Mạc Hiến Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mạc Hiến Tông
莫憲宗
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Hoàng đế Đại Việt
Trị vì 15401546
Tiền nhiệm Mạc Thái Tông
Thái thượng hoàng Mạc Thái Tổ
Kế nhiệm Mạc Tuyên Tông
Thông tin chung
Tên thật Mạc Phúc Hải (莫福海)
Mạc Đức Nguyên
Niên hiệu Quang Hòa
Thụy hiệu Hiển hoàng đế
Miếu hiệu Hiến Tông (憲宗)
Triều đại Nhà Mạc
Thân phụ Mạc Thái Tông
Mất 1546
Trung Quốc

Mạc Hiến Tông (chữ Hán: 莫憲宗, ? – 1546) là vị Hoàng đế thứ ba của nhà Mạc trong lịch sử Việt Nam, ở ngôi từ năm 1540 đến 1546. Ông tên thật là Mạc Phúc Hải (莫福海), là người xã Cao Đôi, huyện Bình Hà (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách), tỉnh Hải Dương, Việt Nam.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mạc Phúc Hải là con trưởng của Mạc Thái Tông. Ông còn có tên là Đức Nguyên, được ông nội là Mạc Đăng Dung lập lên ngôi tháng 2 năm Canh tý (1540) sau khi vua cha mất. Ông lấy niên hiệu là Quang Hòa năm thứ nhất.

Chống Nam triều[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1543, Lê Trang Tông đích thân đem quân đánh Bắc triều, Tổng trấn Thanh Hoa Trung hầu Dương Chấp Nhất dẫn quân ra hàng Trang Tông, Trang Tông lấy lại được Tây Đô.

Tháng 5 năm 1545 Trang Tông lại đích thân kéo quân ra Yên Mô - Ninh Bình, lúc này Dương Chấp Nhất lại phản lại Trang Tông, bỏ thuốc độc giết Nguyễn Kim rồi trở về với Mạc Phúc Hải. Đại tướng bị giết, Trang Tông phải lui binh. Thừa cơ Mạc Hiến Tông đuổi đánh Lê Trang Tông. Lúc này Trang Tông thăng Trịnh Kiểm lên chức Tiết chế được độc quyền nắm giữ quyền binh để chống lại nhà Mạc.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian làm vua, Mạc Hiến Tông cho đúc tiền Quảng Hòa thông bảo. Ông tiếp tục có những cải cách tiến bộ: công cấp điền địa và cũng coi trọng nghề văn. Trong 6 năm ông đã cho mở hai khoa thi để kén chọn hiền tài, Nguyễn Kỳ đỗ thủ khoa thi 1541, Vũ Khúc đỗ đầu khoa thi năm 1544.

Mạc Hiến Tông lâm bệnh mất ngày 8 tháng 5 năm 1546. Ông ở ngôi được 6 năm. Con ông là Mạc Phúc Nguyên lên nối ngôi, tức là Mạc Tuyên Tông.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Mạc Hiến Tông có 6 người em trai là: Ninh vương Mạc Phúc Tư, Khiêm vương Mạc Kính Điển, Mạc Lý Tường, Mạc Lý Hoà, Mạc Hiệp Cung, Ứng vương Mạc Đôn Nhượng.

Các nhà nghiên cứu căn cứ các văn bia thời Mạc xác định Mạc Hiến Tông có một hoàng hậu còn sống tới năm 1579 và là thái hoàng thái hậu thời Mạc Mậu Hợp[1]

  • Con

Không rõ ông có bao nhiêu con, nhưng chỉ biết ông có một người con trai là Mạc Tuyên Tông

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Niên hiệu[2] Chữ Hán Dương lịch

1. Quảng Hòa (năm thứ nhất - năm thứ 7)

廣和

(1540-1546)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 138
  2. ^ Bảng tra niên hiệu các triều vua Việt Nam