Mạc Kính Quang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Mạc Kính Quang
莫敬光
Vua Việt Nam
Hoàng đế Đại Việt (nhà Mạc thời hậu kỳ)
Tại vị1681 - 1683
Tiền nhiệmMạc Kính Hẻ
Kế nhiệmTriều đại sụp đổ
Thông tin chung
Hậu duệkhông rõ
Tên đầy đủMạc Kính Quang
Mạc Kính Tiêu
Mạc Kính Hoảng
Thụy hiệuThiên Địa Đại Bảo Văn Vũ Độ Đại vương
Miếu hiệuĐức Tông
Sinh?
Mất1683

Mạc Kính Quang (莫敬光)[1] hay Mạc Kính Tiêu (莫敬蕭) hoặc Mạc Kính Hoảng (莫敬晃), là vị vua cuối cùng của Nhà Mạc thời hậu kỳ. Nguyên quán Mạc Kính Quang là người xã Cao Đôi, huyện Bình Hà (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Tuy nhiên, ông không được nhắc đến trong sử sách Việt Nam.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Các tài liệu Việt Nam không nói đến nhân vật này, theo sử nhà Thanh ghi chép thì Mạc Kính Quang là em Mạc Kính Hẻ (tức Mạc Nguyên Thanh) và là con Mạc Kính Diệu (tức Mạc Kính Vũ).[2] Tháng 6 năm 1661, Thanh Thánh Tổ phong Mạc Kính Diệu chức Quy Hoá tướng quân, đến tháng 12 cùng năm thì phong Mạc Nguyên Thanh chức An Nam đô thống sứ. Cổ sử Việt Nam có nhắc đến việc năm 1683 nhà Thanh trao trả tộc thuộc họ Mạc đứng đầu là Mạc Kính Liêu, sau đó tất cả những người này đều được tha tội, cuối năm đó sứ thần nhà Thanh mang chiếu chỉ sắc phong cho vua Lê Hy Tông làm An Nam quốc vương.[3]

Vua vô danh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Mạc Kính Hẻ (tức Mạc Quý Tông) bị quân - Trịnh đánh bại, các dư đảng nhà Mạc tôn em trai là Mạc Kính Quang lên làm vua. Ông sai sứ sang nhà Thanh cầu phong, được Hoàng đế Khang Hy phong làm An Nam Đô thống sứ.[2]

Mất nước[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy nhiên Kính Quang lại không đặt niên hiệu cho thời kỳ cai trị của mình. Vào thời kỳ này, quân Lê - Trịnh liên tục đánh lên Cao Bằng với quyết tâm "diệt Mạc". Nhưng lúc ấy (1682), chính sự Lê - Trịnh thay đổi. Trịnh Tạc mất, con là Trịnh Căn lên thay. Vừa lên ngôi chúa, Trịnh Căn đã đem đại quân đánh mạnh vào quân Mạc. Quân Mạc đại bại, Mạc Kính Quang phải chạy sang Miến Điện lưu vong.

Uống thuốc độc tự sát[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chạy sang Miến Điện, cùng đường, Kính Quang đành uống thuốc độc tự sát (1683), được đặt thụy hiệu là Thiên Địa Đại Bảo Văn Vũ Độ Đại vương, miếu hiệu là Đức Tông[cần dẫn nguồn]. Tộc thuộc gồm 350 người bị nhà Thanh trao trả cho phía Lê - Trịnh. Nhà Mạc từ đây mới chấm dứt hoàn toàn.[4]

Các dư đảng nhà Mạc còn lại[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Mạc Kính Quang tự sát, nhà Thanh tha tội cho các dư đảng nhà Mạc, đứng đầu là Mạc Kính Liêu, về An Nam. Sau thời Mạc, họ sống rải rác ở vùng Cao Bằng và một phần Lạng Sơn, nơi trước đây nhà Mạc đã phải lánh lên tiếp tục chống lại nhà Lê sau cái chết của Mạc Mậu HợpMạc Toàn.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Mạc Kính Quang lên ngôi khi nhà Mạc tàn vong, chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa. Ngôi vị không vững vàng, liên tục bị - Trịnh lên đánh, cuối cùng mất nước mà tự sát. Không có tài cán nên dĩ nhiên chuyện diệt vong là không thể tránh khỏi.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mạc Kính Quang và Mạc Kính Hẻ là hai vị vua cuối cùng của nhà Mạc, tuy nhiên vì là vua không chính thức nên chỉ được truy tôn thụy hiệu là Đại vương chứ không phải Hoàng đế như các vua trước và cũng không nắm đủ quyền lực trung hưng nhà Mạc.
  2. ^ a ă Thanh sử cảo, Việt Nam truyện.
  3. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Chính biên quyển 34
  4. ^ Chú thích "di" bài Vua Việt Nam.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]