Lê Thái Tổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Thái Tổ
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Le Loi statue.JPG
Tượng đài Lê Lợi tại Thành phố Thanh Hóa
Hoàng đế nhà Hậu Lê
Trị vì 14281433
Tiền nhiệm Sáng lập triều đại
Kế nhiệm Lê Thái Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Cung Từ Cao hoàng hậu
Hậu duệ
Tên húy Lê Lợi
Niên hiệu Thuận Thiên
Thụy hiệu Thống Thiên Khải Vận Thánh Đức Thần Công Duệ Văn Anh Vũ Khoan Minh Dũng Trí Hoàng Nghĩa Chí Minh Đại Hiếu Cao Hoàng đế
Miếu hiệu Thái Tổ
Triều đại Nhà Hậu Lê
Thân phụ Lê Khoáng
Thân mẫu Trịnh Ngọc Thương
Sinh 10 tháng 9, 1383/85[1]
Lam Sơn
Mất 5 tháng 9, 1433
Đông Kinh, Đại Việt
An táng Vĩnh Lăng

Lê Thái Tổ (10 tháng 9, 1385[2] - 5 tháng 9, 1433), tên thật là Lê Lợi , là người khởi xướng khởi nghĩa Lam Sơn chiến thắng quân đội chiếm đóng nhà Minh, giành lại độc lập cho nước Đại Việt và trở thành vị vua sáng lập của nhà Hậu Lê.

Ông ở ngôi trong 6 năm (1428 - 1433), đặt niên hiệu Thuận Thiên . Là người sáng lập ra triều đại, ông được ca ngợi khi đánh đuổi được nhà Minh, xây dựng lại khoa cử, luật lệ, chế tác lễ nhạc, thu thập lại sách vở, mở mang trường học... tạo nên một triều đại Hậu Lê huy hoàng trong lịch sử. Tuy nhiên, sự đa nghi của ông là chỗ kém, khi đã giết chết đại công thần Trần Nguyên HãnPhạm Văn Xảo.[3][4]

Lê Thái Tổ cũng là nhân vật trong truyền thuyết Hồ Gươm, một sự tích nổi tiếng trong dân gian Việt Nam, kể lại quá trình ông có được thanh kiếm thần, tương truyền được thần nhân ban xuống để giúp ông chống lại quân đội nhà Minh.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Trước kia, cụ của Lê Lợi là Lê Hối , đi chơi Lam Sơn, thấy đàn chim bay lượn quanh chân núi, như hình ảnh nhiều người tụ họp, cho là đất tốt, bèn dời nhà đến ở đấy. Sau 3 năm thì thành sản nghiệp. Từ đó, họ Lê đời đời làm quân trưởng một phương.

Lê Hối sinh ra Lê Đinh, nối được nghiệp nhà, có tới hơn 1 nghìn tôi tớ, lấy vợ là Nguyễn Quách, sinh được hai người con trai, con cả là Lê Tòng, con thứ là Lê Khoáng . Lê Khoáng lấy vợ người Chủ Sơn (Chủ Sơn nay là Thủy Chú)[5] là Trịnh Ngọc Thương, sinh được 3 người con trai, trong đó Lê Lợi là con thứ 3.

Lê Lợi sinh vào giờ tý ngày 6 tháng 8 năm Ất Sửu, tức ngày 10 tháng 9 năm 1385 đời nhà Trần. Đại Việt sử ký toàn thư mô tả ông là người "thiên tư tuấn tú khác thường, thần sắc tinh anh kỳ vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai có một nốt ruồi, tiếng nói như chuông, dáng đi tựa rồng, nhịp bước như hồ"[6].

Bối cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Lợi lớn lên giữa lúc nước Đại Việt có nhiều biến động. Năm ông 16 tuổi (1400), ngoại thích nhà Trần là Hồ Quý Ly sau nhiều năm nắm quyền đã truất ngôi của Trần Thiếu Đế, tự lên làm Hoàng đế, lấy quốc hiệu là Đại Ngu, lập nên nhà Hồ.

Triều đình nhà Minh vốn rất muốn xâm lăng Đại Ngu, đã nhân cơ hội Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần để đưa quân tràn vào đất Việt năm 1406. Hồ Quý Ly liên tục thất bại và đến tháng 6 năm 1407 thì bị bắt cùng các con trai là Hồ Nguyên TrừngHồ Hán Thương. Nhà Hồ sụp đổ.

Nhà Minh thực hiện chính sách xóa bỏ nền văn minh Đại Việt thời nhà Lýnhà Trần bằng các cách như đốt, phá và chở về Yên Kinh tất cả các loại sách, văn bia có nói về dân Việt, của dân Việt tạo lập, thiến hoạn đàn ông người Việt; dùng chính lệnh ngặt nghèo, thi hành hình phạt tàn ác, cấm muối mắm, nâng sưu thuế, bắt nộp sản vật. Ngoài ra họ còn dời dân chúng đi xa, đắp 10 tòa thành khắp nước, chia quân đóng giữ, nhằm dễ bề cai trị và trấn áp những cuộc nổi dậy của người Việt. Những hành động đó làm người Việt căm giận[7][8].

Ngay sau khi nhà Minh chiếm đóng, tông thất nhà Trần là Trần NgỗiTrần Quý Khoáng đã khởi binh dựng lại nhà Hậu Trần. Lê Lợi thấy họ không có thực lực nên không theo mà ẩn náu trong vùng Lam Sơn, chiêu nạp kẻ sĩ. Nhà Minh biết tiếng ông, đã trao cho chức quan để dụ theo, nhưng ông không chịu khuất phục[9]. Đến năm 1414 thì nhà Hậu Trần hoàn toàn bị quân Minh đánh bại.

Khởi nghĩa Lam Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Khởi nghĩa Lam Sơn

Năm 1416, Lê Lợi đã cùng các hào kiệt cùng thề ở Lũng Nhai nguyện đánh quân Minh cứu nước. Thổ quan người Việt phục vụ cho nhà Minh là Lương Nhữ Hốt biết Lê Lợi có chí lớn bèn báo cho quân Minh. Bị quân Minh bức bách, Lê Lợi quyết định dấy binh khởi nghĩa. Lê Lợi từng nói rằng:

Mùa xuân năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt, đồng chí hướng như Phạm Vấn, Lê Văn An, Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Ngân, Nguyễn Trãi[10]... tất cả 50 tướng văn và tướng võ (trong đó có 19 người đã từng kết nghĩa anh em nguyện cùng chí hướng với nhau ở hội thề Lũng Nhai, năm 1416), chính thức phất cờ khởi nghĩa (khởi nghĩa Lam Sơn).

Sách Lam Sơn thực lục chép rằng:

[11]

Ông tự xưng là Bình Định vương , kêu gọi dân chúng hào trưởng trong vùng tham gia khởi nghĩa, giành lấy chính quyền Đại Việt.

Thời kỳ gian nan ở vùng núi Thanh Hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian đầu, lực lượng của quân Lam Sơn chỉ có vài ngàn người, lương thực thiếu thốn, thường chỉ thắng được vài trận nhỏ và hay bị quân Minh đánh bại. Hoạt động trong thời này chủ yếu ở vùng núi Thanh Hóa. Có những lúc Lê Lợi và quân Lam Sơn phải trốn chạy[12].

Ngày mồng 9 tháng giêng năm 1418, tướng nhà Minh là Mã Kỳ đem đại quân tới Lam Sơn, Lê Lợi lui quân tới Lạc Thủy đặt quân mai phục để chờ giặc. Mã Kỳ dẫn tới ngày 13, vua sai quân mai phục đổ ra đánh, Lê Thạch cùng các tướng Đinh Bồ, Lê Ngân, Lê Lý...dẫn đầu xông vào trận giặc, chém được hơn 3.000 thủ cấp, thu được hàng ngàn quân tư, khí giới, rồi dời quân đến núi Chí Linh.[13][14]

Ba ngày sau, tên phản bội Ái dẫn quân Minh theo lối tắt đánh úp nghĩa quân. Chúng bắt được vợ, con, gia quyến của Lê Lợi, tinh thần nghĩa quân chán nản bỏ đi, chỉ có Lê Lễ, Lê Vấn, Lê Bí, Lê Xí, Lê Đạp theo Lê Lợi vào ẩn náu ở núi Chí Linh. Nghĩa quân tuyệt lương hơn 2 tháng, quân Minh lui quân, Lê Lợi trở về thu lại được tàn quân hơn 100 người, đắp lũy ở Lam Sơn cố thủ, phủ dụ quân lính, ước thúc cơ đội, sửa sang khí giới, nghĩa quân Lam Sơn lại mạnh lên.[15][16]

Quân Minh cậy mạnh, tướng Minh Lý Bân đưa quân vào đất hiểm để bức bách nghĩa quân, Lê Lợi đặt quân phục ở xứ Vấn mang, dùng tên thuốc bắn, quân Minh rút lui. Lê Lợi cho quân tiến tới xứ Ninh mang, quân Minh giao tranh thiệt hại, lui về xã Bả-lạc-thượng. Lê Lợi lại tiến quân tới trại Hà-đả, hằng ngày khiêu chiến. Quân Minh ở vững trong trại không ra. Hôm sau, quân Minh lại giao chiến với nghĩa quân ở xứ Mỹ-mỹ. Nghĩa quân bắt được tướng chỉ huy của giặc là Nguyễn Sao, và chém được hơn nghìn đầu.[17]

Lực lượng của Lê Lợi ban đầu ít ỏi, bị quân Minh đánh bại, phải chạy vào Mường Một, sau đó đến Trịnh Cao, giáp biên giới Ai Lao. Sau đó Lê Lợi đóng ở Mường Cốc trong núi Chí Linh, khi hết lương bị quân Minh vây hãm. Lê Lợi hỏi mọi người: "Có ai dám bắt chước Kỷ Tín ngày xưa không?"[18].

Lúc ấy chỉ có Lê Lai nhận lời, đem quân ra khiêu chiến, quân Minh xúm lại bắt được, tưởng là Lê Lợi, xử tử Lê Lai tàn ác và lui quân. Lê Lợi và các tướng lĩnh khác được thoát.

Ngày mồng 9 tháng 4 năm 1418[18], tướng nhà Minh là Mã Kỳ đem đại quân tới Lam Sơn, Lê Lợi lui quân tới Lạc Thủy đặt quân mai phục để chờ quân địch.[19]. Mã Kỳ dẫn tới ngày 13, Lê Lợi sai quân mai phục đổ ra đánh, Lê Thạch cùng các tướng Đinh Bồ, Lê Ngân, Lê Lý... dẫn đầu xông vào trận, chém được hơn 3.000 quân minh, thu được hàng ngàn quân tư, khí giới rồi dời quân đến núi Chí Linh[20].

Ba ngày sau, một người phản lại Lê Lợi là Ái dẫn quân Minh đến đào trộm xương cốt của cha Lê Lợi là Lê Khoáng và ép ông phải đến hàng. Lê Lợi mật sai Trịnh Khả và Bùi Bị nửa đêm lẻn đi lấy lại được. Sau đó Ái lại dẫn quân Minh theo lối tắt đánh úp nghĩa quân, bắt được vợ, con, gia quyến của Lê Lợi và các tướng sĩ. Tinh thần nghĩa quân chán nản, nhiều người bỏ đi. Lê Lợi cùng Đinh Lễ, Phạm Vấn, Đỗ Bí, Nguyễn Xí, Lê Đạp vào ẩn náu ở núi Chí Linh. Sau hơn 2 tháng, quân Minh lui quân, Lê Lợi trở về thu lại được tàn quân hơn 100 người, đắp lũy ở Lam Sơn cố thủ, phủ dụ quân lính.

Tướng Minh Lý Bân đưa quân vào đất hiểm để bức bách nghĩa quân, Lê Lợi đặt quân phục ở xứ Vấn mang, dùng tên thuốc bắn, quân Minh rút lui. Lê Lợi cho quân tiến tới xứ Ninh mang, quân Minh giao tranh thiệt hại, lui về xã Bả Lạc Thượng. Lê Lợi lại tiến quân tới trại Hà Đả, hằng ngày khiêu chiến. Quân Minh ở trong trại không ra.

Hôm sau, hai bên giao chiến ở Nga Lạc, quân Lam Sơn bắt được tướng Minh là Nguyễn Sao và chém được hơn 300 quân Minh[20].

Năm 1419, Lê Lợi tận dụng thời cơ quân Minh lui quân, cho tu tạo thành lũy, sửa chữa khí giới, vỗ về quân sĩ.

Tháng 10 năm 1420, quân Minh tiến đánh nghĩa quân Lam Sơn, Lê Lợi cho quân mai phục ở bến Bổng, đánh thắng, thu hơn 100 con ngựa. Lê Lợi cho quân nghỉ ở Mường Nanh, sau dời quân đóng ở Mường Thôi.[19]

Lý Bân, Phương Chính được Đồng tri châu Quỳ Châu là Cầm Lạn dẫn đường, kéo 10 vạn đại quân tới, theo đường từ Quỳ Châu tới Mường Thôi. Lê Lợi sai Lê Triệu, Lê Lý, Lê Vấn đem quân phục ở xứ Bồ Mộng để phục đánh tiền quân nhà Minh. Quân Minh đến, nghĩa quân Lam Sơn đổ ra đánh, quân Minh tan vỡ, nghĩa quân giết 300 quân Minh.

Đại quân Minh tiến gần tới dinh Lê Lợi đóng, Lê Lợi sai quân mai phục ở chỗ hiểm yếu. Ngày hôm sau, Lê Lợi tung quân ra đánh, quân Minh đại bại ở xứ Bồ Thi Lang, bị mất hơn 1000 quân, Lý Bân, Phương Chính chỉ chạy thoát được thân mình. Nghĩa quân truy sát đến 6 ngày đêm mới dẫn quân trở về.

Tận dụng thời cơ, Lê Lợi tiến quân đóng ở trại Ba Lẫm thuộc Lỗi Giang, quân Minh không dám khiêu chiến. Tướng nhà minh là Tạ Phượng, Hoàng Thành tui binh về Nga Lạc, rồi lại về giữ Quan Du, Tây đô cố thủ. Lê Lợi sai tướng Lam Sơn là Lê Hào, Lê Sát đánh trại Quan Du, chém hơn nghìn người.

Chiến thắng Thi Lang là trận đánh mang tính bước ngoặt với nghĩa quân Lam Sơn, trước nay nghĩa quân dù thắng cũng phải rút chạy, nay đánh bại 10 vạn quân địch, thừa thế đuổi theo, lập chiến tuyến ở Lỗi Giang, dòm ngó Tây Đô. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng từ đó thế giặc ngày một suy. Lê Lợi nhân cơ hội đó mộ binh, chiêu tập nhân dân các xứ, các huyện bên cạnh đều hưởng ứng.

Ngày 20 tháng 11 năm 1421, tướng nhà Minh là Trần Trí thu quân các vệ Giao Châu cùng ngụy binh, hơn 10 vạn quân tiến tới chiến tuyễn Lỗi Giang. Lê Lợi cho rằng:

Lê Lợi chia quân tập kích doanh trại quân Minh vào ban đêm, phá 4 trại, chém hơn 1000 người. Trần Trí không nản, đem quân phá núi, mở đường tiến đánh nghĩa quân, Lê Lợi sai quân phục ở đèo Ống, đánh bại Trần Trí, khiến Trí rút binh.

Đánh bại quân Ai Lao[sửa | sửa mã nguồn]

Quân Ai Lao đem 3 vạn quân, 100 thớt voi thình lình đến doanh trại nghĩa quân Lam Sơn, phao tin là hợp sức cùng nghĩa quân đánh quân Minh. Lê Lợi chấp thuận, quân Ai Lao nửa đêm đánh úp nghĩa quân. Lê Lợi đích thân đốc chiến, đánh tan quân Ai Lao, chém 1 vạn người, bắt 14 con voi, truy kích 4 ngày đêm đến tận sào huyệt quân Ai Lao rồi sẫn quân trở về đóng quân ở Sách Thủy. Từ trưởng Ai Lao là Mãn sát xin giảng hòa, Lê Lợi cho đó là kế gian, các tướng cố xin hòa, Bình chương Lê Thạch tiến đánh nhưng trúng phải chông ngầm mà chết.

Trận Sách Khôi[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2, năm 1422, viên tướng nhà Minh là Lý Bân bệnh mà chết. Tháng 12 năm 1422, quân Minh và quân Ai Lao tiến đánh nghĩa quân ở Trại Quan Da, do bị đánh cả 2 mặt, nghĩa quân nhiều người chết và bị thương. Lê Lợi rút quân về Sách Khôi, 7 ngày sau quân Minh tiến tới. Lê Lợi nói với các quân sĩ

Nói xong chảy nước mắt, quân sĩ xúc động, tranh nhau xin chết. Lê Lĩnh, Phạm Vấn, Lê Hào, Lê Triện xông lên trước, chém tướng nhà Minh là Phùng Quý và hơn 1000 người, bắt được 100 con ngựa. Quân Minh đại bại, Mã Kỳ, Trần Trí thoát thân chạy về Đông Quan, quân Ai Lao tan vỡ.

Giảng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau trận Sách Khôi, Lê Lợi thu quân về núi Chí Linh, nghĩa quân thiếu lương 2 tháng, phải đẵn măng rừng, rau, củ để ăn, nhiều người bỏ trốn. Lê Lợi bắt chém viên tướng trốn đi tên Khanh, việc quân mới tạm an ổn. Do chinh chiến nhiều ngày, tướng sĩ mệt mỏi Lê Lợi chấp thuận hòa hoãn với quân Minh, sai Lê Vận, Lê Trăn đi giảng hòa, quân Minh chấp thuận. Ngày 14, tháng 4, năm Quí Mão (1423), Lê Lợi lui quân về Lam Sơn. Tham tướng Trần Trí, nội quan Sơn Thọ đem nhiều cá, muối, thóc giống, nông cụ tặng nghĩa quân, Lê Lợi tặng vàng, bạc đáp lễ, nhưng vẫn bí mật phòng bị. Quân Minh cho rằng không khuất phục được Lê Lợi, bèn bắt giữ bọn sứ giả Lê Trăn không cho về. Lê Lợi cắt đứt giảng hòa, tướng sĩ căm thù, thê liều quyết chiến. Mùa thu, tháng 7, năm 1423, vua Minh Thành Tổ chết, thái tử Cao Xí lên ngôi lấy niên hiệu Hồng Hy.

Tiến vào Nghệ An[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 20 tháng 9 năm 1423, Lê Lợi hỏi mọi người rằng:

Thiếu úy Nguyễn Chích đáp:

Lê Lợi nghe theo, tiến quân vào Nghệ An. Ngày 20 tháng 9 năm 1424, Lê Lợi chia quân đánh úp thành Đa Căng, phá được thành này, quân Minh bị giết và chết đuối hơn 1000 người. Tham chính Lương Nhữ Hốt chạy thoát, nghĩa quân thu nhiều lương thực, khí giới. Sau đó tướng nhà Minh là Hoa Ánh đến cứu, Lê Lợi xua quân đánh tràn, quân Minh thua to, chạy vào Tây Đô. Lê Lợi sai thả về tất cả vợ, con, gia quyến của quân Minh bị bắt, rồi tiến quân vào châu Trà Long.[22]

Lê Lợi dẫn quân qua núi Bồ Lạp thuộc Châu Quì, thì bị Chỉ huy đồng tri nhà Minh Sư Hựu, Tri phủ châu Trà Lân là Cầm Bành đem 5000 quân đón ở mặt trước, mặt sau bị Trần Trí, Lý An, Phương Chính, Thái Phúc uy hiếp. Nhân trời sắp tối, Lê Lợi sai phục binh trong rừng đón đánh Trần Trí, Lý An, Phương Chính, quân Minh tan vỡ, đô ty Trần Trung bị chém, mất 2000 người, 100 con ngựa Ngày sau, nghĩa quân đến Trang Trịnh Sơn, châu Trà Lân, đánh bại Sư Hựu, chém thiên hộ Trường Bản và hơn 1000 người. Lê Lợi dẫn quân đến sách Mộc, Trần Trí đuổi theo nhưng không dám tiến sâu, lui về giữ thành Nghệ An, đưa trả Lê Trăn cầu hòa. Mùa đông, tháng 11, Lê Lợi sai người chiêu dụ Cầm Bành. Bành cự tuyệt không theo, Cầm Bành cùng với hơn ngàn quân lên dựng rào lũy trên đỉnh núi để đón quân cứu viện. Nghĩa quân bao vây, Phương Chính, Sơn Thọ muốn đem quân cứu nhưng không dám tiến quân, sai người mang thư cầu hòa nghĩa quân, nhằm giải vây Cầm Bành. Lê Lợi nói rằng:

Bèn viết thư để trên bè thả theo dòng sông, Lê Lợi viết thư rằng vẫn muốn giảng hòa, nhưng bị Cầm Bành chặn đường, xin cho sứ giả đến hòa giải để thông đường về. Phương Chính nhận được thư, sai Trần Đức Nhị đến bảo Cầm Bành hòa giải, Bành biết viện binh không đến, liền đầu hàng. Lê Lợi thu châu Trà Lân, ra lệnh rằng:

Lê Lợi vỗ về, an ủi các bộ lạc, khao thưởng tù trưởng, mộ quân thêm 5000 người. Quân Minh nghe tin Cầm Bành ra hàng, quay lại đánh trại Trà Lân, bị Lê Lợi đánh lui.

Vây đánh thành Nghệ An[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Lợi tiến quân tới đánh thành Nghệ An, quân sắp đi, nhận được tin báo quân Minh đem quân thủy bộ tới. Lê Lợi bàn với các tướng:

Bèn chia hơn nghìn quân, sai bọn Lê Liệt theo đường tắt giữ huyện Đỗ Gia, cướp thế tranh tiên của giặc. Còn Lê Lợi thì chính mình cầm đại quân, đóng giữ vào nơi hiểm trở để đợi. Chừng ba, bốn ngày, giặc đem hết cả quân, mặt thủy, mặt bộ đều tới ải Khả lưu, đắp lũy, đóng trại, ở miệt dưới. Nghĩa quân ở miệt trên, dương cờ, đánh trống, đêm thì đốt lửa. Lại ngầm sai quân tinh nhuệ và bốn thớt voi, qua sông phục nơi hiểm yếu. Trời sắp sáng,quân Minh bèn dẫn quân, trên cạn, dưới sông đều tiến, để đánh dinh trại cuả nghĩa quân. Lê Lợi giả vờ lui, nhử giặc vào chỗ có quân phục. Giặc không ngờ, đem hết quân vào sâu. Quân phục bốn mặt nổi lên, xông đánh, cả phá được trận giặc. Quân Minh thiệt hại vô số, rồi tựa núi, đắp lũy cố thủ không ra đánh nữa. Khi ấy, lương của nghĩa quân không tới 10 ngày, quân Minh còn nhiều lương, Lê Lợi bàn rằng"

Bèn đốt hết dinh trại, vờ trốn lên miệt trên, đi ngầm đường tắt, đợi giặc đến thì đánh. Quân Minh cho rằng nghĩa quân bỏ chạy, đem quân từ dưới lên đóng vào dinh trại cũ. Ngày sau, Lê Lợi đem quân khiêu chiến, quân Minh tung hết quân ra đánh. Lê Sát, Lê Vấn, Lê Bí, Lê Lễ, Lê nhân Chú, Lê Ngân, Lê Chiến, Lê tông Kiều, Lê Khôi, Lê Bôi, Lê văn An, đều thi nhau hãm trận. Quân Minh vỡ trận, người chết vô số, thuyền trôi nghiền, quân lính chết đuối tắc cả dòng sông. Tướng tiên phong Hoàng Thành bị chém chết, tướng Chu Kiệt bị bắt sông, nghĩa quân thừa thắng đuối 3 ngày, quân Minh chạy vào thành Nghệ An cố thủ.

Tháng 5 năm 1425, Lê Lợi lại sai Đinh Lễ đem quân ra đánh Diễn Châu, quân Minh thua chạy về Tây Đô (Thanh Hoá). Sau đó ông lại điều Lê Sát, Lưu Nhân Chú, và Lý Triện tiếp ứng cho Đinh Lễ đánh ra Tây Đô, quân Minh ra đánh lại bị thua phải rút vào cố thủ trong thành.

Lê Lợi một mặt siết vòng vây quanh thành Nghệ AnTây Đô, mặt khác sai Trần Nguyên Hãn,Doãn Nỗ, Lê Đa Bồ đem quân vào nam đánh Tân Bình, Thuận Hoá. Tướng Minh là Nhậm Năng ra đánh bị phá tan. Sau đó Lê Lợi lại sai Lê Ngân, Lê Văn An mang thủy quân tiếp ứng cho Trần Nguyên Hãn chiếm đất Tân Bình, Thuận Hoá. Quân Minh phải rút vào cố thủ nốt.

Như vậy đến cuối năm 1425, Lê Lợi làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào, các thành của đối phương đều bị bao vây.

Chiến dịch Tốt Động - Chúc Động[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 1426, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh bắc tiến. Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lý Triện ra phía Tây bắc, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía Đông bắc; Đinh Lễ, Nguyễn Xí ra đánh Đông Quan.

Lý Triện tiến đến gần Đông Quan gặp Trần Trí kéo ra, liền đánh bại Trần Trí. Nghe tin viện binh nhà Minh ở Vân Nam sắp sang, Triện chia quân cho Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả ra chặn quân Vân Nam, còn Lý Triện và Đỗ Bí hợp với quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí đánh Đông Quan.

Phạm Văn Xảo phá tan viện binh Vân Nam. Quân Vân Nam chạy về cố thủ ở thành Xương Giang. Trần Trí thấy mất viện binh bèn cầu viện Lý An ở Nghệ An. Lý An và Phương Chính để Thái Phúc ở lại giữ thành Nghệ An, mang quân vượt biển ra cứu Đông Quan. Lê Lợi liền giao cho Lê Văn An, Lê Văn Linh vây thành, còn mình kéo đại quân ra bắc.

Vua Minh sai Vương Thông, Mã Anh mang quân sang tiếp viện. Thông hợp với quân ở Đông Quan được 10 vạn, chia cho Phương Chính, Mã Kỳ. Lê Triện, Đỗ Bí đánh bại Mã Kỳ ở Từ Liêm, lại đánh luôn cánh quân của Chính. Cả hai tướng thua chạy, về nhập với quân Vương Thông ở Cổ Sở. Lý Triện lại tiến đánh Vương Thông, nhưng Thông đã phòng bị, Triện bị thua phải rút về Cao Bộ, sai người cầu cứu Nguyễn Xí.

Đinh Lễ, Nguyễn Xí đem quân đến đặt phục binh ở Tốt Động, Chúc Động. Nhân biết Vương Thông định chia dường đánh úp Lý Triện, hai tướng bèn tương kế tựu kế dụ Thông vào ổ mai phục Tốt Động[24]. Quân Vương Thông thua to, Trần Hiệp, Lý Lượng và 5 vạn quân bị giết, 1 vạn quân bị bắt sống. Thông cùng các tướng chạy về cố thủ ở Đông Quan.

Sử chép ba đạo quân ra bắc của Lê Lợi chỉ có tổng số 9000 người. Các nhà nghiên cứu cho rằng con số đó chưa chính xác vì các trận đánh của ba đạo quân này đều có quy mô khá lớn và lực lượng quân Minh sang nhập vào khá đông, do đó để giành thắng lợi, 3 cánh quân (sau đó lại chia thành 4) chắc phải đông hơn. Với một vài ngàn người khó đương nổi lực lượng đông và mạnh của quân Minh như vậy. Căn cứ sách Đại Việt thông sử, khi quân Minh sắp rút về, Lê Lợi đã bàn với các tướng, đại ý rằng: quân Lam Sơn hiện có tổng số 35 vạn, ông dự định sẽ cho 25 vạn về làm ruộng và tuyển lấy 10 vạn làm quân thường trực của triều đình. Qua đó thì thấy những cánh quân ra bắc phải có một vài vạn mỗi cánh quân. Lê Lợi được tin thắng trận liền sai Trần Nguyên Hãn, Bùi Bị chia hai đường thủy bộ tiến ra gần Đông Quan.

Đây là trận quyết chiến, một trong những thắng lợi quyết định toàn cục của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Trận đánh này đã làm cho tên tuổi của Lý Triện, Đinh Lễ nổi danh, sử gia Ngô Sỹ Liên cho rằng, tướng giỏi thời ấy thì Lễ và Triện đứng đầu[25] Sách Đại Việt thông sử viết rằng:

[26]

Lập Trần Cảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trần Cảo (vua)

Vương Thông thua chạy không dám ra đánh, viện cớ tìm lại tờ chiếu của vua Minh năm 1407 khi đánh nhà Hồ, có nội dung muốn lập lại con cháu nhà Trần[27] ra điều kiện với Lê Lợi rằng Thông sẽ rút về nếu Lê Lợi lập con cháu nhà Trần làm vua.

Lê Lợi vì đại cuộc, muốn quân Minh nhanh chóng rút về nên đồng ý. Ông sai người tìm được Trần Cảo[28] bèn lập làm vua, còn ông tự xưng là Vệ quốc công.

Vương Thông ngoài mặt giảng hòa nhưng lại sai quân đào hào cắm chông phòng thủ và mật sai người về xin cứu viện. Lê Lợi biết chuyện liền cắt đứt giảng hòa.

Vây thành Đông Quan[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi cắt đứt giảng hoà, Lê Lợi sai các tướng đi đánh chiếm các thành ở Bắc bộ như Điêu Diêu (Thị Cầu, Bắc Ninh), Tam Giang (Tam Đái, Phú Thọ), Xương Giang (phủ Lạng Thương), Kỳ Ôn, không lâu sau đều hạ được.

Đầu năm 1427, ông chia quân tiến qua sông Nhị, đóng dinh ở Bồ Đề[29], sai các tướng đánh thành Đông Quan. Ông đặt kỷ luật quân đội rất nghiêm để yên lòng nhân dân. Do đó quân Lam Sơn đi đến các nơi rất được lòng dân.

Tướng Minh là Thái Phúc nộp thành Nghệ An xin hàng. Lê Lợi sai Thượng thư bộ Lại là Nguyễn Trãi viết thư dụ đối phương ở các thành khác ra hàng.

Nhân lúc quân Lam Sơn vây thành có vẻ lơi lỏng, quân Minh ở Đông Quan ra đánh úp. Lê Triện tử trận ở Từ Liêm, Đinh LễNguyễn Xí bị bắt ở Thanh Trì. Sau Đinh Lễ bị giết, Nguyễn Xí trốn thoát được.

Chiến dịch Chi Lăng-Xương Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Trận Chi Lăng - Xương Giang năm 1427

Cuối năm 1427, vua Minh Tuyên Tông điều viện binh cứu Vương Thông, sai Liễu Thăng mang 10 vạn quân tiến sang từ Quảng Tây; Mộc Thạnh mang 5 vạn quân từ Vân Nam kéo sang.[30][31]

Trước khi viện binh nhà Minh kéo sang Lê Lợi đã sai Thái úy Trần Nguyên Hãn, Tư mã Lê Sát, thiếu úy Lý Triện, Nguyễn Lý công thành gấp hạ thành Xương Giang. Thành Xương Giang bị nghĩa quân vây trong hơn 6 tháng, không hạ được, đến đây Lê Lợi đích thân ra lệnh chocác tướng đắp đất, mở đường, dùng câu liêm, giáo dài, nỏ cứng, tên lửa, súng lửa, bốn mặt đánh vào, thành cuối cùng bị hạ. [32][33]

Lại ra lệnh dời người ở những vùng đối phương đi qua như Lạng Giang, Bắc Giang, Quy Hoá, Tuyên Quang, để đồng không để cô lập đối phương. Các tướng khuyên Lê Lợi đánh thành Đông Đô nhưng Lê Lợi cho rằng:

[34][35]

Lê Lợi họp bàn với các tướng, nói rằng:

[36][37]

Biết cánh Liễu Thăng là quân chủ lực, ông sai Lê Sát, Lê Nhân Chú, Lê Lãnh, Đinh Liệt, Lê Thụ mang quân phục ở Chi Lăng, lại sai Lê Văn An, Lê Lý mang quân tiếp ứng. Đối với cánh quân Mộc Thạnh, ông biết Thạnh là viên tướng lão luyện, sẽ ngồi chờ thắng bại của Liễu Thăng mới hành động nên hạ lệnh cho Phạm Văn XảoTrịnh Khả cố thủ không đánh.[38][39]

Tướng trấn giữ biên giới là Trần Lựu liên tục giả cách thua chạy từ Ải Nam Quan về Ải Lưu rồi lại lui về Chi Lăng. Ngày 18 tháng 9 âm lịch, Thăng đuổi đến Chi Lăng. Trần Lựu lại thua, Thăng đắc thắng mang 100 quân kị đi trước. Ngày 20, Thăng bị phục binh của Lê Sát, Trần Lựu đổ ra chém chết.[40][41]

Các tướng thừa dịp xông lên đánh quân Minh, giết hơn 1 vạn quân, chém được Lương Minh, Lý Khánh tự vẫn. Tướng Minh còn lại Hoàng Phúc, Thôi Tụ cố kéo về thành Xương Giang thế thủ nhưng đến nơi mới biết thành đã bị quân Lam Sơn hạ, phải đóng quân ngoài đồng không. Lê Lợi sai Trần Nguyên Hãn chặn đường vận lương, sai Phạm Vấn, Lê Khôi, đem 3 nghìn quân Thiết đột, 4 thớt voi, cùng với Lê Sát, Nguyễn Lý, Lưu Nhân Chú, Lê Văn An tấn công, giết 5 vạn quân Minh ở Xương Giang. Hoàng Phúc và hơn 3 vạn quân bị bắt, Thôi Tụ không hàng bị giết.[42][43]

Mộc Thạnh nghe tin Liễu Thăng thua bèn rút chạy. Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả đuổi theo chém hơn 1 vạn quân, bắt sống 1000 người ngựa.[44][45]

Hội thề Đông Quan[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi, tức 10 tháng 12 năm 1427, Lê Lợi cùng các tướng nhà Minh: Tổng binh Thành Sơn hầu Vương Thông, Tham tướng Mã Anh, Thái giám Sơn Thọ, Mã Kỳ, Vinh Xương hầu Trấn Trí, An bình hầu Lý An, Đô ty Phương Chính, Chưởng đô ty sự Trần Tuyền, Trần Hựu, Giám sát ngự sử Chu Kỳ Hậu,Cấp sự trung Quách Vĩnh Thanh, Hữu bố chính sứ Dặc Khiêm, Tả hữu tham chính là Hồng Bỉnh Lương, Lục Trinh và Lục Quảng Bình, Án sát sứ Dương Thời Tập và Thiêm sự Quách Đoan làm hội thề ở cửa Nam thành Đông Đô. [46]

Vương Thông hẹn rằng đến ngày 12 tháng 12 thì đem quân về nước và sai người đem tờ trình xin trả lại đất đai cho nghĩa quân. Lê Lợi sai giải vây thành Đông Quân, kéo quân lui về, lại sai giải vây cho 3 thành: Tây Đô, Cổ Lộng và Chí Linh; truyền cho nghĩa quân hộ tống các tướng trong 3 thành trên dẫn quân về thành Đông Quan, để cùng về Trung Quốc.[47]

Ngày 29, tháng 11 năm Đinh Mùi, Lê Lợi sai Lê Thiếu Dĩnh, Lê Cảnh Quang đem tờ biểu cầu phong của Trần Cảo, cùng các vật phẩm theo viên chỉ huy do Vương Thông sai, sang triều Minh.[48]

Các tướng sĩ, người dân căm tức sự tàn ngược của quân Minh, bảo vua đem giết đi, Lê Lợi đáp rằng:

[49] [50]

Tháng 12, năm Đinh Mùi, Lê Lợi ra lệnh Cánh đường thủy, cấp 500 chiếc thuyền, cho Phương Chính, Mã Kỳ lãnh nhận. Cánh đường bộ, cấp lương thảo, cho Sơn Thọ, Hoàng Phúc lãnh nhận. Còn hơn 2 vạn người bị bắt hoặc đầu hàng và 2 vạn con ngựa thì do Mã Anh lãnh nhận. Chinh man tướng quân Trần Tuấn đem quân trấn thủ đi theo. Tất cả đều tới dinh Bồ Đề lạy tạ mà về.[51]

Ngày 12, tháng 12, Phương Chính, Mã Kỳ tới dinh Bồ Đề cáo biệt Lê Lợi, ở lại suốt một buổi chiều, Lê Lợi sai sắm trâu ngựa, trướng vẽ và lễ phẩm hậu tặng. [52]

Ngày 17, Vương Thông nhà Minh dẫn quân bộ đi sau. Vương Thông cùng vua nói chuyện từ biệt suốt đêm rồi đi. Vua sai đưa trâu rượu, cờ thêu, trướng vẽ cùng các lễ vật tiễn chân rất hậu. Quân thủy, bộ của ba thành Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh cùng lục tục rút tiếp. Từ đây, việc binh đao dập tắt, khắp thiên hạ thái bình.[53] Lê Lợi sai Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh quân Minh[54]. Đây là áng văn chương nổi tiếng, rất có giá trị đời Lê, được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam, sau bài thơ Nam quốc sơn hà.

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Văn bia Vĩnh Lăng do Nguyễn Trãi soạn thảo để ca ngợi công đức của nhà vua

Lên ngôi Hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi quân Minh rút về, trên danh nghĩa Trần Cảoquốc vương của nước Nam. Theo sử sách, đầu năm 1428, Trần Cảo tự biết mình không có công, lòng người không theo nên bỏ trốn vào châu Ngọc Ma (phủ Trấn Ninh), nhưng không thoát, bị bắt mang về và bị ép uống thuốc độc chết.[55] Một số nhà nghiên cứu nghi ngờ việc Cảo phải tự bỏ trốn mà cho rằng các tướng của Lê Lợi được lệnh sát hại Cảo, hoặc Cảo bị đe doạ phải bỏ trốn. Tuy nhiên, suy cho cùng Trần Cảo cũng chỉ là con bài chính trị để Lê Lợi đối phó với nhà Minh trong một giai đoạn cần thiết. Ngay nhà Minh, khi xâm lược Việt Nam lấy lý do lập con cháu nhà Trần thực chất chỉ là cớ để đánh nhà Hồ và rõ ràng không thực bụng. Nhà Minh lấy cớ lập con cháu nhà Trần nhưng lại đàn áp nhà Hậu Trần. Việc đó đã bị Nguyễn Biểu, sứ giả của hoàng đế Hậu Trần Trùng Quang Đế bóc trần.

Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế vào ngày 15 tháng 3, năm 1428, sử gọi là Lê Thái Tổ, chính thức dựng lên triều Hậu Lê. Ông khôi phục quốc hiệu Đại Việt, đóng đô ở Thăng Long và đổi tên Thăng Long thành Đông Kinh (東京) vào năm Thuận Thiên thứ hai (1430).

Lê Thái Tổ sai sứ sang Trung Quốc cầu phong, nhưng nhà Minh không chịu, bắt phải tìm con cháu nhà Trần lập làm hoàng đế. Sứ nhà Minh đi về hai ba lần, sau Thái Tổ hoàng đế sai các viên quan phụ lão trong nước làm tờ khai rằng con cháu vua Trần thật sự không còn ai nữa, và xin phong cho Lê Lợi làm vua nước Nam. Nhà Minh thấy vậy mới thuận nên phong Vương cho ông.[56]

Chính sách ruộng đất[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa xuân tháng Giêng năm 1428, quân Minh đã về nước, Đại Việt hoàn toàn độc lập. Lê Lợi đã thực hiện những chính sách của mình nhằm phục hồi lại đất nước vốn đã bị suy tàn sau những năm bóc lột của quân Minh và chiến tranh.

Tháng 7, năm 1426, làm sổ hộ tịch (sổ đinh).[57]

Tháng Giêng, năm 1428, hạ lệnh cho con em các nhà đầu mục và các tướng hiệu đều nên trở về nhận ruộng đất ở quê cha đất tổ, để chấm dứt nạn tranh chiếm ruộng đất.[58][59]

Tháng 4, năm 1428, trả lại ruộng đất, nhà cửa cho những quân dân bị bắt vào 4 thành Tây Đô, Đông Kinh, Cổ Lộng, Chí Linh đã được bổ vào các quân phụ vào quân Thiết đột.[59][60]

Ngày 25, tháng 11, năm 1428, làm sổ ruộng đất, sổ hộ tịch.[61] Triều đình ra chỉ thị cho các phủ, huyện, lộ khám xét các chằm bãi, ruộng đất, mỏ vàng bạc, những sản vật núi rừng trong hạt, các loại thuế cũ, cùng ruộng đất đã sung công các nhà thế gia và những người tuyệt tự, ruộng đất của bọn đào ngũ, ngụy quan.[62]

Ngày 22, tháng 12, năm 1428, ra lệnh chỉ cho các quan phủ, huyện, lộ, trấn, xã, sách đối chiếu, khám xét ruộng đất, đầm bãi công tư trong các huyện, xã của lộ mình.[62]

Ngày 22, tháng Giêng, năm 1429, ra lệnh cho các đại thần tâu lên về việc cấp đất cho dân chúng, từ quan lại, quân nhân, đàn ông, đàn bà, người già yếu, mồ côi, góa chồng.[63]

Tháng 2, năm 1429, lệnh cho tập trận trong 5 đạo, cả thủy binh và bộ binh. Sau tập trận, chia số quân sĩ làm 5 phiên, lưu lại 1 phiên còn 4 phiên về làm ruộng.[64]

Ngày 20, tháng 3, năm 1429, ra lệnh rằng phần đất của các quan và phủ đệ công hầu trăm quan nên trồng cây, hoa, rau đậu, không được để hoang, ai không theo thì mất phần đất đó. Các công hầu đã được ban cho đất ở, nếu trong phần đất của quân Thiết đột[65] thì không cho quá nhiều, chỉ từ 5 sào trở xuống, nếu không phải trong phần đất của quân Thiết đột thì cho 2 mẫu trở xuống đến 1 mẫu. Nếu đã được chia ruộng đất vườn nhà nhất định rồi, lại còn chiếm đất trong thành Đại La làm nhà cửa khác nữa thì không được.[66]

Ngày 30 tháng 5, định hạng ruộng đất của ngụy quan.[67]

Ngày 19, tháng 12, ra lệnh xã nào có nhiều ruộng đất nhưng ít người, để bỏ hoang thì cho phép các quan nơi đó cho những người không có ruộng ở các xã khác đến cày cấy, người chủ ruộng xã đó không được chiếm giữ rồi bỏ hoang. Ai vi phạm sẽ bị xử theo tội cưỡng bức chiếm đoạt.[68]

Năm Thuận Thiên thứ 3, 1430, lại làm sổ hộ tịch.[69]

Năm Thuận Thiên thứ 6, lại gộp làm sổ hộ tịch.[70]

Chính sách đất đai đã làm cho Đại Việt như lời nhận xét của Sử thần trong sách Đại Việt sử ký toàn thư: Vua mặc áo sớm, ăn cơm trưa, trải 10 năm mà thiên hạ đại trị.Dân gian có câu ca dao về việc no đủ, thịnh trị thời của vua Lê Thái Tổ, lê Thái Tông:

Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn

Dẹp phản loạn, thu châu Phục Lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh dẹp thổ tù Bế Khắc Thiệu, Nông Đắc Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài xây dựng kinh tế, Thái Tổ còn phải đối phó với bạo loạn trong nước. Tháng 11, năm 1430, Thổ tù ở châu Thạch Lâm, Trấn Thái Nguyên là Bế Khắc Thiệu, Nông Đắc Thái [71][72] làm loạn, để đối phó, Lê Lợi tuyển binh ở bãi Bồ Đề.

Tháng Giêng năm 1431, sau khi giết Phạm Văn Xảo Lê Lợi thân chinh đem quân đánh trấn Thái Nguyên, khi đến châu Thạch Lâm, thành Na Lữ, bèn đóng quân quân ở đây, vì thấy thắng cảnh núi sông, nên sai lập sinh từ thờ phụng. Trên núi đá phía tây bắc thành Na Lữ, có bài thơ của vua Lê Thái Tổ ngự chế khắc vào đá, bên dưới ghi rằng: Thuận Thiên tứ niên Tân Hợi chính nguyệt thị thập nhật đà.

Nội dung bài thơ như sau, được viết trong sách Đại Nam nhất thống chí. [73]

Bất từ vạn lý chỉnh sư đồ,
Duy lục biên manh xích tử tô.
Thiên địa bất dung gian đảng tại,
Cổ kim thùy xá bạn thần chu.
Trung lương tự khả lương đa phúc.
Bạo bội chung nan bảo nhất khu.
Đái lệ bất di thần tử tiết;
Danh thùy vạn cổ dữ sơn câu.
Dịch nghĩa:
Đường xa chẳng quản ngại ra quân
Chỉ muốn biên phương cứu lấy dân.
Trời đất chẳng dung phường phản tặc,
Xưa nay ai xá tội gian thần
Trung lương ắt tự giành nhiều phúc.
Bạn nghịch đành khôn giữ chiếc thân.
Sông cạn đá mòn không đổi tiết
Danh cùng núi ấy vạn năm xuân. [74]

Tháng 2, ông đánh được Lâm Châu, giết Bế Khắc Thiệu, bắt sống Nông Đắc Thái.

Đánh dẹp Đèo Cát Hãn, thu châu Mường Lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1407, khi quân Minh sang đánh nhà Hồ, Đèo Cát Hãn dẫn 4.000 quân ra xin hợp tác với quân Minh. Theo Minh sử, năm 1405, Đèo Cát Hãn dâng sớ lên triều đình nhà Minh tố cáo nhà Hồ đánh chiếm 7 trại Mãnh Man thuộc châu Ninh Viễn dưới quyền Đèo Cát Hãn, vốn thuộc phủ Vân Nam, giết con rể của ông, bắt con gái của ông để khống chế.[75]

Năm 1427, Lê Lợi sai Chủ thư thị sử Trần Hồ đi chiêu dụ châu Ninh Viễn (sau đổi là châu Phục Lễ, nay là phủ An Tây). Phụ đạo châu ấy là Đèo Cát Hãn đem binh tướng theo về.[76][77]

Tháng giêng năm 1432, Lê Lợi sai con trai cả Lê Tư Tề, Tư đồ Lê Sát đem quân đánh châu Mường Lễ, do Đào Cát Hãn thông đồng Phạm Văn Xảo làm loạn, liên kết với nghịch thần Ao Lao là Kha Đốn xâm lấn đất Mang Mỗi. Sau đó đích thân Lê Lợi thân chinh, đánh được Mang Lễ, Kha Đốn bị giết, Đào Cát Hãn bỏ chạy, Lê Lợi thu Mang Lễ, đổi tên thành châu Phục Lễ.[78][79][80][81][82]

Tổ chức hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Lê Thái Tổ chia trong nước làm năm đạo:Đông, Tây Nam, Bắc và Hải Tây. Mỗi đạo đặt một vệ quân, mỗi vệ đặt chức tổng quản(có các chức tổng quản, đô tổng quản, đồng tổng quản, trên dưới liên hệ nhau, lớn nhỏ giữ gìn nhau. Lại đặt chức hành khiển ở năm đạo, chia giữ việc sổ sách và từ tụng của quân dân, đứng đầu là hành khiển, thứ đến là các chức tham tri, đồng tri, chủ bạ, đạo thuộc. Các đạo đều đặt các ban tả hữu, giữa của cải chứa trong kho tàng (có chức đô tri).[83]

Định quan các lộ, các huyện(lộ đặt tri phủ, chưởng ấn, thứ đến các chức trấn phủ sứ, an phủ sứ, tuyên phủ sứ, chiêu thảo sứ..) và đặt quan trấn thủ nơi hiểm yếu.[84]

Đặt các quan có các tên gọi: Bình chương, từ đồ (sau thêm chữ đại), đại tư không, đại tư mã, khu mật đại sứ, thiếu úy, thượng tướng, đại tướng, á hầu, thông hầu, quan phục hầu, trước phục hầu.[85]

Chia các lộ ở Đông Đô làm bốn đạo, đặt các chức văn võ liêu thuộc trong ngoài, có chức bộc xạ, thị trung, thiếu bảo, hành khiển, thượng thư, hàn lâm, các chức quan bốn đạo (chức chánh mang hàm tổng tri, coi việc quân dân; chức phó mang hàm kiên tri quân dân bạ tịch), quan Mật viện, quan các bộ (như Lại bộ Thượng thư Nguyễn Trãi), quan các sảnh (như Thượng thư sảnh), quan Hàn lâm viện (như các chức thừa chỉm, học sĩ ), quan Hình viện, quan quân vệ, quan điền binh.

Các chức quan ngoài thì có các chức sứ, quan sát sứ, phòng ngự sứ, tuyên úy sứ, an phủ sứ.

Các quan văn võ đại thần được vua coi thân tín, đều thêm chữ nhập nội.

Quan võ từ tổng quản, tổng lĩnh, đồng tri xuống đến đại đội trưởng, đội trưởng, văn từ hành khiển, thượng thư, xuống đến thất phẩm đều là những chức sang, lại có ngự tiền văn đội, ngựa tiền võ đội và khách đội, thực đội. Lại đặt các quan ở các xã.[86]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Về việc học hành, trường Quốc Tử Giám ở đất kinh đô để cho con cháu các quan viên và những người thường dân có khả năng vào học tập; mở nhà học và đặt thầy dạy nho học ở các phủ và các lộ. Rồi lại bắt các quan văn võ từ tứ phẩm trở xuống phải vào thi Minh kinh khoa, nghĩa là quan văn thì phải thi kinh sử, quan võ thì phải thi vũ kinh. Ở các lộ cũng mở khoa thi Minh kinh để cho những người ẩn dật ra ứng thí mà chọn lấy nhân tài[87].

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Những người theo đạo Phật, đạo Lão cũng phải thi kinh điển những đạo ấy; hễ ai thi đỗ thì mới được làm sư hoặc làm đạo sĩ, ai thi trượt thì phải về quê làm ăn.

Luật pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Về luật pháp, Thái Tổ cho đặt ra bộ luật mới theo như hình luật của nhà Đường: có tội xuy, tộ trượng, tội đồ, tội lưu và tội tử[87].

Tháng Giêng, năm 1428, thiên hạ thái bình, vua Lê Thái Tổ sai các quan Tư không, Tư đồ, Tư mã, Thiếu úy, Hành khiển bàn định pháp lệnh cai trị quân dân, để người làm tướng biết phép trị quân, quan các lộ biết phép trị dân, cũng để răn dạy quân dân biết là có pháp luật. Mọi công việc đều có các cơ quan phụ trách riêng, dâng lên vua xem.[88][89]

Năm Thuận Thiên thứ 2 91429), định luật cờ bạc, đánh bạc thì chặt bàn tay 5 phân, đánh cờ thì chặt bàn tay 2 phân. Những kẻ vô cố không phải việc công mà họp nhau uống rượu thì bị 100 trượng, kẻ dung túng thì tội giảm 1 bậc.[90]

Về tội ăn hối lộ, nếu ghi nhận ăn hối lộ 1 quan tiền trở lên thì bị xử chém.[91][92][93]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thuận Thiên thứ 1 (1428), đúc tiền Thuận Thiên thông bảo, tính 50 đồng là 1 tiền. Năm Thuận Thiên thứ 2 (1429) truyền cho các quan trong ngoài bàn phép dùng tiền. Xuống chiếu rằng:

Tiền là mạch máu của sinh dân, không thể không có. Nước ta vốn có mỏ đồng, nhưng tiền đồng cũ đã bị nhà Hồ hủy bỏ, trăm phần chỉ còn được một. Đến nay, việc quân, việc nước thường hay bị thiếu. Muốn cho tiền được lưu thông sử dụng, để thuận lòng dân, há chẳng khó sao? Mới rồi có người dâng thư trình bày, xin lấy tiền giấy3 thay cho tiền thực . Trẫm sớm khuya nghĩ ngợi, chưa nghĩ ra các gì. Vì rằng tiền giấy là thứ vô dụng, lại được lưu hành như vật hữu dụng trong dân, thực không phải là ý nghĩa yên dân, dùng của. Nhưng đời xưa đã có người cho rằng vàng, bạc, da, lụa, tiền thực, tiền giấy đều không thể cân ngang nhau được, thế thì thứ gì là hơn? Truyền cho các đại thần trăm quan và những người hiểu việc đời ở trong, ở ngoài, đều nghị bàn quy chế đồng tiền cho thuận lòng dân, để không vì ưa thích riêng của một người mà bắt ép muôn nghìn người không muốn phải theo, để làm phép hay của một đời. Nên phải bàn định sớm rồi tâu lên, trẫm sẽ tự chọn lấy mà cho thi hành. [94]

Chính sách đối với những người trong nước[95] làm quan cho nhà Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1428, Lê Lợi đã cho tiến hành bắt những quan lại người Việt phục vụ cho nhà Minh, bắt vợ con, nô tỳ,tài vật, trâu bò đem giải nộp cho hết, điều tra những kẻ có lòng khác, thu nhập văn bằng ẩn tin của ngụy quan, theo đúng hạn nộp lên. Sau đo cho ngụy quan chuộc mệnh, đinh lệ tiền chuộc các vợ cả, vợ lẽ và nô tỳ của ngụy quan. Vợ Bố chính ty thì 70 quan, dưới đến các hạng sinh viên, thổ quan, thừa sai, bạn đương, thì vợ là 10 quan, con trai, con gái và nô tỳ từ 10 tuổi trở xuống thì 5 quan. [96][97]

Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), sau khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ ra lệnh trị tội các ngụy quan[98][99]. Năm thứ 2 Thuân Thiên 1429 ra lệnh chỉ rằng những nguỵ quan trước đã có lệnh cho tha tội chuộc mệnh, thì cho miễn cả ruộng đất (không phải sung công).[100][101]

Tháng 5, năm 1429, ra lệnh Ra lệnh chỉ rằng những văn võ hào kiệt nào còn bị bỏ sót, hoặc bị chìm đắm chưa có chức tước gì, không được ai tiến cử; hoặc vì thù hằn mà bị đè nén, vùi dập, thì đến ngay chổ Thiếu phó Lê Văn Linh mà tự tiến, nếu xét thực có tài đức thì tâu trình để cất nhắc sử dụng, không cứ là ngụy quan hay sĩ thứ, cốt lấy tài đức là hơn.[102][103]

Các ngụy quan như Lương Nhữ Hốt, Trần Phong, Đỗ Duy Trung đều được vua tha chết, sau này cùng nhau mưu phản, đều bị giết.[104]

Lập thái tử và qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 7, tháng giêng năm 1429, Lê Thái Tổ lập con trưởng Lê Tư Tề làm Quận vương, giúp trông coi việc nước, con thứ Nguyên Long làm Hoàng thái tử.

Năm 1433, Lê Thái Tổ vời Lê Khôi lúc ấy đang trấn thủ Hóa châu về để bàn định việc lập Thái tử[105], tháng 8 năm đó, con trưởng Lê Tư Tề bị phế giáng làm Quận vương, con thứ Nguyên Long kế thừa tông thống. Đại tư đồ Lê Sát được vua trao trọng trách phụ chính giúp vua Lê Thái Tông còn ít tuổi[106]

Thái Tổ ở ngôi được 5 năm thì băng hà vào ngày 22 tháng 8 năm 1433, hưởng dương 49 tuổi. Vì nhớ công Lê Lai chết thay cho mình ở núi Chí Linh trước kia, ông dặn lại đời sau phải giỗ Lê Lai trước khi giỗ ông một ngày. Bởi thế đời sau truyền lại câu: Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi[107].

Thái Tổ được an táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn. Thái tử Lê Nguyên Long 11 tuổi lên nối ngôi, tức hoàng đế Lê Thái Tông.

Miếu hiệu của ông là Thái Tổ (太祖), thụy hiệuThống Thiên Khải Vận Thánh Đức Thần Công Duệ Văn Anh Vũ Khoan Minh Dũng Trí Hoàng Nghĩa Chí Minh Đại Hiếu Cao Hoàng Đế (統天啟運聖德神功睿文英武寬明勇智弘義至明大孝高皇帝). Đời sau đều gọi là Thái Tổ Cao hoàng đế (太祖高皇帝) hay Cao Hoàng (高皇), Cao Đế (皇帝).

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng đài Lê Lợi tại bùng binh Cây Gõ, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh

Về công lao, sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại những lời nhận xét về Lê Thái Tổ như sau[108]:

Sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn chép rằng:

Lời bình của các quan đời Vĩnh Trị, sách Lam Sơn thực lục:

Lê Lợi là vị vua có công đánh đuổi quân Minh, chấm dứt 20 năm Bắc thuộc lần thứ tư và sáng lập nhà Hậu Lê, triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Việt Nam.

Sau thời kỳ độc lập hơn 400 năm kể từ thế kỷ 10, Đại Việt có nguy cơ trở lại thành quận huyện của Trung Hoa. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi đã chấm dứt 20 năm cai trị của nhà Minh tại Đại Việt và chấm dứt hẳn sự đô hộ của Trung Quốc thời phong kiến.

Bởi công lao đó của ông nên đời sau còn nhớ nhà Lê khi bị nhà Mạc cướp ngôi và đó là một nguyên nhân khiến nhà Lê có thể trung hưng (1533). Thậm chí ngay cả khi con cháu triều Lê không còn nắm được thực quyền thì trên danh nghĩa vẫn là người đứng đầu thiên hạ. Chúa Trịnh làm phụ chính nhiều đời nhưng vẫn không dám cướp ngôi nhà Lê cũng bởi sợ dư luận còn nhớ công lao giành lại độc lập cho đất nước của nhà Lê[109].

Về cai trị, ông cũng là người thiết lập lại trật tự, quy củ của chế độ phong kiến các triều đại Lý, Trần trước đây mà các thế hệ vua sau tiếp tục củng cố, phát triển cao hơn nữa.

Những điểm giống với Hán Cao Tổ[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa Lê Thái Tổ và Hán Cao Tổ của Trung Quốc có những điểm tương đồng trong thân thế, cuộc đời sự nghiệp bản thân và sự nghiệp của hậu duệ[110]:

  • Cả Lê Thái Tổ và Hán Cao Tổ đều xuất thân từ gia đình nông dân và là con thứ ba trong nhà. Trên Lê Lợi có Lê Học, Lê Trừ còn trên Lưu Bang có Lưu Bá, Lưu Trọng[18][71][111][112][113].
  • Cuộc khởi nghĩa của cả hai vị vua đều gặp rất nhiều khó khăn trong thời gian đầu tiên, phải thường xuyên lẩn trốn sự truy kích của kẻ thù, thậm chí có những lúc rơi vào tính thế hiểm nghèo[111][114][115][116].
  • Cả hai vị vua đều thoát chết nhờ thuộc hạ tình nguyện hy sinh cứu chủ. Khi bị Hạng Vũ vây ở Huỳnh Dương, Lưu Bang đã phải nhờ Kỷ Tín ra hàng và bị Hạng Vũ giết. Lê Lợi bị quân Minh vây ở núi Chí Linh cũng phải nhờ Lê Lai theo gương Kỷ Tín để thoát nạn. Lê Lai cũng bị quân Minh giết[71][117][118][119].
  • Sau khi lên ngôi, hai vị hoàng đế đều giết các công thần khai quốc. Lưu Bang giết Hàn Tín, Bành Việt; Lê Lợi giết Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn[120][121][122][123].
  • Sau khi qua đời, cả Lê Thái Tổ và Hán Cao Tổ đều được đặt chữ "Cao". Lưu Bang là (Cao Tổ) Cao hoàng đế, Lê Lợi là (Thái Tổ) Cao hoàng đế[124][125][126][127].
  • Về sau, cơ nghiệp của hai vị vua đều bị họ khác cướp ngôi. Nhà Hán và nhà Hậu Lê đều bị gián đoạn một thời gian, nhưng rồi lại phục hồi. Nhà Tây Hán bị Vương Mãng cướp ngôi (lập nhà Tân), nhưng sau đó được nhà Đông Hán kế tục. Nhà Hậu Lê (Lê sơ) bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi (lập nhà Mạc), rồi sau đó được nhà Lê trung hưng kế tục[128][129][130][131]

Khi ngự phê sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, vua Tự Đức nhà Nguyễn cũng đánh giá Lê Lợi "mở được nền chính thống nghìn năm, thật đáng là bậc nối gót Hán Cao Tổ"[132]. Sử quan nhà Nguyễn trong lời cẩn án dưới lời phê của Tự Đức còn nêu thêm một điểm giống nhau nữa giữa Lê Thái Tổ và Hán Cao Tổ: hai người cùng dấy binh nổi lên với một thanh kiếm[133].

Câu nói[sửa | sửa mã nguồn]

[134]

Các truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Gươm thần Thuận Thiên[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thuận Thiên (kiếm)
Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Gươm), nơi có huyền thoại Lê Thái Tổ trả gươm cho rùa vàng.
Hình tượng nhà vua được dân gian đưa vào nghệ thuật múa rối nước

Sách Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi chép:

Khi ấy Nhà-vua cùng người ở trại Mục-sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường làm nghề quăng chài. Ở xứ vực Ma-viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, cá chẳng được gì cả. Chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ (ngày chết của cha mẹ) nhà vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhà vua bèn hỏi:
- Sắt nào đây?
Thận nói:
- Đêm trước quăng chài bắt được.
Nhà vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ "Thuận Thiên", cùng chữ "Lợi".
Lại một hôm, nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài-dũa thành hình, nhà vua lạy trời khấn rằng:
- Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!
Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, bèn thành ra chuôi gươm.
Tới hôm sau, lúc đêm, trời gió mưa, sớm ngày mai, hoàng hậu ra trông vười cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, vào gọi nhà vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận Thiên (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ Lợi. Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra.
Truyền thuyết kể tiếp rằng, sau Lê Lợi dùng thanh gươm báu đó làm gươm chiến đấu, xông pha chém địch nhiều trận, cuối cùng đuổi được quân Minh làm vua
Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Thủy Quân. Ra giữa hồ, có Rùa Vàng nổi lên mặt nước, chắn trước thuyền của vua gọi to:
- Hãy trả gươm thần cho ta!
Lê Thái Tổ rút gươm trả, rùa vàng ngậm lấy gươm lặn xuống nước đi mất. Từ đó hồ Thủy Quân được đặt tên là hồ Hoàn Kiếm.

Hồ ly phu nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thuyết kể rằng[135] thời quân Lam Sơn chưa mạnh, Lê Lợi bị đánh bại, tướng sĩ chạy tan tác mỗi người một nơi. Bị quân Minh đuổi, Lê Lợi trốn vào rừng, trông thấy xác một cô gái chết trên bãi cỏ. Ông rút gươm đào tạm một cái huyệt chôn cô gái và cầu khấn người chết phù hộ để thoát nạn.

Quân Minh đuổi tới gần, Lê Lợi vội trốn vào một gốc cây to rỗng ruột, xung quanh là cỏ mọc cao. Quân Minh cho chó sục sạo, đánh hơi đến gốc cây. Thấy chó sủa ở gốc cây, quân Minh đâm bừa ngọn giáo vào trong, trúng đùi Lê Lợi. Ông vội lấy vạt áo chùi vết máu ở mũi giáo. Quân Minh rút giáo ra không thấy gì nhưng chó vẫn sủa. Quân Minh định dùng lửa đốt cây thì trong gốc cây có con cáo trắng chạy ra, chó săn ùa theo đuổi bắt. Quân Minh tưởng là chó sủa vì con cáo nên bỏ đi.

Lê Lợi thoát nạn, cho rằng linh hồn người con gái đã chết hóa thành cáo cứu mình. Ông đến nấm mộ cô gái vái tạ. Sau này lên ngôi vua, ông truy tặng cô gái là Hồ ly phu nhân.

Một thuyết khác cho rằng Lê Lợi chạy trốn cùng một người thân cận là Lê Tá, gặp xác cô gái mặc đồ trắng trôi trên bờ sông. Hai người vội vớt xác lên chôn cất tạm và trốn vào gốc cây rỗng ruột. Quân Minh dùng chó sục sạo đến gốc cây rồi đâm giáo vào trong, trúng đùi Lê Lợi. Lê Tá vội lấy áo lau máu trên giáo. Quân Minh định phóng ngọn giáo nữa vào thì thấy một con cáo trắng trong bụi chạy ra, đàn chó cùng nhau đuổi theo. Quân Minh tưởng là chỉ có cáo trong cây nên bỏ đi. Lê Lợi và Lê Tá cho rằng con cáo chính là linh hồn người con gái đã cứu mình.

Sau ngày thắng lợi, Lê Thái Tổ lập miếu thờ người con gái, sắc phong là Bạch y thần nữ, con cáo trắng được phong là Bạch hồ thần nữ, gốc cây cổ thụ được phong là Dung thụ đại vương.

Cuối thế kỷ 18, Phạm Đình Hổ xác minh việc nhà Hậu Lê đã làm tượng thờ ân nhân của Lê Thái Tổ trong sân triều đình Lê - Trịnh[136]:

Những buổi chầu trong điện không bị ngăn cấm người ngoài vào xem. Ta khi nhỏ thường hay vào sân rồng, thấy bên võ ban có đặt pho tượng "Hộ quốc phu nhân". Tượng ấy đầu người thân hồ ly, dáng rất đẹp, hình dung một thiếu nữ búi tóc, cài trâm.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cụ: Lê Hối (黎晦), được truy tôn làm Cao Thượng Tổ Minh Hoàng đế (高上祖明皇帝).
  • Cụ bà: Đinh thị (丁氏), được truy tôn Phổ Từ Cao Minh Hoàng hậu (普慈高明皇后).
  • Ông nội: Lê Đinh (黎汀), được truy tôn là Hiển Tổ Chiêu Đức Chí Nhân Trạch Hoàng đế (顯祖昭德至仁澤皇帝).
  • Bà nội: Nguyễn Quách (阮廓), được truy tôn là Hiển Từ Gia Thục Khâm Thuận Hoàng hậu (顯慈嘉淑欽順皇后).
  • Bác: Lê Tòng (黎從).

Cha mẹ, anh em[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Lê Khoáng (黎曠), được truy tôn là Tuyên Tổ Hiến Văn Duệ Triết Phúc Hoàng đế (宣祖憲文睿哲福皇帝).
  • Mẹ: Trịnh Ngọc Thương (鄭玉蒼), được truy tôn là Trinh Từ Ý Văn Trang Hiến Hoàng hậu (貞慈懿文莊獻皇后).
  • Anh:
    • Lê Học (黎浥), ông mất sớm, được truy tặng làm Chiêu Hiếu đại vương (昭孝大王). Ông có con trai là Lê Thạch tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, được truy tặng làm Trung Vũ đại vương (忠武大王).
    • Lê Trừ (黎除), được tôn là Lam quốc công (藍國公), về sau được tôn là Hoằng Dụ vương (弘裕王). Cháu 6 đời là Lê Duy Bang được lập nối ngôi nhà Lê trung hưng, tức là Lê Anh Tông.

Hậu phi[sửa | sửa mã nguồn]

Các con[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Việt sử ký toàn thư (bản điện tử)
  • Khâm định Việt sử thông giám cương mục (bản điện tử)
  • Lam Sơn thực lục
  • Việt sử toàn thư (bản điện tử)
  • Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, NXB Khoa học xã hội
  • Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, NXB Khoa học xã hội
  • Lê Thái Dũng (2008), Giở trang sử Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
  • Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ (2003), Nhìn lại lịch sử, NXB Văn hóa thông tin
  • Trần Trọng Kim (2010), Việt Nam sử lược, NXB thời đại
  • Lê Đông Phương, Vương Tử Kim (2007), Kể chuyện Tần Hán, NXB Đà Nẵng
  • Cát Kiếm Hùng chủ biên (2006), Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, tập 1, NXB Văn hoá thông tin
  • Trương Chí Quân (1997), Đời tư các vị hoàng đế, NXB Văn hoá thông tin
  • Tiêu Lê (2000), Những ông vua nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, NXB Đà Nẵng
  • Nguyễn Khắc Thuần (2003), Các đời đế vương Trung Quốc, NXB Giáo dục

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Việt sử ký toàn thư tính là năm 1383
  2. ^ Theo Đại Việt Thông Sử của Lê Quý Đôn thì Lê Lợi thọ 49 tuổi. Lê Lợi sinh năm Ất Sửu (1385), mất năm Quý Sửu (1433) thọ 49 tuổi, như Đại Việt Thông Sử ghi là đúng
  3. ^ Trần Gia Phụng. Những cuộc đảo chánh cung đình Việt-Nam. Non Nước, 1998. Trang 149
  4. ^ Lê Thị Sơn. Quốc triều hình luật: lịch sử hình thành, nội dung và giá trị. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2004. Trang 68.
  5. ^ Chủ Sơn: tên hương, sau đổi là thôn Thủy Chú, huyện Lôi Dương, nay thuộc xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa.
  6. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ quyển 10
  7. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 34
  8. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 68, 75
  9. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên quyển 13
  10. ^ Việc Nguyễn Trãi gia nhập khởi nghĩa Lam Sơn vào năm nào đang tranh cãi
  11. ^ Lam Sơn thực lục, NXB Tân Việt, 1956, dịch giả Bảo Thần
  12. ^ Giai thoại thời chống quân Minh, truyện ông Hầu, bà Hầu
  13. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả Viện sử học, bản điện tử, trang 325
  14. ^ http://bachkim.vn/resource/daiviet.pdf
  15. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả Viện sử học, bản điện tử, trang 326
  16. ^ http://bachkim.vn/resource/daiviet.pdf
  17. ^ Lam Sơn thực lục, Nhà xuất bản Tân việt, 1956, Dịch giả Mạc Bảo Thần
  18. ^ a ă â Đại Việt thông sử, quyển 1, Đế kỷ đệ nhất
  19. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư
  20. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 10
  21. ^ Kế này gọi là Kế hãm mình vào tử địa. Ngày trước, Hàn Tín dàn trận quay lưng ra sông, khiến quân lính bị dồn tới đường cùng mà đánh
  22. ^ Lam Sơn thực lục
  23. ^ Tức tự chọn cho mình nơi giao chiến đã định sẵn trước
  24. ^ Nguyễn Xí bắt được thám tử của Vương Thông, biết Thông đóng ở Ninh Kiều, định dùng một cánh quân cùng đánh tập hậu Lê Triện, Thông cầm đại quân tiến đằng trước, đêm đến nổ pháo hiệu thì hai cánh quân cùng đánh sáp vào. Nguyễn Xí bèn đặt phục binh rồi cho nổ pháo hiệu để lừa Thông
  25. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 344
  26. ^ Đại Việt thông sử, trang 205, sách đã dẫn.
  27. ^ Vì nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần nên Minh Thành Tổ lấy danh nghĩa lập lại nhà Trần để mang quân sang đánh nhà Hồ. Nay Vương Thông muốn vin vào đó
  28. ^ Theo sử sách, Trần Cảo tên thật là Hồ Ông, tự xưng là cháu nội vua Trần Nghệ Tông, được tù trưởng châu Ngọc Ma tiến cử với Lê Lợi. Nhưng theo một số sử gia gần đây, việc Trần Cảo mạo xưng hay thật sự là con cháu nhà Trần rất khó xác định, có thể chữ "mạo xưng" mà sử sách ghi là do các sử gia nhà Lê chép vào để giảm uy tín của Cảo
  29. ^ Vì vậy từ đó về sau truyền lại câu đồng dao: Nhong nhong ngựa ông đã về, cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn
  30. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 349, 350
  31. ^ Đại Việt sử ký toàn thư[1]
  32. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 349
  33. ^ Đại Việt sử ký toàn thư[2]
  34. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 349
  35. ^ Đại Việt sử ký toàn thư[3]
  36. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 349
  37. ^ Đại Việt sử ký toàn thư[4]
  38. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 350, 351
  39. ^ Đại Việt sử ký toàn thư[5]
  40. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 3350, 351
  41. ^ Đại Việt sử ký toàn thư[6]
  42. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 3350, 351
  43. ^ Đại Việt sử ký toàn thư[7]
  44. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 3350, 351
  45. ^ Đại Việt sử ký toàn thư[8]
  46. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 83
  47. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 83
  48. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 84
  49. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, trang 354
  50. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 84
  51. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 84
  52. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 84
  53. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, sách đã dẫn, trang 353, 354
  54. ^ Sở dĩ gọi "Minh" là "Ngô" vì hoàng đế khai quốc nhà MinhChu Nguyên Chương trước kia khởi binh từ đất Ngô, tự xưng là Ngô vương, sau thống nhất Trung Quốc mới xưng là "Minh"
  55. ^ Việt sử toàn thư, bản điện tử, tr. 268
  56. ^ Nguồn: Việt Nam sử lược, bản điện tử, tr. 95
  57. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 196, trang 75
  58. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 361
  59. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư
  60. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 363
  61. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 364
  62. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 365
  63. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 366
  64. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 98
  65. ^ Lê Lợi phong thưởng 2 lần, lần 1 cho những Hỏa thủ, quân nhân Thiết đột khó nhọc ở Lũng Nhai, Lần 2 cho 93 viên được phong Công, Hầu. Một số vị vừa là quân nhân Thiết đột, vừa được phong công hầu. Ví dụ:Phạm Vấn, vừa là quân nhân Thiết đột, vừa được phong Hầu. Nguyễn Trãi thì chỉ được phong hầu
  66. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 366
  67. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 367
  68. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 369
  69. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2, Nhà xuất bản giáo dục, Dịch giả Viên sử học Việt Nam, trang 89
  70. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2, Nhà xuất bản giáo dục, Dịch giả Viên sử học Việt Nam, trang 89
  71. ^ a ă â Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ, quyển X
  72. ^ Đại Việt thông sử, quyển 2, Đế kỷ đệ nhị
  73. ^ Đại Nam nhất thống chí, Quốc sử quán triều Nguyễn, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2006, Tập 4, trang 484
  74. ^ Đại Nam nhất thống chí, Quốc sử quán triều Nguyễn, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2006, Tập 4, trang 484
  75. ^ Minh Thực Lục, tập 11, trang 828
  76. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 351
  77. ^ http://bachkim.vn/resource/daiviet.pdf
  78. ^ Cao Bằng ngày nay
  79. ^ [cms.evn.com.vn/page-vi-109/News/NewsDetail.aspx?nid=6363&t=Bia-Le-Loi-Di-san-quy-cua-dan-toc]Bia Lê Lợi: Di sản quý của dân tộc
  80. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 370
  81. ^ http://bachkim.vn/resource/daiviet.pdf
  82. ^ Đại việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, Đế Kỷ Đệ Nhị
  83. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà xuất bản giáo dục, 2006, quan chức chí, trang 532, 533, 534
  84. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà xuất bản giáo dục, 2006, quan chức chí, trang 532, 533, 534
  85. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà xuất bản giáo dục, 2006, quan chức chí, trang 532, 533, 534
  86. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà xuất bản giáo dục, 2006, quan chức chí, trang 532, 533, 534
  87. ^ a ă Việt Nam sử lược, bản điện tử, tr 96
  88. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả Viện sử học, bản điện tử, trang 361
  89. ^ http://bachkim.vn/resource/daiviet.pdf
  90. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà xuất bản giáo dục, 2006, quan chức chí, trang 176
  91. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả Viện sử học, bản điện tử, trang 390
  92. ^ http://bachkim.vn/resource/daiviet.pdf
  93. ^ Chém Chuyển vận sứ huyện Thủy Đường là Nguyễn Liêm. Liêm nhận của người 2 tấm lụa. Lê Sát căn cứ vào lệnh chỉ thời Thái Tổ ghi nhận một quan tiền hối lộ thì tâu lên xử trảm, [nên chém Liêm]. Con Liêm xin chịu chết thay cho cha, cũng không được
  94. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà xuất bản giáo dục, 2006, quan chức chí, trang 112, 113
  95. ^ sử gọi là ngụy quan, chúng tôi gọi cho dễ hiểu
  96. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả Viện sử học, bản điện tử, trang 347
  97. ^ http://bachkim.vn/resource/daiviet.pdf
  98. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả Viện sử học, bản điện tử, trang 362
  99. ^ http://bachkim.vn/resource/daiviet.pdf
  100. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả Viện sử học, bản điện tử, trang 366
  101. ^ http://bachkim.vn/resource/daiviet.pdf
  102. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả Viện sử học, bản điện tử, trang 367
  103. ^ http://bachkim.vn/resource/daiviet.pdf
  104. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, Dịch giả Ngô Thế Long, Nghịch thần truyện, trang 274,...,277
  105. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhân vật chí, Nhà xuất bản giáo dục, 2006
  106. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, quyển X, Khoa Học Xã Hội - Hà Nội , 1993
  107. ^ Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi
  108. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ toàn thư, Quyển X: Thái Tổ Cao hoàng đế
  109. ^ Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, tr 106
  110. ^ Trùng hợp lạ lùng giữa vua chúa VN và thế giới
  111. ^ a ă Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, tr 223
  112. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 99
  113. ^ Thương Thánh, sách đã dẫn, tr 33
  114. ^ Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr 167
  115. ^ Thương Thánh, sách đã dẫn, tr 39
  116. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 36
  117. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 35
  118. ^ Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, tr 225
  119. ^ Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr 172
  120. ^ Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr 185
  121. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 354
  122. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 192-193
  123. ^ Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, tr 259
  124. ^ Thương Thánh, sách đã dẫn, tr 32
  125. ^ Nguyễn Khắc Thuần, sách đã dẫn, tr 47
  126. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 10
  127. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 15
  128. ^ Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr 275, 295
  129. ^ Trương Chí Quân, sách đã dẫn, tr 38
  130. ^ Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, tr 287
  131. ^ Viện sử học, sách đã dẫn, tr 517
  132. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 13
  133. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 13: "Bình Định vương ban đầu dấy lên ở Lam Sơn, tức cũng như Bái công (Lưu Bang) với một thanh kiếm nổi lên ở Bái Trung"
  134. ^ Lam sơn thực lục, Nhà xuất bản Tân Việt, 1956, quyển 3
  135. ^ Lê Thái Dũng, sách đã dẫn, tr 59-61
  136. ^ Lê Thái Dũng, sách đã dẫn, tr 62

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thái Tổ
Sinh: 10 tháng 9 năm 1385 Mất: 5 tháng 9 1433
Tước hiệu
Tiền vị:
Trần Cảo
như là Vua nhà Hậu Trần
Hoàng đế Đại Việt
An Nam quốc vương

Nhà Lê sơ
1428-1433
Kế vị
Lê Thái Tông