Mạc Thái Tổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Mạc Đăng Dung)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mạc Thái Tổ
Hoàng đế Việt Nam
An Nan Lai Wei Tu Ce.JPG
Một họa phẩm được in trong cuốn An Nam lai uy đồ sách: Người đứng trong chính điện là sứ thần triều Minh, người chắp tay chào là Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung (dòng chữ: Ngụy vương Mạc Đăng Dung / 偽王莫登庸); địa điểm này là trấn Nam Quan, năm 1540.
Hoàng đế nhà Mạc
Trị vì 1527 - 1529
Tiền nhiệm Sáng lập triều đại
Kế nhiệm Mạc Thái Tông
Thái thượng hoàng Nhà Mạc
Tại vị 1530-1541
Thời kỳ Mạc Thái Tông
Mạc Hiến Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Vũ Thị Ngọc Toàn[1]
Tên húy Mạc Đăng Dung
Niên hiệu Minh Đức
Thụy hiệu Thái Tổ Nhân Minh Cao hoàng đế
Miếu hiệu Thái Tổ
Triều đại Nhà Mạc
Thân phụ Mạc Hịch
Thân mẫu Đặng Thị Hiếu
Sinh 23 tháng 11, 1483 (niên hiệu Hồng Đức thời Lê sơ)
làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương, Đại Việt (nay thuộc thôn Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng)
Mất 22 tháng 8, 1541 (niên hiệu Quảng Hòa thời Mạc)
Dương Kinh, Đại Việt (nay thuộc xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng)
An táng An Lăng, Dương Kinh, Đại Việt
Nghề nghiệp Quan nhà Lê sơ (1508-1527)
Vua nhà Mạc (1527-1530)
Thái thượng hoàng nhà Mạc (1530-1541)
Một họa phẩm được in trong cuốn An_Nam_lai_uy_đồ_sách: Người bên trái là Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung.

Mạc Thái Tổ (chữ Hán: 莫太祖; 23 tháng 11 năm 1483 - 22 tháng 8, 1541), tên thật là Mạc Đăng Dung (莫登庸), là người sáng lập ra triều đại nhà Mạc trong lịch sử Việt Nam. Giai đoạn này người sau gọi là thời kỳ Lê-Mạc phân tranh hay thời kỳ Nam-Bắc triều của Đại Việt. Nhà Mạc do ông dựng lên không những phải lo khôi phục sơn hà xã tắc đã suy kiệt từ cuối thời kỳ Lê sơ mà còn phải chống chọi lại với phản ứng rất mãnh liệt của phần lớn các cựu thần nhà Hậu Lê với tư tưởng trung quân của Nho giáo, chẳng hạn như sách Cương mục có viết Đăng Dung sợ lòng người tưởng nhớ nhà Lê cũ, sinh ra biến cố, nên phàm việc đều noi theo chế độ triều Lê, do vậy các sửa đổi của ông về mọi quy chế trong nước là không nhiều.

Là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của lịch sử Việt Nam trong thế kỷ 16 (đặc biệt về mặt chính trị và quân sự), một thế kỷ nhiều biến động mang tầm ảnh hưởng chưa từng có trước đó trong lịch sử dân tộc, mà ông vừa là một nhân chứng vừa là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên chúng. Mạc Đăng Dung là một viên tướng tài nhiều công trạng, đồng thời là một chính khách khôn ngoan, hành xử linh hoạt hiếm thấy ở vào một thời kỳ mà chính quyền và xã hội Đại Việt trên 20 năm cuối thời Lê sơ rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng cùng với 14 năm đầu tiên đầy thử thách của triều Mạc do ông sáng lập.

Dù hành trạng cuộc đời và sự nghiệp có những điểm tương đồng với người đã sáng lập lên nhà Hậu LýLý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) nhưng việc lập lên nhà Mạc của Mạc Đăng Dung vào năm 1527 đã phải đối mặt với những sự chống đối lớn hơn rất nhiều so với khi nhà Lý ra đời năm 1009. Các nhà sử học hiện đại phần lớn thống nhất quan điểm ở một nguyên do cho sự khác biệt trên là bởi Phật giáo giữ vị thế độc tôn trong xã hội Đại Việt từ đầu thế kỷ 11 nhưng đến thời nhà Hậu Lê thì đã bị mất hoàn toàn vị thế này vào tay Nho giáo (đặc biệt là Tống Nho). Chính những tư tưởng hà khắc, bảo thủ mạnh của Tống Nho đã bám rễ sâu vào ý thức của một bộ phận lớn Nho sĩ, trí thức Đại Việt cho tới đầu thế kỷ 16 là một nguyên nhân chính chống lại sự ra đời của nhà Mạc.

Mạc Đăng Dung chính thức bước vào đường quan lộ sau khi thi đậu Võ trạng nguyên trong cuộc thi tuyển võ sĩ tại Giảng Võ đường ở Thăng Long dưới triều Lê Uy Mục. Từ một võ quan cấp thấp, nhờ tài thao lược và mưu trí, Mạc Đăng Dung đã vươn tới tột bậc quyền lực vào năm 1527 khi được thăng tới chức Thái sư, tước An Hưng vương thời Lê Cung Hoàng. Xuất thân hàn vi, lập thân bằng đường binh nghiệp, Mạc Đăng Dung - gần giống như vai trò lịch sử của Đinh Tiên Hoàng ở thế kỷ 10 - là người có công đầu trong việc tạo lập lại thế ổn định và đà phát triển của xã hội cũng như chính trường Đại Việt sau hơn 20 năm hỗn loạn đầu thế kỷ 16.[2] Nhưng việc phế bỏ vai trò vương quyền của họ Lê, dòng họ đã để lại những dấu ấn sâu đậm đối với lịch sử dân tộc, đã khiến ông trở thành tâm điểm chỉ trích của giới nho sĩ - trí thức bảo thủ nhiều đời sau.[3][4] Nhiều nhà nghiên cứu trước đây cho rằng việc phế bỏ nhà Lê sơ để lập nên nhà Mạc chính là khởi nguồn cho tình trạng phân chia Nam-Bắc triều hay Lê-Mạc phân tranh (và một cách gián tiếp khởi đầu cho sự chia cắt Đàng Trong-Đàng Ngoài hơn hai thế kỷ) trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, những nghiên cứu toàn diện về lịch sử Việt Nam thế kỷ 16 trên nhiều lĩnh vực như sử học, an ninh - quốc phòng,[5][6] chính trị, kinh tế (như các hoạt động sản xuất, thương mại), văn hoá - tư tưởng,[7][8] văn học - nghệ thuật,[9][10][11][12] giáo dục,[13] tôn giáo - tín ngưỡng..., đặc biệt kể từ cuối thập niên 1980 tới nay, đã cho thấy sự ra đời của nhà Mạc và những động thái chính trị - quân sự của Mạc Thái Tổ (Mạc Đăng Dung) là phù hợp với những quy luật phát triển khách quan của tiến trình lịch sử dân tộc.[14][15][16]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Mạc Đăng Dung sinh giờ ngọ, ngày 23 tháng 11, năm Quý Mão (1483). Ông là người làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương (nay là huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng).

Cho đến nay trong sử sách và giới nghiên cứu tồn tại 3 ý kiến khác nhau về nguồn gốc của Mạc Đăng Dung:

  1. Mạc Đăng Dung là cháu 7 đời của trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi thời Trần. Theo Toàn thư và Đại Việt thông sử, Mạc Đăng Dung là người xã Cao Đôi (Đông Cao theo Cương mục), huyện Bình Hà (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương), tổ tiên ông là Mạc Đĩnh Chi, trạng nguyên triều Trần. Đĩnh Chi sinh ra Cao (Dao theo Cương mục), Cao sinh ra Thúy (Túy theo Cương mục), Thúy sinh ra Tung, dời sang ở xã Lan Khê, huyện Thanh Hà, Hải Dương rồi sinh ra Bình, Bình lại dời sang xã Cổ Trai, huyện Nghi Dương rồi trú tại đó. Bình sinh ra Hịch, Mạc Hịch lấy con gái Đặng XuânĐặng Thị Hiếu người cùng làng Cổ Trai sinh được ba con trai, con trưởng là Đăng Dung, con thứ là Đăng Đốc (Đốc Tín), con út là Đăng Quyết.
  2. Mạc Đăng Dung là cháu 7 đời của Mạc Đĩnh Chi mà Mạc Đĩnh Chi lại là cháu 5 đời của trạng nguyên Mạc Hiển Tích thời Lý Nhân Tông (1086), tức là Mạc Đăng Dung là cháu 11 đời của Mạc Hiển Tích. Người theo quan điểm này là Vũ Phương Đề trong Công dư tiệp ký[17]. Sau đó Đặng Đình Lang cũng theo thuyết này và bổ sung thêm rằng gốc gác họ Mạc từ Cơ Chất Khiết - hậu huệ nhà Chu bên Trung Quốc. Sau khi nhà Chu mất, Cơ Chất Khiết làm quan cho nhà Hán, được ban họ Mạc và phong ở Trịnh ấp. Sau này con cháu di cư xuống phía nam rồi tới Đại Việt[18].
  3. Mạc Đăng Dung là dòng dõi người tộc Đãn ở ven biển từ Phúc Kiến (Trung Quốc) trở xuống, đã Việt hóa ở phương Nam. Đây là quan điểm của Trần Quốc Vượng cho rằng: gia phả thực của họ Mạc còn chôn trong mộ và họ Mạc là người Đãn man[19].

Trong 3 luồng ý kiến trên, luồng ý kiến thứ nhất được đông đảo các nhà nghiên cứu chấp nhận vì khoảng cách thế thứ từ Mạc Đĩnh Chi tới Mạc Đăng Dung là hợp lý (7 đời trong 200 năm). Thuyết thứ hai được đánh giá là không hợp lý khi nối kết Mạc Đĩnh Chi và Mạc Hiển Tích: các nhà nghiên cứu cho rằng khoảng cách 5 đời trong 220 năm là không hợp lý về thế thứ[20]. Giả thuyết của Đặng Đình Lang đưa ra năm 1959 được xem là đi quá xa và không rõ căn cứ vào đâu[21]. Riêng giáo sư Trần Quốc Vượng không theo Toàn thư và Đại việt thông sử mà phản bác cả 2 ý kiến trên mà cho rằng: Mạc Đăng Dung nhận mình là con cháu Mạc Đĩnh Chi chỉ là "thấy người sang bắt quàng làm họ"[19].

Quan nhà Lê sơ[sửa | sửa mã nguồn]

Gia nhập triều đình nhà Lê[sửa | sửa mã nguồn]

Mạc Đăng Dung là người có sức khỏe. Thời trẻ, ông nhà nghèo, làm nghề đánh cá. Thời Lê Uy Mục tổ chức thi tuyển dũng sĩ, với sức khoẻ và bản lĩnh của người miền biển, Mạc Đăng Dung đã trúng Đô lực sĩ xuất thân (còn được gọi là Võ trạng nguyên), được sung vào đội quân Túc Vệ cầm dù theo vua[22]. Đây là mốc mở đầu cho con đường công danh của ông.

Trong hàng ngũ võ quan nhà Lê, Mạc Đăng Dung tỏ ra là người thật thà ngay thẳng. Năm 1508, Mạc Đăng Dung được phong làm Đô chỉ huy sứ vệ Thần Vũ. Năm 1511, ông được tiến phong tước Vũ Xuyên bá khi 29 tuổi. Năm 1516, triều đình sai Đăng Dung làm trấn thủ Sơn Nam, gia phong chức phó tướng Tả đô đốc[23].

Khi đó Cù Khắc Xương và Trần Công Vụ dùng đạo Thiên Bồng và Thiên Vũ để lôi kéo dân chúng. Mạc Đăng Dung bèn dâng sớ trị tội họ và hạch cả 2 viên quan Lê Toản và Đỗ Thao về tội mê tín. Lê Chiêu Tông nghe theo ông, bèn giết chết Cù Khắc Xương và Trần Công Vụ.

Dẹp loạn họ Trần[sửa | sửa mã nguồn]

Chế độ quân chủ Lê sơ ngày càng suy yếu, hàng loạt phong trào nông dân khởi nghĩa đã nổ ra trên một quy mô rộng lớn và kéo dài.

Năm 1516, Trần Cảo phất cờ khởi nghĩa ở Quỳnh Lâm và từng đánh chiếm kinh thành một thời gian, sau đó rút về Lạng Nguyên, con là Trần Cung kế tục kiểm soát cả một vùng Đông Bắc rộng lớn.

Mạc Đăng Dung vì đứng giữa cuộc xung đột của các tướng lãnh trong triều nên chưa tập trung được lực lượng đối phó với Trần Cung. Năm 1521, sau khi đánh lui được Trịnh Tuy vào Thanh Hóa, Mạc Đăng Dung nắm quyền điều hành triều chính nhà Lê. Đăng Dung mang quân đánh Lạng Nguyên. Trần Cung bại trận, bỏ chạy vào châu Thất Nguyên[24]. Mạc Đăng Dung điều quân tuần tiễu truy nã và bắt được Trần Cung, bị giải về kinh thành giết chết[25].

Dẹp loạn họ Trịnh, Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1516, khi Trần Cảo vừa bị đánh bật khỏi kinh thành thì các đại thần võ tướng nhà Lê là Nguyễn Hoằng DụTrịnh Tuy ỷ công lao, lại quay sang đánh nhau, tranh giành quyền lực.

Nguyễn Hoằng Dụ cất quân đánh Trịnh Tuy ở các phường Vĩnh Xương, Khúc Phố, Phục Cổ tại kinh thành. Trịnh Tuy yếu thế bỏ chạy vào Thanh Hoa. Trần Chân về phe với Tuy thấy Nguyễn Hoằng Dụ đuổi Trịnh Tuy, bèn cất quân đánh Hoằng Dụ. Nguyễn Hoằng Dụ muốn vào yết kiến Lê Chiêu Tông nhưng ngờ là có Trần Chân phục sẵn, đành xuống thuyền lánh về Thanh Hoa.

Bấy giờ Mạc Đăng Dung đang trấn thủ Sơn Nam, Trần Chân gửi thư khuyên ông chặn giữ Nguyễn Hoằng Dụ lại. Mạc Đăng Dung không nỡ, nên Hoằng Dụ đi được thoát. Đuổi được Hoằng Dụ, Trần Chân một mình nắm quyền trong triều. Đăng Dung thấy uy quyền của Chân lớn liền kết thông gia với Chân, cho con trai cả mình là Mạc Đăng Doanh lấy con gái Trần Chân.

Đầu năm 1517, theo lời của Trần Chân, Lê Chiêu Tông sai Nguyễn Công Độ đem quân bộ, Mạc Đăng Dung đem quân thuỷ đuổi Hoằng Dụ chạy vào huyện Thuần Hựu. Hoằng Dụ lại hội quân chống nhau với quân triều đình. Hoằng Dụ gửi bức thư và một bài thơ cho Mạc Đăng Dung, khuyên Đăng Dung đừng bức bách mình. Mạc Đăng Dung nhận được thư và thơ đó, liền đóng quân không đánh. Hoằng Dụ được toàn quân chạy về.

Quyền thế của Trần Chân ngày càng lớn. Tháng 7 năm 1418, vua Chiêu Tông tin theo lời gièm pha của các cận thần, sợ Trần Chân cướp ngôi, bèn dụ Trần Chân vào cung giết chết. Các thủ hạ của Trần Chân là Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Hoàng Duy Nhạc mang quân đánh kinh đô báo thù. Vua Chiêu Tông không chống nổi, đang đêm phải bỏ chạy sang dinh Bồ Đề ở Gia Lâm để tránh.

Trịnh Tuy đã chạy vào Thanh Hóa, Chiêu Tông cho gọi Nguyễn Hoằng Dụ ra đánh Nguyễn Kính, nhưng Hoằng Dụ vì lần trước vừa bị Chiêu Tông sai quân truy sát, đào mồ cha nên lưỡng lự không đi. Lê Chiêu Tông bèn triệu Mạc Đăng Dung đang trấn thủ Hải Dương về cứu, rồi sai người đi dụ Nguyễn Kính, nhưng Nguyễn Kính lại càng hoành hành, đóng quân không rút.

Tháng 9 năm 1518, Trịnh Tuy và văn thần Nguyễn Sư ly khai, lập người trong hoàng tộc khác là Lê Do làm vua, đổi niên hiệu là Thiên Hiến, làm hành diện ở xã Do Nha, huyện Từ Liêm. Nghe theo lời dụ của Trịnh Tuy, Nguyễn Kính thấy Tuy là người cùng phe với Trịnh Duy Sản và Trần Chân trước đây nên đồng lòng đi theo.

Trước thế lực phản quân ngày càng lớn, Lê Chiêu Tông sai người đi mời Nguyễn Hoằng Dụ lần nữa và sai Mạc Đăng Dung cùng đi đánh Nguyễn Kính. Lần này Hoằng Dụ đồng ý đem quân Thanh Hóa ra cứu. Tuy nhiên, quân Hoằng Dụ bị Nguyễn Kính đánh bại, bèn bãi binh, bỏ chạy về Thanh Hóa, để một mình Mạc Đăng Dung làm tướng cầm cự trong triều đình Chiêu Tông.

Tháng 7 năm 1519, Mạc Đăng Dung thống lĩnh các quân thuỷ bộ vây Lê Do ở Từ Liêm, rồi phá đê cho nước vỡ vào quân Lê Do. Do và Nguyễn Sư chạy đến Ninh Sơn, bị Đăng Dung bắt được, giải về giết chết. Trịnh Tuy bỏ chạy về Thanh Hoá. Các tướng Sơn Tây là Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Hoàng Duy Nhạc đều xin hàng Mạc Đăng Dung. Chiêu Tông phong Mạc Đăng Dung làm Minh quận công (明郡公). Ông một mình nhân cầm quân dẹp loạn mà từ đó nắm hết quyền bính.

Thâu tóm quyền hành[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1521, Mạc Đăng Dung lại được phong làm Nhân quốc công (仁國公), lĩnh quản binh lực thủy bộ của 13 đạo. Sau đó ông lại phong làm Thái phó. Tháng 8 năm 1521, Đăng Dung lãnh quân đến vùng Kinh Bắc, dẹp được Trần Cung. Lúc này quyền thế của Mạc Đăng Dung rất lớn, kiểm soát toàn bộ triều đình. Ông gây dựng phe cánh gồm thông gia Phạm Gia Mô làm Thượng thư Bộ Lễ, em rể là Vũ Hộ làm Hữu đô đốc trấn thủ Sơn Tây; ngoài ra còn có các thượng thư Trình Chí Sâm và Nguyễn Thì Ung ngả theo ông[26].

Vì Mạc Đăng Dung lập nhiều công lớn, dẹp được nhiều lực lượng chống đối triều đình nên quyền lực của ông càng lớn. Sử gia Lê Quý Đôn nhà Hậu Lê ghi nhận về ông trong sách Đại Việt thông sử: "công danh ngày càng thịnh, triều đình ai cũng phục"[27].

Năm 1522, Lê Bá Hiếu nổi dậy chống triều đình ở vùng Đông Ngàn, Gia Lâm. Mạc Đăng Dung lại mang quân đi đánh dẹp được[28].

Ông đem con gái nuôi vào cung hầu, tiếng là chầu hầu, thực ra là để dò xét, coi giữ. Ông lại cho con trưởng là Mạc Đăng Doanh làm Dục Mỹ hầu (煜美侯), trông coi điện Kim Quang. Khi đó Mạc Đăng Dung đi bộ thì lọng phượng giát vàng, đi thuỷ thì thuyền rồng dây kéo, ra vào cung cấm, không kiêng sợ gì. Ông giết thị vệ Nguyễn Cấu, Đô lực sĩ Minh Sơn bá Nguyễn Thọ và Đàm Cử vốn là những người trung thành với Lê Chiêu Tông[29].

Trước sự lớn mạnh của thế lực Mạc Đăng Dung, vua và các cựu thần nhà Lê không bằng lòng, nhưng bất lực. Nghe theo lời một số cận thần trung thành, đêm 27 tháng 7 năm 1522, Chiêu Tông rời kinh thành chạy sang Sơn Tây hiệu triệu bốn phương hỏi tội Mạc Đăng Dung. Ngay ngày hôm sau, Mạc Đăng Dung sai Hoàng Duy Nhạc đem quân đuổi theo, trận chiến xảy ra, Hoàng Duy Nhạc tử trận. Trong tình huống kinh thành trống vắng, vua không còn ở Kinh sư, Mạc Đăng Dung đã bàn với các đại thần tạm thời lập Hoàng đệ Xuân (Lê Cung Hoàng) làm vua. Ngày 1 tháng 8 năm 1522, Đăng Dung và một số triều thần nhà Lê cùng tôn Hoàng đệ Xuân lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thống Nguyên năm thứ 1[30].

Chiêu Tông sai người triệu Vũ Hộ đến giúp, nhưng Vũ Hộ lại mang 3000 quân ngả theo Mạc Đăng Dung. Bấy giờ, các xứ Tây, Nam, Bắc đều theo Lê Chiêu Tông. Mạc Đăng Dung chia các dinh thuỷ, bộ đánh vào các xứ ở bến Đông Hà, Chiêu Tông sai Lại Thúc Mậu, Nguyễn Dư Hoan, Nguyễn Định, Đàm Khắc Nhượng dàn trận chống giữ và cầm cự, bị Đăng Dung đánh bại[31].

Trịnh Tuy từ Thanh Hóa ra cứu Lê Chiêu Tông. Nghe lời gièm pha, Tuy mang xa giá chạy vào Thanh Hóa, không liên kết với các tướng quanh kinh thành đang giúp Chiêu Tông, do đó lực lượng ủng hộ Chiêu Tông nhiều người giải tán[32].

Bấy giờ, trong một nước có hai vua, vua Lê Chiêu Tông ở Thanh Hoa đại diện cho lực lượng cựu thần nhà Lê do Trịnh Tuy cầm đầu; Lê Cung Hoàng đế ngự tại dinh Bồ Đề, mọi việc do Mạc Đăng Dung sắp xếp và đối phó. Sau khi đàn áp một số lực lượng nổi dậy, thế lực Mạc Đăng Dung vô cùng mạnh mẽ, kiểm soát và làm chủ vùng Kinh Bắc, quan lại và quân dân đến quy phục ngày một đông[33].

Năm 1523, Mạc Đăng Dung sai em là Mạc Quyết cùng Vũ Hộ và Vũ Như Quế mang quân đánh Lê Chiêu Tông và Trịnh Tuy ở Thanh Hóa. Cùng lúc, ông nhân danh vua mới Lê Cung Hoàng tuyên bố phế truất Chiêu Tông làm Đà Dương vương.

Năm 1524, Mạc Đăng Dung nắm chức Bình Chương quân quốc trọng sự, Thái phó, tước Nhân Quốc Công. Tháng 10 năm 1525, Mạc Đăng Dung tiến đánh Trịnh Tuy ở đầu nguồn Thanh Hoa. Trịnh Tuy thất thế rồi qua đời, Chiêu Tông bị bắt giải về Kinh sư.

Sau đó Mạc Đăng Dung tiếp tục đánh dẹp các lực lượng trung thành với Lê Chiêu Tông do các tướng Giang Văn Dụ, Hà Phi Chuẩn đứng đầu. Ông tiêu diệt các tướng chống đối[34].

Các lực lượng chống đối đều bị dẹp, mọi quyền lực đều thuộc về Mạc Đăng Dung. Để tạo sự khách quan, Mạc Đăng Dung lui về Cổ Trai nhưng vẫn chế ngự triều chính. Trên thực tế, những gì Mạc Đăng Dung làm đã phủ nhận quyền lực của vua Lê và báo hiệu một sự thay thế đang đến gần, không gì ngăn được. Ngày 18 tháng 12 năm 1526, Mạc Đăng Dung sai Phạm Kim Bảng bí mật giết Chiêu Tông ở chỗ bị giam lỏng là phường Đông Hà[35].

Giành ngôi nhà Lê[sửa | sửa mã nguồn]

Để tránh những lời gièm pha chuyên quyền sau lưng khi đang ở đỉnh cao quyền lực, Đăng Dung chủ động lui về quê nhà Cổ Trai để quan sát diễn biến chính sự. Tháng 4 năm 1527, Lê Cung Hoàng sai đình thần cầm cờ tiết đem kim sách, áo mão thêu rồng đen, đai dát ngọc, kiệu tía, quạt vẽ, lọng tía đến Cổ Trai, tấn phong Mạc Đăng Dung làm An Hưng vương, gia thêm cửu tích.

Tháng 6 năm 1527, Mạc Đăng Dung từ Cổ Trai trở lại kinh đô ép Lê Cung Hoàng nhường ngôi. Sử gia Lê Quý Đôn của nhà Hậu Lê ghi nhận: “lúc này thần dân phần nhiều xu hướng về Đăng Dung, đều ra đón về kinh đô”[36].

Ngày 15 tháng 6, dưới sức ép của Mạc Đăng Dung và lực lượng trung thành với ông, vua Lê Cung Hoàng buộc phải xuống chiếu nhường ngôi (lời chiếu do Nguyễn Văn Thái soạn):

...Nghĩ Thái Tổ ta, thừa thời cách mệnh, có được thiên hạ, các vua truyền nhau, nối giữ cơ đồ, là do mệnh trời lòng người cùng hợp, cùng ứng nên mới được thế. Cuối đời Hồng Thuận, gặp nhiều tai hoạ, Trần Cảo đầu têu gây mầm loạn ly, Trịnh Tuy giả trá lập kế phản nghịch. Lòng người đã lìa, mệnh trời không giúp. Khi ấy thiên hạ đã không phải là của nhà ta. Ta không có đức, lạm giữ ngôi trời, việc gánh vác không kham nổi. Mệnh trời lòng người đều theo về người có đức. Xét Thái sư An Hưng Vương Mạc Đăng Dung nhà ngươi, bẩm tính thông minh, sáng suốt, có tài lược văn võ. Bên ngoài đánh dẹp bốn phương, các nơi đều phục tùng; bên trong coi sóc trăm quan, mọi việc đều tốt đẹp. Công to đức lớn, trời cho người theo. Nay ta cân nhắc lẽ phải, nên nhường ngôi cho. Hãy gắng sửa đức lớn, giữ mãi mệnh trời để ức triệu dân lành được yên vui. Mong kính theo đó.

— Trích trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Nhà xuất bản. KHXH, 1973, tập 4 tr. 118

Mạc Đăng Dung lên ngôi, tức là vua Mạc Thái Tổ. Ông chính thức lập ra nhà Mạc.

Liền sau đó, Đăng Dung ban lệnh đại xá thiên hạ, đổi niên hiệu là năm Minh Đức 1; phế truất vua Cung Hoàng làm Cung Vương, giam cùng Thái hậu. Vài tháng sau Mạc Đăng Dung ép cả hai phải tự tử[37].

Như vậy, trước sự sụp đổ không thể cứu vãn của nhà Lê Sơ, bằng tài năng và sự khôn khéo, Mạc Đăng Dung đã từng bước thu tóm quyền lực và đánh bại các thế lực đối lập, để cuối cùng xác lập một vương triều mới. Sự xuất hiện của Mạc Đăng Dung trên chính trường Việt Nam vào đầu thế kỷ XVI là một tất yếu. Dẫu sử sách phong kiến hay các quan điểm khắt khe có đánh giá Mạc Đăng Dung là kẻ tiếm ngôi, nghịch thần nhưng “Mạc Đăng Dung vẫn hiện ra như một người đã khai thông nút ách tắc của lịch sử vào đầu thế kỷ XVI”.

Vua sáng lập triều Mạc[sửa | sửa mã nguồn]

Ông lên làm vua từ ngày 15 tháng 6 âm lịch năm 1527 đến hết năm 1529 với niên hiệu Minh Đức. Sau đó, học theo nhà Trần, nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh (tức Mạc Thái Tông) để lui về làm Thái thượng hoàng.

Do thời gian làm vua rất ngắn, không để lại nhiều dấu ấn gì ngoài một số việc như: cho đúc tiền Thông Bảo, truy tôn Mạc Đĩnh Chi là Kiến Thủy Khâm Ninh Văn Hoàng Đế, xây cung điện ở Cổ Trai (nay thuộc Kiến Thụy, Hải Phòng), lấy Hải Dương làm Dương Kinh, tổ chức thi tuyển chọn người có tài (thi Hội năm 1529), cũng như sửa định binh chế, điền chế, lộc chế và đặt các vệ-phủ, các vệ sở trong ngoài, các ty sở thuộc, hiệu ty, tên quan và số lại viên, số người, số lính của các nha môn, nhưng vẫn phỏng theo quan chế triều trước với bổ sung không đáng kể nên người ta biết đến ông phần nhiều như là một người tiếm ngôi, mặc dù trong giai đoạn từ đời Lê Uy Mục đến đời Lê Cung Hoàng thì nhà Hậu Lê đã cực kỳ suy tàn, khởi nghĩa và nổi loạn nổi lên ở nhiều nơi, triều chính thối nát dẫn đến việc các ông vua này phải dựa vào thế lực ngày càng tăng của Mạc Đăng Dung nhằm duy trì quyền lực đã gần như không còn của mình và cuối cùng là việc phải nhường ngôi cho ông.

Năm 1540, Mạc Thái Tông mất, Đăng Dung lập cháu nội là Mạc Phúc Hải lên ngôi, tức là Mạc Hiến Tông.

Thời kỳ làm Thái thượng hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Về việc cắt đất cho nhà Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Các bộ chính sử thời phong kiến của Việt Nam do các triều đại đối địch với nhà Mạc biên soạn như Toàn thư (do nhà Lê-Trịnh sai biên soạn bổ sung ở thế kỷ 17), Cương mục (do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn ở thế kỷ 19) đều viết về hai sự kiện Mạc Đăng Dung cắt đất cho nhà Minh. Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Năm 1528, cắt đất dâng nhân dân hai châu Quy, Thuận và hai tượng người bằng vàng và bạc cùng châu báu, của lạ, vật lạ. Vua Minh thu nhận”. Trong Cương mục cũng đặt vấn đề nghi ngờ về sự việc năm 1528 mà Toàn thư đã chép. Các sử gia ngày nay xác định rõ rằng hai châu Quy Hoá và Thuận An đã mất sang tay nhà Tống từ thời nhà Lý, do hai thủ lĩnh Nùng Trí Hội và Nùng Trí Cao nộp cho Tống[38].

Trong sách Phương Đình Dư Địa chí, học giả Nguyễn Văn Siêu đầu thời Nguyễn ở thế kỷ 19, sau khi khảo cứu các sách địa lý Trung Quốc và Việt Nam, đã kết luận: “Mấy động Như Tích thuộc châu Vĩnh An mới có từ niên hiệu Thuận Thiên. Nhà Mạc trả lại cho nhà Minh đất cũ đã lấn, không phải là cắt đất để đút lót vậy.”[39]

Các sử gia ngày nay có quan điểm thống nhất với Nguyễn Văn Siêu.[40] Về “nghi án” dâng đất cho ngoại bang của Mạc Đăng Dung, Trần Khuê (“Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương triều Mạc”, 1991) cũng có những phân tích chi tiết:

Tác giả Đại Việt sử ký toàn thư (do nhà Lê-Trịnh biên soạn bổ sung ở thế kỷ 17) coi nhà Mạc là “ngụy triều” nên không thèm chép riêng thành một kỷ và gọi một cách khinh bỉ là “Mạc thị”. Lê Quý Đôn thì xếp tất cả các vua Mạc vào loại “nghịch thần”. Sử quán triều Nguyễn thì càng khe khắt, khỏi bàn. Sử gia Trần Trọng Kim thì mạt sát hết lời... Tất nhiên khi chép về sự kiện vua quan nhà Nguyễn lần lượt cắt đất ba tỉnh miền Đông, rồi ba tỉnh miền Tây Nam kỳ, rồi đầu hàng và dâng cả đất nước Đại Nam cho xâm lược Pháp, thì sử gia Trần Trọng Kim lại chuyển giọng khác.
Sử gia coi đó không phải là chuyện “phản quốc” và “vô liêm sỉ”… mà là chuyện có thể thông cảm được. Vua Tự Đức vẫn là một đấng anh quân đáng kính phục vì dẫu sao ngài vẫn là một ông vua hay chữ và lại rất có hiếu với mẹ ngài.
Khen, chê là thẩm quyền của các sử gia. Điều tôi muốn bàn ở đây là vấn đề sự thật lịch sử. Không cần thiết phải bênh vực cho vua Mạc hay bất cứ thứ vua chúa nào. Nhưng khi thấy sự thật lịch sử bị bóp méo hoặc xuyên tạc thì cần đính chính.
Về chuyện cắt đất cho nhà Minh, tác giả Đại Việt sử ký toàn thư có ghi hai lần.
...Như thế là tác giả Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép rằng Mạc Đăng Dung nộp cho nhà Minh 6 động của châu Vĩnh An. Còn Trần Trọng Kim thì chép là Mạc Đăng Dung “xin dâng đất 5 động: là động Tê Phù, động Kim Lạc, động Cổ Xung, động Liễu Cát, động La Phù và đất Khâm Châu”.
Thế là không rõ căn cứ vào tư liệu, văn bản nào mà sử gia Trần Trọng Kim bớt đi một động (An Lương) chép sai tên một động (Cổ Sâm thành Cổ Xung) và đặc biệt là thêm ra một châu (châu Khâm). Chưa cần phải kiểm tra, khảo cứu gì cũng lập lức thấy ngay sử gia Trần Trọng Kim đã bịa thêm ra cái gọi là “Khâm Châu”. Khâm Châu là đất thuộc Trung Quốc từ trước đời nhà Tống và đến đời Minh, và đến tận ngày nay nó vẫn là đất của Trung Quốc; làm sao Mạc Đăng Dung lại có thể cắt đất dâng nộp phần đất không phải của nước mình?
Về hai châu Quy Thuận cũng thế, học giả Đào Duy Anh đã chứng minh rằng tác giả Đại Việt sử ký toàn thư nhầm. Đó là hai châu của Trung Quốc.
Đào Duy Anh đã khảo chứng và chú giải như sau: “Minh sử quyển 321 chỉ chép: (Cướp ngôi rồi) qua một năm thì (Mạc Đăng Dung) sai sứ sang cống, đến thành Lạng Sơn bị đánh mà trở về chứ không chép việc Đăng Dung dâng đất hai châu Quy Thuận để tạ tội. Vả chăng hai châu Quy Thuận thì nhà Tống đã chiếm từ thời Lý nước ta rồi.
Hai châu Quy Thuận là châu Quy Hóa và châu Thuận An. Trung Quốc địa danh đại từ điển nói rằng châu Quy Hóa đời Tống trị sở ở tại huyện Nghi Sơn tỉnh Quảng Tây. Nhà Tống đặt châu ấy với đất Vật Dương do Nùng Trí Hội nộp. Châu Thuận An thì nhà Tống đặt ở đất Vật Ác do Nùng Tôn Đản nộp, và các đất Lôi Hỏa, Kế Thành, Ôn Nhuận. Hai châu ấy về sau trở thành châu Quy Thuận tỉnh Quảng Tây”.
...Còn sử gia Trần Trọng Kim thì vừa xuyên tạc, vừa buông lời mạt sát nhà Mạc một cách thiếu thận trọng.
Nếu Mạc Đăng Dung có mắc tội thì không phải là cái tội “cắt đất mà dâng cho người” mà “tội” của Mạc Đăng Dung là đã xâm lấn đất của người rồi không giữ nổi lại phải đem nộp trả lại đất dã lấn. Điều đáng buồn là những điều chép sai ngoa trong sử sách như vậy cứ được truyền thấm vào tim óc hết thế hệ này đến thế hệ khác và đáng sợ hơn nữa nó lại thấm cả vào ngòi bút của mấy nhà biên soạn sử của ta dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban KHXH Việt Nam.

Nhà nghiên cứu Huệ Thiên trong bài viết “Mạc Đăng Dung có dâng đất cho nhà Minh hay không?”[41]:

Xưa nay sử chép rằng Thái Tổ nhà Mạc là Mạc Đăng Dung đã cắt đất Đại Việt dâng cho nhà Minh để bảo vệ ngôi báu, lưu lại tiếng xấu muôn đời. Sự thật có phải hoàn toàn đúng như thế không và nếu không thì điều ngoa truyền này bắt đầu từ đâu và với ai?
... Đến năm Chính Hoà thứ 18 (1697) đời Lê Hi Tông, Trịnh Căn (1633-1709) lại sai Lê Hi (1646-1702) tổ chức hiệu đính công trình của nhóm Phạm Công Trứ và chép thêm phần bản kỷ tục biên từ đời Lê Huyền Tông (1662-1671) đến hết đời Lê Gia Tông (1671-1675) để đưa khắc ván in mà “ban bố cho thiên hạ”. Phần chép thêm của Đại Việt sử ký toàn thư gồm 24 quyển. Đây chính là bộ Đại Việt toàn thư mà chúng ta đang sử dụng hiện nay.
... Bằng quan điểm chính thống đến mức cực đoan, Phạm Công Trứ không những đã kiệt liệt lên án hành động “tiếm ngôi” của Mạc Đăng Dung mà còn không ngần ngại dùng cả thủ đoạn xuyên tạc sự thật để bôi nhọ nhân vật đã sáng lâp ra nhà Mạc nữa. Chứng cứ về sự xuyên tạc đó là đã hai lần ĐVSKTT chép việc Mạc Đăng Dung dâng đất cho nhà Minh.
Lần đầu tiên bộ sử này ghi: “Năm Mậu Tí (1528) Mạc tiếm hiệu Minh Đức thứ 2 (…) Đăng Dung sai người sang Yên Kinh báo với nhà Minh rằng là họ Mạc tạm trông coi việc nước, cai trị dân chúng. Nhà Minh không tin (…) Đăng Dung sợ nhà Minh đem quân sang hỏi tội, bèn lập mưu cắt đất dâng nhân dân hai châu Quy, Thuận và hai hình người bằng vàng bạc cũng là châu báu của lạ, vật lạ, nhà Minh thu nhận. Từ đấy Nam Bắc lại thông sứ đi lại” (ĐVSKTT, Tập IV –trang 121- 122).
Việc ghi chép này hoàn toàn sai sự thật. Quy, Thuận chính là Châu Quy Hoá và Châu Thuận An. Hai châu này thuộc về Trung Hoa vào thời nhà Tống từ những năm 60 của thế kỷ XI.
...Lần thứ hai mà ĐVSKTT ghi chép về việc “dâng đất” của Mạc Đăng Dung là như sau: “Canh Tí (1540) Mạc Đại Chính năm thứ 11 (…) mùa đông, tháng 11, Mạc Đăng Dung (…) dâng tờ biểu xin hàng, biên hết đất đai, quân dân quan chức trong nước để xin xử phân, nộp các động Tê Phù, Lim Lạc, Cổ Sâm, Liêu Cát, An Lương, La Phù của Châu Vĩnh An trấn Yên Quảng xin cho nội thuộc, lệ vào Khâm Châu…”(ĐVSKTT, tập IV, trang 131-132). Đây là tư liệu chính mà các sách lịch sử về sau của ta luôn nhắc đến để kết tội Mạc Đăng Dung. Trước hết cần nói rõ là số lượng và tên gọi các động ghi trong các sách có chỗ đại đồng tiểu dị. Chẳng hạn Lê Thành Khôi thì căn cứ vào ĐVSKTT mà chép là 6 động, nhưng lại ghi Cổ Sâm thành Cổ Xung (Le Viet Nam Histore etcin lisation, Leseditions deminuít, Paris, 1955, P.263); Trần Trọng Kim chỉ chép 5 động-không có An Lương (Việt Nam), Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Phan Quang và Nguyễn Cảnh Minh thì ghi 5 động là: Tư Lẫm, Kim Lạc, Cổ Sâm, Liêu Cát và La Phù (sđd-92, tập 1, Hà Nội, 1971, trang 75). Thực ra, sự việc chỉ liên quan đến 4 động là Tư Lẫm, Cổ Sâm, Liễu Cát, La Phù và có chăng thì chỉ việc Mạc Đăng Dung trả đất chứ không hề có việc Mạc Đăng Dung dâng đất của Đại Việt cho nhà Minh. Sự thực bốn động nêu trên đều thuộc trấn Như Tích vốn là đất Trung Hoa ít nhất từ đời Tống. Trấn này nằm cách Khâm Châu (Quảng Đông) 160 dặm về phía Tây và cách Châu Vĩnh An của Đại Việt 20 dặm. Đây là một vùng núi cao, địa thế hiểm trở. Đầu đời Tống các động này dã đặt các chức động trưởng để trông coi và sang đời Minh, niên hiệu Hồng Vũ năm đầu (1368), vua Minh lại đặt chức Tuần Ti ở Như Tích để thống lĩnh các động này một cách chặt chẽ hơn. Như đã trình bày về hai châu Quy, Thuận, các động trưởng dọc biên giới Việt –Trung thường tuỳ theo tình hình thực tế mà thay đổi thái độ thần phục đối với Trung Hoa hoặc Đại Việt.
...Vậy là ngay một số ghi chép trong ĐVSKTT như đã trích dẫn trên cũng đủ cho thấy hoàn toàn không có chuyện Mạc Đăng Dung cắt đất của Đại Việt để dâng cho nhà Minh. Có chăng chỉ là các sử thần Lê-Trịnh vì mục đích chính trị đã xuyên tạc sự thật lịch sử để hạ nhục nhà Mạc mà thôi.

Trong bài “Sách lược ngoại giao của nhà Mạc” (Tạp chí Cửa biển, số 75/2004), tác giả Ngô Đăng Lợi đã trích dẫn sách “Khâm Châu chí” của Trung Quốc cho rằng: “Bảy động Chiêm Lăng, Thi La, Tư Lặc, Liêu Cát, Cổ Lâm, Tư Sẫm, La Phù (tức là những xứ đất dọc biên giới Việt –Trung mà nhà Minh đòi nhà Mạc phải trả lại) nguyên là đất quận Thi La, Chiêm Lãng, Như Tích đời Tuyên Đức nhà Minh, bọn Hoàng Kim Quảng, trưởng động Tư Lẫm làm phản chiếm cứ Tư Lẫm, La Phù, Cổ Sâm, Liêu Cát, nhân đó uy hiếp cả động Tư Lặc cùng tuần ty kênh Phật Đào gồm 9 thôn, đăng dài hơn 200 dặm phụ về nước An Nam…”

Về vấn đề quy thuận[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng theo Toàn thư:

[năm] 1540...tháng 11, Mạc Đăng Dung... qua trấn Nam Quan... phủ phục trước mạc phủ của quân Minh quỳ gối, cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước...dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của châu Vĩnh An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châu...Lại sai bọn...mang biểu đầu hàng sang Yên Kinh (Sử ký) nhưng về việc này có mâu thuẫn với sách Khâm Châu chí của nhà ThanhQuảng Yên sách.

Về sự việc cắt đất này, còn có nhiều ý kiến khác nhau. Việc cắt đất bị nhiều sử gia về sau lên án gay gắt, nhưng cũng có ý kiến cho rằng ông làm thế là khôn khéo nhất, vì cùng một lúc không thể chia sẻ lực lượng ra để chống lại hai thế lực: nhà Minh ở phía bắc, liên minh Lê - Nguyễn ở phía Nam[42][43].

Trên thực tế, điều này (dù có hay không) đã ngăn không cho nhà Minh đem quân vào Đại Việt và kể từ sau khi ông mất thì cháu ông, Mạc Phúc Hải vẫn là người có toàn quyền tối cao điều hành đất nước từ địa phận Ninh Bình ngày nay trở ra.

Về sự kiện này, GS. Trần Quốc Vượng cho rằng:[44]

Hành động “đầu hàng” của nhà Mạc do Minh sử chép là một sự phóng đại để khoe khoang, hành động ấy vua Lê sau này cũng lặp lại gần nguyên xi thì lại không bị sử gia nhà Lê nêu lên để phê phán. Đó (việc làm của vua Mạc) chẳng qua là một hành động “tượng trưng”, (quàng dây lụa vào cổ, không phải là tự trói), một sự “nhún mình” (cũng có thể nói là hơi quá đáng) của một nước nhỏ đối với nước lớn trong điều kiện tương quan chính trị ngày xưa (và nên nhớ lúc ấy Mạc Đăng Dung đã thôi ngôi được 10 năm rồi và là một ông già sắp chết (từ Nam quan trở về được mấy tháng thì ông qua đời), ông già này gánh nhục cho con, cho cháu và cho cả nước mà cứ bị mang tiếng mãi!). Tất cả ứng xử của Mạc với Minh cũng chỉ nằm trong một chiến lược ngoại giao hằng xuyên của Việt nhỏ Hoa lớn “thần phục giả vờ, độc lập thực sự” (Vassalité fidive, Indépendance réelle). Mà thực sự ở thời Mạc không có bóng một tên xâm lược nào trên đất nước ta, quan bảo hộ, dù hình thức như chức “Đạt lỗ hoa xích” ở Thăng Long triều Trần cũng không. Thế tại sao người này thì khen là khôn khéo, người khác lại chê là hèn hạ?

Tác giả Trần Gia Phụng trong bài viết: "Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử" có đoạn bình luận xác đáng về sự kiện đầu hàng nhà Minh của Mạc Thái Tổ:

"Năm 1533,... Lê Trang Tông sai Trịnh Duy Liễu cùng hơn 10 người đi đường biển từ Chiêm Thành theo thuyền buôn Quảng Đông tới Trung Hoa xin thỉnh cầu nhà Minh xuất quân đánh nhà Mạc. Năm 1536 một lần nữa Lê Trang Tông sai Trịnh Viên yêu cầu nhà Minh đánh họ Mạc.
Hành động của vua Lê, kêu gọi người nước ngoài về đánh nước mình, trong đó có ý kiến cố vấn của Nguyễn Kim, không bị một sử gia nào lên án. Việc làm nầy đưa đến kết quả cụ thể là nhà Minh cử Cừu Loan làm tổng đốc, Mao Bá Ôn làm tán lý quân vụ đem 20 vạn binh mã sang ải Nam Quan năm 1540. Ngược lại, trong thế yếu, muốn tránh một cuộc chiến mà mình nắm chắc phần thất bại, đồng thời dân Việt sẽ một lần nữa bị đặt dưới ách thống trị trực tiếp của ngoại nhân như thời Mộc Thạnh, Trương Phụ, Mạc Thái Tổ, lúc đó đã lên làm thái thượng hoàng, như cố giáo sư Trần Quốc vượng Đánh giá Mạc Đăng Dung đành chấp nhận "đầu hàng giả vờ để giành độc lập thực sự" cho Đất nước và chấp nhận hy sinh danh dự cá nhân, lên ải Nam Quan (Lạng Sơn) chịu nhục. Nhờ sự nhẫn nhục của Mạc Thái Tổ,... Đại Việt trên danh nghĩa là lệ thuộc Trung Hoa, nhưng trong thực tế vẫn độc lập một phương được nhà Minh công nhận phong ấn tín,5 đời vua Mạc trị vì 65 năm (1527-1592) ở Thăng Long vẫn cai trị đất đai từ Lạng Sơn trở xuống, đâu có viên tướng Tàu nào bén mảng sang cai trị. Ai cũng bảo Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh vì quyền lợi gia đình họ Mạc, nhưng giả thiết, một giả thiết không bao giờ có thể quay lại được, Mạc Đăng Dung chống cự quân Minh như họ Hồ, nước ta bị tái đô hộ, thì nhân dân ta còn khổ biết bao nhiêu nữa. Đàng này, Mạc Đăng Dung một mình chịu nhục cho trăm họ bình yên. Người ta ưa ca tụng Hàn Tín khi nghèo khổ đã lòn trôn tên bán thịt chợ Hoài Âm (Trung Hoa) như là một gương nhẫn nhục đáng noi theo, nhưng chẳng một ai chịu chia sẻ với nỗi nhẫn nhục vĩ đại của Mạc Đăng Dung. Mạc Đăng Dung lúc đó đã là ông già 60 tuổi rất buồn tủi về sự kiện Nam Quan (Lạng Sơn) nên về nhà chưa được một năm, ông nhuốm bệnh từ trần năm 1541."

Đi xa hơn nữa, tác giả còn so sánh hành động này của Mạc Đăng Dung với vua Lê sau ngày trung hưng về Thăng Long:

...(Theo Việt sử Thông giám cương mục,) "sau khi trở về Thăng Long, năm 1596 vua Lê Thế Tông (trị vì 1573-1599) cử người đem hình dạng hai quả ấn của nhà Mạc và vua Lê lên Nam Quan cho đại diện nhà Minh khám xét, nhưng quan nhà Minh không chịu, bắt vua Lê phải thân hành đến gặp. Vua Lê phải chấp hành, nhưng khi đến nơi đợi lâu quá không được gặp quan nhà Minh, vua Lê đành trở về, rối năm sau (1597) lên một lần nữa mới được hội kiến. Sự kiện nầy chẳng khá gì hơn việc Mạc Đăng Dung lên Nam Quan năm 1540..."

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1541, thượng hoàng Mạc Đăng Dung qua đời, thọ 59 tuổi. Trước khi mất ông có để lại di chúc không làm đàn chay cúng Phật và khuyên Mạc Phúc Hải phải nhanh chóng về kinh sư để trấn an nhân tâm và xã tắc là trọng.

Giai thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Tương truyền, cuối thời Lê Sơ có con gái quan Thượng thư Nhữ Văn Lan triều Lê Thánh Tông, người huyện Tiên Minh, trấn Hải Dương/xứ Đông (nay là huyện Tiên Lãng, TP. Hải Phòng) là Nhữ Thị Thục vốn tinh thông lí số, có tài tiên đoán tương lai. Bà biết trước rằng, khí số nhà Lê đã đến ngày tận và một bậc đế vương sẽ xuất hiện. Bà hy vọng rằng mình sẽ lấy được người ấy hoặc sinh ra một bậc đế vương trong tương lai. Kén chọn mãi bà mới quyết định lấy Nho sinh nghèo làng bên tên Nguyễn Văn Định vì thấy ông có tướng sinh quý tử. Nhưng sau khi lấy nhau, bà biết rằng mình nhầm, chỉ có thể sinh con đến bậc Trạng nguyên (về sau sinh ra Nguyễn Bỉnh Khiêm). Bấy giờ triều đình mở khoa thi võ, tình cờ bà gặp một chàng trai đánh cá nghèo tuổi vừa đôi mươi lên kinh dự thi. Đó là một chàng cao lớn, mặt vuông, mắt tròn, tiếng nói trầm hùng, tuy ăn mặc rách rưới nhưng có phong độ đàng hoàng, đĩnh đạc. Vừa thoạt nhìn và trao đổi dăm ba câu hỏi han, bà đã cất lời tự than rằng: "Lúc trước chẳng gặp nhau, nay đến đây làm gì!". Bởi bà đã thấy được ở người thanh niên ấy có khí tượng đế vương. Người ấy chính là Mạc Đăng Dung, hậu duệ của các Trạng nguyên Nho họcMạc Hiển Tích (thời nhà Lý) và Mạc Đĩnh Chi (thời nhà Trần). Khác biệt ở chỗ, Mạc Đăng Dung theo nghiệp võ học rồi đậu Võ Trạng nguyên. Ông cũng có thể là Trạng nguyên Võ cử nổi tiếng nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Thực tế thì trong sử sách ngay từ đầu thế kỷ XVI, khi nhà Lê sơ bắt đầu đi vào giai đoạn suy thoái, trong dân gian xuất hiện câu sấm "Phương Đông có khí sắc thiên tử" (phương Đông ở đây là muốn ám chỉ xứ Đông, tức là trấn Hải Dương vào thời Lê) nhưng không biết câu sấm đó ứng nghiệm vào ai. Nhà Lê sơ lo sợ không biết phải làm thế nào nên đã cho thuật sĩ về Đồ Sơn trấn yểm. Sau này người đã phế bỏ ngôi vị của nhà Lê sơ để lập ra nhà MạcMạc Đăng Dung chính là người huyện Nghi Dương thuộc trấn Hải Dương (nay là huyện Kiến Thụy của thành phố Hải Phòng). Bởi vậy xét về mặt quê quán, Mạc Đăng Dung và Nguyễn Bỉnh Khiêm (người huyện Vĩnh Lại, nay là huyện Vĩnh Bảo) có thể xem là đồng hương vì cả hai đều là người xứ Đông hay trấn Hải Dương (nay thuộc địa phận Hải Phòng).

Vai trò, ảnh hưởng và di sản trong tiến trình lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mạc Đăng Dung là một trong những nhân vật gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử Việt Nam. Những nhân vật kiểu như Mạc Đăng Dung (hay Trần Thủ ĐộHồ Quý Ly) thường xuất hiện trong lịch sử Trung Hoa hơn là Việt Nam. Sử sách triều Lê-Trịnh và triều Nguyễn vốn là đối nghịch với nhà Mạc nên sau này luôn lên án Mạc Đăng Dung là "thoán nghịch" hay "nghịch thần" đồng thời coi nhà Mạc là "ngụy triều" nhưng cũng phải ghi lại một thực tế hoàn cảnh lịch sử khi Mạc Đăng Dung sau khi đã phụng sự 5 đời vua Lê vốn đã suy tàn với những "vua quỷ, vua lợn" các thế lực tranh giành, chiến tranh liên miên... Nên khi Mạc Đăng Dung lên ngôi là "bấy giờ thần dân trong nước đều theo Mạc Đăng Dung, đến đón vào kinh sư" (Đại Việt sử ký toàn thư, tr.118) hay "lúc này thần dân phần nhiều xu hướng về Đăng Dung, đều ra đón về kinh đô" (Đại Việt thông sử, tr.264). Nhưng dù có khen chê hay định đoạt công tội của Mạc Đăng Dung thì người ta cũng phải thừa nhận ông là một người có tài thao lược, trí dũng hơn người (chỉ trong khoảng 10 năm đã dẹp yên hầu hết các cuộc nổi loạn của nhiều phe phái, thế lực cát cứ khắp nước), là một tay anh hùng lập thân trong thời đại loạn như Đinh Tiên Hoàng thuở trước (xuất thân hàn vi từ tay không mà dựng nên đế nghiệp), một chính khách khôn ngoan, hành xử linh hoạt, kiên nhẫn chờ thời, biết mình biết người, là người có sức thu phục nhân tâm lớn (thu phục đại bộ phận lòng dân trong nước, chiêu nạp dưới trướng nhiều tướng lĩnh có tài và trung thành như Nguyễn Kính, Vũ Hộ, Phạm Tử Nghi...) và khi cần, dám hy sinh cả danh dự/sỹ diện cá nhân hay dòng họ mình vì quyền lợi chung của dân tộc cũng như đại cục quốc gia. Một thực tế lịch sử mà ngay cả các sử gia thời Lê-Trịnh, Nguyễn sau này phải thừa nhận rằng con cháu nhà Mạc từ sau năm 1592 cho đến khi để mất hẳn đất Cao Bằng về tay nhà Lê Trung Hưng, chưa bao giờ có ý đồ mượn sức mạnh quân sự của nhà Minh hay nhà Thanh để chống lại quân Lê-Trịnh-Nguyễn trên bờ cõi đất Việt (dù phải mượn sức mạnh/ảnh hưởng chính trị từ thiên triều phương Bắc trong việc đối phó với sức ép quân đội Lê-Trịnh). Lời di chúc nổi tiếng của thân vương Mạc Ngọc Liễn có thể xem là bằng chứng lịch sử đáng tin nhất cho chiến lược tồn vong của nhà Mạc: quyền lợi dòng họ - gia tộc là quan trọng nhưng vẫn phải đặt sau địa vị tối cao của quyền lợi quốc gia - dân tộc.[45]

Một điều nữa khiến Mạc Đăng Dung được các sử gia sau này đánh giá cao là ở cách đối nhân xử thế của ông. Khi Mạc Đăng Dung phế bỏ nhà Lê sơ để lên ngôi, ông đã không thi hành một cuộc tàn sát hay tắm máu nào đối với con cháu nhà Lê và những người trung thành với cựu triều bởi những cuộc thanh trừng có hệ thống đã từng xảy ra khi nhà Trần lên thay nhà Lý, nhà Hồ lên thay nhà Trần trước đó. Đối với những di sản kiến trúc-văn hóa của nhà Lê sơ tại Thăng LongThanh Hóa, Mạc Đăng Dung cũng không xâm phạm hay tàn phá, mà còn cho tu bổ lại các công trình như nhà Quốc Tử Giám ở Thăng Long và lăng mộ các đời vua Lê tại Lam Kinh (Thanh Hóa). Đây cũng được coi là việc làm hiếm thấy trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam bởi triều đại mới lên thường xóa bỏ hay phá hủy những gì được coi là "tàn tích" của triều đại cũ cho dù nhiều "tàn tích" trong số đó có ý nghĩa tiến bộ về lịch sử đi chăng nữa. Điểm "đặc biệt" cuối cùng trong cách hành xử của Mạc Đăng Dung là ở khả năng dùng người và trọng đãi nhân tài của ông. Một bộ phận lớn quan lại, đại thần của triều cũ (Lê sơ) vẫn được tin dùng và trao giữ những chức vụ quan trọng dưới triều Mạc. Nhiều nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng sở dĩ Mạc Đăng Dung có cách hành xử linh hoạt, cởi mở như vậy là do ông xuất thân ở vùng biển nơi cư dân có cái nhìn thực tế, hướng ngoại và ít bị ràng buộc bởi những tư tưởng bảo thủ truyền thống như những cư dân trong nội địa vốn chủ yếu sống bằng nông nghiệp vào thời đó. Bởi vậy mà cho tới cuối thời Lê Trung Hưng, trong sách Vũ trung tùy bút tác giả Phạm Đình Hổ đã viết: "cái đức chính của thời Minh Đức (niên hiệu của Mạc Thái Tổ) và Đại Chính (niên hiệu của Mạc Thái Tông) nhà Mạc vẫn còn cố kết ở lòng người chưa quên. Vậy nên thời vận đã về nhà Lê mà lòng người hướng theo nhà Mạc vẫn chưa hết..."

Tổng kết lại một cách khách quan và công bằng, trong tất cả những nhân vật lịch sử ít nhiều nuôi tham vọng đế vương của chính trường Đại Việt ở thế kỷ 16 (bao gồm cả Lê Do, Lê Chiêu Tông, Trần Cảo, Trần Cung, Trần Tuân, Trần Chân, Nguyễn Hoằng Dụ, Nguyễn Kim, Nguyễn Hoàng, Trịnh Duy Đại, Trịnh Duy Sản, Trịnh Tuy, Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng), Mạc Đăng Dung là gương mặt có sự hội tụ 3 yếu tố quan trọng một cách rõ rệt hơn cả: “tài”, “tâm”, và “thời”.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Từ một người xuất thân hàn vi, trở thành lính túc vệ và cuối cùng thành một hoàng đế, đó là cả một quá trình không phải chỉ do may mắn. Để có được những bước tiến kỳ diệu ấy, ngoài tài thao lược, chắc hẳn phải có mưu lược cộng với ít nhiều may mắn do thời cuộc đưa lại. Trong trường hợp này, có thể nói Mạc Đăng Dung là “anh hùng lập thân trong thời loạn”. Điểm lại nhiều sự kiện quan trọng trong cuộc đời chính trị của Mạc Đăng Dung đã cho thấy ông là một chính khách hành xử nhiều toan tính, linh hoạt không thường thấy trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Điều quan trọng là hầu hết những toan tính đó không vì lợi ích cá nhân (hay gia tộc) trước mắt mà hướng tới đại cục lâu dài mang tầm quốc gia. Nó cũng cho thấy ông có khả năng giành được quyền lực và sử dụng quyền lực với tính linh động cao, biết khi nào cần cương khi nào cần nhu, khi nào cần tiến khi nào cần lùi, không cứng nhắc hay tham quyền một cách ích kỷ. Về mặt linh hoạt trong cách hành xử, ông đã cho thấy mình không hề kém cạnh so với người đồng hương xứ ĐôngNguyễn Bỉnh Khiêm. Một vài sự kiện có thể xem là minh chứng tiêu biểu cho nhận định trên:

  1. Sự kiện Mạc Đăng Dung chủ động kết nối thông gia với Trần Chân, một thế lực đang lên đương thời;
  2. Sự kiện Mạc Đăng Dung hai lần tha chết, không truy sát Nguyễn Hoằng Dụ (vốn có quan hệ họ hàng gần với cha của Nguyễn HoàngNguyễn Kim), mở đường sống cho Hoằng Dụ rút về Thanh Hóa;
  3. Sự kiện ông chủ động tạm lui về quê nhà Cổ Trai khi đang ở đỉnh cao quyền lực (giai đoạn 1525-1527), để quan sát tình hình và tránh những lời gièm pha chuyên quyền sau khi liên tục được vua nhà Lê gia tăng chức tước bởi công lao dẹp loạn, giữ ổn định chính sự trong nhiều năm;
  4. Sự kiện ông chọn thời điểm thích hợp để phế ngôi nhà Lê sơ mà không gây cảnh thảm sát, tắm máu (như những cuộc thanh trừng cuối thời Trần), sau khi đã dành nhiều năm nghe ngóng lòng dân và thu phục nhân tâm;
  5. Sự kiện ông cởi mở trưng dụng hiền tài và thu dụng đội ngũ nho sĩ - trí thức cựu triều Lê sơ một cách rộng lượng, đồng thời không vội vàng thay đổi những thể chế đã được định hình dưới thời thịnh trị của nhà Lê sơ, vì thế phần nào tránh được vết xe đổ của Hồ Quý Lynhà Hồ hơn một thế kỷ trước;
  6. Sự kiện ông chỉ giữ ngôi vua có 3 năm, rồi theo kế sách thời Trần mà chủ động nhường ngôi cho con trưởng Mạc Đăng Doanh (Mạc Thái Tông), sau đó lui về Dương Kinh (Cổ Trai) quê nhà nhưng vẫn quán xuyến hầu hết những việc hệ trọng quốc gia cho tới tận khi mất với vai trò của một Thái thượng hoàng;
  7. Sự kiện ông buộc phải sử dụng “khổ nhục kế” (xin trá hàng và dâng đất khống) trước đạo quân xâm lược nhà Minh do nhà Lê trung hưng cầu viện, khi đang ở vào tình thế lưỡng đầu thọ địch, thù trong giặc ngoài (cộng thêm một bất lợi lớn là việc Mạc Thái Tông vừa qua đời đột ngột, con nối ngôi là Hiến tông Mạc Phúc Hải vẫn còn nhỏ tuổi).

Là một triều đại đối địch hoàn toàn với quyền lợi của các dòng họ thế lực Lê-Trịnh-Nguyễn (vốn cùng phát tích từ xứ Thanh) của nhà Lê trung hưng và cả nhà Nguyễn về sau, bởi vậy sau khi nhà Mạc thất thủ (1592), sự nghiệp cũng như vai trò lịch sử của Mạc Đăng Dung và triều Mạc (trong đó bao gồm cả những nhân vật tên tuổi là trung thần của nhà Mạc như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giáp Hải, Mạc Ngọc Liễn...) không tránh được cái nhìn thiên kiến của đại bộ phận những sử gia, học giả dưới thời cai trị của các dòng họ Lê-Trịnh rồi họ Nguyễn trong nhiều thế kỷ.

Tác giả Đại Việt sử ký toàn thư (do nhà Lê-Trịnh sai biên soạn bổ sung ở thế kỷ 17) coi nhà Mạc là “ngụy triều” nên không thèm chép riêng thành một kỷ và gọi một cách khinh bỉ là “Mạc thị”. Học giả kiêm sử gia danh tiếng thời Lê-Trịnhthế kỷ 18Lê Quý Đôn thì xếp tất cả các vua Mạc vào loại “nghịch thần”. Sử gia thời nhà Nguyễn cũng có quan điểm gần như tương đồng với thời Lê-Trịnh khi viết về Mạc Đăng Dung và nhà Mạc. Hầu hết ghi chép lịch sử còn lưu lại của những sử gia, học giả các triều đại đối địch kể trên về triều Mạc chủ yếu là mang tính hình thức, không mấy khi nhắc tới những thành tựu nổi bật của nhà Mạc trong nhiều lĩnh vực quan trọng như an ninh - quốc phòng, chính trị, kinh tế, văn hoá - tư tưởng, văn học - nghệ thuật, tôn giáo - tín ngưỡng... Những cái nhìn theo hướng như vậy cũng được phần lớn giới nghiên cứu hiện đại ở Việt Nam duy trì cho tới giai đoạn cuối thập niên 1980.

Đại bộ phận sử gia, học giả Việt Nam từ thời Lê trung hưng (1533), qua thời Nguyễn cho tới trước thời kỳ Đổi Mới, một mặt thường phủ nhận vai trò tích cực đối với lịch sử dân tộc của Mạc Đăng Dung và triều Mạc, một mặt luôn nhấn mạnh những thứ được xem là “tội” như giết vua, cướp ngôi, đầu hàng, cắt đất cho ngoại bang. Những đại diện tiêu biểu cho cách nhìn nhận này là Ngô Thì Nhậm, Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim, Đinh Xuân Lâm, Trần Thị Băng Thanh. Nhưng đồng thời cũng có không ít quan điểm có thể xem là đồng tình của giới nghiên cứu đối với những phương án hành xử gây nhiều tranh cãi nhưng “phù hợp với tình thế lịch sử đương thời và phục vụ cho lợi ích chung dân tộc về lâu dài” của Mạc Đăng Dung. Tiêu biểu cho cách nhìn này có Nguyễn Văn Siêu, Lê Văn Hoè, Phạm Văn Sơn, Trần Quốc Vượng, Trần Gia Phụng, Trần Khuê, Trần Lâm Biền, Vũ Khiêu, Văn Tạo, Đinh Khắc Thuân, Nguyễn Gia Kiểng, Phan Đăng Nhật, Trần Thị Vinh.

Trong số những nhà nghiên cứu lịch sử hiện đại, học giả nổi tiếng cả về Cựu học và Tân học Trần Trọng Kim có lẽ là người chỉ trích Mạc Đăng Dung kịch liệt hơn cả:[46]

Mạc Đăng Dung đã làm tôi nhà Lê mà lại giết vua để cướp ngôi, ấy là người nghịch thần, đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cõi, lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc. Làm ông vua mà không giữ cái danh giá cho trọn vẹn, đến nỗi phải cửi trần ra trói mình lại, đi đến quỳ lậy trước cửa một người tướng của quân nghịch để cầu lấy cái phú quý cho một thân mình và một nhà mình, ấy là một người không biết liêm sỉ. Đối với vua là nghịch thần, đối với nước là phản quốc, đối với cách ăn ở của loài người là không có nhân phẩm; một người như thế ai mà kính phục? Cho nên dẫu có lấy được giang sơn nhà Lê, dẫu có mượn được thế nhà Minh bênh vực mặc lòng, một cơ nghiệp dựng nên bởi sự gian ác hèn hạ như thế thì không bao giờ bền chặt được. Cũng vì cớ ấy mà con cháu họ Lê lại trung hưng lên được...

— Trích trong Việt Nam Sử Lược

Học giả, nhà sử học Lê Văn Hòe (1911-1968), bút danh Vân Hạc, được xem là người đi đầu trong hướng đánh giá mang nhiều tính lý trí, khách quan lịch sử về sự nghiệp của Mạc Đăng Dung. Nó càng đặc biệt bởi được viết ra từ suy nghĩ của một nhà nghiên cứu mang họ Lê, dòng họ đã mất ngôi vua về tay họ Mạc:

Cái khuyết điểm lớn nhất của cuốn “Việt Nam sử lược” là ở chỗ đã nặng lời biếm nhục Mạc Đăng Dung - vua Thái Tổ nhà Mạc... Sự thật khác hẳn. Mạc Đăng Dung bị hiểu lầm. Mạc Đăng Dung là một người anh hùng lập thân trong thời loạn. Mạc Đăng Dung là người yêu nước thương dân. Mạc Đăng Dung là người có tài ngoại giao.

...Thời bấy giờ là thời thiên hạ đại loạn. Vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi. Vua ngờ vực tất cả mọi người và chỉ định giết. Tôi thì giết vua triều thần chẳng ai coi vua ra gì. Sinh vào thời đại loạn như vậy chỉ có hai đường: một là lui về nơi sơn lâm để tránh tai vạ, hai là xông ra dẹp loạn an dân giúp vua, giúp nước. Mạc Đăng Dung đã đi vào con đường thứ hai. Đăng Dung phù vua nhưng vua định hại Đăng Dung. Cuối cùng Đăng Dung mới cướp ngôi vua vì thấy vua bất lực. Kể ra thì Mạc Đăng Dung cũng không tránh khỏi cái tội giết vua và cướp ngôi.

Nhưng trước kia thời Đinh, Lý, Trần không phải là không có người giết vua, cướp ngôi ngay thời Mạc Đăng Dung cũng có bao nhiêu kẻ hoặc đã giết vua hoặc lăm le cướp lấy ngôi báu. Đứng vào địa vị Mạc Đăng Dung bấy giờ muốn tiến thân không ai làm khác được. Giả sử Mạc Đăng Dung lui về ẩn dật, bỏ mặc việc đời, thì nhà Lê cũng không giữ nổi cơ nghiệp, ngai vàng hoặc đã về họ Trịnh, họ Trần (Trần Cao) hay họ Nguyễn họ Hoàng. Mạc Đăng Dung chỉ là một người anh hùng lập thân ở thời loạn mà thôi. Trách Mạc Đăng Dung sao không cúc cung, tận tuỵ thờ vua Lê thì có khác gì trách Võ, Thang sao không tận trung thờ các vua Kiệt, Trụ.

Lẽ ra Mạc Đăng Dung phải làm công việc của Võ, Thang ngay từ thời Uy Mục và Tương Dực rồi mới phải. Nhưng có lẽ Mạc Đăng Dung còn muốn đợi xem lòng dân thế nào. Đến khi thấy rõ lòng dân Sơn Tây, Thanh Hoá đối với vua Lê, bấy giờ Đăng Dung mới quyết. Như vậy kể cũng đã thận trọng chứ không phải hành động mù quáng, lỗ mãng. Nếu ai cũng sợ tiếng nghịch thần thì từ thượng cổ đến giờ, trong lịch sử Trung Hoa, Lịch sử Việt Nam cũng như lịch sử các dân tộc khác, có lẽ chỉ có một dòng họ làm vua chứ làm gì còn có các nhà Tần, Hán, Đường, Tống, Lê, Lý, Trần, Hồ.
— Trích Hồ Quý Ly - Mạc Đăng Dung, Quốc học thư xã, Hà Nội-1959, tr.25

Nhà sử học Phạm Văn Sơn có nhiều quan điểm đồng tình với học giả Lê Văn Hoè:

Không có họ Mạc ra đời thuở đó, thì trong nhân dân cũng phải có một người khác nhẩy ra để thiết lập trật tự mới. Có bao giờ trong một quốc gia chỉ có một dòng họ duy nhất xứng đáng để làm vua, còn những dòng họ khác chỉ đủ tư cách làm thứ dân mà thôi? Lý Công Uẩn cướp ngôi nhà Tiền Lê, Lê Hoàn tư thông với Dương Hậu thay thế nhà Đinh, Trần Thủ Độ lừa gạt một cô gái nhỏ (Lý Chiêu Hoàng), xét việc họ Mạc cướp ngôi nhà Hậu Lê còn đàng hoàng hơn. Hạ sát vua Chiêu Tông, Mạc chỉ có mục đích hủy bỏ cái bình phong mà các lãnh tụ phong kiến đã dùng để che đậy hành động mưu đồ vương bá của họ và vì cả lý do bảo vệ cho chính bản thân nữa.

Trần Trọng Kim còn cho rằng Mạc đã xây dựng sự nghiệp trên sự tàn ác nên không bền. Lời phê phán này lại càng hàm hồ nữa. Ông Lê Văn Hòe cho rằng người ta đã cố ý quên rằng nhà Tiền Lê, nhà Lý, nhà Trần và các chúa Trịnh sau này cũng đi đường lối ấy. Các xã hội phong kiến bao giờ cũng gây ra những cuộc đảo lộn ngai vàng. Nó hư hỏng ngay từ nền tảng, khuôn nếp hay hệ thống tổ chức thì mối loạn là một tình trạng thường trực không sao tránh được nếu không làm gì có nhà Đường, nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh bên Trung Quốc.

Nếu cho rằng nhà Mạc đã làm việc gian ác, thì Trần Thủ Độ âm mưu với Trần Thị (vợ vua Lý Huệ Tông) đem cháu trai vào cung bầy cuộc hôn nhân để chiếm ngôi nhà Lý. Thủ Độ lại lấy vợ của Huệ Tông là em gái họ mình, giết hết con cháu nhà Lý, ép vua Trần Thái Tông bỏ Chiêu Hoàng lấy chị dâu là vợ Trần Liễu, anh ruột Trần Cảnh đã có thai 3 tháng, ra lệnh cho con cháu nhà Trần lấy nhau, các hành động đó có gian ác không? Vậy mà họ Trần còn làm vua được 175 năm. Nhà Tây Sơn sau này dấy nghiệp lên trừ tham nhũng của bọn Trương Phúc Loan, đạp đổ chế độ tồi bại của hai họ Trịnh, Nguyễn ở miền Nam Bắc Hà, giải nạn xâm lăng cho dân tộc, oanh liệt đàng hoàng như vậy mà chỉ ở ngôi có 24 năm, có nói được là bền chăng?

Trong lúc xã hội Việt Nam đi dần đến chỗ đều hòa, thăng bằng, người dân đang tu tạo sự nghiệp sau hai chục năm nước nhà lụn bại về mọi phương diện, một bọn quan lại nhà Lê không thắng nổi họ Mạc lại phải dùng cái chước hèn hạ nhất và cũng tai hại nhất là sang lậy van con cháu Minh Thành Tổ, đúng cái vai trò vô sỉ của bọn Bùi Bá Kỳ, Trần Thiêm Bình đã làm hơn một thế kỷ trước. Tâm lý của người Minh trước kia thế nào thì sau này cũng lại thế. Bài học lịch sử xưa đã ghi rằng: khi quân Minh cất quân sang đánh nhà Hồ có tuyên ngôn rằng để dựng lại họ Trần, rồi khi nhà Hồ bị tiêu diệt, quân Minh dở mặt lập ngay cuộc đô hộ. Vậy với chuyện thứ hai này, con cháu Minh Thành Tổ sẽ tử tế, nhân đức hơn chăng? Bọn Trần Thiêm Bình chưa có kinh nghiệm về Bắc phương còn tha thứ được một phần nào, chứ bọn cố thần nhà Lê đầu thế kỷ 16 không còn bào chữa tội lỗi vào đâu nữa.
— Trích trong Việt sử toàn thư (1960)

GS. Trần Quốc Vượng:

Không nên chỉ nhìn nhận và đánh giá sự nghiệp nhà Mạc qua những gì sử thần nhà Lê viết. Triều đình Lê-Trịnh đối địch với triều Mạc từ đầu đến cuối thế kỷ XVI, và còn tiếp tục đối địch với triều Mạc thu nhỏ ở Cao Bằng ba đời nữa cho đến hết nửa đầu thế kỷ XVII; do vậy sứ thần nhà Lê-Trịnh bôi xấu triều Mạc là chuyện tất nhiên. “Yêu nên tốt, ghét nên xấu” là chuyện thường tình... Ta cần bổ sung bằng các tư liệu điền dã trong nước, tư liệu nước ngoài để “hiểu” về nhà Mạc ngày càng cụ thể, sâu sắc hơn... Mạc Đăng Dung lấy ngôi vua nhà Lê không phải từ tay một vua Lê anh hùng như Lê Lợi, một vua Lê có học vấn và tài năng lớn như Lê Thánh Tông mà là từ những vua lợn, vua quỷ... Sự thay thế đó là hợp lẽ Đời và Đạo. Toàn thư (tập IV, KHXH, 1968, tr.118) chép: “Bấy giờ thần dân trong nước theo Mạc Đăng Dung đều đón vào kinh sư”. Bài chiếu nhường ngôi, do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Văn Thái thảo viết, việc ấy là “theo lẽ phải”!

— Trích bài “Mấy vấn đề về nhà Mạc” trong cuốn “Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử”, Nhà xuất bản. KHXH, HN, 1996

GS. Vũ Khiêu (nguyên Viện trưởng đầu tiên của Viện Xã hội học Việt Nam):

Những thành kiến sai lầm đối với Nghi Dương, đối với nhà Mạc và cả đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm được hình thành từ hơn bốn thế kỉ không thể nhanh chóng được xóa bỏ hết.

...Nhìn lại những tư tưởng và việc làm của Mạc Đăng Dung ta thấy ông xuất hiện như một bông hoa xuyến tuyết, chọc thủng lớp dày băng giá mùa đông để chào đón mùa xuân của đất nước.

...Việc bôi nhọ Mạc Đăng Dung và nhà Mạc trước hết vấp phải Nguyễn Bỉnh Khiêm, một ngọn núi cao sừng sững bảo vệ nhà Mạc. Vì sao nhà trí thức kiệt xuất này, suốt cuộc đời cho đến lúc gần 50 tuổi vẫn nhất định không chịu đi thi, không chịu cộng tác với nhà Lê, không nhận bất cứ công việc gì của nhà Lê để cuối cùng chọn Mạc Đăng Dung như minh chủ của mình? Theo những người xuyên tạc nói thì Nguyễn Bỉnh Khiêm bất đắc dĩ phải theo nhà Mạc mà thôi. Thực ra trước những thành công và tiến bộ nhất định của nhà Mạc Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thực sự vui mừng, tin tưởng ở một xã hội thanh bình và thịnh trị do triều đại mới đem lại: “Mừng thấy thời vần đời mở trị / Thái bình thiên tử, thái bình dân”. Ông quyết định ra phục vụ nhà Mạc, coi đó là sự lựa chọn đúng đắn của bậc trượng phu và người quân tử: “Quân tử mới hay nơi xuất xứ / Trượng phu cũng có chí anh hùng”. Họ còn nói: ông đã nửa chừng bỏ triều Mạc để về quê. Không phải như thế! Ngược lại, ông đã suốt đời đem hết tâm lực để phục vụ triều Mạc trên mọi lĩnh vực văn học, chính trị, quân sự coi như nghĩa vụ lớn lao của mình: “Ba đời chúa được phúc tình cờ / Ơn nặng chưa từng báo tóc tơ”. Cho đến lúc ông 70 tuổi dù được về nghỉ ở quán Trung Tân, ông vẫn bày tỏ thái độ chung thuỷ với các vua Mạc vẫn nhiều lúc về thăm vua, nhiều lúc theo vua ra mặt trận: “Xem lại tuổi đời ngoài bảy chục / Chỉ vì già yếu há quên vua”. Tấm lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm và thái độ của ông do chính ông tự tay viết ra và còn để lại đã bác bỏ mọi sự xuyên tạc vô căn cứ về ông. Những lời tâm huyết trong thơ của ông khiến người đời sau phải suy nghĩ vì sao ông lại gắn bó với Mạc Đăng Dung và triều Mạc đến thế.

GS. Văn Tạo (Viện Sử học):

Toàn bộ công tích của nhà Mạc cống hiến cho dân tộc đã được sử sách ghi chép. Riêng công trạng của Mạc Đăng Dung có thể tóm tắt như sau: Khi khủng hoảng cung đình diễn ra trầm trọng, triều đình đổ nát, kinh tế suy sụp, dân tình cực khổ, Mạc Đăng Dung đã dẹp được các phe phái phân chia, cát cứ, lên ngôi, tạo dựng được cơ nghiệp cho con cháu nối đời, góp phần ổn định đời sống xã hội, xây dựng và phát triển đất nước về mọi mặt: kinh tế, văn hóa, xã hội trong hơn nửa thế kỷ. Thành tựu của nhà Mạc không ai có thể phủ nhận được.

...Trong lịch sử dân tộc cũng nhiều lần xảy ra khủng hoảng cung đình như khủng hoảng cuối Tiền Lê sang Lý, khủng hoảng cuối Lý sang Trần, hay như “Loạn ba vương thời Lý”, việc tiếm ngôi của Dương Nhật Lễ cuối Trần… nhưng chưa bao giờ khủng hoảng lại diễn ra lâu dài và trầm trọng như lần này.

Lịch sử đang cần có một nhân vật đứng ra giải quyết khủng hoảng để yên dân, dựng nước. Lịch sử đã lựa chọn Mạc Đăng Dung. Nói “Lịch sử đã lựa chọn” là nói thực tế khách quan đã có sự giằng co giữa các thế lực, mỗi thế lực có người đại diện của mình và đều là nhằm giành ngôi nhà Lê đang suy tàn, bất lực. Nhưng sau khi loại trừ lẫn nhau, cuộc “chung kết” chỉ còn lại có hai đối thủ là Nguyễn Hoằng Dụ và Mạc Đăng Dung. Cuối cùng Mạc Đăng Dung đã thắng, tức Mạc Đăng Dung đã được lịch sử lựa chọn.

...Xét về sự nghiệp dựng nước thì bao giờ cũng là “Vạn sự khởi đầu nan”, công lao đó thuộc về Mạc Đăng Dung. Nhân dân ta một khi đã thừa nhận là nhà Mạc có những cống hiến nhất định cho dân tộc thì không thể không thừa nhận công lao của nhà Mạc Đăng Dung.
— Trích bài Nhà Mạc và Thái tổ Mạc Đăng Dung

PGS. Trần Thị Vinh (Viện Sử học):

Nhiều nhà viết sử và nghiên cứu lịch sử cho Mạc Đăng Dung là kẻ “cướp ngôi”, là “thoán đoạt”, là “nghịch thần”,... và... Nhưng hãy hỏi nếu như trong tình thế lịch sử lúc đó ở triều đình nhà Lê, vua không ra vua, tôi không ra tôi, vậy ai sẽ là người đứng lên gánh lấy sứ mệnh trọng đại này? Nếu không là Mạc Đăng Dung thì sẽ là một người nào đó. Vì vậy sự kiện Mạc Đăng Dung đã từng gửi gắm ba phần tư quãng đời để lập ra triều đại mới của dòng họ Mạc không phải là một điều sỉ nhục như nhiều sử thần thời phong kiến đã gán cho Mạc Đăng Dung và triều đại nhà Mạc phải được trả về với vị trí của mình.

Tôi đồng tình với một số ý kiến của giới sử học gần đây trong cách đánh giá Mạc Đăng Dung và nhà Mạc. Tức chúng tôi nhìn nhận Mạc Đăng Dung không phải như một kẻ “nghịch thần” và cũng nhìn nhận một cách tương đối có cơ sở về những đóng góp của vương triều Mạc trong tiến trình lịch sử nói chung. Nếu coi Mạc Đăng Dung là kẻ “thoán đoạt”, là “nghịch thần”,... và coi nhà Mạc là “ngụy triều” tức là đã phủ nhận những đóng góp chung của nhà Mạc trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục và nghệ thuật. Còn nếu coi những hoạt động chính trị của Mạc Đăng Dung ở cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI dẫn tới việc thiết lập vương triều Mạc là có tội thì trước kia vào cuối thời Lý đầu thời Trần, Trần Thủ Độ cũng dùng mưu mẹo thậm chí dùng cả hành động độc ác ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, giành cơ đồ về tay nhà Trần đưa nhà Trần lên trường chính trị tương tự như vậy tại sao lại không bị lịch sử lên án? Nói tóm lại trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, việc triều đại này đổ, triều đại kia lên là một tất yếu lịch sử.

Như triều Lê thay triều Đinh, triều Lý thay triều Lê, triều Trần thay triều Lý, triều Hồ thay triều Trần, và triều Mạc thay triều Lê cũng là điều tất yếu lịch sử. Một số nhân vật như Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly hay Mạc Đăng Dung gắn liền với các sự kiện thay đổi của các triều đại nói trên cũng là tất yếu lịch sử. Những nhân vật đó không thể bị coi là có tội trước lịch sử như quan niệm cũ.
— Trích bài “Thể chế chính trị ở Việt Nam cuối thế kỷ XV đầu XVI và những hoạt động chính trị của Mạc Đăng Dung tiến tới thành lập Vương triều Mạc” trong cuốn Vương triều Mạc

Trần Khuê (Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm):

Chẳng phải chính vua Quang Trung sau chiến thắng Đống Đa lừng lẫy vẫn phải vờ vịt thần phục thiên triều và cử giả vương sang làm lễ ôm gối Càn Long nhà Thanh chiến bại để tỏ tình phụ tử?

Chẳng phải chính Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của chúng ta vẫn thấy cần hạ mình đến thăm tên tướng Tàu phù Tiêu Văn để đưa dân tộc thoát cảnh hiểm nghèo vào lúc Việt Nam dân chủ cộng hòa còn trong nước? Chẳng lẽ lịch sử đã coi đó là những hành động ngoại giao khôn khéo lại không phải là sự đánh giá công bằng, chính xác?

Rút lại nhà Mạc thường bị lên án về ba tội: cướp ngôi nhà Lê, cắt đất của Tổ quốc dâng cho nhà Minh, đầu hàng nhà Minh một cách nhục nhã. Với quan điểm của chúng ta hiện tại: việc giành lấy ngôi vua từ tay một triều đại, một dòng họ đã suy tàn là hợp quy luật, việc trá hàng nhẫn nhục để giữ yên bờ cõi và bảo toàn chủ quyền là khôn khéo. Còn tội “cắt đất” dâng cho kẻ thù rõ ràng là không có chứng cứ chính xác.
— Trích trong “Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương triều Mạc”, 1991

TS. Đinh Khắc Thuân (Viện Nghiên cứu Hán Nôm):

Tóm lại có 3 sự kiện nổi bật liên quan đến việc đánh giá nhà Mạc. Một là lên ngôi của Mạc Đăng Dung thường được coi là thoán đoạt, nhưng là sự “thoán đoạt”, trong lúc triều đình nhà Lê hoàn toàn suy sụp. Vì vậy cũng không nên coi hành động này của Mạc Đăng Dung là cướp ngôi. Hai là để tránh thảm hoạ chiến tranh xâm lược, nhà Mạc đã chấp nhận giải pháp đầu hàng có tính nghi thức theo yêu sách của nhà Minh. Ba là bốn động biên giới nước ta đã bị nhà Minh lấy lại thành chuyện đã rồi đối với nhà Mạc. Mạc Đăng Dung thực sự không hề mắc tội phản quốc, trái lại đã góp phần quan trọng trong việc ổn định tình hình chính trị – xã hội trong nước cũng như tái lập quan hệ bang giao với nhà Minh.

— Trích trong “Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia” (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, HN, 2001)

Nguyễn Gia Kiểng so sánh giữa Hồ Quý Ly và Mạc Đăng Dung trong những phương cách hành xử khác nhau trước những biến thiên của thời thế:

Người ta lên án Hồ Quý Ly và Mạc Đăng Dung đã phản bội vua và cướp ngôi. Điều này vào thời đại đó và với khuôn mẫu đạo lý đó là đúng. Nhưng ngày nay nhìn lại thì sao? Nếu chúng ta coi khuôn mẫu Khổng giáo vẫn còn là tốt cho đất nước và cần được duy trì thì cả Hồ Quý Ly và Mạc Đăng Dung đều đáng lên án. Ngược lại nếu chúng ta coi khuôn mẫu Khổng giáo là khuôn mẫu cỗ hủ đáng lẽ không được duy trì quá lâu như vậy, thì hành động thoán nghịch của Hồ Quý Ly và Mạc Đăng Dung phải được coi là đáng khen vì nó là một thách thức đối với khuôn mẫu Khổng giáo. Còn nếu chúng ta không có ý kiến dứt khoát thì hành động thoán nghịch chẳng là công mà cũng chẳng là tội. Nó chỉ là một biến cố chính trị. Vậy thì ngoại trừ đối với một số người thủ cựu một cách mê muội, cái tội thoán nghịch không nên đặt ra nữa. Cái gì bắt một dân tộc phải tiếp tục chịu đựng những ông vua tồi tệ như cuối đời Trần hay cuối đời Hậu Lê? Đạo lý nào bắt buộc như vậy chỉ là một đạo lý tồi tệ. Xét công, tội của Hồ Quý Ly và Mạc Đăng Dung phải dựa vào những gì họ để lại sau đó.

Người ta lên án Mạc Đăng Dung đã dâng đất cho Trung Hoa. Nhưng sự dâng đất này chỉ là hình thức và không đáng kể. Mạc Đăng Dung chỉ dâng năm động ở Cao Bằng. Năm cái động đó có đáng gì đâu so với ngay cả những đất đai mà nhà Lý, được coi là oanh liệt, đã phải nhượng cho Trung Quốc để cầu hòa, sau nhiều cố gắng chiến dấu. Vả lại, người Trung Hoa chẳng bao giờ sang tiếp thu năm cái hang núi này cả, cho nên trên thực tế, Mạc Đăng Dung không làm mất một tấc đất nào.

Người ta coi Hồ Quý Ly hơn Mạc Đăng Dung, ở chỗ Hồ Quý Ly đã dám đánh lại quân Tàu, dù là đánh để rồi thua và mất nước. Người ta sỉ vả Mạc Đăng Dung là đã hèn nhát xin hàng tướng Tàu, dù nhờ đó mà Việt nam tránh được chiến tranh và không mất nước.

Tại sao lại có việc trọng Hồ Quý Ly, khinh Mạc Đăng Dung? Có hai lý do. Lý do thứ nhất là tinh thần quốc gia chúng ta không cao. Ta không coi trọng những gì có lợi cho đất nước mà chỉ để ý xem cái gì là độc đáo trong một con người; chúng ta vẫn suy luận như những cá nhân chứ không phải như một dân tộc. Lý do thứ hai là óc tôn thờ chiến tranh đã nói ở một phần trước trong sách này. Đánh bao giờ cũng có sức quyến rũ hơn hòa, dù là đánh ngu xuẩn như Hồ Quý Ly.

Cho đến ngày nay, lập trường trọng Hồ khinh Mạc vẫn còn ngự trị, điều đó chứng tỏ trí tuệ tập thể chúng ta vẫn còn mê muội, tâm lý của chúng ta vẫn chưa được khai thông.
— Trích bài viết “Hồ Quý Ly và Mạc Đăng Dung” trong sách “Tổ quốc ăn năn”, 2002

GS.TSKH. Phan Đăng Nhật (Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian):

Phong kiến nhà Lê đã nhiều lần liên tục cho người đi cầu cứu nhà Minh đem quân sang đánh ta. Với danh nghĩa là đánh Mạc, nhà Minh sẽ thừa cơ tàn sát tiêu diệt luôn cả nước Việt. Đây là một mục đích truyền đời của phong kiến phương Bắc. Nhà Lê thừa biết điều này, nhưng vì quyền lợi ích kỷ của vương quyền, vẫn cứ ra sức van nài nhà Minh.

...Mạc Thái Tổ cũng dùng cả đấu tranh chính trị, đưa trạng nguyên Giáp Hải đi, để biểu lộ ý chí quyết tâm bảo vệ đất nước qua việc hoạ thơ. Có người nói bài thơ đã đuổi được giặc. Không thật đúng. Bài thơ là một bộ phận của cuộc đấu tranh toàn diện, có vai trò nhất định trong cuộc đấu tranh này.

Thái tổ Mạc Đăng Dung đã lựa chọn một phương thức đấu tranh tổng hợp rất thông minh, vừa làm cho địch đủ ngại ngần, lo sợ, vừa đủ cho thiên triều đỡ mất mặt. Ông lại đặt quyền lợi tối cao của đất nước lên trên sỹ diện cá nhân. Nhờ vậy mà đẩy lùi được 22 vạn quân ngoại xâm và ít nhất một vạn nội phản; mà không tốn một mũi tên, không mất một giọt máu.

...Nếu đối chiếu các điều kiện thần phục, trong tình hình đối nội, đối ngoại quá gay gắt và phức tạp như vậy, thì việc thần phục của vua Mạc đã mất một số hư danh mà được nhiều thắng lợi thực tế. Trong đó, quan trọng là tránh được một cuộc chiến tranh thảm khốc, bao gồm lực lượng của quân Minh bên ngoài ép vào và quân Lê-Trịnh từ trong đánh ra. Xét trong lịch sử ngoại giao của chúng ta với phong kiến Trung Quốc có nhiều trường hợp phải hết sức lựa chiều, khéo léo.

So sánh phương án hành xử với quân xâm lược nhà Minh của Mạc Đăng Dung và Lê Lợi, nhà nghiên cứu lịch sử Ngô Đăng Lợi viết:[47]

“Bình Định vương Lê Lợi đại thắng quân đô hộ Minh nhưng vẫn phải cấp tàu xe, lương thảo cho Vương Thông rút quân, phải trả lừa, ngựa, binh khí, tù binh cho y; lại phải thực hiện danh nghĩa phù Trần diệt Hồ của nhà Minh mà dựng Trần Cảo làm vua, phải cống người vàng...”

Học giả kiêm sử gia nổi tiếng đầu thời nhà Nguyễn là Phan Huy Chú cũng có nhận xét tương đồng:[48]

“Xét buổi đầu Lê, sau khi đã bình giặc Ngô, chưa tiện nói rõ cầu phong, bấy giờ phải quyền nghi cho xong việc, cho nên trước hết giả lập con cháu họ Trần; dùng lời nói dịu dàng, mềm dẻo để nhà Minh thôi việc binh mà nhận việc hoà hiếu. Đến khi Trần Cảo chết mới lại một phen bày tỏ, nói rõ cầu phong, thế mà vua Minh hãy còn lần lữa chưa cho, trải 3 năm mà mới cho tạm quyền việc nước, chưa chính thức phong vương vị. Thế cũng đủ thấy sự thế bây giờ là khó.”

Ghi nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Từ những kết quả nghiên cứu mới trong ngành sử học và văn hoá Việt Nam khởi đầu từ những năm cuối thập niên 1980 nhằm đánh giá lại một cách thực sự khách quan và công bằng những đóng góp trên nhiều lĩnh vực của triều Mạc đối với lịch sử dân tộc, Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) Phạm Quang Nghị đã ký Quyết định số 24/2002/QĐ-BVHTT ngày 17-9-2002, công nhận Từ đường họ Mạc ở Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, TP. Hải Phòng là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định quy hoạch 10,5ha đất tại xã Ngũ Đoan (đất phát tích nhà Mạc và khu vực Dương Kinh xưa của vương triều Mạc) để xây dựng Khu tưởng niệm Vương triều Mạc và các Vua nhà Mạc. Năm 2009, Thủ tướng Chính phủ cũng có quyết định đưa công trình này vào danh mục các công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, bởi lịch sử vương triều Mạc là một phần không thể thiếu của lịch sử Thăng Long-Hà Nội.

Sau một thời gian dài lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân và các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hoá có uy tín, sáng ngày 25 tháng 8 năm 2015, UBND Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội đã chính thức tổ chức lễ gắn biển phố mang tên hai vị vua đầu triều Mạc là Mạc Thái Tổ và Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh) theo Nghị quyết số 02/2015/NQ-HĐND ngày 06/7/2015 của Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội và Quyết định số 3517/QĐ-UBND ngày 27/7/2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc đặt tên và điều chỉnh độ dài một số đường phố trên địa bàn Thủ đô.

Trước đó, tên hai vị vua Mạc Thái Tổ và Mạc Thái Tông đã được đặt cho tên đường phố ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. Cụ thể, Mạc Đăng Dung được đặt tên đường ở 9 tỉnh, thành phố như: Đường ở thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; đường ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; đường ở thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, đường ở quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng; đường ở huyện An Phú, Thành phố Hồ Chí Minh… Mạc Đăng Doanh được đặt tên đường cho đường ở quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng và đường ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Vai trò lịch sử của Dương Kinh thời Mạc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lên ngôi, Mạc Thái Tổ chỉ làm vua 3 năm rồi nhường ngôi cho con trưởng là Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh), còn mình về quê hương Cổ Trai làm Thái thượng hoàng và cho xây dựng kinh đô thứ hai là Dương Kinh. Trong nhiều đợt khảo cổ gần đây, tại khu vực thôn Cổ Trai xuất lộ những di vật thời Mạc như thành luỹ, hệ thống hào nước, gốm sứ hoa màu lam, đồ sành, đồ đá, đất nung với những nét hoa văn mang phong cách nghệ thuật điển hình của thế kỷ 16. Ở đây, tại chùa Phúc Linh vẫn còn lại những thành bậc đá kích thước lớn, trang trí cầu kỳ, bố cục tương tự các thành bậc ở điện Lam KinhKính Thiên thời Lê Sơ. Điêu khắc đá thời Mạc tại Dương Kinh có nhiều đề tài chưa từng được thấy tại các nơi khác như tượng Nghê đồng, Quan Âm tọa sơn, Quan Âm Nam Hải, Quan Âm nghìn tay nghìn mắt và bộ tượng Tam Thế.

Theo sử sách, nhằm thực hiện chính sách cải cách kinh tế nông nghiệp, mở mang công thương nghiệp, sản xuất hàng hoá, xây dựng nền kinh tế hướng ra biển, ngoài kinh thành Thăng Long, Mạc Thái Tổ còn tạo dựng sự sầm uất ở Cổ Trai quê hương ông và Dương Kinh, kinh đô thứ hai có vị thế gần biển, sông với nhiều ngả nối liền phố Hiến, Thăng Long. Để Dương Kinh trở thành đô thị ven biển xứ Đông, nhà Mạc cho xây dựng một số thương cảng trên bến dưới thuyền làm nơi giao lưu hàng hoá trong và ngoài nước, từng bước đưa Dương Kinh xưa trở thành đô thị đầu tiên của Hải Phòng, đô thị ven biển đầu tiên của người Việt. GS. Trần Quốc Vượng và một số nhà nghiên cứu từng nhận định rằng, cho tới trước thế kỷ 17, tầm nhìn hướng biển mang tính kinh tế của nhà Mạc (hay cụ thể là của người đã sáng lập ra triều Mạc, tức Mạc Đăng Dung và những vua kế nghiệp ông) là vừa có tầm xa và rộng hơn nhiều so với tất cả các triều đại phong kiến Việt Nam đã tồn tại trước đó.

Định nam đao[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh bảo đao của Mạc Thái Tổ (được gọi là Định Nam đao) còn lưu giữ được xem là bảo đao của Mạc Thái Tổ. Thanh long đao này dài 2,55m, nặng 25,6 kg (theo phán đoán, nếu chưa han gỉ, thanh long đao có thể nặng đến 30 kg)[49]. Năm 2010, thanh long đao này đã được con cháu họ Phạm gốc MạcNam Định đưa về lưu thờ và trưng bày ở Khu tưởng niệm Vương triều Mạc tại xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng (nơi là trung tâm của Dương Kinh thời Mạc ở thế kỷ 16).

Bên cạnh ý kiến của nhà cổ sử học Lê Xuân Quang khẳng định thanh đao này là của Mạc Thái Tổ[49], còn có ý kiến nghi ngờ về điều này. Theo ý kiến nghi ngờ của ông Nguyễn Bá Thanh Long, Phó Chủ tịch Hội cổ vật Hải Phòng, chưa có cơ sở khoa học để khẳng định thanh đao này của Mạc Thái Tổ mà chỉ dựa trên sự truyền tai nhau, trên thanh đao không có minh văn và không có dấu tích vật thể nào để khẳng định. Tiến sĩ Đoàn Hoàng Sơn, Chủ tịch Hội khoa học lịch sử Hải Phòng cho rằng: cần có kết quả giám định mới khẳng định được, không nên chỉ dựa vào truyền ngôn; mặt khác với trọng lượng khoảng 30 kg, thanh đao này mang tính chất biểu tượng hơn là thanh đao chiến trận thực sự của Mạc Thái Tổ, "với sức vóc của người Việt Nam ở thế kỷ 16 thì dù có lực lưỡng cỡ nào cũng không thể mang được nó mà rong ruổi khắp sa trường"[50].

Gia quyến và hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các tác giả bộ sách “Hợp biên thế phả họ Mạc’’ (Nhà xuất bản. Văn hóa Dân tộc, 2001) cho biết: Từ cuối thế kỷ XVI (tức sau khi triều Mạc bị mất, vua cuối cùng nhà Mạc tại kinh đô Thăng LongMạc Mậu Hợp, bị Trịnh Tùng giết chết vào năm 1592) đến nửa cuối thế kỷ XVII (năm 1677), họ Mạc cát cứ ở Cao Bằng cũng bị nhà Lê-Trịnh đánh dẹp, triệt hạ. Do điều kiện chính tri, xã hội thời đó, họ Mạc phải di chuyển nhiều nơi, và thay tên đổi họ thành nhiều họ khác. Theo thống kế của Ban Liên lạc họ Mạc Hà Nội, vào năm 1999, thì con cháu họ Mạc ngày nay có 37 họ với 368 chi ở 25 tỉnh, thành phố. Ngoài ta còn nhiều con cháu họ Mạc hiện nay đang sinh sống ở nước ngoài như: Pháp, Mỹ, Canada, Trung Quốc… Từ một họ đổi ra 37 họ (có thể thống kê chưa đấy đủ), nhưng vẫn có những mật mã, những thông điệp như giữ bộ “ Thảo đầu” (…….) của tên họ như: Phạm, Hoàng, Phan, Tô, Lều…, nếu theo họ mẹ, họ bố nuôi thì giữ tên đệm: Lê Đăng, Đào Đăng, Nguyễn Đăng, Phan Đăng…, về sau có thể đổi là Phúc, là Đình để khỏi bị truy tích…, ngoại trừ theo tên đất như họ Thái v.v… để hậu duệ biết mà tìm nhau, hỗ trợ nhau, phát huy truyền thống của tổ tiên.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tô Ngọc Hằng (2011). Giáo dục, khoa cử thời Mạc từ năm 1527 đến 1592 (Luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử, Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Trường Đại học Vinh).
  • Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
  • Nhiều tác giả (1995), Nhà Mạc và vấn đề nguỵ triều trong sử sách, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
  • Đại Việt sử ký toàn thư
  • Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục
  • Viện Sử học (1996), Vương triều Mạc, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
  • Lê Quý Đôn (1976), Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, dịch giả Ngô Thế Long.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Viện Sử học (2007), sách đã dẫn, tr 511
  2. ^ Ngay trong chiếu nhường ngôi của Lê Cung Hoàng (1527) cho Mạc Đăng Dung có đoạn: “...Khi ấy thiên hạ đã không phải là của nhà ta. Ta không có đức, lạm giữ ngôi trời, việc gánh vác không kham nổi. Mệnh trời lòng người đều theo về người có đức. Xét Thái sư An Hưng Vương Mạc Đăng Dung nhà ngươi, bẩm tính thông minh, sáng suốt, có tài lược văn võ. Bên ngoài đánh dẹp bốn phương, các nơi đều phục tùng; bên trong coi sóc trăm quan, mọi việc đều tốt đẹp. Công to đức lớn, trời cho người theo. Nay ta cân nhắc lẽ phải, nên nhường ngôi cho.” (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Nhà xuất bản. KHXH 1973 tập 4 tr 118)
  3. ^ Bản thân sử gia thời Lê sơ Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư cũng có lời bình: “Đinh Tiên Hoàng nhân nhà Ngô đã mất, mười hai sứ quân cát cứ, mất hết kỷ cương, mà dựng nên nước, cũng chưa lấy gì làm khó. Nhà Lê thay nhà Đinh, nhà Lý thay nhà Lê, nhà Trần thay nhà Lý đều là nối đời thái bình, nhân lúc suy loạn, lại càng dễ lắm. Nói cho cùng, cũng đều chưa khỏi tiếng cướp ngôi...”
  4. ^ Phạm Văn Sơn trong Việt sử toàn thư (1960) nhận định:
    Điều gàn dở của mấy nho thần viết sử đã thiếu lý luận và nhận xét thực tế, cứ luôn luôn đem chữ Trung và Trinh ra đọc như kinh nhật tụng, dậy người ta Trung, Trinh một cách bừa bãi, bất kể trường hợp nào. Nói cách khác, cuộc sống của con người vô cùng phức tạp, mỗi chặng đường đi phải có một lối xử thế riêng, đâu có thể lúc nào cũng Trung và Trinh một cách máy móc, phải chăng cái sở học của thời phong kiến tai hại và lạc hậu là ở chỗ này?
    Tác giả “Nho Giáo” cũng là họ Trần (tức Trần Trọng Kim) đã từng nói đến chữ Trung và chữ Trinh quá thiên về lý thuyết, không nhìn thấy các tội ác của mấy ông “quỷ vương” nhà Hậu Lê nên đã khép Mạc Đăng Dung vào tội nghịch thần.
    Vào thời các vua Tương Dực, Uy Mục, triều đình đã suy đốn, hôn ám, vô đạo, thác sinh đủ mối loạn, trên không ra trên, dưới không ra dưới, nghi ngờ mà giết nhau, hoang mang mà hại nhau, người làm tôi không còn biết đạt chữ Trung vào đâu nữa.
    Xét bản cáo trạng và cả lời luận tội của tác giả “Việt Nam Sử Lược” ta thấy có vẻ dễ dàng và quá giản dị khiến ta ngạc nhiên về lối suy luận của tác giả, một nhà Nho kiêm cả Tân học. Căn cứ vào cuốn sử nào mà Trần Trọng Kim đã hạ những nhát búa quá nặng nề đối với nhà Mạc, một triều đại mà ta không thể phủ nhận tinh thần phục vụ quốc gia của họ? Trên tờ Đời Mới năm 1951 ông Lê Văn Hòe có viết một bài khảo luận khá đầy đủ để minh oan cho Mạc Đăng Dung. Họ Lê đã tỏ ra có công tâm trong vụ này.
    Theo ông Lê thì cả sử Tầu lẫn sử ta đã vô tình hay hữu ý; hữu ý có bề nhiều hơn trong việc miệt thị đối phương. Đó là thói thường của họ, mà gần đây cả các sử gia Âu châu cũng không tránh khỏi thói xấu này. Sử Tầu đã chép hai bà Trưng bị quân Đông Hán bắt được, xin làm tì thiếp không được rồi bị đem về chém ở Lạc Dương, bà Triệu Thị Trinh thì gọi là Triệu Ẩu (chữ Ẩu có nghĩa là mụ, đã phô bầy rõ sự hằn học, cục cằn của sử gia Tầu khi nói đến một nữ anh hùng cách mạng của một địch quốc).
    Sử ta như “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”, “Đại Nam Thực Lục” là những cuốn sử do chúa Trịnh sai chép từ đời Lê Trang Tông đến Gia Tông, đến sử nhà Nguyễn thì lại càng dễ hiểu. Họ Mạc đã thí vua Chiêu Tông, và đầu độc Nguyễn Kim tổ phụ nhà họ Nguyễn, tóm lại nhà Mạc là kẻ thù số một của cả Trịnh lẫn Nguyễn luôn từ năm 1527 đến 1592. Hai bên đều nhúng tay vào máu của nhau khá nhiều thì các sử gia của Trịnh và Nguyễn há dám giữ mực vô tư chăng? Dưới thời quân chủ độc tôn, phong kiến chuyên chế, đa số các nho thần chỉ biết uốn ngòi bút theo giòng tư tưởng của nhà vua, nhà chúa thì ta không lạ gì nếu họ Mạc bị bôi nhọ, và sự nghiệp ngót 150 năm của Mạc triều bị lãng bỏ để lu mờ với thời gian.
  5. ^ Thời kỳ thịnh trị của nhà Mạc cho thấy năng lực trị nước của nhà Mạc không kém nhà Lê. Đời sống nhân dân no đủ, xã hội ổn định, không gây những xáo trộn như khi nhà Hồ thay nhà Trần. Những lực lượng chống đối nhà Mạc chính là những thế lực cũ thân nhà Lê. Theo sử sách, thời Mạc không có một cuộc khởi nghĩa nông dân nào. Điều đó cho thấy nhà Mạc được lòng dân. Sách “Đại Việt thông sử” của Lê Quý Đôn phải thừa nhận Thái Tổ Mạc Đăng Dung "được lòng người hướng về". Sau khi Hiến Tông qua đời, các vua Mạc lên thay đều là ấu chúa, biến loạn trong ngoài rất nhiều nhưng nhà Mạc vẫn đứng vững. Ngoài năng lực của người phụ chính, hẳn phải có nền tảng là sự ủng hộ của nhân dân Bắc Bộ lúc đó. Việc họ Mạc tiếp tục cát cứ tại Cao Bằng, ngoài sự can thiệp của nhà Minh, nếu không được lòng người thì không thể tồn tại tới 80 năm.
  6. ^ Trần Khuê (“Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương triều Mạc”, 1991) nhận định:
    Nhà Mạc là một triều đại đã từng tạo ra được một xã hội ổn định, no ấm, có kỷ cương và pháp luật. Sách Ô châu cận lục có ghi khá cụ thể những cảnh sinh hoạt phồn thịnh của thời kỳ này. Và ngay tác giả Đại Việt sử ký toàn thư (do nhà Lê-Trịnh biên soạn bổ sung ở thế kỷ 17) và Lê Quý Đôn cũng đã ghi nhận: “Mạc có lệnh cấm các xứ trong ngoài người ta không được cầm giáo mác và binh khí hoành hành ở đường sá, ai trái thì cho pháp ty bắt. Từ đó những người đi buôn hán chỉ đi tay không, không phải đem khí giới tự vệ, trong khoảng mấy năm, trộm cướp biệt tăm, súc vật chăn nuôi tối đến không phải dồn vào chuồng, cứ mỗi tháng một lần kiểm điểm thôi. Mấy năm liền được mùa, nhân dân bốn trấn đều được yên ổn”. Tác giả Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi thêm hiện tượng “đường sá không nhặt của rơi, cổng ngoài không cần đóng”.
  7. ^ Trần Khuê (“Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương triều Mạc”, 1991) nhận định:
    Triều Mạc có nhiều cởi mở về tư tưởng và ngôn luận. Nghiên cứu một loạt bản sớ tấu và một số cuộc đàm thoại giữa vua và đình thần, một số cuộc tranh luận giữa các đại thần nhà Mạc, tôi thấy dưới triều Mạc có sự cởi mở khá rộng rãi về mặt tư tưởng ngôn luận.
    Đặc biệt có sự phê phán chỉ đích danh từng đại thần. Đáng kinh ngạc là sự phê phán cả nhà vua. Đọc mấy hàng sớ của Lại bộ thượng thư Nghĩa Sơn bá Trần Văn Nghi cũng tạm hình dung được cái không khí đấu tranh tư tưởng trong triều đình nhà Mạc mạnh mẽ nhường nào: “Những tờ sớ của các vị đình thần trước sau đã tâu bày, đều nói thẳng những sự sai lầm, có thể như những liều thuốc hay rất đáng cứu xét tu tỉnh. Bệ hạ đã ban chỉ dụ khen ngợi, mà vẫn chưa thấy mở rộng lượng theo lời can gián (…) Không biết đó có phải do ý định của bệ hạ mà tạo ra tình trạng đó hay là hoặc có kẻ làm mờ ám thông minh, lừa dối bệ hạ chăng?
    Những việc như thế rất trái với đường lối trị nước. Cho nên thể thống triều đình ngày càng rối lọan, những lời công luận, ngày càng bế tắc”.
    Hàng loạt sớ nói năng thẳng thắn theo kiểu ấy mà lạ thay vua Mạc không hề hạ lệnh tống giam hoặc giết bỏ một ai.
    Tóm lại, có thể nói không quá đáng rằng: nhà Mạc là một vương triều chẳng có gì xấu hơn các vương triều khác và nó cũng tốt chẳng kém bất kỳ vương triều “chính thống” nào trong lịch sử dân tộc. Riêng về những nét độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc thì hầu như ít có vương triều sau này sánh nổi.
    Do đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng 6 con trai ông và rất nhiều nhân tài khác (có một số là cựu thần nhà Lê) tình nguyện và tận tụy phụng sự vương triều Mạc tưởng cũng chẳng có gì khó hiểu. Tất cả đều đóng góp vào một giai đoạn phát triển của dân tộc về mọi lĩnh vực, nhất là lĩnh vực kinh tế và văn hóa. Giai đoạn này tương ứng với giai đoạn phát triển của một số nước ở châu Âu sau dó khoảng nửa thế kỷ. Riêng về sự thất hại của nhà Mạc, tôi sẽ lý giải trong một dịp khác.
    Chỉ xin nói ngay một điều: đó là sự thất bại nằm trong sự thất bại của tầng lớp thương nhân Việt Nam bắt đầu tính từ thời nhà Hồ, qua nhà Mạc, nhà Tây Sơn, cho đến tận nhà Nguyễn với cuộc đàn áp khốc liệt, dẫm máu của vua Minh Mệnh đối với cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi trên đất Gia Định vốn có một nền kinh tế hàng hóa phát triển. Sự thắng thế của các tập đoàn quý tộc quan liêu và ý thức hệ tiểu nông đã nhiều phen cản trở sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, đồng thời tạo ra những thảm họa cho đất nước và dân tộc.
  8. ^ GS. Nguyễn Huệ Chi (Bước đầu suy nghĩ về văn học thời Mạc) đã khái quát: “Một trong những đặc điểm nổi bật của văn học thời Mạc là thời đại này đã bước đầu xây dựng nên hình tượng con người tự do. Ở thời đại Lê sơ vì lực hút của triều đình phong kiến, Nho giáo độc tôn mạnh, nên gần như hút về tâm là quỹ đạo chủ đạo. Đến một Nguyễn Trãi vĩ đại là thế mà khi bị ruồng rẫy về Côn Sơn bao giờ lòng cũng đau đáu nghĩ đến vương triều, hễ được vời ra thì ra lại ngay. Đến thế kỷ XVIII lại có một hiện tượng ngược lại là người ta bỏ chạy khỏi triều đình, bỏ chạy để về sống ẩn, chỉ có mình với mình. Đây là thời đại ly tâm. Vào thời đại Mạc thế kỷ XVI thì khác, người ta không bị hút về tâm nữa nhưng cũng không hẳn ly tâm, nhờ đó tạo nên chính sự tự chủ cho người thức giả. Mình muốn ra thì ra, muốn về thì về, biểu trưng rõ nhất là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nguyễn Bỉnh Khiêm ra thi với Mạc rồi sau 7 năm, thấy cần phải xuất thế ông bèn chủ động rút lui, bấy giờ Mạc vẫn chưa suy thoái. Về một thời gian ông lại ra giúp. Chính phong thái ung dung chủ động kia đã tạo nên tiếng nói tự do, tự tại trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và thơ văn của rất nhiều người như Nguyễn Hãng, Nguyễn Dữ… Dòng mạch tư duy tự do tự tại quy tụ nên hình tượng con người không bị lệ thuộc trăm phần trăm vào quyền lực nữa mà ít hay nhiều đã là con người giải thoát. Cần phải thừa nhận rằng trong cái nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có một phương diện gọi là tự tại. Nhàn ở đây không là ẩn, chưa phải xã hội thối nát đến mức mình không thể chấp nhận nổi mà trở về chăm nom vài luống cúc, hoặc lẩn trốn vào cửa thiền, hoặc tìm quên trong thú vui cần câu, chén rượu. Nhàn, bởi mình cảm thấy phải làm chủ cuộc sống của mình, cho nên tự mình trở về an nhàn nghỉ ngơi. Nhưng khi nhà Mạc kêu gọi đi đánh bọn phản loạn thì Nguyễn lại hăng hái ra giúp. Nhàn trong trường hợp này là nhàn tự tại. Nhàn tự tại chính là nét khác với nhàn ở nhiều thời đại khác là thứ nhàn chỉ muốn lánh đục, lánh triều đình, “dũng thoái”. Nhàn tự tại không cố chấp mà hồn nhiên hơn.”
  9. ^ Trần Khuê (“Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương triều Mạc”, 1991) nhận định:
    Dưới vương triều Mạc, nhiều ngành nghệ thuật phát triển rực rỡ và độc đáo. Hầu hết các chùa đổ nát đều được trùng tu và các chùa Tây Phương, Phổ Minh đã đánh dấu một nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ khá tài hoa độc đáo. Tượng bà chúa Mạc ở chùa Phổ Minh và các pho tượng La Hán chùa Tây Phương là những công trình nghệ thuật đậm đà màu sắc dân tộc. Đặc biệt là gốm thời Mạc lại ghi khắc cả niên hiệu, nơi sản xuất và tên nghệ nhân. Ghi tên tác giả trên tác phẩm gốm có lẽ là một hiện tượng hiếm thấy trong lịch sử sáng tác gốm ở nước ta và thế giới. Đó là một hiện tượng cực kỳ độc đáo và lý thú đáng được nhiều ngành khoa học và nghệ thuật quan tâm nghiên cứu. Dưới thời nhà Mạc, nghệ thuật kiến trúc lâu đài và thành lũy cũng có nhiều vẻ độc đáo không nên bỏ qua.
  10. ^ Trong bài viết “Bước đầu suy nghĩ về văn học thời Mạc”, GS. Nguyễn Huệ Chi có những phân tích: “Nhìn trong xu thế chung, văn học Việt Nam có một yêu cầu nội tại để tạo nên bước nhảy vọt thật sự kể từ thế kỷ XVI trở đi, dấu mốc nhảy vọt ấy rơi đúng vào văn học triều đại Mạc. Đây là cái ngẫu nhiên mà cũng là cái tất yếu của lịch sử. Thời đại Lê sơ là đỉnh cao của độc tôn Nho giáo và thể chế quân chủ tập trung, phải chọn một vị vua làm biểu tượng để cho dân tôn thờ, thần thánh hóa, đặc điểm chung của văn học bởi vậy là hướng thượng. Phải quay nhìn lên ông vua và lấy ông vua làm hình mẫu, đem cảm hứng “vua sáng tôi hiền” kết nối thành động lực sáng tác. Đến triều đại Mạc, sau bao nhiêu chặng “vua quỷ”, “vua lợn” của triều Lê sơ làm người ta chán nản, tự nhiên hình tượng cao quý là các ông vua bị lu mờ, bị hạ thấp từ trong tiềm thức. Và cảm hứng “thần thánh hóa” đấng minh quân mất dần chỗ đứng. Người ta không còn hào hứng ngẩng lên, “hướng thượng” trong sáng tác của mình. Tình trạng này gây ra một phản ứng trái ngược trong vô thức: người sáng tác bắt đầu từ chỗ nhìn lên nay quay nhìn trở xuống. Và khi nhìn xuống hạ dân thì một thế giới khác chợt hiện rõ trong tầm mắt. Họ bỗng nhìn thấy con người với bao nhiêu sự phức tạp, thánh thiện có mà tầm thường cũng có, ở chính đối tượng gần gũi nhất với mình ấy. Con người được phơi bày với những dục vọng, toan tính, những nét thấp hèn và cao cả, những tình cảm riêng tư, cá nhân. Đó chính là một phát hiện lớn của văn học thời Mạc, mở đầu cho một dòng văn học chạm chân vào hiện thực. Văn học thay đổi chức năng mà không tự biết: nó mô tả xã hội dưới góc nhìn đời tư và đời thường.
    Trước đây, thông qua tiêu chí “cái cao cả”, nhà văn nhìn xã hội dầu không muốn cũng như được đánh bóng lên, được ước lệ hóa, công thức hóa, mỹ hóa thành một xã hội vàng son song trừu tượng, đâu cũng như nhau. Nhưng bây giờ nhìn vào khía cạnh đời tư đời thường thì cũng xã hội ấy lại hiện ra dưới muôn hình vạn trạng... Đó là cả một xã hội phức tạp. Nó không thuần nhất là xã hội nông nghiệp nữa mà bắt đầu có buôn bán, có thủ công, có làm giàu, và có đủ thứ lục đục xoay quanh nó, có cuộc đấu tranh giữa quyền lực và không có quyền lực, giữa ham muốn và bất lực. Không loại trừ cuộc đấu tranh muôn thuở về đạo đức giữa cái thiện và cái ác. Một xã hội phong phú hơn nhiều so với bức tranh xã hội thời Lê sơ mà văn học để lại.
    Tính quy định vẻ đẹp tức là cái sắc màu sống thực của thời đại này phản chiếu trong văn học, thể hiện tiêu biểu ở tập truyện “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ cũng chuyển cả sang thơ, làm cho thơ ca mang một phương thức tư duy mới. Trước đây, thơ là thơ trữ tình. Thơ bây giờ cũng là thơ trữ tình nhưng là trữ tình - lý trí. Nó rời bỏ tư duy cảm tính bước sang địa hạt tư duy lý tính. Và hướng cái nhìn vào xã hội, ấy là tư duy thế sự. Thơ trở nên có tính phát hiện hiện thực rất sắc mà cây bút tiêu biểu là Nguyễn Bỉnh Khiêm... Chúng ta thấy phong cách tư duy nghệ thuật của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khác Nguyễn Trãi. Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn sâu vào các ngóc ngách của xã hội để nhận diện bức tranh phức tạp của xã hội. Bức tranh ấy diễn ra một cách tự nhiên bởi nó là bức tranh xã hội có thực... Do cái nhìn thế sự, cái nhìn khám phá tâm lý sâu sắc, do xã hội phức tạp, có công, có thương, buôn bán phát triển, nên văn học nhìn thấy tiếng va xiết của đồng tiền. Đây chính là giai đoạn bắt đầu nói đến vai trò của đồng tiền.”
  11. ^ GS. Trần Lâm Biền (“Nhà Mạc, nhìn từ di sản văn hóa”) nhận định: “Chỉ tới khi nhà Mạc lật đổ được nhà Lê sơ (lúc đó đã mục ruỗng cùng cực, có thể coi là một cuộc cách mạng; với những chính sách tự do hơn rất nhiều, đã như tạo nên một sự bùng nổ, tạo đà cho “văn hóa dân gian” phát triển. Ở lĩnh vực mỹ thuật, điều trước hết phải thấy rằng, thời Mạc đã tạo nên một nền nghệ thuật tạo hình khác so với thời Lý, Trần và cũng khác cả nền mỹ thuật nặng tính áp chế của thời Lê sơ...có nghĩa nó không theo phong cách Ấn, cũng không theo Trung Hoa, tuy rằng, nó vẫn có đôi nét kế thừa tinh hoa của hai nền nghệ thuật này (sau khi đã được Việt hóa hoàn toàn). Mỹ thuật thời Mạc, cũng như triều đại Mạc, đều là “sản phẩm” của hoàn cảnh lịch sử ở thế kỷ XVI, sự xuất hiện này đã như là một lẽ tất yếu, mặt nào là sự cưỡng lại của ý thức dân tộc, dân dã trước xu hướng áp chế dựa trên tư tưởng Nho giáo của nhà Lê sơ – thời kỳ mà nền văn hóa nghệ thuật bị rơi vào tình trạng khá khô cằn. Nhà Lê sơ đã không nắm được nét khác biệt cơ bản về hạ tầng cơ sở của xã hội Việt và Trung Hoa, nhưng vẫn úp lên đầu người dân một thể chế không phù hợp, nên dần dần đã tạo nên một sự “bức bối” cho hệ ý thức xã hội, dẫn tới cuộc “đảo chính” của nhà Mạc. Từ đây, xã hội Việt chuyển sang một “trang” mới, dù cho về cơ bản vẫn là chế độ quân chủ chuyên chế Nho giáo. Nhà Mạc đã xóa bỏ nhiều cấm đoán khắt khe của nhà Lê sơ, Phật giáo và nhất là Đạo giáo dân gian được thở trong bầu không khí khá thoáng...
    Nhìn chung, cho đến nay, chúng ta chưa đủ điều kiện để phát hiện đầy đủ về mỹ thuật thời Mạc, nên khó có thể khẳng định về bất kể điều gì liên quan tới nền nghệ thuật này. Chúng tôi mong, phần viết trên chỉ mang tư cách là vài gợi mở bước đầu, với một ước vọng đặt vấn đề, cần phải quan tâm sâu hơn tới giai đoạn mỹ thuật có tính bản lề này – Và, mới ở những nhát cuốc đầu tiên, chúng tôi tạm có thể yên tâm mà nói rằng: Thực sự đã có một nền mỹ thuật Mạc riêng. Nền mỹ thuật này đậm tính nhân bản, biểu hiện nhiều yếu tố tự do, phản ánh được một số vấn đề của lịch sử, cho phép chúng ta vượt qua hình thức thể hiện của nó, để suy ngẫm rộng hơn về một vài khía cạnh thuộc kinh tế - xã hội, về luồng nội thương ở đất Bắc đã trở nên khá sinh động (tượng Quan Âm, cầu ngói, chợ búa, gốm thương mại...)”
  12. ^ Phan Cẩm Thượng trong bài viết “Nghệ thuật tạo hình thời Mạc: Vẻ đẹp của hình khối” nhận định: “Trong nền nghệ thuật Việt Nam, nghệ thuật thời Mạc (1527-1592) chiếm một vị thế rất riêng, có phong cách khác hẳn với tính nhịp điệu truyền thống của sáng tạo Việt Nam trước và sau đó. Nghệ thuật thời Mạc, cách đây gần 500 năm, nổi lên với phong cách tạo hình súc tích, có tính module, có sự đơn giản và quy về khối cơ bản, khiến người ta không khỏi ngạc nhiên về xúc cảm gần gũi với design công nghiệp hiện đại.”
  13. ^ Tô Ngọc Hằng (2011). Giáo dục, khoa cử thời Mạc từ năm 1527 đến 1592 (Luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử, Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Trường Đại học Vinh).
  14. ^ Nhận định chung về nhà Mạc, nhà nghiên cứu Trần Khuê (Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và vương triều Mạc, Trung tâm nghiên cứu Hán-Nôm, 1991) đã viết: “Tóm lại, có thể nói không quá đáng rằng: nhà Mạc là một vương triều chẳng có gì xấu hơn các vương triều khác và nó cũng tốt chẳng kém bất kỳ vương triều “chính thống” nào trong lịch sử dân tộc. Riêng về những nét độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc thì hầu như ít có vương triều sau này sánh nổi.”
  15. ^ GS. Trần Quốc Vượng cho rằng: “Hành động “đầu hàng” của nhà Mạc do Minh sử chép là một sự phóng đại để khoe khoang, hành động ấy vua Lê sau này cũng lặp lại gần nguyên xi thì lại không bị sử gia nhà Lê nêu lên để phê phán. Đó (việc làm của vua Mạc) chẳng qua là một hành động “tượng trưng”, (quàng dây lụa vào cổ, không phải là tự trói), một sự “nhún mình” (cũng có thể nói là hơi quá đáng) của một nước nhỏ đối với nước lớn trong điều kiện tương quan chính trị ngày xưa (và nên nhớ lúc ấy Mạc Đăng Dung đã thôi ngôi được 10 năm rồi và là một ông già sắp chết (từ Nam quan trở về được mấy tháng thì ông qua đời), ông già này gánh nhục cho con, cho cháu và cho cả nước mà cứ bị mang tiếng mãi!). Tất cả ứng xử của Mạc với Minh cũng chỉ nằm trong một chiến lược ngoại giao hằng xuyên của Việt nhỏ Hoa lớn “thần phục giả vờ, độc lập thực sự” (Vassalité fidive, Indépendance réelle). Mà thực sự ở thời Mạc không có bóng một tên xâm lược nào trên đất nước ta, quan bảo hộ, dù hình thức như chức “Đạt lỗ hoa xích” ở Thăng Long triều Trần cũng không. Thế tại sao người này thì khen là khôn khéo, người khác lại chê là hèn hạ?” (trích bài “Mấy vấn đề về nhà Mạc” trong cuốn “Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử”, Nhà xuất bản. KHXH, HN, 1996)
  16. ^ Trong bài “Một chút cơ duyên với họ Mạc” (trong sách Hợp biên thế phả họ Mạc do Nhà xuất bản. Văn hóa Dân tộc xuất bản năm 2001) Giáo sư Trần Quốc Vượng đã có những nhận xét mang tính tổng quan về vai trò lịch sử của thời đại nhà Mạc trong dòng chảy chung của lịch sử Việt Nam:
    Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (đỗ Trạng đầu thời Mạc 1533, thời cuối Lê không chịu đi thi) cũng như người bạn vong niên thân thiết của ông Trạng nguyên Giáp Hải-với bài thơ “Vịnh bèo” nổi tiếng của ông đối đáp với tướng Mao Bá Ôn nhà Minh-là hai vị Trạng nguyên sáng giá nhất của triều Mạc và của mọi thời đại Việt Nam. Không lẽ một ngụy triều tồi tệ lại sản sinh ra những hiền tài-nguyên khí quốc gia? Không lẽ thời Mạc “tồi tệ” ấy lại để lại cho đến nay những cái đình (Tây Đằng, Thụy Phiêu, Thanh Lũng, Thổ Hà, Tường Phiêu, Đinh Là…), các chùa quán (Hội Linh, Bối Khê, Trăm Gian…) với các điêu khắc gỗ tinh tế đầy bản sắc dân tộc-dân gian, các tượng chân dung hiện thực vào loại đầu tiên của nền mĩ thuật dân gian, không lẽ dưới một vương triều, đế triều “bán đất”, “đầu hàng” mà lại phát triển công thương dường ấy?.
  17. ^ Viện Sử học (1996), sách đã dẫn, tr 232
  18. ^ Viện Sử học (1996), sách đã dẫn, tr 233
  19. ^ a ă Viện Sử học (1996), sách đã dẫn, tr 235
  20. ^ Viện Sử học (1996), sách đã dẫn, tr 237
  21. ^ Viện Sử học (1996), sách đã dẫn, tr 232-233
  22. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 254
  23. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 255
  24. ^ Nay là Thất Khê, Lạng Sơn
  25. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 15
  26. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 260
  27. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 259
  28. ^ [http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/dvsktt/dvsktt20b.html Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyền 15
  29. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 261
  30. ^ [http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/dvsktt/dvsktt20b.html Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyền 15
  31. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 262
  32. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 263
  33. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 263
  34. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 27
  35. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 27
  36. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 264
  37. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 27
  38. ^ Nhiều tác giả, sách đã dẫn, tr 34
  39. ^ Viện Sử học (2007), sách đã dẫn, tr 448-449
  40. ^ Nhiều tác giả, sách đã dẫn, tr 98
  41. ^ Huệ Thiên, “Mạc Đăng Dung có dâng đất cho nhà Minh hay không?”, Báo nguyệt san Kiến thức ngày nay, phụ san của tạp chí Văn, Hội nhà văn thành phố Hồ chí Minh, số 70, ra ngày 15/10/1991
  42. ^ Viện Sử học (2007), sách đã dẫn, tr 448
  43. ^ Nhiều tác giả, sách đã dẫn, tr 93
  44. ^ Trích bài “Mấy vấn đề về nhà Mạc” trong cuốn “Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử”, Nhà xuất bản. KHXH, HN, 1996
  45. ^ Trước khi mất, Phò mã Đô uý Thái phó Đà quốc công Mạc Ngọc Liễn đã đưa thư khuyên Mạc Kính Cung (vua nhà Mạc thời hậu kỳ) rằng:
    Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Dân ta là người vô tội mà khiến để phải mắc nạn binh đao, ai nỡ lòng nào! Chúng ta nên lánh ra ở nước khác, nuôi dưỡng uy lực, chịu khuất đợi thời, chờ khi nào mệnh trời trở lại mới làm được, chứ không thể lấy lực chọi với lực. Khi hai con hổ tranh nhau, tất phải có một con bị thương, không có ích gì cho công việc. Nếu thấy quân họ đến đây thì chúng ta nên tránh đi, chớ có đánh nhau với họ, cốt phòng thủ cẩn thận là chính; lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng.
    GS. Trần Gia Phụng (“Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử”) có những lời bình luận:
    Đây không phải lời nói suông trong cảnh trà dư tửu hậu, nhưng đây là tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn cùng cực vì mất nước. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, hào hùng như vó ngựa tổ tiên, nhưng ít khi được đọc những dặn dò như Mạc Ngọc Liễn, nhân bản, đầy tình tự dân tộc không khác gì lời ru êm ái trong những câu ca dao mộc mạc. Điểm quan trọng nhất là con cháu nhà Mạc đã không kêu nài van xin người Minh đem quan sang đánh nước ta giống như nhà Lê đã làm. Họ chỉ yêu cầu nhà Minh can thiệp cho họ về sinh sống đất Cao Bằng. Chính họ đã góp công phát triển Cao Bằng, tạo thế đoàn kết kinh thượng và biến Cao Bằng thành một vùng biên giới vững chắc để chống lại Trung Hoa. Công trạng nầy tuy không rực rỡ như đường về phương nam của chúa Nguyễn, nhưng sử sách cũng không thể quên tuyên dương họ Mạc.
    Trần Khuê (“Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và vương triều Mạc”, 1991) cũng bình luận:
    Giá như mọi thứ Mạt Trần, Mạt Lê, Mạt Nguyễn… đều biết suy nghĩ như thế! Và chẳng lẽ một lời nói đẹp như vậy không đáng được nhắc lại để con cháu chúng ta ngẫm nghĩ hay sao? Và chẳng lẽ những lời nói đẹp tương tự đã vang lên dưới các triều vua Mạc lại không đáng được đưa vào sách giáo khoa hay sao?!
  46. ^ Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Bộ Giáo dục - Trung tâm học liệu xuất bản, tr.229
  47. ^ (Ngô Đăng Lợi: Chính sách ngoại giao nhà Mạc, bài học lịch sử giá trị, trong sách Kỷ yếu Hội thảo khoa học Vương triều Mạc trong Lịch sử Việt Nam, H, 9 - 2010, tr.218.)
  48. ^ (Phan Huy Chú: Bang giao chí, (bản dịch), Nhà xuất bản Sử học, 1961)
  49. ^ a ă Bí ẩn đại long đao 500 tuổi của vua Mạc ở Hải Phòng
  50. ^ Đại đao 500 năm tuổi của Mạc Đăng Dung - đâu là sự thật?

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]