Miếu hiệu
Bài viết hoặc đoạn này cần người am hiểu về chủ đề này trợ giúp biên tập mở rộng hoặc cải thiện. |
Bài viết này là một bản dịch thô từ ngôn ngữ khác. Đây có thể là kết quả của máy tính hoặc của người chưa thông thạo dịch thuật. |
Bài viết này dường như không có đủ nguồn tham khảo để chứng minh độ nổi bật. Tuy nhiên, một biên tập viên đã thực hiện tìm kiếm và xác định có đủ nguồn để chỉ ra rằng chủ đề này đủ nổi bật. |
| Miếu hiệu | |||||||
| Tên tiếng Trung | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Phồn thể | 廟號 | ||||||
| Giản thể | 庙号 | ||||||
| |||||||
| Tên tiếng Việt | |||||||
| Chữ Quốc ngữ | Miếu hiệu | ||||||
| Chữ Hán | 諡號 | ||||||
| Tên tiếng Triều Tiên | |||||||
| Hangul | |||||||
| Hanja | 廟號 | ||||||
| |||||||
Miếu hiệu (chữ Hán: 廟號) là những tên hiệu dùng trong tông miếu dành cho các vị quân chủ sau khi họ đã qua đời, là một dạng kính bái hiệu khá đặc trưng của nền Đông Á, gồm Trung Quốc, Triều Tiên, và Việt Nam. Riêng trường hợp Nhật Bản, các Thiên hoàng tại nước này không có truyền thống dùng miếu hiệu dù hy hữu vẫn có Thiên Hoàng Kenzo với tên gọi là Hiển Tông.
Khái niệm
[sửa | sửa mã nguồn]Miếu hiệu được cho là có nguồn gốc từ triều đại nhà Thương. Vì lý do tôn giáo, quản lý và chính trị. Trong một triều đại có nhiều đời vua nên đã tạo ra Miếu hiệu giải quyết bằng một hệ thống tên hiệu ngắn có biểu tượng. Để dễ xác định đối tượng khi thực hiện các nghi lễ, và nhằm mục đích chính trị là hợp phức hoá quyền lực của mình bằng việc truyền ngôi và chuỗi nhận ngôi hợp pháp liên tục.
Đây cũng là một phần nguyên do mà đến thời Chu đã tạo ra thuyết thiên mệnh nhằm vượt qua chính danh huyết thống cũng như đề phòng dòng vua tồi tệ không thể tiếp tục.
Sau khi vị quân chủ qua đời, vị quân chủ nối ngôi và quan thần cùng thảo luận để tôn viết trên bài vị, và trên các bài văn tế đọc trong các dịp giỗ chạp. Đặc điểm cơ bản của miếu hiệu là nó thường có một trong hai chữ: Tổ (祖) hoặc Tông (宗), đi trước thường là một tính từ mang tính miêu tả hoặc biểu tượng.[1]
Miếu hiệu thường ngắn, chỉ có 1 tính từ đi với Tổ hoặc Tông cùng với tên của dòng tông đó, trong khi thụy hiệu có thể từ ngắn một vài chữ. Song cũng có thể rất dài, lên hàng chục chữ.
Các trường hợp
[sửa | sửa mã nguồn]Người sáng lập triều đại thường có miếu hiệu bằng chữ Tổ như Cao Tổ,[2] hoặc Thái Tổ [3], hay Thế Tổ,[4] và Liệt Tổ.[5] Cũng có trường hợp một số vua không phải là vua sáng lập triều đại, nhưng được coi là có công lớn ngang với vị sáng lập, cũng được đặt miếu hiệu bằng chữ Tổ như Minh Thành Tổ ở Trung Quốc, Nguyễn Thánh Tổ và Nguyễn Hiến Tổ ở Việt Nam.
Riêng trường hợp nhà Trần ở Việt Nam, có vị hoàng đế đầu tiên là Trần Cảnh, nhưng khi đó cha là Thái thượng hoàng Trần Thừa vẫn còn sống, do đó miếu hiệu của Trần Thừa là Thái Tổ, còn Trần Cảnh là Thái Tông.
Các vị vua mất nước thường không được đặt miếu hiệu mà chỉ có thụy hiệu,[6] hoặc không có cả hai.[7]
Nhiều miếu hiệu được các hậu duệ đặt cho tổ tiên khi chỉ là dân thường hoặc không phải là quân chủ,[8] một số có những vị vua mất nước lúc đó không còn dòng tông để truy tôn miếu hiệu nhưng có thể người đời sau truy tôn.
Hy hữu có một miếu hiệu trên hai tính từ và ba âm tiết là Trung Hưng Tổ, do hậu duệ đời sau đặt cho những người có công khôi phục lại cơ nghiệp hoặc đất nước của tổ tiên hoặc dân tộc đã bị suy thoái. Miếu hiệu này không nhất thiết phải do một quân chủ cụ thể truy tôn.[9]
Quy trình
[sửa | sửa mã nguồn]Hàn Quốc
[sửa | sửa mã nguồn]Vào thời nhà Triều Tiên, miếu hiệu được quyết định như sau:
Sau khi một vị vua qua đời, vị vua kế vị sẽ cùng các đại thần thảo luận và đưa ra quyết định cuối cùng. Trong quá trình này, cùng với miếu hiệu còn có thụy hiệu, tôn hiệu, và tên lăng. Tất cả được ban bố cùng một lúc. Trình tự qua Hội nghị Tân đình (빈청회의) cho quan từ chính nhị phẩm trở lên, nội dung các đại thần trình bày ý kiến về miếu hiệu, thụy hiệu và tôn hiệu, các quan sẽ chọn 3 phương án. Ba đại thần cao nhất: Lĩnh nghị chính (영의정) Tả nghị chính (좌의정) Hữu nghị chính (우의정). Sẽ chọn ra 3 phương án miếu hiệu là: Thủ vọng,[10] Phó vọng,[11] và Mạt vọng.[12] Tổng gọi là “Tam vọng đơn tử”
Sau đó sẽ tới quyết định của vua, nếu đồng ý sẽ lên phương án để phê chuẩn, nếu không hài lòng, yêu cầu đại thần bàn lại. Sau cùng sẽ công bố miếu hiệu và thụy hiệu được chính thức.[13]
Việt Nam
[sửa | sửa mã nguồn]Triều đại đầu tiên dùng miếu hiệu là nhà Tiền Lê, tuy nhiên không đặt thụy hiệu và hệ thống miếu hiệu chưa hoàn chỉnh.
Hệ thống miếu hiệu hoàn chỉnh bắt đầu từ thời nhà Lý, được nhà Tống phong từ Giao Chỉ quận vương lên An Nam quốc vương từ đó, xác lập mô hình ngoại vương nội đế và hoàn chỉnh hoá miếu hiệu cho các vua, các triều đại Việt Nam khi xây tông miếu thì tên miếu được đặt theo chữ trong miếu hiệu ví dụ Trần Thái Tổ thờ tại Thái Miếu, Thế Tổ thời tại Thế Miếu,[14] Thể hiện mối liên hệ trực tiếp giữa miếu hiệu và không gian thờ tự.[15] Riêng đứt đoạn ở nhà Hồ, khôi phục lại ở nhà Hậu Lê và tiếp tục cho đến hết thời nhà Nguyễn. Trường hợp nhà Nguyễn. Bối cảnh Họ Nguyễn từng cai trị phần Đàng trong cho đến bị nhà Tây Sơn tiêu diệt, người sống sót là Nguyễn Phúc Ánh tái dựng lại triều đại và khôi phục lại truy tôn cho tổ tiên, vua Gia Long: truy tôn các đời chúa Nguyễn trước thành hoàng đế. Nguyễn Hoàng được tôn là Thái Tổ, Nguyễn Kim tôn thành Triệu Tổ. Cha của Gia Long là Nguyễn Phúc Luân được đặt miếu hiệu Hưng Tổ. Đến thời Minh Mạng tôn Gia Long là Thế Tổ.[13]
Biến đổi và lạm dụng
[sửa | sửa mã nguồn]Về sau, khi Thụy pháp[16] mất đi ý nghĩa cụ thể và nguyên tắc ban đầu, Miếu hiệu cũng không còn giữ được chức năng nguyên bản của nó. Thông thường, thụy hiệu được xác định dựa trên Thụy pháp giải (諡法解) do Chu Công Đán biên soạn trong Chu lễ, nhưng về sau các nho sĩ đã bổ sung cách diễn giải mang tính chủ quan, khiến cùng một thụy hiệu có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Hơn nữa, kể từ đề nghị của Thái Ung vào thời Đông Hán,[17] khiến hoặc giảm vị quân chủ đời sau nào của triều đại sau dám tước bỏ miếu hiệu của thế hệ cũ vì cho rằng công sức và phẩm chất của họ không đủ.
Theo thụy pháp do Chu Công Đán đặt ra, chữ đứng trước trong miếu hiệu phản ánh triều đại và hành trạng của quân chủ. Tùy theo công phẩm mà có thể nhận được các chữ Thụy tốt hoặc xấu. Tuy nhiên, nhằm duy trì tính chính danh, các quân chủ kế vị và đại thần thường không dám đánh giá nghiêm ngặt công trạng của người đời trước, dẫn đến việc sử dụng hoặc lạm dụng phổ biến các chữ Thụy mang ý nghĩa tốt.[18]
Một trong những biểu hiện sớm của sự lạm dụng miếu hiệu là việc truy tôn cho các cá nhân trước triều đại, bao gồm cả tổ tiên ở quá khứ xa xôi đến mức khó xác định rõ hệ thống gia phả. Trong thời Đường, các quan lại đã truy tôn Cao Dao — một nhân vật tận thời Tam Hoàng Ngũ Đế là Đức Minh Hoàng Đế.[19] Đồng thời Đường Huyền Tông vào năm 743[20] đã truy tôn Lão Tử, người sáng lập Đạo giáo với miếu hiệu Đại Thánh Tổ.[21] Tương tự, thời Tống, dựa trên truyền thuyết Đạo giáo về việc thần nhân Triệu Huyền Lang giáng thế giúp lập dựng họ Triệu, năm 1012 Tống Chân Tông truy tôn ông với miếu hiệu Thánh Tổ.[22] Những trường hợp này cho thấy các hoàng đế thời Đường và Tống đã kết hợp Đạo giáo với chế độ tông pháp nhằm đề cao uy quyền của Đạo giáo.
Trung Quốc
[sửa | sửa mã nguồn]Theo thời gian, số lượng miếu hiệu có chữ “Tổ” (祖) ngày càng gia tăng.
”Tổ” thường chỉ được truy tôn cho tổ tiên của các nhà khai quốc quân chủ, còn việc ban cho quân chủ trong dòng chỉ áp dụng cho những người có công lao tương đương việc khai quốc hoặc thống nhất quốc gia. Ví dụ là Hán Quang Vũ Đế, người phục hưng nhà Hán sau Tây Hán, được ban miếu hiệu Thế Tổ. Về sau, ngay cả trong Trung Quốc, việc phong “Tổ” cũng dần trở nên phổ biến hơn: vua Minh Thế Tông đã cải miếu hiệu của Minh Thành Tổ từ Thái Tông thành Thành Tổ. Đến nhà Thanh, ngoài người khai quốc là Hoàng Thái Cực (Thái Tổ), có hai hoàng đế được ban chữ “Tổ” là Thuận Trị (Thế Tổ) — người hoàn tất việc chinh phục đại lục, và Khang Hy (Thánh Tổ) – người củng cố và đưa quốc gia vào thời kỳ thịnh trị.
Tuy nhiên, trong các thời kỳ loạn lạc không phải là triều đại thống nhất, hiện tượng lạm dụng chữ “Tổ” xảy ra phổ biến. Thời Tam Quốc, nước Ngụy có ba đời Tào Tháo, Tào Phi và Tào Duệ đều được ban miếu hiệu có chữ “Tổ”. Tương tự, trong thời Nam Bắc triều và Ngũ Đại Thập Quốc, nhiều nước có từ hai quân chủ trở lên được ban chữ “Tổ”. Trong số đó, Bắc Ngụy là quốc gia có nhiều hoàng đế tại vị được ban chữ “Tổ” nhất, với bốn người gồm Đạo Vũ Đế (Thái Tổ), Thái Vũ Đế (Thế Tổ), Hiến Văn Đế (Hiển Tổ) và Hiếu Văn Đế (Cao Tổ).
Hàn Quốc
[sửa | sửa mã nguồn]Chủ yếu dưới thời nhà Triều Tiên, miếu hiệu có chữ “Tổ” cũng được sử dụng với tần suất rất cao. Tổng cộng có 13 trường hợp được ban chữ “Tổ”, bao gồm Triền Tiên Thái Tổ, cả bốn đời tổ tiên của ông, cùng các vua như Triều Tiên Thế Tổ, Triên Tiên Tuyên Tổ, Triều Tiên Nhân Tổ, Triều Tiên Anh Tổ, Triều Tiên Trang Tổ, Triều Tiên Chính Tổ, Triều Tiên Thuần Tổ và Triều Tiên Văn Tổ. Nếu loại trừ các trường hợp truy tôn không phải quân chủ tại vị, thì trong số 27 vị vua, có 7 vị được ban chữ “Tổ”.
Trong nhà Triều Tiên, ban đầu có bốn vị vua không được ban miếu hiệu: Cung Định Vương, Nô Sơn Quân, Yên Sơn Quân và Quang Hải Quân. Đến thời Triều Tiên Túc Tông, Cung Định Vương[23] và Nô Sơn Quần[24] lần lượt được truy tôn miếu hiệu, chỉ còn Yên Sơn Quân và Quang Hải Quân không có miếu hiệu. Một số học giả Hàn Quốc như Im Min-hyeok cho rằng sau Chiến tranh Nhâm Thìn, đã có nhiều trường hợp nâng “Tông” thành “Tổ”.
Việt Nam
[sửa | sửa mã nguồn]Việc lạm dụng miếu hiệu có chữ “Tổ” gần như toàn diện trong hệ thống là các Chúa Trịnh, khi mọi Chúa trong triều điều có miếu hiệu là “Tổ” như: Trịnh Thánh Tổ, Trịnh Hoằng Tổ, Trịnh Thế Tổ, Trịnh Dụ Tổ.. Trong tổng số 13 vị chúa, tất cả điều có miếu hiệu “Tổ”, vì Chúa Trịnh không xưng đế nhưng tự nhận là phò Lê, để tạo dòng triều đình song song với nhà Hậu Lê, và đối phó với Chúa Nguyễn ở phía nam. Với nhà Nguyễn, cũng họ truy tôn các Chúa Nguyễn.
Mặc dù vậy nhà Hậu Lê không truy tôn miếu hiệu nào cho nhà Tiền Lê.
Điều này cũng phản ánh nỗ lực củng cố tính chính danh. Các quân chủ về sau ban miếu hiệu nhằm vừa tôn vinh tiền vương vừa khẳng định chính danh của bản thân, đây cũng là cách mà Nhà Thương tạo chính danh tồn tại hơn 600 năm dù có nhiều vị vua tệ.
Về sau, một số quân chủ như Tự Đức, còn lựa chọn miếu hiệu dựa trên chữ thuỵ mà bản thân ưa thích. Ví dụ như Duệ Tông, Minh Tông và Anh Tổ đều nhiều lần, bày tỏ mong muốn có các chữ “Duệ”, “Minh”, “Anh” trong thụy hiệu hoặc miếu hiệu, các đời quân chủ sau do đó thường tôn trọng ý nguyện này và lựa chọn các chữ tương ứng. Trường hợp Tự Đức khi ông đã để lại di chiếu mong con truy tôn mình là Dực Tông, sau đó ông được truy tôn là Thành Tổ và tới thời Kiến Phúc mới đổi lại. Hiện tượng này phản ánh bối cảnh chính trị – xã hội, dẫn đến sự thay đổi trong nhận thức về hai khái niệm “Tổ” và “Tông”.
Danh sách miếu hiệu
[sửa | sửa mã nguồn]Lưu ý có một số miếu hiệu hiếm hoặc định sẵn nhưng chưa dùng. Danh sách miếu hiệu liệt kê theo thứ tự chữ cái. Kèm theo tên của các nhân vật Việt Nam mang Miếu hiệu đó:
theo Tổ (祖)
[sửa | sửa mã nguồn]Trên hai từ:
A:
C:
D:
H:
- Hi Tổ: Trịnh Hy Tổ
- Hiến Tổ: Nguyễn Hiến Tổ
- Hiển Tổ: Tiền Lê Hiển Tổ & Hậu Lê Hiển Tổ
- Huyền Tổ
- Hưng Tổ: Trịnh Lâu & Nguyễn Hưng Tổ
- Huệ Tổ
- Hoằng Tổ: Mạc Hoằng Tổ & Trịnh Hoằng Tổ
- Hoài Tổ
I/Y:
K:
L:
M:
N:
- Nghĩa Tổ
- Nghiêm Tổ
- Nghị Tổ: Trịnh Nghị Tổ & Nguyễn Nghị Tổ
- Nghệ Tổ
- Nhân Tổ
- Nguyên Tổ: Trần Nguyên Tổ
- Ninh Tổ
Q:
- Quốc Tổ: Đại Ngu Quốc Tổ (tự xưng)
- Quang Tổ: Mạc Quang Tổ
T:
- Thái Tổ: Lý Thái Tổ, Trần Thái Tổ, Lê Thái Tổ, Mạc Thái Tổ, Tây Sơn Thái Tổ Nguyễn Thái Tổ.
- Thần Tổ
- Thế Tổ: Trịnh Thế Tổ & Nguyễn Thế Tổ
- Thành Tổ: Trịnh Thành Tổ & Nguyễn Thành Tổ (sau Kiến Phúc đổi về Dực Tông)
- Thánh Tổ: Trịnh Thánh Tổ & Nguyễn Thánh Tổ
- Thủy Tổ: Mạc Thuỷ Tổ
- Triệu Tổ: Trịnh Triệu Tổ & Nguyễn Triệu Tổ.
- Trang Tổ
- Tuyên Tổ: Nguyễn Tuyên Tổ
- Túc Tổ
- Tĩnh Tổ
U:
V:
theo Tông (宗)
[sửa | sửa mã nguồn]A:
B:
C:
- Cao Tông: Lý Cao Tông
- Cảnh Tông: Mạc Cảnh Tông, Nguyễn Cảnh Tông
- Cung Tông: Nguyễn Cung Tông
- Chiêu Tông: Lê Chiêu Tông
- Chính Tông
- Chương Tông
- Chân Tông: Lê Chân Tông
D:
- Dụ Tông: Trần Dụ Tông, Lê Dụ Tông
- Duệ Tông: Trần Duệ Tông, Nguyễn Duệ Tông
- Dực Tông: Nguyễn Dực Tông
- Đức Tông: Lê Đức Tông, Mạc Đức Tông
- Đái Tông
- Đại Tông: Mạc Đại Tông
- Đạo Tông
- Đăng Tông
- Đoan Tông
- Độ Tông
- Định Tông
G:
H:
- Huệ Tông: Lý Huệ Tông
- Huy Tông: Trần Huy Tông
- Huyền Tông: Lê Huyền Tông
- Hựu Tông
- Hiếu Tông: Lê Hiếu Tông
- Hiến Tông: Trần Hiến Tông, Lê Hiến Tông, Mạc Hiến Tông
- Hiển Tông: Lê Hiển Tông, Nguyễn Hiển Tông
- Hy Tông: Lê Hy Tông, Nguyễn Hy Tông
- Hoài Tông
- Hoàn Tông
- Hoằng Tông: Nguyễn Hoằng Tổ
I/Y:
K:
L:
M:
- Minh Tông: Trần Minh Tông, Mạc Minh Tông, Lê Minh Tông
- Mục Tông: Mạc Mục Tông
- Mẫn Tông: Mạc Mẫn Tông
N:
- Nhân Tông: Lý Nhân Tông, Trần Nhân Tông, Lê Nhân Tông
- Nghệ Tông: Trần Nghệ Tông
- Nghĩa Tông
- Nguyên Tông
- Ninh Tông
Q:
S:
T:
- Thái Tông: Lý Thái Tông, Trần Thái Tông, Lê Thái Tông, Mạc Thái Tông, Nguyễn Thái Tông
- Thành Tông
- Thánh Tông: Lý Thánh Tông, Trần Thánh Tông, Lê Thánh Tông
- Thần Tông: Lý Thần Tông, Lê Thần Tông, Nguyễn Thần Tông
- Thế Tông: Lê Thế Tông, Nguyễn Thế Tông
- Thiệu Tông
- Thống Tông
- Thuần Tông: Lê Thuần Tông
- Thuận Tông: Trần Thuận Tông
- Trang Tông: Lê Trang Tông
- Trung Tông: Lê Trung Tông & Lê Trung Tông
- Triết Tông
- Trinh Tông
- Tuyên Tông: Mạc Tuyên Tông
- Túc Tông: Lê Túc Tông, Nguyễn Túc Tông
- Tương Tông
- Tư Tông
- Tĩnh Tông
U:
V:
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Như: Thái (vĩ đại) Cao (cao quý) Anh (tuấn tú) Minh (sáng suốt)..
- ↑ như Hán Cao Tổ, Đường Cao Tổ.
- ↑ như Lý Thái Tổ, Trần Thái Tổ Lê Thái Tổ,
- ↑ như Nguyễn Thế Tổ
- ↑ như Hán Chiêu Liệt Tổ
- ↑ như Lê Mẫn Đế, Liêu Thiên Tộ Đế..
- ↑ như Nguyễn Quang Toản
- ↑ như: Chu Thuỷ Tổ của nhà Chu Tiền Lê Hiển Tổ Lê Lộ Hậu Lê Hiển Tổ Lê Đinh và Đặng Triệu Tổ
- ↑ Gồm những người: Khổng thị Trung Hưng Tổ, Mạnh thị Trung Hưng Tổ, Ngô Quyền, Lê Lợi và Hồ Chí Minh.
- ↑ phương án ưu tiên nhất
- ↑ phương án thứ hai
- ↑ phương án cuối
- 1 2 "묘호", 위키백과, 우리 모두의 백과사전 (bằng tiếng Hàn), ngày 14 tháng 3 năm 2026, truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2026
- ↑ Thờ các vua Nhà Nguyễn nói chung
- ↑ Trung Học Cơ Sở Lê Lợi. "Điều cần biết về danh xưng của các vị vua Việt Nam". thcsleloiq3.hcm.edu.vn. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2026.
- ↑ Mục: Các chữ Thuỵ hiệu (Thuỵ pháp giải).
- ↑ Không có nguyên văn đầy đủ. Chỉ có các phục dựng rằng: 「先帝廟號,不可輕議廢改。」 Hoặc 「廟號既定,後世不宜以功過輕議廢之。」 Có thể hiểu là: “không nên tước bỏ Thuỵ hiệu/Miếu của các tiên hoàng đế dù công đức của họ có thể không đủ”.
- ↑ Thiện thụy
- ↑ "前代帝王-唐会要全文原文及译文-识典古籍". www.shidianguji.com. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2026.
- ↑ Thiên Bảo năm thứ 2.
- ↑ Winn, Michael. "Quanzhen Daoism and Dragon Gate: History of Monasteries, Lineages, and Ordinations". Healing Tao USA (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "TAOISM-TAO CHARM". taocharm.com. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2026.
- ↑ Triều Tiên Thái Tông
- ↑ Triều Tiên Đoan Tông
- ↑ Danh sách miếu hiệu: "庙号", 维基百科,自由的百科全书 (bằng tiếng Trung), ngày 27 tháng 2 năm 2026, truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2026