Lê Thái Tổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lê Thái Tổ
黎太祖
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Le Loi statue.JPG
Tượng đài Lê Lợi tại Thành phố Thanh Hóa.
Hoàng đế Đại Việt
Trị vì 29 tháng 4 năm 1428
5 tháng 10 năm 1433
(&0000000000000005.0000005 năm, &0000000000000159.000000159 ngày)
Tiền nhiệm Sáng lập triều đại
Kế nhiệm Lê Thái Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Cung Từ Cao Hoàng hậu
Hậu duệ
Tên húy Lê Lợi (黎利)
Niên hiệu Thuận Thiên (順天)
Thụy hiệu Thống Thiên Khải Vận Thánh Đức Thần Công Duệ Văn Anh Vũ Khoan Minh Dũng Trí Hoàng Nghĩa Chí Minh Đại Hiếu Cao Hoàng đế
(統天啟運聖德神功睿文英武寬明勇智弘義至明大孝高皇帝)
Miếu hiệu Thái Tổ (太祖)
Lam Sơn động chủ (1428 - 1433)
Thân phụ Lê Khoáng
Thân mẫu Trịnh Ngọc Thương
Sinh 10 tháng 9, 1383/1385[1]
Lam Sơn, Thanh Hóa
Mất 5 tháng 10, 1433(1433-10-05) (50 tuổi)
Đông Kinh, Đại Việt
An táng Vĩnh lăng (永陵), Thanh Hóa

Lê Thái Tổ (chữ Hán: 黎太祖 10 tháng 9, 1385[2]5 tháng 10, 1433) tên thật là Lê Lợi (黎利), là một nhà lãnh đạo quân sự, người đã thành lập một đội quân người Việt và lãnh đạo đội quân này chiến đấu chống lại sự chiếm đóng của quân đội nhà Minh (Trung Quốc) từ năm 1418 cho đến lúc đánh đuổi hoàn toàn quân Minh ra khỏi Đại Việt vào năm 1428. Ông cũng thành công với các chiến dịch quân sự đánh dẹp các tù trưởng ở biên giới phía Bắc Đại Việt và quân đội Ai Lao. Ông là Vua của nước Đại Việt từ năm 1428 cho tới năm 1433. Lê Lợi có vai trò đặc biệt quan trọng với Đại Việt trong khoảng thời gian từ năm 1418 tới năm 1433 khi lãnh đạo người dân Đại Việt đánh bại quân đội xâm lược nhà Minh, sau đó xây dựng và tái thiết lại một đất nước điêu tàn khi bị quân đội nhà Minh phá hủy mọi thứ từ trước đó. Ông được coi là vị vua huyền thoại của Đại Việt với tài năng quân sự, khả năng cai trị và lòng nhân ái đối với cả kẻ thù.[3][4]

Lê Lợi sinh ra trong một gia đình giàu có, có hàng nghìn tôi tớ ở Thanh Hóa, trưởng thành trong thời kỳ Nhà Minh đô hộ nước Việt. Thời bấy giờ có nhiều cuộc khởi nghĩa của người Việt nổ ra chống lại quân Minh nhưng đều thất bại. Năm 1418, Lê Lợi tổ chức cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với lực lượng ban đầu khoảng vài nghìn người. Thời gian ban đầu ông hoạt động ở vùng thượng du Thanh Hóa, quân Minh đã huy động lực lượng tới hàng vạn quân để đàn áp, nhưng bằng cách hoặc trốn tránh hoặc sử dụng chiến thuật phục kích hoặc hòa hoãn, nghĩa quân Lam Sơn đã lớn mạnh dần lên. 5 năm sau (1424), Lê Lợi quyết định đánh vào Nghệ An, Thuận Hóa, liên tục thắng trận rồi trở ra giải phóng Thanh Hóa. Tới năm 1426, quân Lam Sơn đã làm chủ từ Thanh Hóa tới Thuận Hóa, quân Minh chỉ còn co cụm trong các thành Nghệ An, Thuận Hóa và Thanh Hóa.

Năm 1426, ông cử 3 đạo quân tiến ra Bắc, trong khi nhà Minh cử một lực lượng lớn do Vương Thông chỉ huy sang tiếp viện. Hai cánh quân của Lê Lợi kết hợp với nhau, đánh bại quân Minh ở trận Tốt Động – Chúc Động, ép Vương Thông lui vào Đông Quan cố thủ. Nghe tin, Lê Lợi lập tức mang đại quân ra Bắc, tổ chức lại quân đội, phân chia hành chính, ban hành các đạo dụ răn quân lính và nhân dân,... lập thế trận bao vây quân Minh. Nhà Minh lại tiếp tục sai các tướng Liễu Thăng, Mộc Thạnh mang quân sang tiếp viện, Lê Lợi sai quân ngăn chặn và đánh bại hoàn toàn hai đạo quân tiếp viện này. Vương Thông cùng đường phải xin hòa với quân Lam Sơn khi chưa được sự cho phép của triều đình Minh. Bất chấp sự phản đối của tướng lĩnh và dân chúng, Lê Lợi không những cho phép quân Minh được rút lui an toàn mà còn chu cấp vật tư như thuyền bè, tu sửa đường sá,... cho họ. Đến ngày 17 tháng 12 năm 1427 (âm lịch) quân Minh chính thức về nước, Lê Lợi sai Nguyễn Trãi thay mình làm bài Bình Ngô đại cáo bá cáo cho thiên hạ biết về việc quân Minh đã giảng hòa, rút quân về nước, Nam Bắc thôi việc binh đao, thiên hạ đại định.

Năm 1428, lên ngôi vua, Lê Lợi từ điện Tranh ở Bồ Đề vào thành Đông Quan, đại xá thiên hạ, đổi niên hiệu là Thuận Thiên, đặt quốc hiệu là Đại Việt, lấy Đông Kinh làm thủ đô, xưng là Thuận Thiên Thừa Vận Duệ Văn Anh Vũ Đại Vương, hiệu là Lam sơn động chủ, sử gọi là Thái Tổ Cao Hoàng đế, dựng lên triều đại quân chủ gọi là nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Lê Lợi đã xây dựng lại khoa cử, luật lệ, kinh tế, chế tác lễ nhạc, đồng thời thu thập lại sách vở, mở mang trường học... làm cho nước Đại Việt được thịnh trị.[5][6] Ông còn mở các chiến dịch quân sự trấn áp các cuộc bạo động ở vùng Tây Bắc Đại Việt, đánh bại quân Ai Lao.

Ông được các sử gia đánh giá cao ở tài năng chính trị, quân sự, kinh tế, nhưng một số sử gia hiện đại lại chỉ trích vì cho rằng ông đã làm hại hai công thần Trần Nguyên HãnPhạm Văn Xảo.[7][8] Tuy nhiên, các sử gia Lê Quý Đôn, Trần Quốc Vượng và Tạ Chí Đại Trường cho rằng Trần Nguyên HãnPhạm Văn Xảo đã phạm tội.[9][10][11] Khi Việt Nam bị người Pháp đô hộ, những người chủ trương khôi phục quốc gia đã coi Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn như là hình mẫu, niềm cảm hứng và biểu tượng của sự đoàn kết quốc gia. Như Phan Bội Châu coi ông là hình ảnh chói lọi của vị Tổ Trung hưng thứ hai sau Ngô Quyền. Trong Chiến tranh Việt Nam (1945-1975) để đề ra chiến lược đánh Pháp và Mĩ, lãnh tụ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòaTrường Chinh viết cuốn sách Kháng chiến nhất định thắng lợi đã lấy cuộc kháng chiến 10 năm của Lê Lợi làm ví dụ cho việc kháng chiến trường kì, coi đó là niềm cảm hứng để đi đến thắng lợi cuối cùng.[12][13]

Mục lục

Nguồn gốc và giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Lam Kinh (Lam Sơn) thuộc địa bàn thị trấn Lam Sơn và xã Xuân Lam (huyện Thọ Xuân), xã Kiên Thọ (huyện Ngọc Lặc), Thanh Hóa.[14]

Lê Lợi sinh ngày 6 tháng 8 năm 1385, người làng Lam Giang hay Lam Sơn[15], huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa (nay là huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa)[16]. Tằng tổ của Lê Lợi là Lê Hối, có lần đến Lam Sơn, sách Đại Việt thông sử đã chép rằng: Đã trông thấy đàn chim bay lượn quanh chân núi, giống như cảnh đông người tụ hội. Lê Hối cho là đất tốt và chuyển nhà đến ở đấy. Sau 3 năm thì thành sản nghiệp. Từ đó, các thế hệ họ Lê thay nhau làm quân trưởng ở Thanh Hóa.[17]

Lê Hối sinh ra Lê Đinh, nối được nghiệp nhà, lòng yêu người, người gần xa đến qui phụ, trong nhà đông tới hàng ngàn người; lấy vợ là Nguyễn Thị Quách, sinh được hai người con trai, con trưởng là Lê Tòng, con thứ là Lê Khoáng. Lê Khoáng lấy Trịnh Thị Ngọc Thương (người làng Chủ Sơn nay là Thủy Chú)[18]. Bà Trịnh Thị Ngọc Thương là con gái của viên Đại toát hữu, một chức tướng quân thời Trần. Hai ông bà ở làng Lam Sơn thì các tù trưởng người Ai Lao kéo đến cướp phá, hai cụ chuyển tới Thủy Chú, sinh ra Lê Học, Lê Trừ và Lê Lợi, lại sinh ba người con gái là Quốc thái Trưởng Công chúa Ngọc Tá, Quốc trưởng Công chúa Ngọc Vĩnh và Quốc trưởng Công chúa Ngọc Tiên.[19]

Lê Lợi sinh vào giờ Tý ngày 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385), tức ngày 10 tháng 9 năm 1385, niên hiệu Xương Phù năm thứ 9 đời Nhà Trần tại làng Chủ Sơn tức làng Thủy Chú, huyện Lôi Dương, quê của mẹ ông. Đại Việt sử ký toàn thư mô tả ông là người "thiên tư tuấn tú khác thường, khi lớn lên, thần sắc tinh anh kỳ vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai có một nốt ruồi, tiếng nói như chuông, dáng đi tựa rồng, nhịp bước như hổ". Lê Lợi lúc nhỏ được người anh ruột Lê Học nuôi nấng.[20]

Tương truyền, lúc Lê Lợi chưa sinh ra, ở đầu làng Chủ Sơn có một cây quế, dưới cây quế có một con hùm xám thường xuất hiện, nó hiền lành và thân cận, chưa từng hại ai. Từ khi ông ra đời không còn ai nhìn thấy con hùm xám nữa. Vào ngày vua sinh có hào quang đỏ chiếu sáng rực và mùi thơm ngào ngạt khắp làng. Bậc thức giả cho rằng ông khi lớn lên ắt sẽ làm nên nghiệp lớn.

Thời trẻ và bối cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Lợi nối đời làm phụ đạo Lam Sơn, lớn lên giữa lúc nước Đại Việt có nhiều biến động. Năm ông 16 tuổi (1400), ngoại thích nhà TrầnHồ Quý Ly sau nhiều năm nắm quyền đã truất ngôi của Trần Thiếu Đế, lên làm hoàng đế, lấy quốc hiệu là Đại Ngu, lập nên Nhà Hồ.[21]Nhà Minh (Trung Quốc) vốn rất muốn xâm lăng Đại Ngu, đã nhân cơ hội Hồ Quý Ly cướp ngôi Nhà Trần để đưa quân tràn vào đất Việt năm 1406. Hồ Quý Ly liên tục thất bại và đến tháng 6 năm 1407 thì bị bắt cùng các con trai là Hồ Nguyên Trừng, Hồ Hán Thương và cháu nội là Hồ Nhuế. Nhà Hồ sụp đổ, người Việt rơi vào 20 năm dưới sự cai trị của nhà Minh.[22]

Hoàng đế nhà Minh (Trung Quốc) lúc đó thực hiện chính sách xóa bỏ nền văn minh Đại Việt thời Nhà LýNhà Trần bằng các cách như đốt, phá và chở về Yên Kinh tất cả các loại sách, văn bia có nói về dân Việt, của dân Việt tạo lập, thiến hoạn đàn ông người Việt; dùng chính lệnh ngặt nghèo, thi hành hình phạt tàn ác, cấm muối mắm, nâng sưu thuế, bắt nộp sản vật. Ngoài ra họ còn dời dân chúng đi xa, đắp 10 tòa thành khắp nước, chia quân đóng giữ, nhằm dễ bề cai trị và trấn áp những cuộc nổi dậy của người Việt. Những hành động đó làm người Việt căm giận.[23][24] Ngay sau khi Nhà Minh chiếm đóng, tông thất Nhà Trần là Trần NgỗiTrần Quý Khoáng đã khởi binh dựng lên Nhà Hậu Trần.[17][25] Sử sách ghi chép khác nhau về thái độ của Lê Lợi đối với Nhà Hậu Trần. Đại Việt sử ký toàn thư cho biết Lê Lợi thấy họ không có thực lực nên không theo mà ẩn náu trong vùng Lam Sơn, chiêu nạp kẻ sĩ.[20] Sách Việt sử tiêu án lại cho rằng Lê Lợi từng theo Trùng Quang Đế và làm chức Kim ngô Tướng quân.[21] Theo sách Đại Việt thông sử, trong thời kì Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, Lê Lợi ở nhà đọc sách, nghiền ngẫm binh pháp, giữ mình chờ thời. Đến khi nhà Minh đánh bại nhà Hồ, Lê Lợi ngầm có chí khôi phục quốc gia, nên hạ mình tôn người hiền, bỏ tiền của ra nuôi binh sĩ, thu dụng những người mắc lối và chống đối nhà Minh, được nhiều người qui phục.[26]

Tướng Hoàng Phúc Nhà Minh biết tiếng ông, đã trao cho chức quan để dụ theo, nhưng ông không chịu khuất phục.[27] Lê Lợi "ẩn dấu ở núi rừng làm nghề cày cấy; đọc sách kinh, sử, nhất là càng chuyên tâm về các sách Thao Lược; hậu đãi các tân khách; chiêu nạp kẻ trốn, kẻ làm phản; ngầm nuôi ác kẻ mưu trí; bỏ của, phát thóc để giúp cho kẻ côi cút, nghèo nàn; hậu lễ, nhún lời, để thu bọn anh hùng hào kiệt; đều được lòng vui vẻ của họ" (theo Lam Sơn thực lục). Những hào kiệt như Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng, Lưu Nhân Chú, Trịnh Vô, Vũ Uy, Lê Liễu và Lê Xa Lôi nối tiếp đến quy phục.[28][29] Đến năm 1414 thì Nhà Hậu Trần hoàn toàn bị quân Minh đánh bại.[30][31]

Khởi nghĩa Lam Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Khởi nghĩa Lam Sơn

Năm 1416, Lê Lợi đã cùng 18 người khác tham gia hội thề Lũng Nhai nguyện đánh quân Minh cứu nước. Khi nhà Minh đánh bại hoàn toàn nhà Hồ đã kêu gọi Lê Lợi ra làm quan cho họ nhưng Lê Lợi từ chối. Lê Lợi nhận thấy thế quân Minh còn mạnh, nên đem nhiều tiền của hối lộ cho các chỉ huy nhà Minh là Trương Phụ, Trần Trí, Sơn Thọ,... để khỏi bị nạn, chờ thời cơ. Thổ quan người Việt phục vụ cho nhà Minh là Lương Nhữ Hốt quê ở huyện Cổ Đằng (nay là Hoằng Hóa, Thanh Hóa) biết Lê Lợi có chí lớn, ngầm ghen ghét, bèn báo cho quân Minh. Bị quân Minh bức bách, Lê Lợi quyết định dấy binh khởi nghĩa.[32] Lê Lợi từng nói rằng:

Mùa xuân, ngày mồng 2, tháng Giêng, năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt đồng chí hướng như Phạm Vấn, Lê Văn An, Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Ngân, Nguyễn Lý[33]... tất cả 50 tướng văn và tướng võ (trong đó có 19 người đã từng kết nghĩa anh em nguyện cùng chí hướng với nhau ở hội thề Lũng Nhai, năm 1416), chính thức phất cờ khởi nghĩa (khởi nghĩa Lam Sơn). Sách Lam Sơn thực lục chép rằng:[34]

Ông tự xưng là Bình Định vương, đặt quan chức và liêu thuộc, phát hịch các nơi xa gần cùng tham gia khởi nghĩa, giành lấy chính quyền Đại Việt.[35][36] Thời kì hoạt động ở vùng thượng du Thanh Hóa, Lê Lợi tổ chức quân đội bằng cách lập các đạo binh phụ tử gồm ba binh chủng: Quân thiết đột, quân dũng sĩ, quân nghĩa sĩ, mỗi binh chủng có hai trăm người.[37]

Thời kỳ đầu ở vùng núi Thanh Hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian đầu, lực lượng của quân Lam Sơn chỉ có vài ngàn người, lương thực thiếu thốn, thường chỉ thắng được vài trận nhỏ và hay bị quân Minh đánh bại. Hoạt động trong thời này chủ yếu ở vùng núi Thanh Hóa. Có những lúc Lê Lợi và quân Lam Sơn phải trốn chạy.[38] Thời gian từ năm 1418 tới năm 1423, trong 5 năm nghĩa quân Lam Sơn đã có 18 trận đánh với quân Minh.[39]

Ngày 9 tháng 1 âm lịch năm 1418, tướng Nhà Minh là Mã Kỳ dẫn đại quân đánh vào Lam Sơn. Lê Lợi rút quân tới Lạc Thủy, tại đây ông bố trí quân mai phục chờ địch. Khi quân Mã Kỳ tới vào ngày 13 tháng 1, Lê Lợi sai quân mai phục đổ ra đánh; theo Toàn thư: "Lê Thạch cùng các tướng Đinh Bồ, Lê Ngân, Lê Lý... dẫn đầu xông vào trận giặc, chém được hơn 3.000 thủ cấp, thu được hàng ngàn quân tư, khí giới", sau đó nghĩa quân dời về núi Chí Linh.[40]

Ba ngày sau, cộng sự người Việt tên là Ái dẫn quân Minh theo lối tắt đánh úp nghĩa quân.[41] Người Minh bắt được vợ con của Lê Lợi và thân quyến của nhiều tướng sĩ. Một bộ phận nghĩa quân nhụt chí đành bỏ cuộc, chỉ có Lê Lễ, Lê Vấn, Lê Bí, Lê Xí và Lê Đạp theo Lê Lợi vào ẩn náu ở núi Chí Linh. Nghĩa quân tuyệt lương đến 2-3 tháng; đến khi quân Minh rút lui, Lê Lợi mới trở về thu lại được tàn quân hơn 100 người, xây chiến lũy ở Lam Sơn cố thủ, phủ dụ quân lính, ước thúc cơ đội và sửa sang khí giới; nhờ đó nghĩa quân Lam Sơn lại mạnh lên.[41][42]

Cuối tháng 1 âm lịch năm 1418, nghĩa quân Lam Sơn bị thua trận ở Mường Một, chạy thoát về Trịnh Cao, quân Minh đuổi theo vây chặt các lối hiểm yếu. Trong tình thế nguy cấp Lê Lợi hỏi mọi người: "Có ai dám bắt chước Kỷ Tín ngày xưa không?" [41] Lúc ấy chỉ có Lê Lai nhận lời, đem quân ra khiêu chiến và tự xưng là chúa Lam Sơn. Quân Minh vây đánh và bắt được Lê Lai và một số tướng lĩnh khác. Vì tưởng là Lê Lợi, người Minh đã xử tử Lê Lai một cách tàn ác và lui quân. Nhờ hành động của Lê Lai, Lê Lợi cùng các tướng lĩnh khác được thoát.[43] Năm 1419, tận dụng thời cơ quân Minh lui quân, Lê Lợi tiến hành xây dựng thành lũy, sửa sang chiến cụ và động viên sĩ khí quân đội.[43]

Tháng 10 âm lịch năm 1420, quân Minh tiến đánh nghĩa quân Lam Sơn, Lê Lợi cho quân mai phục ở bến Bổng, đánh thắng và thu hơn 100 con ngựa. Lê Lợi cho quân nghỉ ở Mường Nanh, sau dời quân đóng ở Mường Thôi.[44] Lý Bân và Phương Chính được Đồng tri châu Quỳ Châu là Cầm Lạn dẫn đường, kéo 10 vạn đại quân tới, theo đường từ Quỳ Châu tới Mường Thôi. Lê Lợi sai Lê Triệu, Lê Lý và Lê Vấn đem quân phục ở xứ Bồ Mộng để phục đánh tiền quân Nhà Minh. Quân Minh đến, nghĩa quân Lam Sơn đổ ra đánh, quân Minh tan vỡ, nghĩa quân giết 300 quân Minh.[45] Đại quân Minh tiến gần tới dinh Lê Lợi đóng, Lê Lợi sai quân mai phục ở chỗ hiểm yếu. Ngày hôm sau, Lê Lợi tung quân ra đánh, quân Minh đại bại ở xứ Bồ Thi Lang và bị mất hơn 1000 quân; Lý Bân và Phương Chính chỉ chạy thoát được thân mình. Nghĩa quân truy sát đến 6 ngày đêm mới dẫn quân trở về.[46]

Tận dụng thời cơ, Lê Lợi tiến quân đóng ở trại Ba Lẫm thuộc Lỗi Giang, quân Minh không dám khiêu chiến. Tướng Nhà Minh là Tạ Phượng, Hoàng Thành lui binh về Nga Lạc, rồi lại về giữ trại Quan Du để phòng vệ thành Tây Đô, giữ chặt lũy không ra. Lê Lợi sai tướng Lam Sơn là Lê Hào, Lê Sát đánh trại Quan Du, chém hơn nghìn người.[46] Chiến thắng Thị Lang là trận đánh mang tính bước ngoặt với nghĩa quân Lam Sơn, trước nay nghĩa quân dù thắng cũng phải rút chạy, nay đánh bại 10 vạn quân địch, thừa thế đuổi theo, lập chiến tuyến ở Lỗi Giang, dòm ngó Tây Đô. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng "từ đó thế giặc ngày một suy".[47] Lê Lợi nhân cơ hội đó mộ binh, chiêu tập nhân dân các xứ, các huyện bên cạnh đều hưởng ứng.[48]

Ngày 20 tháng 11 năm 1421, tướng Nhà Minh là Trần Trí thu quân các vệ Giao Châu cùng ngụy binh, hơn 10 vạn quân tiến tới chiến tuyễn Lỗi Giang. Lê Lợi cho rằng:[49]

Lê Lợi chia quân tập kích doanh trại quân Minh vào ban đêm, phá 4 trại, chém hơn 1000 người. Trần Trí không nản, đem quân phá núi, mở đường tiến đánh nghĩa quân, Lê Lợi sai quân phục ở đèo Ống, đánh tan quân Trần Trí, khiến Trí tháo chạy.[49][50]

Vừa lúc ấy quân Ai Lao đem 3 vạn quân, 100 thớt voi đột xuất đến doanh trại nghĩa quân Lam Sơn, phao tin là hợp sức với nghĩa quân đánh quân Minh. Lê Lợi chấp thuận, quân Ai Lao nửa đêm đánh úp nghĩa quân. Lê Lợi đích thân đốc chiến, đánh tan quân Ai Lao, chém 1 vạn người, bắt 14 con voi, truy kích 4 ngày đêm đến tận sào huyệt quân Ai Lao rồi dẫn quân trở về đóng ở Sách Thủy.[49] Một thời gian sau, tù trưởng Ai Lao là Mãn Sát xin giảng hòa, Lê Lợi cho đó là kế gian, các tướng cố xin hòa, Bình chương Lê Thạch tiến đánh nhưng trúng phải chông ngầm mà chết.[49]

Trận Sách Khôi[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 âm lịch năm 1422, viên tướng Nhà Minh là Lý Bân bệnh mà chết. Tháng 12 âm lịch năm 1422, quân Minh và quân Ai Lao tiến đánh nghĩa quân ở Trại Quan Du, do bị đánh cả hai mặt, nghĩa quân nhiều người chết và bị thương. Lê Lợi rút quân về Sách Khôi, 7 ngày sau quân Minh tiến tới. Lê Lợi nói với các quân sĩ:[51]

Nói xong chảy nước mắt, quân sĩ xúc động, tranh nhau xin chết. Lê Lĩnh, Phạm Vấn, Lê Hào, Lê Triện xông lên trước, chém tướng Nhà Minh là Phùng Quý và hơn 1000 người, bắt được 100 con ngựa. Quân Minh đại bại, Mã Kỳ, Trần Trí thoát thân chạy về Đông Quan; quân Ai Lao tan vỡ.[53]

Giảng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau trận Sách Khôi, Lê Lợi thu quân về núi Chí Linh, nghĩa quân thiếu lương 2 tháng, phải đẵn măng rừng, rau và củ để ăn, nhiều người bỏ trốn. Lê Lợi bắt chém viên tướng trốn đi tên Khanh, từ đó việc quân mới tạm an ổn. Do chinh chiến nhiều ngày, tướng sĩ mệt mỏi nên Lê Lợi chấp thuận hòa hoãn với quân Minh, sai Lê Vận, Lê Trăn đi giảng hòa, và được quân Minh chấp thuận.[54]

Ngày 14 tháng 4 âm lịch năm 1423, Lê Lợi lui quân về Lam Sơn. Các chỉ huy quân Minh như Tham tướng Trần Trí và Nội quan Sơn Thọ đem nhiều cá, muối, thóc giống và nông cụ tặng nghĩa quân, Lê Lợi tặng vàng, bạc đáp lễ, nhưng vẫn bí mật cảnh giác. Quân Minh cho rằng không khuất phục được Lê Lợi, bèn bắt giam nhóm sứ giả Lê Trăn không cho về. Lê Lợi đình chỉ việc giảng hòa, tướng sĩ Lam Sơn đều căm giận người Minh và thề chiến đấu tới cùng.[55][56]

Tiến vào Nghệ An[sửa | sửa mã nguồn]

Nghĩa quân Lam Sơn tiến quân vào Nghệ An.

Ngày 20 tháng 9 âm lịch năm 1424, khi Lê Lợi hỏi mọi người rằng: "Nay chúng ta nên tới xứ nào để mưu đồ việc nước?", Thiếu úy Nguyễn Chích đã đáp:[57]

Lê Lợi nghe theo, tiến quân vào Nghệ An. Ngày 20 tháng 9 âm lịch năm 1424, Lê Lợi chia quân đánh úp thành Đa Căng, phá được thành này, quân Minh bị giết và chết đuối hơn 1000 người. Tham chính Lương Nhữ Hốt chạy thoát, nghĩa quân thu nhiều lương thực, khí giới. Sau đó tướng Nhà Minh là Hoa Ánh đến cứu, Lê Lợi xua quân đánh tràn, quân Minh thua to, chạy vào Tây Đô. Lê Lợi sai thả về tất cả vợ, con, gia quyến của quân Minh bị bắt, rồi tiến quân vào châu Trà Long.[58]

Lê Lợi dẫn quân qua núi Bồ Lạp thuộc Châu Quì, thì bị Chỉ huy đồng tri nhà Minh Sư Hựu, Tri phủ châu Trà LânCầm Bành đem 5000 quân đón ở mặt trước, mặt sau bị Trần Trí, Lý An, Phương Chính, Thái Phúc uy hiếp. Nhân trời sắp tối, Lê Lợi sai phục binh trong rừng đón đánh Trần Trí, Lý An, Phương Chính, quân Minh tan vỡ, Đô ty Trần Trung bị chém, mất 2000 người, 100 con ngựa. Ngày sau, nghĩa quân đến Trang Trịnh Sơn, châu Trà Lân, đánh bại Sư Hựu, chém thiên hộ Trường Bản và hơn 1000 người. Lê Lợi dẫn quân đến sách Mộc, Trần Trí đuổi theo nhưng không dám tiến sâu, lui về giữ thành Nghệ An, đưa trả Lê Trăn cầu hòa.[59]

Tháng 11 âm lịch năm 1424, Lê Lợi sai người chiêu dụ Cầm Bành. Bành cự tuyệt không theo, Cầm Bành cùng với hơn ngàn quân lên dựng rào lũy trên đỉnh núi để đón quân cứu viện. Nghĩa quân bao vây, Phương Chính, Sơn Thọ muốn đem quân cứu nhưng không dám tiến quân, sai người mang thư cầu hòa nghĩa quân, nhằm giải vây Cầm Bành. Lê Lợi nói rằng: "Cầm Bành đang nguy khốn, bọn Chính đáng lẽ phải cấp tốc cứu viện, nay lại dùng dằng, hẳn là có ý lo sợ. Chi bằng ta giả cách cho hòa để xem tình thế ra sao, tin đi tin lại mất hàng tuần hàng tháng, thì Cầm Bành lúc ấy chắc đã bị bắt rồi". Rồi ông viết thư để trên bè thả theo dòng sông, Lê Lợi viết thư rằng vẫn muốn giảng hòa, nhưng bị Cầm Bành chặn đường, xin cho sứ giả đến hòa giải để thông đường về. Phương Chính nhận được thư, sai Trần Đức Nhị đến bảo Cầm Bành hòa giải, Bành biết viện binh không đến, liền đầu hàng. Lê Lợi tiếp quản châu Trà Lân và ra lệnh rằng:[60]

Lê Lợi ủy lạo, động viên các bộ tộc, khao thưởng tù trưởng và mộ quân thêm 5000 người. Quân Minh nghe tin Cầm Bành ra hàng, quay lại đánh trại Trà Lân, nhưng bị Lê Lợi đánh lui.

Vây đánh thành Nghệ An[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Lợi tiến quân tới đánh thành Nghệ An, quân sắp đi, nhận được tin báo quân Minh đem quân thủy bộ tới. Lê Lợi bàn với các tướng:[58]

Trên tình hình đó, ông chia hơn nghìn quân, sai tướng Lê Liệt theo đường tắt giữ huyện Đỗ Gia, cướp thế tranh tiên của địch. Còn Lê Lợi thì chính mình cầm đại quân, đóng giữ vào nơi hiểm trở để đợi. Chừng ba, bốn ngày, người Minh đem hết cả quân, mặt thủy, mặt bộ đều tới ải Khả Lưu, đắp lũy và đóng trại ở miệt dưới. Nghĩa quân ở miệt trên, dương cờ, đánh trống, đêm thì đốt lửa. Lại ngầm sai quân tinh nhuệ và bốn thớt voi, qua sông phục nơi hiểm yếu. Trời sắp sáng, quân Minh bèn dẫn quân, trên cạn, dưới sông đều tiến, để đánh dinh trại của nghĩa quân. Lê Lợi giả vờ lui, nhử giặc vào chỗ có quân phục. Giặc không ngờ, đem hết quân vào sâu. Quân phục bốn mặt nổi lên, xông đánh, cả phá được trận giặc. Quân Minh thiệt hại vô số, rồi tựa núi, đắp lũy cố thủ và không tấn công nữa.[62]

Khi ấy, lương của nghĩa quân không tới 10 ngày, quân Minh còn nhiều lương, Lê Lợi nhận định rằng:[62]

Ông bèn sai đốt hết trại, dinh, rồi giả vờ chạy lên miệt trên; nhưng thật ra quân Lam Sơn đi ngầm đường tắt, đợi quân Minh đến thì đánh. Quân Minh cho rằng nghĩa quân bỏ chạy, đem quân từ dưới lên đóng vào dinh trại cũ. Ngày sau, Lê Lợi đem quân khiêu chiến, quân Minh tung hết quân ra đánh. Lê Sát, Lê Vấn, Lê Bí, Lê Lễ, Lê Nhân Chú, Lê Ngân, Lê Chiến, Lê Tông Kiều, Lê Khôi, Lê Bôi, Lê văn An đều thi nhau hãm trận. Quân Minh vỡ trận, người chết vô số, thuyền trôi nghiền, quân lính chết đuối tắc cả dòng sông. Tướng tiên phong Hoàng Thành bị chém chết, tướng Chu Kiệt cùng hơn 1000 quân Minh bị bắt, nghĩa quân thừa thắng đuối 3 ngày, quân Minh chạy vào thành Nghệ An cố thủ.[62]

Tháng 5 năm 1425, Lê Lợi lại sai Đinh Lễ đem quân ra đánh Diễn Châu, quân Minh thua chạy về Tây Đô (Thanh Hóa). Sau đó ông lại điều Lê Sát, Lưu Nhân Chú và Lý Triện tiếp ứng cho Đinh Lễ đánh ra Tây Đô, quân Minh ra đánh lại bị thua phải rút vào cố thủ trong thành.[59] Lê Lợi một mặt siết vòng vây quanh thành Nghệ AnTây Đô, mặt khác sai Trần Nguyên Hãn, Doãn Nỗ, Lê Đa Bồ đem quân vào nam đánh Tân Bình, Thuận Hóa. Tướng Minh là Nhậm Năng ra đánh bị phá tan. Sau đó Lê Lợi lại sai Lê Ngân, Lê Văn An mang thủy quân tiếp ứng cho Trần Nguyên Hãn chiếm đất Tân Bình, Thuận Hóa. Quân Minh phải rút vào cố thủ nốt.[59] Như vậy đến cuối năm 1425, Lê Lợi làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào, các thành của đối phương đều bị bao vây.[59]

Chiến dịch Tốt Động - Chúc Động[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 1426, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh Bắc tiến. Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lý Triện ra phía Tây Bắc, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía Đông Bắc; Đinh Lễ, Nguyễn Xí ra đánh Đông Quan.[63][64] Lý Triện tiến đến gần Đông Quan gặp Trần Trí kéo ra, liền đánh bại Trần Trí. Nghe tin viện binh nhà Minh ở Vân Nam sắp sang, Triện chia quân cho Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả ra chặn quân Vân Nam, còn Lý Triện và Đỗ Bí hợp với quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí đánh Đông Quan.[65]

Phạm Văn Xảo phá tan viện binh Vân Nam. Quân Vân Nam chạy về cố thủ ở thành Xương Giang. Trần Trí thấy mất viện binh bèn cầu viện Lý An ở Nghệ An. Lý An và Phương Chính để Thái Phúc ở lại giữ thành Nghệ An, mang quân vượt biển ra cứu Đông Quan. Lê Lợi liền giao cho Lê Văn An, Lê Văn Linh vây thành, còn mình kéo đại quân ra Bắc.[66][67]

Vua Minh sai Vương Thông, Mã Anh mang quân sang tiếp viện. Thông hợp với quân ở Đông Quan được 10 vạn, chia cho Phương Chính, Mã Kỳ. Lê Triện, Đỗ Bí đánh bại Mã Kỳ ở Từ Liêm, lại đánh luôn cánh quân của Chính. Cả hai tướng thua chạy, về nhập với quân Vương Thông ở Cổ Sở. Lý Triện lại tiến đánh Vương Thông, nhưng Thông đã phòng bị, Triện bị thua phải rút về Cao Bộ, sai người cầu cứu Nguyễn Xí.[64] Đinh Lễ, Nguyễn Xí đem quân đến đặt phục binh ở Tốt Động, Chúc Động. Nhân biết Vương Thông định chia dường đánh úp Lý Triện, hai tướng bèn tương kế tựu kế dụ Thông vào ổ mai phục Tốt Động.[68] Quân Vương Thông thua to, Trần Hiệp, Lý Lượng và 5 vạn quân bị giết, 1 vạn quân bị bắt sống. Thông cùng các tướng chạy về cố thủ ở Đông Quan.[69]

Kết cục của trận Tốt Động-Chúc Động đã làm phá sản kế hoạch phản công của Vương Thông đồng thời tạo ra lợi thế cho nghĩa quân Lam Sơn buộc quân Minh phải rút về cố thủ và chấp nhận đàm phán. Do mất rất nhiều vũ khí trong trận này, quân Minh buộc phải tìm cách chế tạo vũ khí, Vương Thông đã sai quân phá chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh để làm hỏa khí. Trong khi đó, quân Lam Sơn có thêm rất nhiều vũ khí và có thể đã tiếp thu thêm công nghệ chế tạo súng của quân Minh.[70]

Sách Đại Việt thông sử viết rằng:

Sử chép ba đạo quân ra bắc của Lê Lợi chỉ có tổng số 9000 người. Các nhà nghiên cứu cho rằng con số đó chưa chính xác vì các trận đánh của ba đạo quân này đều có quy mô khá lớn và lực lượng quân Minh sang nhập vào khá đông, do đó để giành thắng lợi, 3 cánh quân (sau đó lại chia thành 4) chắc phải đông hơn. Với một vài ngàn người khó đương nổi lực lượng đông và mạnh của quân Minh như vậy. Căn cứ sách Đại Việt thông sử, khi quân Minh sắp rút về, Lê Lợi đã bàn với các tướng, đại ý rằng: quân Lam Sơn hiện có tổng số 35 vạn, ông dự định sẽ cho 25 vạn về làm ruộng và tuyển lấy 10 vạn làm quân thường trực của triều đình. Qua đó thì thấy những cánh quân ra bắc phải có một vài vạn mỗi cánh quân. Lê Lợi được tin thắng trận liền sai Trần Nguyên Hãn, Bùi Bị chia hai đường thủy bộ tiến ra gần Đông Quan.[69][72]

Lê Lợi tiến quân ra Bắc, lập Trần Cảo, bao vây thành Đông Quan[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trần Cảo (vua)

Cánh quân của Đinh Lễ, Lý Triện sau trận Tốt Động - Chúc Động liền bao vây thành Đông Quan, báo tin về hành dinh Lê Lợi đóng ở Lỗi Giang Thanh Hóa. Được tin, Lê Lợi liền đem đại quân và 20 con voi, theo đường thủy tiến gấp ra Bắc, đóng dinh ở sông Lũng Giang (sông Đáy). Sau đó Lê Lợi tiến đánh một trận lớn phá tiền đồn quân Minh bảo vệ thành Đông Quan, khiến cho quân Minh phải chạy hoàn toàn vào Đông Quan đắp lũy cố thủ. Lê Lợi nhân cơ hội quân Minh bị vây ở Đông Quan, liền chia các lộ trấn ở Đông Đô thành bốn đạo, xếp đặt lại tổ chức, kén chọn người tài, trị tội các ngụy quan người Việt phục vụ cho nhà Minh.[73]

Vương Thông không dám ra đánh, viện cớ tìm lại tờ chiếu của vua Minh năm 1407 khi đánh nhà Hồ, có nội dung muốn lập lại con cháu nhà Trần[74] ra điều kiện với Lê Lợi rằng Thông sẽ rút về nếu Lê Lợi lập con cháu nhà Trần làm vua.[75][76]

Lê Lợi vì đại cuộc, muốn quân Minh nhanh chóng rút về nên đồng ý. Ông sai người tìm được Trần Cảo[77] bèn lập làm vua, còn ông tự xưng là Vệ quốc công.[75][76] Vương Thông ngoài mặt giảng hòa nhưng lại sai quân đào hào cắm chông phòng thủ và mật sai người về xin cứu viện. Lê Lợi biết chuyện liền cắt đứt giảng hòa.[75]

Sau khi cắt đứt giảng hòa, Lê Lợi sai các tướng đi đánh chiếm các thành ở Bắc Bộ như Điêu Diêu (Thị Cầu, Bắc Ninh), Tam Giang (Tam Đái, Phú Thọ), Xương Giang (phủ Lạng Thương), Kỳ Ôn, không lâu sau đều hạ được.[76] Đầu năm 1427 ông chia quân tiến qua sông Nhị, đóng dinh ở Bồ Đề,[78] sai các tướng đánh thành Đông Quan. Ông đặt kỷ luật quân đội rất nghiêm để yên lòng nhân dân. Do đó quân Lam Sơn đi đến các nơi rất được lòng dân.[79]

Tướng Minh là Thái Phúc nộp thành Nghệ An xin hàng. Lê Lợi sai Thượng thư bộ Lại là Nguyễn Trãi viết thư dụ đối phương ở các thành khác ra hàng.[80] Nhân lúc quân Lam Sơn vây thành có vẻ lơi lỏng, quân Minh ở Đông Quan ra đánh úp. Lê Triện tử trận ở Từ Liêm, Đinh LễNguyễn Xí bị bắt ở Thanh Trì. Sau Đinh Lễ bị giết, Nguyễn Xí trốn thoát được.[79]

Chiến dịch Chi Lăng - Xương Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Trận Chi Lăng - Xương Giang năm 1427.

Cuối năm 1427, vua Minh Tuyên Tông điều viện binh cứu Vương Thông, sai Liễu Thăng mang 10 vạn quân tiến sang từ Quảng Tây; Mộc Thạnh mang 5 vạn quân từ Vân Nam kéo sang.[81]

Trước khi viện binh Nhà Minh kéo sang Lê Lợi đã sai Thái úy[82] Trần Nguyên Hãn, Tư mã Lê Sát, Thiếu úy Nguyễn Lý công thành gấp hạ thành Xương Giang. Thành Xương Giang bị nghĩa quân vây trong hơn 6 tháng, không hạ được, đến đây Lê Lợi đích thân ra lệnh cho các tướng đắp đất, mở đường, dùng câu liêm, giáo dài, nỏ cứng, tên lửa và súng lửa công phá thành từ bốn mặt. Quân Lam Sơn cuối cùng đã hạ được Xương Giang.[83] Các tướng Minh chỉ huy thành này là Lưu Tử Phụ và Lý Nhiệm chết trận.[82]

Lại ra lệnh dời người ở những vùng đối phương đi qua như Lạng Giang Bắc Giang, Quy Hóa Tuyên Quang, để đồng không để cô lập đối phương. Các tướng khuyên Lê Lợi đánh thành Đông Đô nhưng Lê Lợi phản đối:[83]

Lê Lợi họp bàn với các tướng, nói rằng:[83]

Biết cánh Liễu Thăng là quân chủ lực, ông sai Lê Sát, Lê Nhân Chú, Lê Lãnh, Đinh Liệt, Lê Thụ mang quân phục ở Chi Lăng, lại sai Lê Văn An, Lê Lý mang quân tiếp ứng. Đối với cánh quân Mộc Thạnh, ông biết Thạnh là viên tướng lão luyện, sẽ ngồi chờ thắng bại của Liễu Thăng mới hành động nên hạ lệnh cho Phạm Văn XảoTrịnh Khả cố thủ không đánh.[84]

Tướng trấn giữ biên giới là Trần Lựu liên tục giả cách thua chạy từ Ải Nam Quan về Ải Lưu rồi lại lui về Chi Lăng. Ngày 18 tháng 9 âm lịch, Thăng đuổi đến Chi Lăng. Trần Lựu lại thua, Thăng đắc thắng mang 100 quân kị đi trước. Ngày 20, Thăng bị phục binh của Lưu Nhân Chú, Lê Sát, Trần Lựu đổ ra chém chết.[84]

Các tướng thừa dịp xông lên đánh quân Minh, giết hơn 1 vạn quân, chém được Lương Minh, Lý Khánh tự vẫn. Tướng Minh còn lại Hoàng Phúc, Thôi Tụ cố kéo về thành Xương Giang thế thủ nhưng đến nơi mới biết thành đã bị quân Lam Sơn hạ, phải đóng quân ngoài đồng không. Lê Lợi sai Trần Nguyên Hãn chặn đường vận lương, sai Phạm Vấn, Lê Khôi đem 3000 quân Thiết đột, 4 thớt voi, cùng với Lê Sát, Nguyễn Lý, Lưu Nhân Chú, Lê Văn An tấn công, giết 5 vạn quân Minh ở Xương Giang. Hoàng Phúc và hơn 3 vạn quân bị bắt, Thôi Tụ không hàng bị giết.[84] Mộc Thạnh nghe tin Liễu Thăng thua bèn rút chạy. Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả đuổi theo chém hơn 1 vạn quân, bắt sống 1000 người ngựa.[84]

Hội thề Đông Quan[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hội thề Đông Quan

Ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi, tức 10 tháng 12 năm 1427, Lê Lợi cùng các tướng Nhà Minh: Tổng binh Thành Sơn hầu Vương Thông, Tham tướng Mã Anh, Thái giám Sơn Thọ, Mã Kỳ, Vinh Xương hầu Trần Trí, An Bình hầu Lý An, Đô ty Phương Chính, Chưởng đô ty sự Trần Tuyền, Trần Hựu, Giám sát Ngự sử Chu Kỳ Hậu, Cấp sự trung Quách Vĩnh Thanh, Hữu bố chính sứ Dặc Khiêm, Tả hữu tham chính là Hồng Bỉnh Lương, Lục Trinh và Lục Quảng Bình, Án sát sứ Dương Thời Tập và Thiêm sự Quách Đoan làm hội thề ở cửa Nam thành Đông Đô.[85]

Vương Thông hẹn rằng đến ngày 12 tháng 12 âm lịch thì đem quân về nước và sai người đem tờ trình xin trả lại đất đai cho nghĩa quân. Lê Lợi sai giải vây thành Đông Quan, kéo quân lui về, lại sai giải vây cho 3 thành: Tây Đô, Cổ Lộng và Chí Linh; truyền cho nghĩa quân hộ tống các tướng trong 3 thành trên dẫn quân về thành Đông Quan, để cùng về Trung Quốc.[85]

Ngày 29 tháng 11 âm lịch năm 1427, Lê Lợi sai Lê Thiếu Dĩnh, Lê Cảnh Quang đem tờ biểu cầu phong của Trần Cảo, cùng các vật phẩm theo viên chỉ huy do Vương Thông sai, sang triều Minh.[86]

Các tướng sĩ và người dân căm tức sự tàn ngược của quân Minh, nên khuyên ông giết các bại tướng. Lê Lợi đáp rằng:[87][88]

Tháng 12 âm lịch năm 1427, Lê Lợi ra lệnh Cánh đường thủy, cấp 500 chiếc thuyền, cho Phương Chính, Mã Kỳ lãnh nhận. Cánh đường bộ, cấp lương thảo, cho Sơn Thọ, Hoàng Phúc lãnh nhận. Còn hơn 2 vạn người bị bắt hoặc đầu hàng và 2 vạn con ngựa thì do Mã Anh lãnh nhận. Chinh man tướng quân Trần Tuấn đem quân trấn thủ đi theo. Tất cả đều tới dinh Bồ Đề lạy tạ mà về.[88]

Ngày 12 tháng 12 âm lịch năm 1427, Phương Chính, Mã Kỳ tới dinh Bồ Đề cáo biệt Lê Lợi, ở lại suốt một buổi chiều, Lê Lợi sai sắm trâu ngựa, trướng vẽ và lễ phẩm hậu tặng.[88] Đến ngày 17, tướng Minh là Vương Thông dẫn quân bộ đi sau. Lê Lợi đã nói chuyện với Vương Thông suốt đêm trước khi từ biệt nhau. Ông còn sai đưa trâu rượu, cờ thêu, trướng vẽ cùng các lễ vật tiễn Vương Thông rất hậu. Quân thủy, bộ của ba thành Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh cùng lục tục rút tiếp. Từ đây, chiến tranh chấm dứt với thắng lợi hoàn toàn của nghĩa quân Lam Sơn.[86] Lê Lợi sai Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết về việc quân Minh đã giảng hòa, rút quân về nước, Nam Bắc thôi việc binh đao, thiên hạ đại định. Đây là áng văn chương rất có giá trị, được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam, sau bài thơ Nam quốc sơn hà.[89]

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh điện Kính Thiên vào thế kỉ 19, nơi Lê Thái Tổ tuyên bố lên ngôi vào năm 1428.

Lê Lợi lên ngôi vua nước Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi quân Minh rút về vào tháng 12 năm 1427, Trần Cảo là người được triều đình nhà Minh phong làm Quốc vương của Đại Việt. Đến tháng Giêng, năm 1428, Trần Cảo tự biết mình không có công, lòng người không theo nên bỏ trốn vào châu Ngọc Ma (phủ Trấn Ninh), bị quan quân bắt mang về và bị ép uống thuốc độc chết. Trước khi lên ngôi vào ba tháng sau đó, Lê Lợi đã thi hành nhiều chính sách khác nhau để khôi phục đất nước. Vào tháng 8 năm 1427, lúc chiến sự đang diễn ra, Lê Lợi sai sứ sang nhà Minh xin lập Trần Cảo làm An Nam quốc vương, vua Minh đồng ý. Liền sai sứ giả sang sắc phong, đến tháng 3 năm 1428 đoàn sứ giả nhà Minh mới đến được thành Đông Quan, Đại Việt. Lê Lợi lại sai sứ giả sang nhà Minh báo tang về cái chết của Trần Cảo.[90][91][92]

Ngày 15 tháng 4 âm lịch năm 1428, Lê Lợi từ điện Tranh ở Bồ Đề vào thành Đông Quan, đại xá thiên hạ, đổi niên hiệu là Thuận Thiên, đặt quốc hiệu là Đại Việt, lấy Đông Kinh làm thủ đô, xưng là Thuận Thiên Thừa Vận Duệ Văn Anh Vũ Đại Vương, hiệu là Lam Sơn động chủ, sử gọi là Thái Tổ Cao Hoàng đế, dựng lên triều đại quân chủ gọi là nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam.[92][93]

Quan hệ ngoại giao với nhà Minh (Trung Quốc)[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sử gia Phan Huy Chú, do Việt Nam ở phía Nam Trung Quốc, tuy là một nước tự chủ, có qui mô riêng, ở trong xưng đế, mà bên ngoài thì phong vương, vẫn chịu phong hiệu của triều đình Trung Quốc. Vào thời nhà Hồ, nhà Minh xâm lược nước Việt trên danh nghĩa phù Trần diệt Hồ. Khi Lê Lợi khởi nghĩa đánh nhà Minh, cho tới năm 1427, khi ấy nghĩa quân Lam Sơn đang vây thành Đông Quan, Lê Lợi giả lập một người họ Trần là Trần Cảo làm vua, sai sứ sang nhà Minh cầu phong cho Trần Cảo làm An Nam quốc vương. Nhà Minh đồng ý, sai sứ sang nước Việt để thụ phong cho Trần Cảo. Nhưng khi sứ giả nhà Minh sang Đại Việt năm 1428, Trần Cảo đã chết, Lê Lợi sai sứ sang báo tang, và ông tổ chức lễ lên ngôi làm vua nước Đại Việt mà không cần thông qua triều đình nhà Minh.[94][95][96]

Sau đó Lê Lợi liên tiếp cử các đoàn sứ giả sang triều đình nhà Minh xin lại người con gái ông bị bắt lúc 9 tuổi khi loạn lạc và hối thúc họ phong vương cho mình, với lý do con cháu nhà Trần đã tuyệt diệt. Ngược lại, nhà Minh sai sứ giả sang Đại Việt nói rằng con gái Lê Lợi đã chết vì bệnh đậu mùa và dụ Lê Lợi trả lại người bị bắt và vũ khí Đại Việt còn giữ lại. Lê Lợi đã không trả vũ khí thu được trong chiến tranh cho nhà Minh, đến năm 1430, triều đình nhà Minh mới từ bỏ yêu sách đòi trả vũ khí, chiếu chỉ vua Minh gửi cho Lê Lợi (ngày 7/5/1430) có đoạn viết: Binh khí nhằm mục đích bảo vệ dân, dân chúng An Nam đều là con đỏ, nay để lại đó hay mang về đây Trẫm đều không hỏi thêm. Duy quan lại, quân nhân của triều đình cùng gia thuộc đều chưa trở về, họ đều có cha mẹ vợ con trông ngóng, khiến ân ái cách tuyệt lòng sao nỡ...[94][95]

Đến ngày 15/7/1431 triều đình nhà Minh vẫn không chịu phong Vương cho Lê Lợi, mà chỉ phong làm quyền cai quản nước An Nam, gọi là quyền thự An Nam quốc sự. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Lợi sai sứ sang nhà Minh tạ ơn và nộp 5 vạn lạng vàng tuế cống, nhưng theo sách này chép ngày 19/12/1433, nhà Minh sai sứ đòi triều đình Đại Việt số vàng cống hàng năm: Ngày 19, nhà Minh sai Chánh sứ là Binh bộ Thị lang Từ Kỳ, Phó sứ là Hành nhân ty Hành nhân Quách Tế sang đòi số vàng cống hàng năm. Trước đó, nhà Minh mấy lần sai sứ sang đòi nhiều số vàng cống hàng năm. Cao Hoàng đế xin theo như lệ cống năm Hồng Vũ thứ 3. Vua Minh vẫn cứ không nghe, đến đây lại sai bọn Kỳ, Tế sang đòi. Không rõ Lê Lợi có cống số vàng cống theo lệ cho triều đình nhà Minh hay không hay cống nhiều hơn.[94]

Nhà nước và chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Đôi rồng đá ở khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa, biểu tượng quyền lực của chế độ quân chủ.

Lúc nghĩa quân Lam Sơn tiến ra Đông Đô năm 1427, Lê Lợi chia các lộ, trấn làm 4 đạo, đặt liêu thuộc văn võ ở trong ở ngoài; đặt chức tướng quân, các thị vệ và chức tuần kiểm ở cửa biển, còn vệ quân các lộ, các phủ thì bổ quan đại thần làm kiểm tri, tổng tri và đồng tri để chỉ huy và thi hành mệnh lệnh, quân ở 4 đạo thuộc về các quan này; ở nơi trấn thủ thì có chức quan sát và phòng ngự. Theo Lê Quý Đôn, Lê Lợi phỏng theo chế độ nhà Trần, chằm cho các đơn vị to nhỏ giữ gìn lẫn nhau và các cấp ràng buộc với nhau.[97]

Vua Lê Thái Tổ sau khi lên ngôi năm 1428, chia trong nước làm năm đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc và Hải Tây. Mỗi đạo đặt một vệ quân, mỗi vệ đặt chức Tổng quản(có các chức tổng quản, đô tổng quản, đồng tổng quản, trên dưới liên hệ nhau, lớn nhỏ giữ gìn nhau). Ông còn đặt chức Hành khiển ở năm đạo, chia giữ việc sổ sách và từ tụng của quân dân, đứng đầu là Hành khiển, thứ đến là các chức Tham tri, Đồng tri, Chủ bạ, Đạo thuộc. Các đạo đều đặt các ban tả hữu, giữa của cải chứa trong kho tàng (có chức Đô tri).[98]

Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí, Lê Thái Tổ còn có những chính sách hành chính như sau: Định quan các lộ, các huyện (lộ đặt Tri phủ, Chưởng ấn, thứ đến các chức Trấn phủ sứ, An phủ sứ, Tuyên phủ sứ, Chiêu thảo sứ...) và đặt quan trấn thủ nơi hiểm yếu.[98] Đặt các quan có các tên gọi: Bình chương, Tư đồ (sau thêm chữ đại), đại Tư không, đại Tư mã, Khu mật đại sứ, Thiếu úy, Thượng tướng, Đại tướng, Á hầu, Thông hầu, Quan phục hầu, Trước phục hầu.[99] Chia các lộ ở Đông Đô làm bốn đạo, đặt các chức văn võ liêu thuộc trong ngoài, có chức Bộc xạ, Thị trung, Thiếu bảo, Hành khiển, Thượng thư, Hàn lâm, các chức quan bốn đạo (chức chánh mang hàm tổng tri, coi việc quân dân; chức phó mang hàm kiên tri quân dân bạ tịch), quan Mật viện, quan các bộ (chẳng hạn như Thượng thư bộ Lại Nguyễn Trãi), quan các sảnh (như Thượng thư sảnh), quan Hàn lâm viện (như các chức Thừa chỉ, Học sĩ), quan Hình viện, quan quân vệ, quan điền binh.[99] Các chức quan ngoài thì có các chức sứ, Quan sát sứ, Phòng ngự sứ, Tuyên úy sứ, An phủ sứ. Các quan văn võ đại thần được vua coi thân tín, đều được thêm chữ nhập nội.[99] Quan võ từ Tổng quản, Tổng lĩnh, Đồng tri xuống đến Đại đội trưởng, Đội trưởng, quan văn từ Hành khiển, Thượng thư xuống đến thất phẩm đều là những chức sang, lại có ngự tiền văn đội, ngựa tiền võ đội và khách đội, thực đội. Lại đặt các quan ở các xã.[99]

Luật pháp và thực thi luật pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Về luật pháp, Thái Tổ cho đặt ra bộ luật mới theo như hình luật của nhà Đường; đặt ngũ hình là: xuy, trượng, đồ, lưu và tử. Đặt lệ bát nghị: nghị thân, nghị cố, nghị hiền, nghị năng, nghị công, nghị quí, nghị cần, nghị tân.[100][101]

Tháng 1 âm lịch năm 1428, thiên hạ thái bình, vua Lê Thái Tổ sai các quan Tư không, Tư đồ, Tư mã, Thiếu úy, Hành khiển bàn việc soạn các điều luật dân sự và quân sự, nhằm mục đích "để cho người làm tướng biết phép trị quân, người làm quan các Lộ biết phép trị dân, và sự răn dạy quân dân, cũng nên cho biết có phép, để những người giữ việc gì, biết phép của việc ấy mà làm".[102] Các cơ quan triều đình đã thực thi lệnh này, và đệ trình những đề xuất của mình lên nhà vua.[103]

Năm Thuận Thiên thứ 2 (1429), Lê Thái Tổ định luật cấm cờ bạc, đánh bạc thì chặt bàn tay 5 phân, đánh cờ thì chặt bàn tay 2 phân. Những kẻ vô cố không phải việc công mà họp nhau uống rượu thì bị 100 trượng, kẻ dung túng thì tội giảm 1 bậc.[104] Về tội ăn hối lộ, Lê Thái Tổ quy định nếu ghi nhận ăn hối lộ 1 quan tiền trở lên thì bị xử chém.[105]

Tiền tệ[sửa | sửa mã nguồn]

Từ đời vua Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly chấp chính, bắt đầu dùng tiền giấy gọi là hội sao, nhà nước thu tiền đồng đổi tiền giấy. Đến khi Lê Lợi lên ngôi, tiền đồng trong nước không còn, nên đúc thứ tiền đồng mới. Đến tháng 4, năm 1428, triều đình cho đúc đồng tiền mới của Đại Việt, gọi là tiền Thuận Thiên, được sử mô tả là mây xanh hiện, có cánh có chân, bên dưới như mâm ngọc, hai bên tả hữu hình như hai con cá chép vờn nhau.[106] Đến tháng 12, năm Thuận Thiên thứ 1 (1428), Lê Thái Tổ lại đúc tiền Thuận Thiên thông bảo, tính 50 đồng là 1 tiền. Năm Thuận Thiên thứ 2 (1429), ông truyền cho các quan trong ngoài bàn phép dùng tiền. Ông xuống chiếu rằng:[6]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Minh hoàn thành việc xâm lược Đại Ngu[107] bằng việc đánh bại Nhà Hậu Trần năm 1414; Nhà Minh có mở khoa thi nhưng kẻ sĩ đều trốn tránh không chịu ra thi. Phép thi cử bỏ mặc cho đến khi vua Lê Thái Tổ đánh thắng quân Minh.[108]

Năm 1426, Lê Thái Tổ tiến quân ra Bắc, đóng quân ở dinh Bồ Đề[109]. Ông liền hạ lệnh thi học trò văn học, đầu đề bài thi: Bảng văn dụ thành Đông Quan, lấy đỗ 50 người, sung bổ chức An phủ các lộ bên ngoài và chức Viên ngoại lang ở 6 bộ trong Kinh. Khoa này Đào Công Soạn, người Tiên Lữ, Hưng Yên đỗ đầu.[110]

Sau khi giành độc lập năm 1428, Lê Thái Tổ cho mở lại trường Quốc Tử giám để cho con cháu các quan và người thường dân tuấn tú vào học và đặt các nhà học ở các phủ và các lộ.[111] Lúc mới đến Đông Đô, Thái Tổ mở khoa thi lấy đỗ 32 người.[108]

Năm 1429, Lê Thái Tổ hạ chiếu cho quân nhân các lộ và những người ẩn dật ở rừng núi, cùng các quan từ tứ phẩm trở xuống, ai thông kinh sử, thì đến cả sảnh đường để thi, năm ấy thi khoa Minh kinh.[108][112]

Năm 1431, Thái Tổ mở thi Hoành từ[113]. Năm 1433, ông đích thân ra thi văn sách.[108] Thi hai khoa này, hoặc dùng minh kinh, hoặc luận phú hoặc dùng sách vấn, đều tùy tài năng mà cất nhắc bổ dụng vượt bậc, vẫn chưa lấy đỗ Tiến sĩ.[114]

Theo Đào Duy Anh, nước Đại Việt về văn hóa, nửa triều Trần từ đời Chu Văn An Nho học đã bắt đầu thắng Phật học. Sang đời Lê, Nguyễn, Nho học mới chiếm địa vị độc tôn. Hai triều ấy đều có phép luật nghiêm khắc đối với các nhà tu hành Phật giáoĐạo giáo. Nước Việt trải qua sự chiếm đóng của Nhà Minh thì rất nhiều sách vở về Nho học, Phật học của nước Việt bị người Minh thu mất, rồi người Minh phát lại những sách Ngũ kinh, Tứ thư thể chú để dùng ở các trường công. Đến khi Nhà Lê phục quốc, những chế độ và thư tịch ở đời Lý, Trần đã mất tích nên đành bắt chước chế độ của Minh triều, lấy khoa cử làm con đường dụng thân duy nhất, dùng văn chương bác cổ để làm thước đo nhân tài, lấy sách Tống nho làm chính thư.[115]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Minh âu khi xâm chiếm Đại Việt đã có chính sách thu hoặc đốt phá các sách vở về Nho học, Phật học của người Việt, rồi phát các sách Tứ thư, Ngũ kinh thể chú để dùng ở các trường công. Khi mà Lê Lợi giành được tự chủ cho Đại Việt, chế độ và thư tịch đời Lý, Trần đều mất tích nên đành bắt chước chế độ của Nhà Minh, lấy khoa cử làm con đường dụng nhân duy nhất, dùng văn chương để đánh giá tài năng. Theo Đào Duy Anh, thời kỳ Lý Trần là thời kỳ Tam giáo (Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo) cùng song hành tồn tại; đến nay Nho học hoàn toàn độc tôn. Nhà nước có mở các cuộc thi cho người theo tôn giáo nhưng đó chỉ là cách hạn chế giai tầng này.[116] Đối với tôn giáo, Lê Thái Tổ quy định những người muốn xuất gia trong Phật giáoLão giáo phải thi kinh điển các đạo này. Người thi đỗ được phép làm hoặc làm đạo sĩ, còn người thi trượt thì phải về quê làm ăn.

Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Với lực lượng ban đầu năm 1418 kể cả khoảng vài nghìn người, bao gồm quân Thiết đột, quân Nghĩa sĩ, quân Dũng sĩ mỗi binh chủng có 200 người. Đến năm 1427 khi tiến ra thành Đông Quan, Nghĩa quân Lam Sơn đã có tổng số 35 vạn quân, trong đó có 7 vạn quân tinh nhuệ, chia làm trung, tiền, hậu, tả, hữu đều có chức năng hành quân tổng lĩnh. Lại đặt 14 vệ, Thiết đột, Kim ngô, Ngọc kiềm, Phủng thần, Xa kỵ, Câu kiềm, Thiên ngưu, Phủng thánh, Tráng sĩ, Thần vũ, Du nỗ, Thần tý, Vũ lâm, Thiên uy, Nhũ uy. Mỗi vệ có các chức thượng tướng quân, đại tướng quân, tướng quân, đô chỉ huy sứ và hỏa đầu, hỏa thủ.[117]

Sau khi đánh được quân Minh, Lê Lợi cho 25 vạn quân về làm ruộng, còn 10 vạn ở lại. Một nhà có ba người thì 1 người làm lính, việc phú dịch những gia đình này sẽ miễn trong ba năm. Lê Lợi sau khi lên ngôi lại tổ chức lại quân đội, chia ra làm vệ quân 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc và Hải Tây. Mỗi vệ đặt chức Tổng quản. Lại đặt sáu chân ngự tiền và Ngự tiền vũ đội.[117] Lê Lợi đã áp dụng chế độ luân phiên với quân đội, bằng cách chia quân đội thành 5 phiên, 1 phiên lưu lại quân ngũ và 4 phiên cho về làm ruộng. Vào năm 1429, Lê Lợi tổ chức thao diễn quân đội, các sử quan triều Nguyễn gọi lần thao diễn này là thao diễn quân đội một cách vĩ đại, điều động tất cả các vệ quân để tập trận thủy bộ.[118]

Theo sử gia Sun Lai Chen, nhà Minh Trung Quốc đã có sự phát triển cao về hỏa khí, khiến cho họ bất bại khi đi đánh nhau khắp bốn phương. Cuộc xâm lăng của nhà Minh với nhà Hồ là cuộc xâm lăng của Trung Quốc với Đại Việt chưa bao giờ dễ dàng và nhanh chóng như thế, đó là nhờ sự ưu việt của hỏa khí nhà Minh có được. Nghĩa quân Lam Sơn đã học được cách chế tạo súng, và thu được nhiều súng của quân Minh nên là một phần nguyên nhân của chiến thắng. Số súng Nghĩa quân Lam Sơn thu được sau chiến tranh đã làm triều đình nhà Minh lo ngại, họ liên tục hối thúc Lê Lợi trả lại, nhưng Lê Lợi đã không trả cái nào, rốt cuộc nhà Minh buộc phải chấp nhận.[119]

Chính sách ruộng đất[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa xuân tháng 1 năm 1428, quân Minh đã về nước, Đại Việt hoàn toàn độc lập. Lê Lợi đã thực hiện những chính sách của mình nhằm phục hồi lại đất nước vốn đã bị suy tàn sau những năm bóc lột của quân Minh và chiến tranh.[92] Tháng 7 âm lịch năm 1426 Lê Lợi cho làm sổ hộ tịch (sổ đinh).[120] Tháng Giêng năm 1428, nhà vua hạ lệnh cho con em các nhà đầu mục và các tướng hiệu đều nên trở về nhận ruộng đất ở quê cha đất tổ, để chấm dứt nạn tranh chiếm ruộng đất.[121] Tháng 4 âm lịch năm 1428, nhà vua ra lệnh trả lại ruộng đất, nhà cửa cho những quân dân bị bắt vào 4 thành Tây Đô, Đông Kinh, Cổ Lộng, Chí Linh đã được bổ vào các quân phụ vào quân Thiết đột.[122] Ngày 25 tháng 11 âm lịch năm 1428, triều đình cho làm sổ ruộng đất, sổ hộ tịch.[123] Triều đình ra chỉ thị cho các phủ, huyện, lộ khám xét các chằm bãi, ruộng đất, mỏ vàng bạc, những sản vật núi rừng trong hạt, các loại thuế cũ, cùng ruộng đất đã sung công các nhà thế gia và những người tuyệt tự, ruộng đất của bọn đào ngũ, ngụy quan.[124]

Ngày 22 tháng 12 âm lịch năm 1428, Lê Thái Tổ ra lệnh chỉ cho các quan phủ, huyện, lộ, trấn, xã, sách đối chiếu, khám xét ruộng đất, đầm bãi công tư trong các huyện, xã của lộ mình.[124] Ngày 22 tháng 1 năm 1429, nhà vua ra lệnh cho các đại thần tâu lên về việc cấp đất cho dân chúng, từ quan lại, quân nhân, đàn ông, đàn bà, người già yếu, mồ côi, góa chồng.[125]

Tháng 2 âm lịch năm 1429, Lê Thái Tổ lệnh cho tập trận trong 5 đạo, cả thủy binh và bộ binh. Sau cuộc tập trận, ông chia số quân sĩ làm 5 phiên, lưu lại 1 phiên còn 4 phiên về làm ruộng.[126] Ngày 29 tháng 3 âm lịch năm 1429, nhà vua ra lệnh rằng phần đất của các quan và phủ đệ công hầu trăm quan nên trồng cây, hoa, rau đậu, không được để hoang, ai không theo thì mất phần đất đó. Các công hầu đã được ban cho đất ở, nếu trong phần đất của quân Thiết đột thì không cho quá nhiều, chỉ từ 5 sào trở xuống, nếu không phải trong phần đất của quân Thiết đột thì cho 2 mẫu trở xuống đến 1 mẫu.[127] Nếu đã được chia ruộng đất vườn nhà nhất định rồi, lại còn chiếm đất trong thành Đại La làm nhà cửa khác nữa thì không được.[125]

Ngày 30 tháng 5 âm lịch năm 1429, ông sai định hạng ruộng đất của các cộng sự người Việt của quân Minh trước đây.[128] Ngày 19 tháng 12 âm lịch năm 1429, ông ra lệnh xã nào có nhiều ruộng đất nhưng ít người, để bỏ hoang thì cho phép các quan nơi đó cho những người không có ruộng ở các xã khác đến cày cấy, người chủ ruộng xã đó không được chiếm giữ rồi bỏ hoang. Ai vi phạm sẽ bị xử theo tội cưỡng bức chiếm đoạt.[129] Vào các năm Thuận Thiên thứ 3 (1430) và 6 (1433), ông lại cho làm sổ hộ tịch.[130]

Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí, chính sách ruộng đất của Lê Thái Tổ gọi là phép quân điền. Triều đình ra lệnh cho các phủ huyện khám đo những ruộng đất đầm bãi công tư làm thành sổ sách. Lại sắc cho các quan đại thần bàn định số ruộng cấp cho các quan, quân đội và nhân dân, từ quan đại thần trở xuống, cho đến những người già yếu, con mồ côi, bà góa và đàn ông, đàn bà trở lên, theo thứ bậc khác nhau. Lại truyền cho các phủ, huyện, xã, rằng nơi nào có ruộng đất nhiều mà dân ít phải bỏ hoang, thì cho phép các quan bản hạt được cho người không có ruộng ở xã khác đến cày cấy. Điền chủ xã ấy không được chiếm đoạt mà bỏ hoang, làm trái thì phạt.[131] Chính sách đất đai của vua Thái Tổ đã làm cho Đại Việt như lời nhận xét của sử thần trong sách Đại Việt sử ký toàn thư: "Vua mặc áo sớm, ăn cơm trưa, trải 10 năm mà thiên hạ đại trị". Dân gian có câu ca dao về việc no đủ, thịnh trị thời của vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông:[129]

Đời vua Thái Tổ, Thái Tông,
Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn.

Dẹp phản kháng trong nước, thu châu Phục Lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh Bế Khắc Thiệu, Nông Đắc Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Bài thơ khắc đá của Lê Lợi ở Thạch An, Cao Bằng khi đi đánh Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái.

Ngoài xây dựng kinh tế, Thái Tổ còn phải đối phó với bạo loạn trong nước. Tháng 11 âm lịch năm 1430, Thổ tù ở châu Thạch Lâm, trấn Thái Nguyên là Bế Khắc Thiệu, Nông Đắc Thái[132][133] nổi dậy; để đối phó, Lê Lợi tuyển binh ở bãi Bồ Đề.

Tháng Giêng năm 1431, sau khi giết Phạm Văn Xảo, Lê Lợi thân chinh đem quân đánh trấn Thái Nguyên. Khi đến châu Thạch Lâm, thành Na Lữ, ông cho đóng quân ở đây, vì thấy thắng cảnh núi sông, nên sai lập sinh từ thờ phụng. Trên núi đá phía tây bắc thành Na Lữ, có bài thơ của vua Lê Thái Tổ ngự chế khắc vào đá, bên dưới ghi rằng: Thuận Thiên tứ niên Tân Hợi chính nguyệt thị thập nhật đà.[92]

Nội dung bài thơ như sau, được viết trong sách Đại Nam nhất thống chí:[134]

Bất từ vạn lý chỉnh sư đồ,
Duy lục biên manh xích tử tô.
Thiên địa bất dung gian đảng tại,
Cổ kim thùy xá bạn thần chu.
Trung lương tự khả lương đa phúc.
Bạo bội chung nan bảo nhất khu.
Đái lệ bất di thần tử tiết;
Danh thùy vạn cổ dữ sơn câu.
Dịch nghĩa:
Đường xa chẳng quản ngại ra quân
Chỉ muốn biên phương cứu lấy dân.
Trời đất chẳng dung phường phản tặc,
Xưa nay ai xá tội gian thần
Trung lương ắt tự giành nhiều phúc.
Bạn nghịch đành khôn giữ chiếc thân.
Sông cạn đá mòn không đổi tiết
Danh cùng núi ấy vạn năm xuân.[134]

Tháng 2 âm lịch cùng năm, ông đánh chiếm được Lâm Châu, giết Bế Khắc Thiệu và bắt sống Nông Đắc Thái.[134]

Đánh Đèo Cát Hãn, thu châu Mường Lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1407, khi quân Minh sang đánh Nhà Hồ, Đèo Cát Hãn dẫn 4.000 quân ra xin hợp tác với quân Minh. Theo Minh sử, năm 1405, Đèo Cát Hãn dâng sớ lên triều đình Nhà Minh tố cáo Nhà Hồ đánh chiếm 7 trại Mãnh Man thuộc châu Ninh Viễn dưới quyền Đèo Cát Hãn, vốn thuộc phủ Vân Nam, giết con rể của ông, bắt con gái của ông để khống chế.[135]

Năm 1427, Lê Lợi sai Chủ thư thị sử Trần Hồ đi chiêu dụ châu Ninh Viễn (sau đổi là châu Phục Lễ, nay là phủ An Tây). Phụ đạo châu ấy là Đèo Cát Hãn đem binh tướng theo về.[136]

Tháng giêng năm 1432, Lê Lợi sai con trai cả là Lê Tư Tề và Tư đồ Lê Sát đem quân đánh châu Mường Lễ, do Đèo Cát Hãn thông đồng Phạm Văn Xảo làm loạn, liên kết với nghịch thần Ai Lao là Kha Đốn xâm lấn đất Mang Mỗi. Sau đó đích thân Lê Lợi thân chinh, đánh được Mang Lễ, Kha Đốn bị giết, Đèo Cát Hãn bỏ chạy, Lê Lợi thu Mang Lễ, đổiƯ tên thành châu Phục Lễ.[137][138]

Trên đường đi thảo phạt Đèo Cát Hãn, vua Lê Thái Tổ đã có 2 bài thơ; bài thứ nhất được khắc trên vách đá Pú Huổi Chỏ, có tên là Thân chinh Phục Lễ châu Đèo Cát Hãn (Tự mình đi đánh Đèo Cát Hãn ở châu Phục Lễ), viết bằng chữ Hán theo thể ngũ ngôn bát cú; bài thơ thứ hai, bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú, được khắc trên vách núi Hào Tráng (Hòa Bình), có tên là Chinh Đèo Cát Hãn, quá Long Thủy đê (Đi đánh Đèo Cát Hãn trở về, qua đường đê Long Thủy). Bài thơ này đã được chép trong Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích (1744-1818), và được nhắc tới trong sách Hưng Hóa ký lược của Phạm Thận Duật (1825-1885), dưới triều vua Tự Đức.[138]

Chính sách với các công thần tham gia khởi nghĩa Lam Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Lợi đã dành cho người chết thay mình là Lê Lai nhiều ân sủng đặc biệt. Khi Lê Lai vừa chết, Lê Lợi ngầm sai người tìm di hài đem về Lam Sơn mai táng. Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), phong Lê Lai là Công thần hạng nhất, tặng là Suy trung Đồng đức Hiệp mưu Bảo chính Lũng Nhai công thần, hàm Thiếu úy, thụy là Toàn Nghĩa.[139] Tháng 12 năm 1429, vua Lê Thái Tổ sai Nguyễn Trãi viết hai bản lời thề ước trước và lời thề nhớ công của Lê Lai, để trong hòm vàng. Lại gia phong làm Thái úy[139]. Năm Thái Hòa thứ nhất 1443 ban tặng tước Bình chương quốc quân trọng sự, ban cho túi kim ngư, ấn vàng, tước Huyện Thượng hầu.[139]

Năm 1428 truy tặng Lê Thạch làm Trung vũ Đại vương, được thờ ở tẩm miếu hoàng gia.[140] Đối với Lý Triện, Lê Lợi trao cho cha của ông là Lê Ba Lao làm Quan sát sứ, tước Thượng phẩm, cấp 400 mẫu ruộng, con ông là Lý Lăng làm Phòng ngự sứ, tước Phục hầu, đều được đổi sang họ Lê. Năm 1428, Lý Triện được truy tặng chức Nhập nội Tư mã.[141] Khi Đinh Lễ hi sinh trong Khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi cho em ông là Đinh Liệt làm Nhập nội Thiếu úy, tước Á hầu, các vợ lẽ của ông là bọn Hà Ngọc Dung gồm 5 người được làm tông cơ.[142]

Tháng 2, năm 1428, Lê Lợi định các hạng công cho các hỏa thủ và quân nhân Thiết đột có công ở Lũng Nhai, chia ra thứ bậc gồm 221 người: Công hạng nhất, cho mang họ vua là Phạm Vấn, Lê Quy, Lê Dịch, Lê Ê,... 52 người, làm Vinh lộc đại phu tả Kim ngô vệ đại tướng quân tước Thượng trí tự; công thứ 2, cho quốc tính là Lê Bố, Đinh Liệt, Lê Khảo gồm 72 người, làm Trung lượng đại phu tả Bổng thần vệ tướng quân tước Đại trí tự; công thứ 3, cho mang họ vua, là Đinh Lễ gồm 94 người, làm Trung vũ đại phu Câu kiềm vệ tướng quân tước Trí tự. Khoảng tháng 3, năm 1428, sách Đại Việt sử ký toàn thư lại chép về việc ban thưởng cho 3 người: Lấy Thừa chỉ Nguyễn Trãi làm Quan Phục hầu, Tư đồ Trần [Nguyên] Hãn làm Tả Tướng quốc, Khu mật đại sứ Phạm Văn Xảo làm Thái bảo, đều ban quốc tính.[143]

Tháng 5 năm 1429, Lê Lợi lại ban biển ngạch công thần cho 93 người (những người tên chữ nghiêng đều được cải sang họ của vua, ở đây ghi nguyên họ những người đó):[144][145]

  1. Huyện Thượng hầu, 3 người: Phạm Vấn, Lê Sát, Phạm Văn Xảo.
  2. Á Thượng hầu, 1 người: Lê Ngân.
  3. Hương Thượng hầu, 3 người: Nguyễn Lý, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng.
  4. Đình Thượng hầu, 14 người: Nguyễn Chích, Lê Văn An, Đinh Liệt, Lê Miễn, Đinh Lễ, Lê Chiến, Lê Khôi, Lê Đính, Lê Chuyết, Trịnh Lỗi, Nguyễn Nhữ Lãm, Lê Sao, Lê Kiệm, Lê Bật.
  5. Huyện hầu, 14 người: Bùi Bị, Lê Bì, Lê Phủ, Lê Náo, Lê Thụ, Trương Lôi, Trịnh Khả, Lê Bồi, Lê Lang, Nguyễn Xí, Đỗ Khuyển, Đỗ Bí, Lê Quốc Trinh, Lê Bật.
  6. Á hầu, 26 người: Lê Lạn, Nguyễn Trãi, v.v...
  7. Quan nội hầu, 16 người: Lê Thiệt, Lê Chương,...
  8. Quan phục hầu, 12 người: Phạm Cuống, Lê Dao,...
  9. Thượng trí tự trước phục hầu, 4 người: Trịnh Khắc Phục, Lê Hài, v.v...[146]

Chính sách đối với những người Việt làm quan cho Nhà Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1428, Lê Lợi đã cho tiến hành bắt những quan lại người Việt phục vụ cho Nhà Minh, bắt vợ con, nô tỳ, tài vật, trâu bò đem giải nộp cho hết, điều tra những kẻ có lòng khác, thu nhập văn bằng ấn tin của ngụy quan, theo đúng hạn nộp lên. Sau đó cho ngụy quan chuộc mệnh, định lệ tiền chuộc các vợ cả, vợ lẽ và nô tỳ của ngụy quan. Vợ Bố chính ty thì 70 quan, dưới đến các hạng sinh viên, thổ quan, thừa sai, bạn đương, thì vợ là 10 quan, con trai, con gái và nô tỳ từ 10 tuổi trở xuống thì 5 quan.[147]

Năm 1428, sau khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ ra lệnh trị tội những viên quan cộng tác với Nhà Minh.[148] Năm 1429 ông ra lệnh chỉ rằng những người này trước đã có lệnh cho tha tội chuộc mệnh, thì cho miễn cả ruộng đất (không phải sung công).[149] Tháng 5 âm lịch năm 1429, Lê Thái Tổ ra lệnh: cho những văn võ hào kiệt nào còn bị bỏ sót có thể đến chỗ Thiếu phó Lê Văn Linh mà tự tiến, không phân biệt ngụy quan hay sĩ thứ, cốt lấy tài đức.[150]

Các quan người Việt của Nhà Minh như Lương Nhữ Hốt, Trần Phong, Đỗ Duy Trung, con cái của Mạc Thúy như Mạc Tung đều được Lê Thái Tổ tha mạng. Các ngụy quan như Trần Phong, Lương Nhữ Hốt,... lại mưu làm loạn, kết bè đảng, ngầm đưa thư sang nhà Minh thì họ sẽ làm nội ứng. Người đưa thư bị Thượng tướng trấn Thái Nguyên là Hoàng Nguyên Ý bắt được. Lê Lợi sai giết đi, giấu việc ấy. Sau có người tố giác, Lê Lợi mới hạ chiếu giết đi, còn con cái, đồ đảng đều được tha mạng.[151]

Lập người kế vị và cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Khu lăng mộ vua Lê Thái Tổ tại Di tích Lam Kinh, Thanh Hóa.
Lăng vua Lê Thái Tổ, Di tích Lam Kinh, Thanh Hóa.

Ngày 7 tháng 1 âm lịch năm 1429, Lê Thái Tổ lập con trưởng Lê Tư Tề làm Quận vương, giúp trông coi việc nước, con thứ Nguyên Long làm Hoàng thái tử.[132] Lê Tư Tề mắc chứng điên cuồng, giết bừa các tì thiếp, việc đó không hợp ý vua Thái Tổ. Năm 1433, Lê Thái Tổ vời người con của anh ruột của mình là Nhập nội Thiếu úy Lê Khôi lúc ấy đang trấn thủ Hóa châu về để bàn định việc lập Thái tử,[152] tháng 8 âm lịch năm đó, con trưởng Lê Tư Tề bị phế giáng làm Quận vương, con thứ Nguyên Long kế thừa tông thống. Đô đốc Phạm Vấn, Đại Tư đồ Lê Sát và Tư khấu Lê Ngân được vua trao trọng trách phụ chính giúp vua Lê Thái Tông còn ít tuổi.[66][153]

Lê Thái Tổ ở ngôi được 5 năm thì qua đời vào ngày 22 tháng 8 âm lịch (ngày 7 tháng 9 dương lịch) năm Quý Sửu (1433), hưởng dương 49 tuổi. Vì nhớ công Lê Lai chết thay cho mình ở núi Chí Linh trước kia, ông dặn lại đời sau phải giỗ Lê Lai trước khi giỗ ông một ngày. Bởi thế đời sau truyền lại câu: Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi.[154]

Lê Lợi được an táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn và được tôn miếu hiệuThái Tổ (太祖), thụy hiệuThống Thiên Khải Vận Thánh Đức Thần Công Duệ Văn Anh Vũ Khoan Minh Dũng Trí Hoàng Nghĩa Chí Minh Đại Hiếu Cao Hoàng Đế (chữ Hán: 統天啟運聖德神功睿文英武寬明勇智弘義至明大孝高皇帝). Đời sau đều gọi là Thái Tổ Cao Hoàng đế (chữ Hán: 太祖高皇帝) hay Cao Hoàng (高皇), Cao Đế (皇帝). Thái tử Lê Nguyên Long 11 tuổi lên nối ngôi, tức hoàng đế Lê Thái Tông.[132][155]

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại những lời nhận xét về Lê Thái Tổ như sau:[5]

Sử thần bàn:


Sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn chép rằng:

Lời bình của các quan đời Vĩnh Trị, sách Lam Sơn thực lục:

Nguyễn Trãi trong bài Phú núi Chí Linh cho rằng Lê Thái Tổ sánh ngang với các vị vua hiền như Nghiêu Thuấn:[156]

.

Nguyễn Mộng Tuân trong bài Nghĩa kỳ phú viết về sự nghiệp của Lê Thái Tổ:

Thiếu bảo Lễ bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ Lê Tung viết trong Việt giám thông khảo tổng luận:

Hơn 20 năm loạn lạc, một sớm dẹp yên. Non sông nhờ đấy cải quan, đất nước nhờ đấy yên tĩnh, là bởi Thái Tổ Cao Hoàng đế ta, trí dũng khoan nhân, vua tôi hợp lòng cùng dạ mà nên vậy. Hãy xem Thái Tổ thần vũ không thích giết người, tức là lòng của trời đất đó; thu nuôi dân xiêu các lộ, thế là lòng nhân của trời đất đó; tha về 10 vạn hàng binh, thế là đức của trời đất đó. Có lệnh tiến cử người hiền, tức như Thành Thang chọn người hiền không hạn phương nào; có chiếu dụ bảo kẻ hàng, tức như Thành Thang lấy khoan nhân thay cho bạo ngược. Binh nông có chế độ, tức như Vũ Vương dùng tám chính, chăm dân có điều lệ, tức là Vũ vương vỗ yên bốn phương. Bảo 10 điều quân chính, để giảng đại nghĩa vua tôi; ban sáu điều giáo hóa, để tỏ rõ luân thường phụ tử; thận trọng hình phạt, là kính sự tin của hiệu lệnh, kết hiếu nước Minh, là lo săn sóc lễ bang giao. Bằng như dựng thái miếu thờ tiên tổ, lập học hiệu để tỏ nhân luân; bài Bình Ngô đại cáo không câu nào không phải là lời nhân nghĩa trung tín, bộ Lam Sơn thực lục không việc nào không phải là đạo tu tề trị bình.[158]

Theo Giáo sư Văn Tân:

Nguyễn Trãi gọi phép đánh giặc của Lê Lợi là thánh võ hoặc thần võ (Ôi vua ta tài thánh võ-Đến như thần võ không giết-Bài Phú núi Chí Linh). Nghệ thuật quân sự trở thành thánh võ hay thần võ có nghĩa là đã phát triển đến tột đỉnh rồi. Nghệ thuật đó biểu hiện cụ thể ở lấy ít thắng nhiều, lấy yếu chống mạnh, không đánh thành mà cũng hạ được thành.[159]

Theo sử gia Việt Nam Cộng hòa Phạm Văn Sơn viết trong sách Việt sử tân biên:

Đầu thế kỉ 15, vua Thái Tổ nhà Hậu Lê, với sự hậu thuẫn mạnh mẽ và kiên quyết của toàn dân, đã lập nên một sự nghiệp bất hủ trong sử xanh là đánh đuổi quân xâm lược của triều Minh ra khỏi bờ cõi, sau 10 năm chiến đấu đầy hi sinh gian khổ. Từ Thái Tổ đến Thánh Tông hùng khí của dân tộc Việt mạnh như sóng cồn, nếu đem so sánh Việt Nam với các lân quốc châu Á thì ta có thể tự hào rằng mình là quốc gia cường thịnh bậc nhất Đông Nam Á về mọi phương diện.[160]

Di sản và hình ảnh trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Đền thờ Lê Lợi ở làng Mỹ Cát, xã Minh Tân, Nam Sách, Hải Dương.
Tượng đài Lê Lợi tại bùng binh Cây Gõ, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Văn bia Vĩnh Lăng do Nguyễn Trãi soạn thảo, nội dung tóm tắt về tiểu sử Lê Lợi và cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn, tại Vĩnh Lăng, Thanh Hóa.
Hình tượng nhà vua được dân gian đưa vào nghệ thuật múa rối nước.

Lê Lợi là vị vua có công đánh đuổi quân Minh, chấm dứt 20 năm Bắc thuộc lần thứ tư và sáng lập Nhà Hậu Lê, triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Việt Nam. Sau thời kỳ độc lập hơn 400 năm kể từ thế kỷ X, Đại Việt có nguy cơ trở lại thành quận huyện của Trung Hoa. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi đã chấm dứt 20 năm cai trị của Nhà Minh tại Đại Việt.[161] Bởi công lao đó của ông nên đời sau còn nhớ Nhà Lê khi bị Nhà Mạc cướp ngôi và đó là một nguyên nhân khiến Nhà Lê có thể trung hưng (1533). Thậm chí ngay cả khi con cháu triều Lê không còn nắm được thực quyền thì trên danh nghĩa vẫn là người đứng đầu thiên hạ. Chúa Trịnh làm phụ chính nhiều đời nhưng vẫn không dám cướp ngôi Nhà Lê cũng bởi sợ dư luận còn nhớ công lao giành lại độc lập cho đất nước của Nhà Lê.[162] Về cai trị, ông cũng là người thiết lập lại trật tự, quy củ của chế độ quân chủ các triều đại Lý, Trần trước đây mà các thế hệ vua sau tiếp tục củng cố, phát triển cao hơn nữa.[161]

Theo Tiến sĩ Trịnh Vĩnh Tường người Đài Loan, khi quân Minh xâm lược Đại Ngu, đã có 64 cuộc khởi nghĩa của người Việt nhằm chống lại sự cai trị trong thời gian (1407-1424). Quân đội nhà Minh đã dùng các biện pháp khủng khiếp nhằm đàn áp sự phản kháng đó. Quân Minh đã đến quê hương của Lộ Văn Luật, người đã khởi binh chống lại, lùa dân vào hang động Phật Tích, A Sầm rồi đem nhà cửa đến trước cửa hang hun khói đốt, khiến cho không ai sống sót. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Phụ đi đến đâu là giết hại, hoặc thây chất thành núi, hoặc moi ruột quấn vào gốc cây, hoặc rán thịt lấy mỡ, hoặc nướng đốt làm trò chơi, thậm chí có kẻ mổ bụng moi gan cắt lấy hai đầu để ứng lệnh.[163] Quân Minh đã tàn sát dân Việt tới mức phạm tội diệt chúng - tội ác ở tầm nhân loại. Nhờ có Lê Lợi mà nước Việt đã không bị biến mất trên bản đồ thế giới, hưởng nền hòa hình 360 năm cho tới năm Kỉ Dậu (1789) khi nhà Thanh sang xâm phạm. Về sau khi tìm cách chống lại sự đô hộ của người Pháp, những người chủ trương phục quốc như Phan Bội Châu coi Lê Lợi như là hình mẫu anh hùng khôi phục quốc gia, ông cho rằng đó là hình ảnh chói lọi của vị tổ Trung hưng thứ hai sau Ngô Quyền.[164]

Trường Chinh, nhân vật vạch ra chiến lược cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã viết tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi, trong đó ông coi Khởi nghĩa Lam Sơn là hình mẫu của cuộc kháng chiến trường kì của nhân dân Việt Nam trước Pháp và Mĩ: Muốn đạt được những kết quả ấy, phải đánh lâu, phải có thời gian. Thời gian làm việc cho ta, thời gian là thầy chiến lược của ta, nếu dân ta quyết tâm kháng chiến bền bỉ. Đời nhà Trần nhân dân trước sau ba lần kháng chiến mất hơn 31 năm mới chiến thắng quân Nguyên hung hãn. Đời nhà Hậu Lê (khởi nghĩa Lam Sơn) dân tộc ta kháng chiến 10 năm mới đuổi được quân Minh bạo tàn,...[165]

Hồ Chí Minh trong Việt Nam quốc sử diễn ca viết:

Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn,

Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn.

Mấy phen sông Nhị núi Lam,

Thanh gươm yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.

Kìa Túy Động nọ Chi Lăng,

Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành.

Mười năm sự nghiệp hoàn thành,

Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.

Vì dân hăng hái kết đoàn,

Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.[166]

Lê Lợi sau khi chết được lập đền thờ rộng rãi ở nhiều nơi, như đền thờ làng Mỹ Xá, xã Minh Tân, Nam Sách, Hải Dương; đền thờ Lê Lợi ở làng Năng Cát, xã Trí Nang, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa; đền thờ Lê Lợi ở phường Đoàn Kết, Thị xã Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Tên ông cũng được đặt cho các tên đường, phố, trường học ở Việt Nam.[167]

Những điểm giống với Hán Cao Tổ[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa Vua Lê Thái Tổ của Việt Nam và Vua Hán Cao Tổ của Trung Quốc có những điểm tương đồng trong thân thế, cuộc đời sự nghiệp bản thân và sự nghiệp của hậu duệ:[168]

  • Một bài báo trên mạng viết rằng cả Lê Thái Tổ và Hán Cao Tổ đều xuất thân từ gia đình nông dân và là con thứ ba trong nhà. Trên Lê Lợi có Lê Học, Lê Trừ còn trên Lưu Bang có Lưu Bá, Lưu Trọng.[169][170][171] Tuy nhiên các sách sử đều viết rằng Lê Lợi xuất thân từ gia đình "đời đời làm quân trưởng một phương" chứ không xuất thân từ gia đình nông dân.[172][173]
  • Cuộc khởi nghĩa của cả hai vị vua đều gặp rất nhiều khó khăn trong thời gian đầu tiên, phải thường xuyên lẩn trốn sự truy kích của kẻ thù, thậm chí có những lúc rơi vào tính thế hiểm nghèo. Đây cũng là tình hình chung của rất nhiều cuộc khởi nghĩa.[174][175][176][177]
  • Cả hai vị vua đều thoát chết nhờ thuộc hạ tình nguyện hy sinh cứu chủ. Khi bị Hạng Vũ vây ở Huỳnh Dương, Lưu Bang đã phải nhờ Kỷ Tín ra hàng và bị Hạng Vũ giết. Lê Lợi bị quân Minh vây ở núi Chí Linh cũng phải nhờ Lê Lai theo gương Kỷ Tín để thoát nạn. Lê Lai cũng bị quân Minh giết.[139][178][179][180]
  • Sau khi lên ngôi, hai vị hoàng đế đều giết công thần khai quốc.[181] Lưu Bang giết và tru di tam tộc hàng loạt công thần như Hàn Tín, Anh Bố, Bành Việt; Lê Lợi chỉ giết Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn tự sát, Lê Lợi cũng không giết con cháu của họ.[182][183][184]
  • Sau khi qua đời, cả Lê Thái Tổ và Hán Cao Tổ đều được đặt chữ "Cao".[185] Lưu Bang là (Cao Tổ) Cao Hoàng đế, Lê Lợi là (Thái Tổ) Cao Hoàng đế.[186][187][188] Trong lịch sử Trung QuốcViệt Nam có rất nhiều vị vua được đặt chữ "Cao" chứ không phải chỉ có hai vị này.[189][190]
  • Về sau, cơ nghiệp của hai vị vua đều bị họ khác cướp ngôi. Nhà Hán và nhà Hậu Lê đều bị gián đoạn một thời gian, nhưng rồi lại phục hồi.[191][192] Nhà Tây Hán bị Vương Mãng cướp ngôi (lập nhà Tân), nhưng sau đó được nhà Đông Hán kế tục. Nhà Hậu Lê (Lê sơ) bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi (lập Nhà Mạc), rồi sau đó được Nhà Lê Trung hưng kế tục.[193][194] Tuy nhiên các vị vua Nhà Lê Trung hưng không phải là hậu duệ của Lê Lợi, cũng không có quyền hành như các vua thời Lê sơ.[195][196]

Khi ngự phê sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, vua Tự Đức Nhà Nguyễn cũng đánh giá Lê Lợi "mở được nền chính thống nghìn năm, thật đáng là bậc nối gót Hán Cao Tổ".[197] Sử quan Nhà Nguyễn trong lời cẩn án dưới lời phê của Tự Đức còn nêu thêm một điểm giống nhau nữa giữa Lê Thái Tổ và Hán Cao Tổ: hai người cùng dấy binh nổi lên với một thanh kiếm.[198]

Câu nói[sửa | sửa mã nguồn]

"Bậc trượng phu sinh ở đời phải cứu nạn lớn, lập công to, lưu lại tiếng thơm ngàn năm sau, sao lại chịu hèn nhát để cho người sai khiến?"

- Đại Việt sử ký toàn thư

Các truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Gươm thần Thuận Thiên[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thuận Thiên (kiếm)
Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Gươm), nơi có huyền thoại Lê Thái Tổ trả gươm cho rùa vàng.

Theo sách Đại Việt thông sử, Lam Sơn thực lục chép về nhân vật Lê Thận, Lê Thận ở làng Mục Sơn và Lê Lợi là bạn thân. Lê Thận làm nghề đánh cá, có hôm quăng chài bắt được thanh sắt, về để ở góc tối. Một hôm Lê Lợi tới chơi nhân ngày giỗ cha mẹ của bạn, thấy ánh sáng trong góc nhà, đến nơi chỉ thấy thanh sắt. Lê Thận mới kể lại cho vua nghe, vua lấy mang về nhà, không mài mà sáng, thấy chữ triện, ghi rõ Thuận Thiên và chữ Lợi, biết là gươm thần trời cho. Hôm sau vua bắt được chuôi gươm ở gốc cây đa, tra vừa gươm vừa khớp. Về sau Lê Thận tham gia khởi nghĩa Lam Sơn trước nhất, sau đảm nhiệm những chức quan quan trọng trong triều đình Hậu Lê.[200] Sau khi đuổi giặc Minh về được một năm, ngày hôm ấy Lê Lợi - bấy giờ đã là một vị thiên tử - cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả-vọng trước kinh thành. Nhân dịp đó, Long quân sai rùa vàng lên đòi lại thanh gươm thần. Khi chiếc thuyền chèo ra giữa hồ thì tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên khỏi làn nước xanh. Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Vua đứng trên và nhận thấy lưỡi gươm đeo bên mình cũng đang cử động. Con rùa vàng không sợ người, nhô thêm nữa, tiến sát về phía thuyền vua. Nó đứng nổi lên trên mặt nước và nói:

"Bệ hạ hoàn gươm cho Long quân!"

Nghe nói thế nhà vua bỗng hiểu ra bèn thò tay rút gươm ra khỏi bao. Chỉ một lát thanh gươm thần rời khỏi tay vua bay đến phía rùa vàng. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy ngang lưỡi. Cho đến khi gươm và rùa lặn xuống, người ta vẫn thấy có vệt sáng le lói dười mặt nước hồ xanh.

Khi những chiếc thuyền của bá quan tiến lên kịp thuyền rồng thì vua liền báo ngay cho họ biết:

Đức Long quân cho chúng ta mượn thanh gươm thần để trừ giặc Minh. Nay đất nước đã thanh bình, Người sai rùa lấy lại.

Và từ đó, hồ bắt đầu được mang tên là hồ Gươm hay hồ Hoàn-kiếm.

Hồ ly phu nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thuyết kể rằng thời quân Lam Sơn chưa mạnh, Lê Lợi bị đánh bại, tướng sĩ chạy tan tác mỗi người một nơi. Bị quân Minh đuổi, Lê Lợi trốn vào rừng, trông thấy xác một cô gái chết trên bãi cỏ. Ông rút gươm đào tạm một cái huyệt chôn cô gái và cầu khấn người chết phù hộ để thoát nạn.[201]

Quân Minh đuổi tới gần, Lê Lợi vội trốn vào một gốc cây to rỗng ruột, xung quanh là cỏ mọc cao. Quân Minh cho chó sục sạo, đánh hơi đến gốc cây. Thấy chó sủa ở gốc cây, quân Minh đâm bừa ngọn giáo vào trong, trúng đùi Lê Lợi. Ông vội lấy vạt áo chùi vết máu ở mũi giáo. Quân Minh rút giáo ra không thấy gì nhưng chó vẫn sủa. Quân Minh định dùng lửa đốt cây thì trong gốc cây có con cáo trắng chạy ra, chó săn ùa theo đuổi bắt. Quân Minh tưởng là chó sủa vì con cáo nên bỏ đi.[201]

Lê Lợi thoát nạn, cho rằng linh hồn người con gái đã chết hóa thành cáo cứu mình. Ông đến nấm mộ cô gái vái tạ. Sau này lên ngôi vua, ông truy tặng cô gái là Hồ ly phu nhân.

Cụ thể cho truyền thuyết trên, thần tích đền Mẫu Thượng cho biết trong một trận đánh Lê Lợi bị giặc đuổi tới khu vực Đồng Giao - Tam Điệp thì gặp xác một người phụ nữ đã bị mối xông, vua vội lấy đất lấp mà không để ý quân giặc đã đuổi tới gần. Tình thế cấp bách vua vội nấp vào gốc cây đa rất to ở gần đó. Giặc có con chó săn rất giỏi tìm người, trận đánh nào chúng cũng cho chó đi theo và chưa khi nào nó tìm sai. Đến gần gốc cây đa nơi vua Lê Lợi đang nấp, bất ngờ từ trong gốc đa có một con cáo chạy ra, đánh lạc hướng quân địch; nhờ vậy vua Lê Lợi được cứu. Vua cho rằng chính vong hồn của người phụ nữ vừa được nhà Vua lấp đã hoá thành con cáo để cứu mình nên cho quân lập đền thờ đặt hiệu cho cô gái là “Bạch Diện Sơn Tinh công chúa” để ghi nhớ ơn cứu mạng. Từ đó nhân dân trong vùng Tam Điệp truyền tụng nhau và đến đây lễ rất đông, đền thuộc địa phận thôn Tân Thượng xã Quang Sơn nên thường gọi là đền Mẫu thượng, hiện nay vẫn còn ở thành phố Tam Điệp.[202]

Cuối thế kỷ XVIII, Phạm Đình Hổ xác minh việc Nhà Hậu Lê đã làm tượng thờ ân nhân của Lê Thái Tổ trong sân triều đình Lê - Trịnh:[203]

Những buổi chầu trong điện không bị ngăn cấm người ngoài vào xem. Ta khi nhỏ thường hay vào sân rồng, thấy bên võ ban có đặt pho tượng "Hộ quốc phu nhân". Tượng ấy đầu người thân hồ ly, dáng rất đẹp, hình dung một thiếu nữ búi tóc, cài trâm.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tằng tổ phụ: Lê Hối được truy tôn làm Thượng Tổ Cao Minh Hoàng đế. Theo Đại Việt thông sử, Lê Hối là người tính tình chất phác, ngay thẳng, dời nhà về Lam Sơn, tự cày cấy ruộng vườn, ba năm thành sản nghiệp, đời đời làm quân trưởng một phương, đế nghiệp của họ Lê bắt đâu từ đây.
  • Tằng tổ mẫu: Nguyễn Thị Ngọc Duyên, được truy tôn Phổ Từ Cao Minh Hoàng hậu.
  • Ông nội: Lê Đinh, được truy tôn là Hiển Tổ Chiêu Đức Chí Nhân Trạch Hoàng đế, nối cơ nghiệp của cha, trong nhà có hàng nghìn tôi tớ, có lòng yêu người, xa gần đều quy phụ.
  • Bà nội: Nguyễn Quách, được truy tôn là Hiển Từ Gia Thục Khâm Thuận Trạch Hoàng hậu. Hai ông bà sinh được hai con trai: con trưởng Lê Tòng và Lê Khoáng (cha của Lê Lợi)[204]

Cha mẹ, anh em[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Lê Khoáng được truy tôn là Tuyên Tổ Hiến Văn Duệ Triết Phúc Hoàng đế.
  • Thân mẫu: Trịnh Ngọc Thương, người sách Chủ Sơn, được truy tôn là Trinh Từ Ý Văn Trang Hiến Phúc Hoàng hậu. Ông bà sinh được ba con trai là Lê Học, Lê Trừ, Lê Lợi và ba con gái là Ngọc Tá, Ngọc Vĩnh, Ngọc Tiên.
  • Lê Học, được truy tặng là Chiêu Hiếu Đại vương. Ông có con trai là Tướng quốc Lê Thạch tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, do ham đuổi theo quân địch trúng phải tên mà chết, được truy tặng làm Nhập nội kiểm hiệu Thái úy Bình chương quân quốc trọng sự,[205] phong làm Trung Vũ Đại vương.
  • Lê Trừ, được tôn là Lam quốc công, về sau được tôn là Hoằng Dụ vương. Con trai ông là Khai quốc công thần Kì Lân Hổ vệ tướng quân Lê Khôi. Về sau cháu 6 đời là Lê Duy Bang được lập nối ngôi nhà Lê Trung hưng, tức là Lê Anh Tông.[206]

Vợ[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Lê Thái Tổ không lập chính thất (vợ cả hay vương hậu, hoàng hậu), sử sách ghi chép lại có các bà:

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Lê Thái Tổ có bốn người con là:

  • Quận Ai vương Lê Tư Tề, con của Trịnh Thần phi.
  • Lê Thái Tông Lê Nguyên Long, con của Cung Từ Cao Hoàng hậu.
  • Công chúa Lê Thị Đào Nữ, con gái của Trịnh Thần phi. Bị giặc Minh bắt năm 9 tuổi rồi được viên nội quan Nhà Minh là Mã Kỳ đem về nuôi, rồi đưa về Yên Kinh tiến làm cung tỳ. Năm 1428, vua sai sứ sang xin về. Vua Minh trả lời là công chúa đã mất vì bệnh đậu mùa.[172]
  • Trang Từ Công chúa Lê Thị Ngọc Châu, con của Trần Trinh Thục phi, được Thái Tổ gả cho Bùi Ban, con trai của tướng Bùi Bị. Bùi Ban hy sinh trong chiến trận với Chiêm Thành, bà tái giá với Khôi Quận công Trần Hồng rồi xin đi tu.

Họ hàng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hai anh em Hiển Khánh vương Đinh Lễ, Nhập nội Thái phó Á Quận hầu Đinh Liệt là cháu ruột của Lê Lợi, gọi Lê Lợi bằng cậu.[208]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Việt sử ký toàn thư ghi là năm 1383.
  2. ^ Theo Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn thì Lê Lợi thọ 49 tuổi. Lê Lợi sinh năm Ất Sửu (1385), mất năm Quý Sửu (1433) thọ 49 tuổi, như Đại Việt Thông Sử ghi là đúng
  3. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Thời đại, 2013, tr. 536, 537.
  4. ^ Suy nghĩ về 20 năm, Một chớp mắt của lịch sử đầu thế kỉ 15, Tác giả Nguyễn Diên Niên, Nhà Xuất bản Tri thức, 2013, tr. 48.
  5. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ toàn thư, Quyển X: Thái Tổ Cao Hoàng đế, phần 1phần 2
  6. ^ a ă Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà Xuất bản Giáo dục, 2006, quan chức chí, trang 112, 113.
  7. ^ Trần Gia Phụng. Những cuộc đảo chánh cung đình Việt-Nam. Non Nước, 1998. Trang 149.
  8. ^ Lê Thị Sơn. Quốc triều hình luật: lịch sử hình thành, nội dung và giá trị. Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, 2004. Trang 68.
  9. ^ Đại Việt thông sử, quyển 2, Đế kỷ đệ Nhị, Thái Tổ hạ.
  10. ^ Văn hóa Việt Nam-tìm tòi và suy ngẫm, trang 749.
  11. ^ “tạ chí đại trường”. 
  12. ^ Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Nhà Xuất bản Sự thật, 1975, tr. 33.
  13. ^ Suy nghĩ về 20 năm, Một chớp mắt của lịch sử đầu thế kỉ 15, Tác giả Nguyễn Diên Niên, Nhà Xuất bản Tri thức, 2013, tr. 80.
  14. ^ Năm 1430 Lê Lợi đổi tên Lam Sơn thành Lam Kinh
  15. ^ Theo chú giải của sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục
  16. ^ http://vanhoadoisong.vn/web/trang-chu/van-hoa/que-huong-le-loi-xua-va-nay.html
  17. ^ a ă Đại Việt Sử ký Toàn thư, 1993, trang 325.
  18. ^ Chủ Sơn: tên hương, sau đổi là thôn Thủy Chú, huyện Lôi Dương, nay thuộc xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa.
  19. ^ Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, trang 145.
  20. ^ a ă “Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ quyển 10”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2017. 
  21. ^ a ă Việt sử tiêu án, soạn giả Ngô Thì Sỹ, Dịch giả: Hội Việt Nam Nghiên cứu Liên lạc Văn hóa Á Châu, Nhà Xuất bản Văn Sử, 1991, bản điện tử, Chuyển sang ấn bản điện tử bởi: Công Đệ, Doãn Vượng, Lê Bắc 2001, phần Ngoại thuộc Nhà Minh.
  22. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, 1993, các trang 310-311.
  23. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr. 34.
  24. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr. 68, 75.
  25. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, 1993, trang 313.
  26. ^ Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, tr. 37.
  27. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên quyển 13.
  28. ^ Lam Sơn thực lục, Nhà Xuất bản Tân Việt, 1956, dịch giả Mạc Bảo Thần, quyển 1, trang 8.
  29. ^ Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, dịch giả Ngô Thế Long, trang 37.
  30. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nhà Xuất bản Giáo dục Hà Nội, 1998, bản điện tử, trang 346, 347.
  31. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nhà Xuất bản Giáo dục Hà Nội, 1998, bản điện tử, trang 347.
  32. ^ Chan Chung Jin, "Lịch sử Việt Nam", trang 149.
  33. ^ Đại Việt thông sử, quyển 1: Đế kỷ đệ Nhất, Thái Tổ thượng.
  34. ^ Lam Sơn thực lục, Nhà Xuất bản Tân Việt, 1956, dịch giả Bảo Thần, trang 29.
  35. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nhà Xuất bản Giáo dục Hà Nội, 1998, bản điện tử, trang 348.
  36. ^ Việt Nam sử lược, 1971, trang 84.
  37. ^ Suy ngẫm về 20 năm, một chớp mắt đầu thế kỉ 15; Nhà Xuất bản Tri thức, 2012, tr. 62, 63.
  38. ^ Việt Nam sử lược, Quyển I, Phần III, Chương XIV: Mười năm đánh quân Tàu (1418 – 1427).
  39. ^ Suy nghẫm về 20 năm, một chớp mắt của lịch sử đầu thế kỉ 15, Nhà Xuất bản Tri thức, 2012, tr. 52.
  40. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả Viện Sử học, bản điện tử, trang 325.
  41. ^ a ă â Đại Việt thông sử, quyển 1, Đế kỷ đệ nhất.
  42. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả Viện Sử học, bản điện tử, trang 326.
  43. ^ a ă Lam Sơn thực lục, 1956, trang 9.
  44. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả: Viện Sử học, bản điện tử, trang 330.
  45. ^ Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, dịch giả Ngô Thế Long, trang 42.
  46. ^ a ă Lam Sơn thực lục, Nhà Xuất bản Tân Việt, 1956, dịch giả Mạc Bảo Thần, quyển 1.
  47. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, 1993, trang 329.
  48. ^ Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, dịch giả Ngô Thế Long, trang 39.
  49. ^ a ă â b Đại Việt Sử ký Toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả Viện Sử học, bản điện tử, trang 330.
  50. ^ Chan Kim Chung, "Tóm tắt lịch sử Việt Nam", trang 157.
  51. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, 1993, trang 331.
  52. ^ Kế này gọi là Kế hãm mình vào tử địa. Ngày trước, Hàn Tín dàn trận quay lưng ra sông, khiến quân lính bị dồn tới đường cùng mà đánh.
  53. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, 1993, trang 333.
  54. ^ Việt Nam - Văn hóa và du lịch, trang 49.
  55. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, 1993, bản điện tử, trang 331.
  56. ^ Le Loi – The Man and the Legend of the Golden Turtle God journeyfromthefall.com (nguyên bản từ Internet Archive)
  57. ^ Đại Việt thông sử, quyển 1.
  58. ^ a ă Lam Sơn thực lục, 1956, trang 12.
  59. ^ a ă â b Việt Nam sử lược, Quyển I, Phần III, Chương XIV.(1418 – 1427)
  60. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 334.
  61. ^ Tức tự chọn cho mình nơi giao chiến đã định sẵn trước.
  62. ^ a ă â Lam Sơn thực lục, 1956, trang 13.
  63. ^ Lam Sơn thực lục, 1956, trang 15.
  64. ^ a ă Shih-shan Henry Tsai (1996). The Eunuchs in the Ming Dynasty. SUNY Press. pp. 15–. ISBN 978-0-7914-2687-6.
  65. ^ Shih-shan Henry Tsai (1996). The Eunuchs in the Ming Dynasty. SUNY Press. tr. 15–. ISBN 978-0-7914-2687-6.
  66. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, quyển X, Khoa học Xã hội - Hà Nội, 1993.
  67. ^ Li, Tana (2010). "3 The Ming Factor and the Emergency of the Viet in the 15th Century". In Wade, Geoff; Sun, Laichen. Southeast Asia in the Fifteenth Century: The China Factor. Hong Kong University Press. tr. 95–96. ISBN 978-988-8028-48-
  68. ^ Nguyễn Xí bắt được thám tử của Vương Thông, biết Thông đóng ở Ninh Kiều, định dùng một cánh quân cùng đánh tập hậu Lê Triện, Thông cầm đại quân tiến đằng trước, đêm đến nổ pháo hiệu thì hai cánh quân cùng đánh sáp vào. Nguyễn Xí bèn đặt phục binh rồi cho nổ pháo hiệu để lừa Thông
  69. ^ a ă Karl Hack, trang 88.
  70. ^ Sun Laichen (2003), "Chinese Military Technology and Dai Viet: c.1390-1597," Asia Research Institute Working Paper Series, No.11, September.
  71. ^ Đại Việt thông sử, trang 205, sách đã dẫn.
  72. ^ Dreyer, trang 227.
  73. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Thời đại, 2013, tr. 495.
  74. ^ nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần nên Minh Thành Tổ lấy danh nghĩa lập lại nhà Trần để mang quân sang đánh nhà Hồ. Nay Vương Thông muốn vin vào đó.
  75. ^ a ă â Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 12, các trang 371-372.
  76. ^ a ă â Việt Nam sử lược, 1971, trang 88.
  77. ^ Theo sử sách, Trần Cảo tên thật là Hồ Ông, tự xưng là cháu nội vua Trần Nghệ Tông, được tù trưởng châu Ngọc Ma tiến cử với Lê Lợi. Nhưng theo một số sử gia gần đây, việc Trần Cảo mạo xưng hay thật sự là con cháu Nhà Trần rất khó xác định, có thể chữ "mạo xưng" mà sử sách ghi là do các sử gia Nhà Lê chép vào để giảm uy tín của Cảo.
  78. ^ Vì vậy từ đó về sau truyền lại câu đồng dao: Nhong nhong ngựa ông đã về, cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn
  79. ^ a ă Victor Lieberman (ngày 26 tháng 5 năm 2003). Strange Parallels: Volume 1, Integration on the Mainland: Southeast Asia in Global Context, c.800–1830. Cambridge University Press. tr. 377–. ISBN 978-1-139-43762-2
  80. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, 1998, các trang 374-376.
  81. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 349, 350.
  82. ^ a ă Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, dịch giả Ngô Thế Long, trang 18.
  83. ^ a ă â Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 349.
  84. ^ a ă â b Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 350, 351.
  85. ^ a ă Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 83.
  86. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, sách đã dẫn, trang 353, 354.
  87. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, trang 354.
  88. ^ a ă â Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 84.
  89. ^ Sở dĩ gọi "Minh" là "Ngô" vì hoàng đế khai quốc Nhà MinhChu Nguyên Chương trước kia khởi binh từ đất Ngô, tự xưng là Ngô vương, sau thống nhất Trung Quốc mới xưng là "Minh", Nguyễn Trãi viết bình Ngô có hàm ý là đánh đến tận tổ tông của vua nhà Minh.
  90. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, 1993, trang 360.
  91. ^ Việt sử toàn thư, bản điện tử, tr. 268.
  92. ^ a ă â b Việt Nam sử lược, Quyển I, Phần III, Chương XIV: Mười năm đánh quân Tàu (1418 – 1427).
  93. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, 1993, trang 362.
  94. ^ a ă â Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Thời đại, 2013, tr. 535, 537.
  95. ^ a ă Minh thực lục, Quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, Nhà Xuất bản Hà Nội, 2010, tr. 190-225.
  96. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2, Bang giao chí, Nhà Xuất bản Giáo dục, 2007, tr. 546.
  97. ^ Kiến văn tiểu lục, Tập 1, Nhà Xuất bản Hồng Bàng, 2013, tr. 152.
  98. ^ a ă Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà Xuất bản Giáo dục, 2006, quan chức chí, trang 532, 533, 534.
  99. ^ a ă â b Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà Xuất bản Giáo dục, 2006, quan chức chí, trang 532, 533, 534.
  100. ^ Việt Nam sử lược, trang 96.
  101. ^ Việt Nam văn hóa sử cương, sách đã dẫn, tr. 150.
  102. ^ Đại Việt thông sử, Quyển II, Đế kỷ đệ nhị, trang 22.
  103. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả: Viện Sử học, bản điện tử, trang 361.
  104. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà Xuất bản Giáo dục, 2006, quan chức chí, trang 176.
  105. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả Viện Sử học, bản điện tử, Kỷ Nhà Lê, phần Thái Tông Hoàng đế, trang 390, trích dẫn: "Chém Chuyển vận sứ huyện Thủy Đường là Nguyễn Liêm. Liêm nhận của người 2 tấm lụa. Lê Sát căn cứ vào lệnh chỉ thời Thái Tổ ghi nhận một quan tiền hối lộ thì tâu lên xử trảm, [nên chém Liêm]. Con Liêm xin chịu chết thay cho cha, cũng không được".
  106. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Thời đại, 2013, tr. 525.
  107. ^ Tên nước Việt Nam dưới thời Nhà Hồ.
  108. ^ a ă â b Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, soạn giả Phan Huy Chú, Dịch giả Viện Sử học Việt Nam, Nhà Xuất bản Giáo dục, 2006, trang 13.
  109. ^ Doanh Bồ Đề ở thôn Phủ Hựu, huyện Gia Lâm, vì trong doanh có 2 cây bồ đề, nên gọi là Doanh Bồ Đề.
  110. ^ Kiến văn tiểu lục, soạn giả Lê Quý Đôn, phiên dịch và chú thích Phạm Trọng Điềm, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, trang 91.
  111. ^ Việt Nam văn hóa sử cương; soạn giả Đào Duy Anh, 1938; in tại Quan Hải tùng thư; trang 256.
  112. ^ Minh kinh tức là hiểu rõ nghĩa các kinh. Thi Minh kinh tức để chọn người hiểu nghĩa sách chắc chắn.
  113. ^ Hoành từ: lời văn dồi dào, rộng rãi, tỏ ra có học lực cao sâu. Thi Hoành từ để chọn người văn hay, học rộng.
  114. ^ Kiến văn tiểu lục, soạn giả Lê Quý Đôn, phiên dịch và chú thích Phạm Trọng Điềm; Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, trang 92.
  115. ^ Việt Nam văn hóa sử cương; soạn giả Đào Duy Anh, 1938; in tại Quan Hải tùng thư; trang 238.
  116. ^ Việt Nam văn hóa sử cương, Tác giả Đào Duy Anh, Nhà Xuất bản Bốn phương, 1938, trang 237.
  117. ^ a ă Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2, Nhà Xuất bản Giáo dục, 2007, tr. 319.
  118. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Thời đại, 2013, tr. 529.
  119. ^ Sun Laichen, Military Technology Transfers From Ming China and The Emergence Of Northern Mainland Southeast Asia (c. 1390-1527), Journal of Southeast Asian Studies, 34.3 (Oct. 2003), từ trang 495.
  120. ^ Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 1976, trang 75.
  121. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 361.
  122. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 363.
  123. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 364.
  124. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 365.
  125. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 366.
  126. ^ Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 1976, trang 98.
  127. ^ Lê Lợi phong thưởng 2 lần, lần 1 cho những Hỏa thủ, quân nhân Thiết đột khó nhọc ở Lũng Nhai; Lần 2 cho 93 viên được phong Công, Hầu. Một số vị vừa là quân nhân Thiết đột, vừa được phong công hầu. Ví dụ: Phạm Vấn, vừa là quân nhân Thiết đột, vừa được phong Hầu. Nguyễn Trãi thì chỉ được phong Hầu.
  128. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 367.
  129. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 369.
  130. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2, Nhà Xuất bản Giáo dục, Dịch giả Viện Sử học Việt Nam, trang 89.
  131. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, tr. 121.
  132. ^ a ă â Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ, quyển X.
  133. ^ Đại Việt thông sử, quyển 2, Đế kỷ đệ Nhị.
  134. ^ a ă â Đại Nam nhất thống chí, Quốc sử quán triều Nguyễn, Nhà Xuất bản Thuận Hóa, 2006, Tập 4, trang 484.
  135. ^ Minh Thực lục, tập 11, trang 828.
  136. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 351.
  137. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 370.
  138. ^ a ă Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 1976, Đế Kỷ Đệ Nhị.
  139. ^ a ă â b Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, dịch giả Ngô Thế Long, trang 193. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “ReferenceB” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  140. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Thời đại, 2013, tr. 524.
  141. ^ Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, tr. 216.
  142. ^ Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, tr. 207.
  143. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Thời đại, 2013, tr. 523.
  144. ^ Theo Khâm định Việt sử Thông giám cương mục.
  145. ^ Lam Sơn thực lục, Nhà Xuất bản Tân Việt, 1956, dịch giả Mạc Bảo Thần, quyển 2, tr. 35, 36.
  146. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Thời đại, 2013, tr. 530.
  147. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả Viện Sử học, bản điện tử, trang 347.
  148. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả Viện Sử học, bản điện tử, trang 362.
  149. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả Viện Sử học, bản điện tử, trang 366.
  150. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, Dịch giả Viện Sử học, bản điện tử, trang 367.
  151. ^ Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 1976, Dịch giả Ngô Thế Long, Nghịch thần truyện, trang 274 đến 277.
  152. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhân vật chí, Nhà Xuất bản Giáo dục, 2006.
  153. ^ Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, trang 240, 247.
  154. ^ Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi
  155. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, trang 565, 566.
  156. ^ Nguyễn Trãi toàn tập, trang 87.
  157. ^ Văn học Việt Nam (thế kỷ X-nửa đầu thế kỷ XVIII, trang 210.
  158. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Thời đại, 2013, tr. 42.
  159. ^ Tạp chí Tổ quốc tháng 10, năm 1980. Suy ngẫm 20 năm, Một chớp mắt của lịch sử đầu thế kỉ 15, Nhà Xuất bản Tri thức 2013, tr 76, 77.
  160. ^ Việt sử tân biên, Phạm Văn Sơn, Tủ sách sử học Việt Nam, 1959, quyển III, tr. 14.
  161. ^ a ă Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, trang 106.
  162. ^ SA Mkhitaryan, Lịch sử Việt Nam. - M: Hayka, 1983. - trang 302. 
  163. ^ Đại Việt sử kí toàn thư, Nhà Xuất bản Thời đại, 2013, tr. 462.
  164. ^ Suy ngẫm 20 năm Một chớp mắt của lịch sử đầu thế kỉ 15, Nhà Xuất bản Tri thức, 2013, tr 24, 46, 80.
  165. ^ Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Nhà Xuất bản sự thật, 1975, tr. 33.
  166. ^ Ba bài diễn ca bất hủ của Bác Hồ
  167. ^ https://baohaiduong.vn/dat-va-nguoi-xu-dong/ngoi-den-duy-nhat-tho-vua-le-loi-o-hai-duong-79372
  168. ^ Trùng hợp lạ lùng giữa vua chúa VN và thế giới
  169. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr. 32.
  170. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr. 99.
  171. ^ Thương Thánh, sách đã dẫn, tr. 33.
  172. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ toàn thư, quyển 10.
  173. ^ Lam Sơn thực lục, quyển 1, dịch giả Mạc Bảo Thần.
  174. ^ Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, tr. 223.
  175. ^ Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr. 167.
  176. ^ Thương Thánh, sách đã dẫn, tr. 39.
  177. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr. 36.
  178. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr. 35.
  179. ^ Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, tr. 225.
  180. ^ Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr. 172.
  181. ^ Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr. 185.
  182. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr. 354.
  183. ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr. 192-193.
  184. ^ Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, tr. 259.
  185. ^ Thương Thánh, sách đã dẫn, tr. 32.
  186. ^ Nguyễn Khắc Thuần, sách đã dẫn, tr. 47.
  187. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 10
  188. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 15.
  189. ^ Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc, Phụ lục I: Bảng các triều đại.
  190. ^ Nguyễn Khắc Thuần, Thế thứ các triều vua Việt Nam.
  191. ^ Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr. 275, 295.
  192. ^ Trương Chí Quân, sách đã dẫn, tr. 38.
  193. ^ Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, tr. 287.
  194. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr. 517.
  195. ^ Đại Việt sử ký toàn thư,bản kỷ thực lục, quyển 6.
  196. ^ Việt Nam sử lược, quyển 2: Tự chủ thời đại, chương 1.
  197. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 13.
  198. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 13: "Bình Định vương ban đầu dấy lên ở Lam Sơn, tức cũng như Bái công (Lưu Bang) với một thanh kiếm nổi lên ở Bái Trung".
  199. ^ Lam Sơn thực lục, Nhà Xuất bản Tân Việt, 1956, quyển 3.
  200. ^ Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, tr. 271, 272.
  201. ^ a ă Lê Thái Dũng, sách đã dẫn, tr. 59-61.
  202. ^ Sự tích đền Mẫu Thượng Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Ninh Bình, 14-04-2016.
  203. ^ Lê Thái Dũng, sách đã dẫn, trang 62.
  204. ^ Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, trang 34, 35.
  205. ^ Minh thực lục
  206. ^ Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, trang 35.
  207. ^ Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, trang 149.
  208. ^ Đại Việt thông sử, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, tr. 203.

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Việt sử ký toàn thư Tác giả: Ngô Sĩ Liên và các sử quan thời quân chủ Việt Nam...; Nhà Xuất bản Thời đại, 2013.
  • Đại Việt thông sử, Tác giả Lê Quý Đôn, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007.
  • Lịch triều hiến chương loại chí, Tác giả Phan Huy Chú, tập 1, 2, Nhà Xuất bản Giáo dục, 2006.
  • Lam Sơn thực lục bản Nhà Lê Sát, Nhà Xuất bản KHXH, 2006.
  • Lam Sơn thực lục, Tác giả không rõ, Nhà Xuất bản Tân Việt, 1944, Dịch giả Mạc Bảo Thần.
  • Việt sử tiêu án, Tác giả Ngô Thì Sĩ.
  • Khâm định Việt sử thông giám cương mục tác giả Quốc sử quán triều Nguyễn, Nhà Xuất bản Giáo dục, 2008.
  • Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, 1977.
  • Hoàng Việt văn tuyển, tập 3, Tác giả Tồn Am Bùi Huy Bích, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, 1972.
  • Minh Thực lục, Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc thế kỉ XIV-XVII, tập 1, 2, 3 Nhà Xuất bản Hà Nội, 2010. Người dịch Hồ Bạch Thảo.
  • Suy ngẫm về 20 năm - Một chớp mắt của lịch sử đầu thế kỷ XV (1407 - 1427), Tác giả Nguyễn Diên Niên, Nhà Xuất bản Trí thức, 2016.
  • Đại Nam nhất thống chí Nhà Xuất bản Thuận Hóa, 2006.
  • Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội
  • Lê Thái Dũng (2008), Giở trang sử Việt, Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
  • Trần Trọng Kim (2010), Việt Nam sử lược Nhà Xuất bản Thời đại.
  • Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Tác giả Trường Chinh, Nhà Xuất bản Sự thật, 1975.
  • Nam hải dị nhân, tác giả Phan Kế Bính, 1930.
  • Việt Nam văn hóa sử cương; soạn giả Đào Duy Anh, 1938; in tại Quan Hải tùng thư.
  • Đất nước Việt Nam qua các đời, Đào Duy Anh, Nhà Xuất bản Nhã Nam, 2016.
  • Việt Sử tân biên, quyển II, III, Tác giả Phạm Văn Sơn, Tủ sách sử học Việt Nam, 1959.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khởi nghĩa Lam Sơn, Tác giả Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân, 2005.
  • Trùng san Lam Sơn thực lục, Nhà Xuất bản khoa học Xã hội, 1992.
  • Vũ Trung tùy bút, Tác giả Phạm Đình Hổ, Nhà Xuất bản Trẻ, 1989.
  • Sun Laichen, Military Technology Transfers From Ming China and The Emergence Of Northern Mainland Southeast Asia (c. 1390-1527), Journal of Southeast Asian Studies, 34.3 (Oct. 2003). Bản dịch tiếng Việt của Ngô Bắc.
  • Lịch sử của người Việt Nam (A History of the Vietnamese - Cambridge University Press ấn hành, New York, 2013).
  • Chủ nghĩa yêu nước thời Khởi nghĩa Lam Sơn, Nhà Xuất bản ĐH&THCN, 1984.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thái Tổ
Sinh: 10 tháng 9, năm 1385 Mất: 5 tháng 9, 1433
Tước hiệu
Tiền vị
Không có
Bắc thuộc lần 4
Hoàng đế Đại Việt
Nhà Lê sơ
1428-1433
Kế vị
Lê Thái Tông