày không về, nên rất tức giận, bèn sai quân lính, dân các xã Sóc Sơn, Biện Thượng lùng bắt mẹ con Trịnh Kiểm.

Xã trưởng Biện Thượng tìm thấy mẹ con Trịnh Kiểm đang nấp sau nhà không những không bắt mà còn ra hiệu bằng cách ném đất và nháy mắt cho Trịnh Kiểm chui qua mấy tầng rào chạy trốn đến nhà người tên Nữu ở Yên Định. Người này đã bới đống thóc trong bồ lớn, cho Trịnh Kiểm chui vào đó rồi lấp lúa lại. Ninh Bang hầu tìm không thấy tung tích của Trịnh Kiểm nên tức tối bắt mẹ ông giam lại. Ba ngày sau, Ninh Bang hầu bắt xã Sóc Sơn đem lồng tre nhốt mẹ Trịnh Kiểm, kèm tảng đá lớn bỏ vào trong rồi ném xuống sông.

Bạn thân Trịnh Kiểm là Vũ Thì An sai con là Vũ Đình Tùng chạy đến xã Cổ Lũng mật báo cho Trịnh Kiểm biết. Nghe xong câu chuyện, Trịnh khóc sướt mướt mà than: “Người làng ta sao mà nhẫn tâm phụ bạc với ta như vậy. Ngày sau, nếu ta sáng nghiệp lớn, thề không về làng cũ nữa”. Quả vậy, sau này thành Chúa, Trịnh Kiểm chỉ xây dựng cung điện, miếu thờ ở Biện Thượng và quê mẹ bên kia sông chứ không làm ở Sóc Sơn.

Trịnh Kiểm theo Nguyễn Kim phò lập vua Lê Trang Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1527, Mạc Đăng Dung người Hải Dương cướp ngôi nhà Lê sơ, lập nên nhà Mạc, lúc ấy con cháu các công thần đời trước phát xuất từ Thanh Hóa không phục, liên tiếp khởi binh chống lại. Một cựu thần nhà Lê, chắt của công thần thời vua Lê Thái Tổ là Nguyễn Kim lánh sang Ai Lao, tụ tập binh mã, mưu tính việc khôi phục nhà Lê. Đến năm 1533, Nguyễn Kim lập con trai của vua Lê Chiêu Tông lên làm vua tức vua Lê Trang Tông.[7][8][9]. Thế Nam Bắc triều hình thành.

Khi mới đầu Nguyễn Kim đóng đồn ở Mường Sùng thuộc Ai Lao[6]. Trịnh Kiểm đến đầu quân cho Nguyễn Kim, được phong làm Tri Mã cơ, tước Dực Nghĩa hầu. Là người có tài, ông được Nguyễn Kim giao cho nhiều trọng trách và gả con gái là Ngọc Bảo cho[10]. Theo Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài của Alexandre De Rhodes: Khi quân Mạc tấn công vào kinh thành, quân Nguyễn Kim bị vây giữa vòng vây của địch. Kim đã giao ước với các tướng rằng ông sẽ gả con gái cho ai có thể giải cứu ông và nghĩa quân ra khỏi vòng vây ấy. Trịnh Kiểm phi ngựa xông lên hăng hái đánh giết giăc, cứu được Kim và mở đường huyết lộ cho nghĩa quân rút lui. Vì vậy, theo lời hứa, Kim gả con gái là Ngọc Bảo cho Kiểm và giao nhiều trọng trách cho ông, đặc biệt là việc huấn luyện kị binh cho nghĩa quân. Theo sách Đại Việt thông sử, Trịnh Kiểm có sức khỏe và tài lược hơn người, theo Nguyễn Kim đi đánh dẹp khắp nơi, lập nhiều chiến công, được Nguyễn Kim gả con gái cho.[11]

Năm 1539, ông được vua Lê Trang Tông phong làm Đại tướng quân, tước Dực Quận Công[12][13] do có công cầm binh mã sang Ai Lao đón vua Lê Trang Tông (vua Lê thấy Kiểm dung mạo tuấn tú nên phong tước cho ông, lúc đó ông 37 tuổi). Hoàng đế cũng coi ông là một đại tướng tâm phúc, ban ấn tướng quân, quản lĩnh quân giao chiến với nhà Mạc ở các vùng Thanh Hoa, thắng quân Mạc ở Lôi Dương[14].

Năm 1540, Nguyễn Kim dẫn quân về Nghệ An, thanh thế lẫy lừng, đến đâu là gần xa đều hàng phục. Năm sau, Mạc Đăng Dung chết, quân Nguyễn Kim tiến về đánh Thanh Hóa, Nghệ An, đên năm 1543, thu phục được thành Tây Đô (Thanh Hóa). Đến năm 1545, Nguyễn Kim bị đầu độc chết.[15]

Năm 1545, Nguyễn Kim bị tướng cũ của nhà Mạc là Dương Chấp Nhất hạ độc giết chết. Trước khi chết, Nguyễn Kim giao lại toàn bộ binh mã cho Trịnh Kiểm[10]. Toàn bộ binh quyền của nhà Lê rơi vào tay Trịnh Kiểm. Mùa thu tháng 8 ÂL cùng năm ông được hoàng đế phong làm Đô úy tướng Tiết chế thủy bộ mọi dinh gồm tổng chức Ngoại Bình Chương quân quốc trọng sự hàm Thái sư, tước Lượng quốc công[16]. Trịnh Kiểm quyết định mọi công việc trong nước, bao gồm cả việc bổ nhiệm quan lại rồi mới tâu vua sau[17].

Chính quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1546, Trịnh Kiểm rút binh về Thanh Hóa, lập hành điện cho vua Lê Trang Tông ở sách Vạn Lại (huyện Thụy Nguyên, Thanh Hóa), rồi chiêu mộ anh hùng hào kiệt, huấn luyện quân sĩ, tích trữ lương thảo tính kế đánh họ Mạc. Nước Đại Việt lúc này chia làm hai, từ Thanh Hóa trở vào nam thuộc nhà Lê do Trịnh Kiểm thống lĩnh; từ Sơn Nam trở ra thuộc về họ Mạc, tức Bắc triều. Mỗi khi có việc đánh dẹp, đều do Trịnh Kiểm thống lĩnh, đánh đâu được đấy. Do vậy, các hào kiệt đất Hoan, Diễn (Nghệ An), Ô (Thừa Thiên, Huế), Quảng (Quảng Nam, Đà Nẵng) đua nhau tới theo, đất Ái Châu (Thanh Hóa) yên dần.[18]

Thời vua Lê Thái Tổ, chia cả nước làm 5 đạo: Đông đạo, Nam đạo, Tây đạo, Bắc đạo và Hải Tây đạo. Đến đời vua Lê Thánh Tông, mới chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên. Khi Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà Lê, cả nước thuộc về họ Mạc, chỉ trừ 11 doanh thuộc Tuyên Quang do Vũ Văn Mật chiếm cứ, đến khi Nguyễn Kim khởi binh, chiếm được đất Ái châu (Thanh Hóa), rồi lần lượt chiếm các đất phía Nam, châu Hoan, Diễn, Ô Lý (Nghệ An, Thuận Hóa). Lúc ấy nước Việt chia làm hai, do hai thế lực họ Mạc và vua Lê trung hưng nắm giữ, 11 doanh thuộc Tuyên Quang do Vũ Văn Mật đứng đầu đi theo phe nhà Lê- Trịnh.[19][20]

Theo sách Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, quyền lực hoàn toàn thuộc về Trịnh Kiểm, vua Lê không có quyền hành gì: Thực ra ông (chỉ Trịnh Kiểm)có ý định khôi phục những tỉnh đã mất, nhưng không phải để trao lại cho nhà vua, một vị vua mà ông không thấy đủ khả năng trị nước, lại sức yếu, kém tài và truỵ lạc, mà là chiếm cho mình và con cháu mình. Vì ông rất thông thạo việc nước nên ông được nể trọng và quý mến, vua thì tín nhiệm giao cho quyền cai quản không những quân binh mà tất cả công việc trị nước. Thế là quyền thống lãnh quân binh được đặt vào tay ông cùng hết các việc nước, chiến tranh cũng như hoà bình đêu hoàn toàn thuộc về ông, ông cho con với sự thoả thuận của nhà vua. Thế là theo thế lực của thông tục và của võ trang, vua trong nước chẳng còn quyền hành gì, chỉ có danh hiệu là vua, tất cả lực lượng hợp với binh đao võ bị đều ở vị tướng lãnh. [21]

Năm 1556, vua Trung Tông mất không có con nối. Trịnh Kiểm lúc đó bàn với các đại thần: Nước không thể một ngày không có vua. liền sai người tìm con cháu họ Lê,[22] tìm được cháu 4 đời của ông Lê Trừ (anh trai Lê Lợi) ở làng Bố Vệ huyện Đông Sơn tên là Duy Bang lên làm vua, tức là Lê Anh Tông[23].[24]

Lúc Trịnh Kiểm nắm quyền, triều Lê trung hưng chỉ mở hai khoa thi Nho học vào năm 1554 và 1565. Về ngạch binh, Trịnh Kiểm đặt ngạch quân theo quy chế cũ, đặt Đô đốc 5 phủ, lại đặt quân dinh năm khuông, dinh chia ra cơ đội thứ bậc khác nhau, chỉ lấy quân ở hai xứ Thanh Hóa và Nghệ An.[25]

Trịnh Kiểm bình định đất Thuận Quảng và trao quyền cho Nguyễn Hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1554, Trịnh Kiểm dời hành dinh của vua Lê đến Biện Thượng[26]. Trịnh Kiểm cho rằng lúc này sĩ khí đang lên, bèn sai các tướng xuất quân bình định đất Hóa châu ở phía Nam. Đất Hóa châu do Ngụy Viên Đàm bá là Hoàng Bôi chiếm giữ Đầu nguồn chiếm giữ, quân Nam triều giết Hoàng Bôi, bình định đất Hóa châu, tức hai xứ Thuận, Quảng. Thái sư Trịnh Kiểm thu thập các hào mục và sinh viên trong xứ, bổ nhiệm các chức vụ, khiến cho xứ này được yên.[27]

Tháng mười năm 1558, Trịnh Kiểm dâng biểu tấu vua Anh Tông về chiến lược đánh nhà Mạc, Trịnh Kiểm muốn yên một mặt để dốc sức chống lại nhà Mạc.::Xứ Thuận Hóa là một kho tinh binh trong thiên hạ, buổi đầu, quốc triều ta bắt đầu gây dựng cơ nghiệp, cũng đã dùng dân xứ ấy để dẹp giặc Ngô. Xứ ấy, địa thế hiểm trở, dân khí cương cường, lại có nhiều nguồn lợi trên rừng dưới biển, là vùng trọng yếu, không xứ nào hơn, gần đây quan quân kinh lược hàng mấy chục năm mới lấy được. Vậy nên hết sức bảo vệ, để làm một bức bình phong vững chắc...Hạ thần xét thấy con trai thứ của Chiêu Huân Tĩnh công là Nguyễn Hoàng, là một người trầm tĩnh cương nghị, lại có mưu lược, đối với quân sĩ có độ lượng khoan dung giản dị. Vậy xin bổ ông làm trấn thủ, để trị an nơi biên thùy và chống giặc ở miền Bắc kéo vào, và lại cùng Trấn quận công ở xứ Quảng Nam cùng làm thế cứu viện lẫn nhau...[28].[29]

Hoàng đế y theo, cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, sắc cho mọi việc được chuyên trách, chỉ hàng năm phải cống thuế. Tháng 3 năm 1568, trấn thủ Quảng Nam Trấn quận công chết, Trịnh Kiểm cho Nguyễn Bá Quýnh lên thay. Năm 1569, vua Lê Anh Tông gia phong cho Kiểm làm Thượng tướng Thái Quốc Công và tôn là Thượng phụ. Đến đây quyền lực của Trịnh Kiểm bao trùm của triều đình. Trịnh Kiểm tuy chưa lấy lại Thăng Long nhưng công lao trung hưng là có đóng góp rất lớn của ông. Nhà Lê nhờ Trịnh Kiểm mới trung hưng được, mà họ Trịnh lập lên nghiệp Chúa cũng là khởi đầu tự Trịnh Kiểm vậy[30].Tháng 9 mùa thu năm 1569, Nguyễn Hoàng từ Thuận Hóa về Thanh Hóa yết kiến nhà vua ở An Trường, rồi vào phủ thái sư lạy mừng Trịnh Kiểm, hai bên tâm tình rất thân thiết[31]. Tháng 10 cùng năm, Trịnh Kiểm đau nặng, xin trí sĩ, cho con là Tuấn Đức hầu Trịnh Cối lên thay

Chiến tranh với nhà Mạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1546, vua Bắc triều Mạc Phúc Hải chết, người con Phúc Nguyên nối ngôi.[32] Năm 1548, vua Trang Tông mất, Trịnh Kiểm cho lập con lớn của Trang Tông là Duy Huyên lên nối ngôi lấy hiệu là Trung Tông. Lúc này Bắc triều sau cái chết của Mạc Phúc Hải, người con Phúc Nguyên lên thay, có phe khác mưu lật đổ, Phúc Nguyên bỏ chính điện ở Thăng Long, dời ra ngoại thành khiến cho trong cõi rối loạn.[18]

Năm 1550, do bị gièm pha nên viên trọng thần Bắc triều là Thái tể Phụng Quốc Công Lê Bá Ly đem toàn quân hai đạo Sơn Tây, Sơn Nam, hơn một vạn ba ngàn đến Thanh Hóa đầu hàng. Bá Ly lại viết thư dụ được nhiều mưu thần, mãnh tướng phía Bắc theo về Nam triều như Nguyễn Hữu Liêu, Đặng Huấn. Theo Lê Quý Đôn viết trong Kiến văn tiểu lục:từ đó khí thế Ngụy Mạc suy tàn, binh sĩ Lê vương nổi tiếng.[33]

Năm 1551, Trịnh kiểm giao binh cho Lê Bá Ly là tướng nhà Mạc đã về hàng đánh Sơn Nam, Vũ Văn Mật đánh Tuyên Quang, rồi cùng Kiểm tụ hội ở Thăng Long. Trước khi ra quân, ông viết 1 bức thư Nôm, kêu gọi mọi người hãy nhớ đến công ơn đức Thái tổ Lê Lợi năm xưa đã đánh đuổi giặc Minh, giành độc lập cho đất nước... để đồng lòng tôn phò vua Lê, tiêu diệt kẻ soán ngôi. Rồi cùng 3 tướng đồng loạt ra quân. Năm 1552, Trịnh Kiểm đem quân đánh dẹp miền tây nam, tướng Mạc là Nguyễn Khải Khang về hàng[34]. Sau khi chiếm thành, ông liền rút quân về Tây Đô để tránh quân Mạc huy động thêm viện binh đánh úp.

Tháng 5 tháng 1552, Trịnh Kiểm xuất quân từ Hưng Hóa qua sông Thao đến An Lạc. Sau khi đánh bại quân Mạc Kính Điển, ông tiến thẳng đến Xuân canh Lâm hạ. Mạc Phúc Nguyên sợ hãi, bỏ chạy ra Kim Thành. Quân nhà Lê tiến vào Đông Kinh, mở tiệc khao thưởng tướng sĩ[35]. Quân nhà Lê chiếm một loạt các phủ vùng Sơn Tây, Sơn Nam; bên Mạc chỉ còn hai đạo Đông, Bắc. Nguyễn Khải KhangLê Bá Ly bàn nên đón Hoàng thượng về Thăng Long, nhưng Trịnh Kiểm cho rằng nhà Mạc hãy còn mạnh,nhân tâm cũng chưa hẳn đã hướng về nhà Lê, nên không ký tên vào tờ biểu. Nhà vua xem tờ biểu, biết ý của Trịnh Kiểm, bèn hạ lệnh lui quân về. Mạc Phúc Nguyên nghe tin quân Nam triều rút lui, bèn sai quân truy kích ở núi Công. Nhưng Trịnh Kiểm đánh tan truy binh Mạc, rồi trở về Thanh Hóa[36].

Năm 1554, dời hành dinh đến Biện Thượng[26]. Trịnh Kiểm cho rằng lúc này sĩ khí đang lên, bèn sai các tướng xuất quân bình định đất Hóa châu ở phía Nam. Đất Hóa châu do Ngụy Viên Đàm bá là Hoàng Bôi chiếm giữ Đầu nguồn chiếm giữ, quân Nam triều giết Hoàng Bôi, bình định đất Hóa châu, tức hai xứ Thuận, Quảng. Thái sư Trịnh Kiểm thu thập các hào mục và sinh viên trong xứ, bổ nhiệm các chức vụ, khiến cho xứ này được yên.[27]

Đến tháng 8, năm 1555, Bắc triều đã tập hợp quân sĩ đầy đủ, phòng thủ các nơi hiểm yếu, trong cõi tạm yên, vua Mạc Phúc Nguyên liền sai chú là Mạc Kính Điển đem quân vào đánh Thanh Hóa. Lấy Thọ quận công làm tiết chế quân Nam đạo, dẫn 100 chiến thuyền làm quân tiên phong, tiến thẳng tới cửa biển Thần Phù.Sau Mạc Kính Điển hội quân đóng ở sông Đại Lại,sai Thọ quận công đóng quân ở Kim Sơn.[27]

Trịnh Kiểm đại hội bàn với các tướng:Giặc cậy đông khinh ta, ta dùng kế mai phục đợi chúng, thế nào cũng bắt được.Bèn dặn dân hai bên bờ không được kinh động, ông tự mình cầm quân đặt phục binh trước ở núi Bạch Thạch[37] phía Bắc Sông, lại sai binh tượng hùng mạnh mai phục dưới núi Kim Sơn, lại sai Thái úy Hùng quốc công Đình Công đốc suất các tướng cũ của nhà Mạc đầu hàng quân Nam triều là Lê Bá Ly, Nguyễn Khải Khang,...cùng quân bản bộ mai phục ở phía nam sông. Từ núi Yên Định cho tới núi Quân An, thì sai Phạm Đốc và Nguyễn Quyện dẫn thủy quân chiếm cứ thượng lưu từ sông Hữu Chấp đến sông Kim Bôi để làm thế ỷ giốc. Khi quân Mạc đi quan Kim Sơn, đến chợ Ông Tập, họ vẫn tự cho hùng mạnh, không đề phòng, trong quân nổi tiếng đàn sáo ca hát, như vào chỗ không người.[38][39]

Khi đến trưa, Đinh Công và Lê Bá Ly cho nổ 7 tiếng pháo làm hiệu, tung quân ra đánh; quân và voi ngựa từ hạ lưu qua sông đánh chặn ngang vào hậu quân nhà Mạc, thủy quân thượng lưu đánh vào mặt tiền, rồi quân bốn mặt ập vào phá tan quân Mạc. Thọ quận công phải nhảy xuống sông, bị bắt sống, tướng Vạn Đôn hầu cùng vài mưoi tướng tá đều bị chết đuối, Kính Điển thu thập tàn quân chạy về kinh sư, còn các tướng Mạc không chịu hàng đều bị chém đầu ở núi Đồng Lộc[40].

Tháng 7 năm 1557, Mạc Phúc Nguyên sai Mạc Kính Điển lại đánh Thanh Hóa, cho các tướng Phạm Quỳnh, Phạm Dao đem quân thủy vượt biển tấn công Nghệ An. Quân thủy của Mạc Kính Điển đến sông Thần Phù và vùng Tống Sơn[41], Nga Sơn[42] đốt quá hết cầu nổi của quân Nam triều. Trịnh Kiểm sai Thanh quận công đóng quân ở Nga Sơn, Thụy quận công đóng ở Tống Sơn, quân nhà Mạc không tiến lên được. Trịnh Kiểm tự mình cầm quân, đi ngầm theo núi Yên Mô, tới thẳng cửa biển, phóng quân đánh vào sau lưng quân Mạc, khiến cho quân Mạc bị kẹp vào giữa. Khi giao chiến, Trịnh Kiểm sai Vũ Lăng hầu Phạm Đức Kỳ người Hoằng Hóa, làm tiên phong. Gặp thuyền của Mạc Kính Điển, Phạm Đức Kỳ nhảy vọt sang thuyền, tuốt gươm chém tên cầm dù làm hai đoạn rơi xuống sông, Kính Điển không kịp trở tay, nhảy xuống sông trốn. Quân Mạc tan vỡ, binh lính chạy vào rừng núi, quân Nam triều bắt được nhiều khí giới. Mạc Kính Điển nhảy xuống sông, bơi vào ẩn nấp ở một hang núi ở xã Trị Nội, trong ba ngày rất đói khát. Một đêm nhân có cây chuối trôi qua cửa lạch, liền ôm cây chuối, tìm lối bơi về, may có tới bến Trinh Nữ, hạt Yên Mô có người cứu nên thoát về được.[43].

Sau khi đánh bại cánh quân do Mạc Kính Điển chỉ huy, Trịnh Kiểm dùng ngay chiến thuyền của Kính Điển, chở tinh binh cắm cờ hiệu của nhà Mạc, sai Phạm Đốc dẫn chiến thuyền tới cửa biển Đan Nhai[44]. Tướng Mạc là Phạm Quỳnh và Phạm Dao đóng ở đồn Tả Ao, hạt Nghi Xuân, trông thấy chiến thuyền, tưởng là quân mình đến tiếp ứng nên không đề phòng. Phạm Đốc thẳng tới đánh úp, khiến cho quân Mạc tan vỡ, hai tướng bỏ thuyền chạy về Bắc.[45].

Tháng 9 ÂL năm 1557, Trịnh Kiểm dẫn 5 vạn quân bắc phạt [46] đánh ra trung lộ Sơn Nam, đến sông Phượng Si làm cầu nổi qua sông, tiến đánh phá quân Bắc triều, bắt sống được tướng Mạc là Khánh quốc công. Quân đi đến đâu cũng không đụng đến của cải của dân, Nhân dân đều mến phục, đua nhau đem rượu, gạo, trâu bò, lương thực, đến cung cấp cho quân[47]. Quân Trịnh Kiểm chiếm giữ hạ lộ Sơn Nam, tiến đến hạt Giao Thủy, họ Mạc liền sai Nguyễn Quyện đem quân chống cự. Gia đình Nguyễn Quyện trước phục vụ cho nhà Mạc, sau đầu hàng Trịnh Kiểm, rồi lại theo về nhà Mạc, nên biết rõ tình hình quân Nam triều. Trịnh Kiểm biết vậy, tức giận, tự mình thống lĩnh bộ binh, sai Phạm Đốc chỉ huy thủy binh, sai Vũ Lăng hầu Phạm Đức Kỳ làm tiên phong dẫn thủy binh tấn công. Nguyễn Quyện và Phạm Đức Kỳ giao chiến kịch liệt, Đức Kỳ vươn mình nhảy sang thuyền Nguyễn Quyện, Quyện xông ra chém, Đức Kỳ nhảy xuống nước. Quyện nhảy sang thuyền Đức Kỳ chém người cầm lọng, rồi hô to lên rằng:Đã chém đầu Vũ Lăng hầu đây rồi. Chúng mày sao địch nổi ta. Quân Trịnh Kiểm nghe vậy, tan vỡ, bỏ thuyền chạy lên bờ. Trịnh Kiểm sai thu quân trở về, sai Hoàng Đình Ái chặn hậu. Nhưng quân nhà Mạc chặn mất lối về, quân Trịnh Kiểm phải hết sức vất vả chiến đấu, mới qua được, mất vài chục tướng, thuyền mảng khí giới phải bỏ hết. Từ đây Sơn Nam lại thuộc về nhà Mạc.[48]

Tháng 9, năm 1558, Trịnh Kiểm lại xuất quân ra đánh thượng lộ xứ Sơn Nam, kinh lược vài huyện rồi trở về, lưu Thái úy Nguyễn Khải Khang ở lại trấn thủ và chiêu tập dân địa phương. Đà quận công Mạc Ngọc Liễn, là cháu gọi Nguyễn Khải Khang bằng cậu, sai thổ dân ở Mỹ Lương trá hàng, rồi lừa bắt Khải Khang giải về triều Mạc, bị xé xác. Tháng 10 năm đó, Trịnh Kiểm tâu với vua Lê về chiến lược đánh nhà Mạc, ông tâu lên vua Lê đại ý rằng: Thuận Hóa ngày trước là kho tinh binh, vua Lê Lợi dùng lính ấy mà định thiên hạ, địa hình hiểm trở, nhiều nguồn lợi trên rừng, dưới biển, về phương diện trọng yếu không có xứ nào có thể hơn. Vậy nên hết sức giữ gìn, để làm như một bức bình phong vững chắc. Còn như lối đường tự xứ Nghệ An vào, thì vì đường thủy đường bộ xa cách, có thể khỏi phải để ý lo ngại. Duy từ Hải Dương và xứ Quảng Yên, khi nhân thuận chiều gió Nam, giặc phóng thuyền ra biển, thì chỉ vài ngày có thể đến địa phận, sợ binh triều Mạc dễ thừa cơ xâm lược bằng nẻo đường này, nên cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ xứ này. Thuận Hóa yên rồi, chúng ta bắt đầu kinh lý xứ Sơn Nam và xứ Sơn Tây, rồi thứ đến khôi phục Kinh đô cũ, nghiệp đế có thể thành công. Vua Lê Anh Tông đồng ý, từ đó Nguyễn Hoàng dẫn con em Thanh Nghệ tiến vào cai trị xứ Thuận Hóa, quân Mạc không vượt biển bằng đường thủy nhòm ngó Thuận Hóa nữa.[29]

Thời gian này Trịnh Kiểm tích cực vỗ trị quân dân, luyện tập tướng sĩ, thu dụng nhân tài, tích trữ khí giới lương thực để chuẩn bị một trận đánh đại qui mô nhằm thống nhất quốc gia. Ông bàn với các tướng đại ý rằng: Quân Nam triều thường đi qua lộ Sơn Nam, quân Mạc đem thủy bộ lục binh trấn giữ; chỉ có lộ thượng Sơn Tây, xứ Tuyên Quang, Hưng Hóa, Tuyên Quang nhà Mạc không phòng bị. Vậy nay nên xuất binh từ lối Thiên Quan, đi qua xứ Hưng Hóa; qua đò sông Thao, rồi đi theo chân núi, lược định hai xứ Thái Nguyên và Lạng Sơn, phủ dụ dân biên thùy, chiêu tập hào kiệt, sau mới xua quân xuống xứ Kinh Bắc, chia quân đánh vào Sơn Nam, Hải Dương, lúc ấy nhà Mạc chỉ giữ được thành Thăng Long mà thôi. Ta chỉ lo các huyện xứ Thanh Hóa, các cửa biển đều là khen khóa cốt yếu của nội kỳ, cần canh phòng, lúc ấy đại sự sẽ thành.[49]

Vua Lê đồng ý, Trịnh Kiểm liền cử Phong quân cộng Trịnh Quang làm Đề đốc ngự doanh; Phù quận công Lê Chủng làm trấn thủ đạo Thanh Hoa, Trào quận công Vũ sư thước và An quận công Lại Thế Khanh cùng lĩnh tinh binh trấn thủ cửa biển. Tháng 9 năm 1559, Trịnh Kiểm cầm 6 vạn quân nói phao lên 12 vạn quân. Đại quân tiến từ Thiên Quan tới thượng lộ Sơn Tây, đến đâu đều không phạm của dân, người dân quy phục. Khi đến Tuyên Quang, Hưng Hóa, tướng Tây đạo là Định quận công đem quân đến hội. Định quận công được sai trấn giữ An Tây và Đại Đồng để củng cố phiên trấn và mở đường từ Thiên Quan nối liền với Hưng Hóa, Tuyên Quang, thông đến Kinh Bắc để vận tại lương thực cung cấp cho quân.[50]

Tháng 10, Trịnh Kiểm đem quân đánh dẹp các xứ Kinh Bắc, đóng dinh ở phủ Thuận An, cầm cự với quân Mạc, sau dời đến núi Tiên Du. Tháng 11, xua quân đánh phủ Khoái Châu, Hồng Châu và các huyện Siêu Loại, Văn Giang, quân Mạc bỏ chạy. Tháng 12, lại đánh phủ Khoái Châu, Hồng Châu, Nam Sách, quân Mạc tan vỡ. Đến tháng 2, năm 1560, Mạc Phúc Nguyên sai tướng giữ thành Thăng Long, bên ngoài đóng một dải dọc sông về phía tây, trên từ Bạch Hạc, dưới đến Nam Xang, dinh trại liền nhau, thuyền ghe san sát, ban ngày phất cờ gióng trống báo nhau, ban đêm đốt lửa làm hiệu để chống quân Nam triều. Trịnh Kiểm chia quân đi đánh Đông Triều, Giáp Sơn, Chí Linh, An Đông, đều lấy được, vua Mạc phải dời ra Thanh Đàm.[51]

Trịnh Kiểm sai Hoàng Đình Ái trấn thủ Lạng Sơn, Lê Khắc Thận trấn thủ Thái Nguyên, Vũ Văn Mật trấn thủ Tuyên Quang, 3 trấn này liên lạc và cứu viện lẫn nhau, sự liên lạc từ Thiên Quan tới Kinh Bắc không bị gián đoạn. Đến năm 1561, quân nhà Mạc bị bao vây nguy cấp, có người hiến kế cho Phúc Nguyên đại ý rằng: Dùng cách cầm cự với quân Nam triều chờ cho họ hết lương là sai lầm, vì đường vận tải của họ thuận tiện, đã đóng quân hai năm nay. Chi bằng xuất kỳ bất ý đánh vào Thanh Hoa, thì họ sẽ tự rút quân về. Đó gọi là kế đánh đánh nước Ngụy để cứu nước Hàn của Tôn Tử vậy.[52]

Mạc Phúc Nguyên nghe theo kế sách ấy, liền điều Kính Điển về, cho người khác thay trấn thủ Kinh Bắc. Tháng 7 năm 1561, Mạc Kính Điển dùng thủy binh đánh vào cửa biển, hòng cướp Thanh Hóa. Các tướng Nam triều hoảng hốt, vội rút quân về giữ sách Vạn Lại; Trịnh Kiểm điều Hoàng Đình Ái đem quân về trấn thủ Thanh Hóa. Tháng 9, Kính Điển đánh vào cửa An Trường, sắp tới sách Vạn Lại, quân Nam triều dùng phục binh đánh bại quân tiên phong, Kính Điển lại nghe tin quân Hoàng Đình Ái sắp về, liền rút quân về Bắc. Trịnh Kiểm cũng rút hết quân, lui về Thanh Hóa.[53]

Năm 1564, Mạc Phúc Nguyên chết, con đích là Mạc Mậu Hợp lên thay, mới 2 tuổi, mọi việc do Mạc Kính Điển và Mạc Đôn Nhượng phụ tá. Tháng 9 năm 1565, Trịnh Kiểm phát binh đánh ở lộ Sơn Nam, đánh đâu cũng thắng. Mạc Kính Điển lại dùng thủy binh tiến vào đánh Thanh Hóa. Kính Điển đánh bại quân Nam triều một trận lớn, Trịnh Kiểm vội dẫn quân về, Kính Điển lại rút binh về bắc. Tháng 9 năm 1566 ông lại tiến đánh các hạt Gia Viễn và Phụng Hóa rồi dẫn quân về. Mùa hạ tháng 4 năm 1568, dù đang bị bệnh, ông vẫn cố gượng ra trận, đánh phá các huyện Yên Mô, Yên Khang, Phụng Hoá, Gia Viễn, hạ lệnh thu thóc lúa rồi về[54].

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Kiểm chết ngày 18 tháng 2 năm Canh Ngọ, tức ngày 24 tháng 3 năm 1570 niên hiệu Chính trị thứ 13, hưởng thọ 68 tuổi, nắm quyền 25 năm trải 3 đời vua Lê Trang Tông, Lê Trung Tông và Lê Anh Tông. Vua Lê sai con trưởng của Trịnh Kiểm là Trịnh Cối làm Đạt quốc công nắm binh quyền. Trịnh Kiểm được truy tôn là Thế Tổ Minh Khang Thái Vương, hiệu là Trung Huân. Nhưng Trịnh Cối không biết thương quân sĩ, nên tướng tá không ai quy phục đều bỏ theo cả về với em là Phú Lương hầu Trịnh Tùng, Trịnh Tùng nhân đấy được nối nghiệp Vương[30].

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1594 vua Lê Thế Tông sai Nguyễn Hoàng mang kim sách gia phong Minh Khang Thái Vương làm Minh Khang Nhân Trí Vũ Trinh Hùng Lược Thái Vương. Lời kim sách viết: ... Nay Suy trung dực vận hiệp mưu đồng đức phụ quốc kiệt tiết đôn hậu minh nghĩa công thần đặc tiến khai phủ kim tử vinh lộc đại phu kiêm tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sứ Thái quốc công đặng Minh Khang Nhân Trí Thái Vương Trịnh Kiểm vốn là đường kiều họ lớn, hoàn quyển dòng sang. Buổi đầu ứng theo cờ nghĩa, sửa kinh luân giềng mối buổi gian truân; một phen thu lại cõi xưa, định hưng phục quy mô khi phò tá. Đối với Tiên vương, công tốt có nhiều; xét đến con nối, nghiệp lớn càng rõ. Có khác gì Tây Bình cả nhà trung nghĩa, xã tắc được yên; Phần Dương dựng lại quốc gia, thiên hạ công nhất. Phúc trước đến nay rực rỡ, hiệu mới nên được tôn sùng. Đặc sai Suy trung dực vận đồng đức công thần đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân Trung đô đốc phủ tả đô đốc chưởng phủ sự thái uý Đoan quận công thượng trụ quốc Nguyễn Hoàng mang kim sách tiến phong làm Suy trung dực vận hiệp mưu đồng đức phụ quốc kiệt tiết đôn hậu minh nghĩa công thần thượng tướng Minh Khang Nhân Trí Vũ Trinh Hùng Lược Thái Vương...[55]
  • Theo lời bàn của các sử quan nhà Nguyễn trong sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, họ không rõ Trịnh Kiểm có muốn cướp ngôi hay không, nhưng đến đời con ông mới có ý đó:Trịnh Kiểm tuy chuyên quyền nhưng tội ác chưa có gì tỏ rõ cho lắm; đến Trịnh Tùng mới thật là gian thần như đồ Vương Mãng và Tào Tháo.[56]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Hưng Tổ Dục Đức vương Trịnh Lâu
  • Mẹ: Từ Tâm Thục phi Hoàng Thị Dốc
  • Vợ:
    • Từ Phúc Chính phi Lại Thị Ngọc Trân, thụy Từ Phúc. Người làng Long Phúc, huyện Thạch Hà. Bà là con của Thái tể Trang Quốc Công Lại Thế Vinh
    • Từ Nghi thái phi Nguyễn Thị Ngọc Bảo (? - 1574), thụy Tử Nghi. Người làng Gia Miêu Ngoại trang, huyện Tống Sơn, Thanh Hóa, con của Hưng Quốc công Nguyễn Kim
    • Hiền phi Trương Thị Ngọc Lãnh. Người sách Thọ Liêu, huyện Thạch Thành, con gái Sùng Đạo công Trương Phụ Đạo. Bà sinh ra Dương Nghĩa Công Trịnh Đỗ, mất vào năm 1646, thụy hiệu Tứ Hạnh, lăng táng ở quê nhà
  • Con trai:
    • Đạt Nghĩa công (Tuấn Đức hầu) Trịnh Cối. Con của Chính phi Lại thị.
    • Thành tổ Triết vương Trịnh Tùng. Con của thứ phi Nguyễn thị.
    • Dương Nghĩa công (Phụng quốc công) Trịnh Đỗ: Con của Hiền phi Trương thị
      • Dự phong Uy dũng tuyên lực kiệt tiết dực vận tán trị công thần truy tặng Thái tể thụy Ý Thuần
      • Năm Tân Mùi niên hiệu Chính trị thứ 17 (1774) phong hàm Thái bảo Ngạn Quận Công
      • Năm Quý Tỵ (1593) phong hàm Thái phó
      • Năm Bính Dần (1626) Phong tước Dương Lễ Công
      • Năm Vĩnh Tộ thứ 10 (Mậu Thìn, 1628) phong Thái úy chưởng phủ sự Dương Lễ Công Trịnh Đỗ
      • Khi ông mất được phong tặng: Thái tệ thụy Ý Thuần dự phong Dực vận tán trị Công Thần
    • Dịch Nghĩa công (Vĩnh Thọ hầu) Trịnh Đồng
      • Dự phong Dương vũ uy dũng tuyên lực kiệt tiết dực vận tán trị công thần
      • Ông không có con trai. Con gái lấy quan Lai vu bá Đinh Văn Lai (con của Cầu Quận Công Đinh Văn Giai).
    • Cần Nghĩa công (Quảng Diên hầu) Trịnh Ninh, chắt trường là phò mã vua Lê làm Tham đốc (hàm Nhị phẩm) tước Hán Trung hầu Trịnh Cát phụng tự
  • Con gái:
    • Trưởng thượng Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Xuân, thụy Đức Phương
    • Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Tôn, thụy Từ Tích
  
Trịnh Kiểm
1545 - 1570
 
 
1
Trịnh Tùng
1570 - 1623
 
 
2
Trịnh Tráng
1623 - 1657
 
 
3
Trịnh Tạc
1657 - 1682
 
 
4
Trịnh Căn
1682 - 1709
 
 
Trịnh Vịnh  
 
Trịnh Bính  
 
5
Trịnh Cương
1709 - 1729
 
 
   
6
Trịnh Giang
1729 - 1740
  7
Trịnh Doanh
1740 - 1767
 
   
11
Trịnh Bồng
1786 - 1787
  8
Trịnh Sâm
1767 - 1782
 
 
   
10
Trịnh Khải
1782 - 1786
  9
Trịnh Cán
1782 - 1782
 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Sách dùng để viết bài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, tập 1, 2, 3, năm 1998.
  • Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007.
  • Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, 2, Nhà xuất bản giáo dục, 2007.
  • Đất nước Việt Nam qua các đời, Nhà xuất bản Nhã Nam 2016.
  • Việt Nam sử lược.
  • Kiến văn tiểu lục, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007.
  • Khâm định việt sử thông giám cương mục.
  • Việt Nam văn hóa sử cương, tác giả Đào Duy Anh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1998
  2. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007
  3. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, 2007, trang 251
  4. ^ Nay thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa
  5. ^ a ă Trịnh gia chính phả, trang 10
  6. ^ a ă â Trịnh gia chính phả, bản điện tử, trang 12
  7. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, bản điện tử, Chính biên quyển 27, trang 631
  8. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỉ tục biên, quyển 16, tờ 1a
  9. ^ Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện, Mạc Đăng Doanh, tờ 26a
  10. ^ a ă Trịnh gia chính phả, bản điện tử, trang 13
  11. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, tr 345
  12. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỉ tục biên, quyển 16, tờ 3a
  13. ^ Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện, Mạc Đăng Doanh, tờ 27b
  14. ^ Nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
  15. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, tr 348
  16. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, bản điện tử, Chính biên quyển 27, trang 639
  17. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỉ tục biên, quyển 16, tờ 8a
  18. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, tập 3, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1998, tr 125
  19. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, tr 44, Nhà xuất bản giáo dục, 2007
  20. ^ Kiến văn tiểu lục, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, tr 414
  21. ^ Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, Nhà xuất bản khoa học xã hội, chương 2, Nguồn gốc xứ Đàng Ngoài, 2016
  22. ^ Nay thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa
  23. ^ name="TGCP14">Trịnh gia chính phả, bản điện tử, trang 14
  24. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, tập 3, Nhà xuất bản khoa học giáo dục Hà Nội, 1998, tr 129
  25. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, tr 321, Nhà xuất bản giáo dục, 2007
  26. ^ a ă Tức là làng Bồng Thượng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa
  27. ^ a ă â Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, tr 373
  28. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên TGCP14
  29. ^ a ă Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, tr 379
  30. ^ a ă Trịnh gia chính phả, bản điện tử, trang 15
  31. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Bản điện tử, Chính biên quyển 28, trang 651
  32. ^ Đại Việt sử ký toàn thư,tập 3, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1998, tr 125
  33. ^ Kiến văn tiểu lục, tập 2, Nhà xuất bản Trẻ, 2013, tr 52
  34. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Chính biên quyển 16, tờ 10b
  35. ^ Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện, tờ 64a
  36. ^ Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện, tờ 64b
  37. ^ Tên một ngọn núi ở phía tây bắc huyện Đông Sơn, Thanh Hoá.
  38. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, tr 374
  39. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, tập 3, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1998, tr 128, 129
  40. ^ Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện, Mạc Phúc Nguyên, tờ 12b
  41. ^ Nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa
  42. ^ Nay là huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
  43. ^ Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện, Mạc Phúc Nguyên, tờ 14b
  44. ^ chỗ giáp giới giữa 2 huyện Nghi Xuân và Chân Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, lời chú của sách Đại Việt thông sử
  45. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỉ quyển 16, tờ 15b
  46. ^ Nay thuộc huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
  47. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Bản điện tử, Chính biên quyển 28, trang 646
  48. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, tr 377
  49. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, tr 380, 381
  50. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, tr 381
  51. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, tr 382, 383
  52. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, tr 385
  53. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, tr 386
  54. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỉ 16, tờ 25a
  55. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1998, tập 3, tr 187
  56. ^ Khâm định việt sử thông giám cương mục, Nhà xuất bản giáo dục Hà nội, 1998, bản điện tử, tr 659

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]