Trận Tốt Động – Chúc Động

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận Tốt Động, Chúc Động
.
Thời gian Ngày 5-ngày 7 tháng 10 năm 1426
Địa điểm Chúc Sơn, xã Ngọc Sơn, huyện Chương Mĩ, Hà Tây cũ
Kết quả Chiến thắng quyết định của nghĩa quân Lam Sơn
Tham chiến
Quân khởi nghĩa Lam Sơn Quân Minh
Chỉ huy
Lý Triện
Đinh Lễ
Đỗ Bí
Nguyễn Xí
Trương Chiến
Vương Thông
Phương Chính
Mã Kỳ
Sơn Thọ
Lý An
Trần Hiệp
Mã Anh
Lực lượng
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, cánh quân của Lý Triện, Đỗ Bí có 3000 quân, 1 thớt voi; cánh quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí có 3000 quân tinh nhuệ, 2 thớt voi; tổng cộng có 6000 quân, 3 thớt voi. Theo Đaị Việt sử ký toàn thư, Đại Việt thông sử, Lam sơn thực lục, lực lượng quân Minh có 10 vạn quân, 5 nghìn ngựa.
Tổn thất
Không rõ 5 vạn bị giết, 1 vạn bị bắt sống
.

Trận Tốt Động – Chúc Động là trận đánh diễn ra trong các ngày 5-7 tháng 10 năm 1426, giữa nghĩa quân của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với quân nhà Minh đóng ở Đông Quan (tức là Thăng Long, Hà Nội)[1][2][3]. Đây là một chiến thắng quân sự lớn của nghĩa quân Lam Sơn và được nhắc đến trong Bình Ngô đại cáo.

Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm;
Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.

Địa điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Địa điểm diễn ra là tại hai nơi, cách nhau khoảng 6–7 km, đều thuộc địa bàn huyện Chương Mỹ Hà Nội ngày nay là:

  • Tốt Động[4] còn gọi là Tụy Động (nay là xã Tốt Động), tại đây nghĩa quân Lam Sơn phục binh chặn đánh cánh tiên phong của quân Minh ở Đông Quan(Trung Quốc)
  • Chúc Động[5] còn gọi là Ninh Kiều (nay là thị trấn Chúc Sơn), là nơi quân Lam Sơn mai phục chặn đánh hậu quân của quân Minh từ Đông Quan kéo ra.

Lực lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Quân Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Đại việt thông sử, Lam Sơn thực lục, Vương Thông mang 5 vạn quân, 5 nghìn ngựa từ Trung Quốc sang, hợp với quân ở Đông Quan, có tất cả hơn 10 vạn quân.[2][3][6][7]

Nghĩa quân Việt Hùng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, cánh quân của Lý Triện, Đỗ Bí có 3000 quân, 1 thớt voi; cánh quân của Nguyễn Xí, Đinh Lễ, Trương Chiến có 3000 quân tinh nhuệ, 2 thớt voi.

Theo Lam Sơn thực lục, cánh quân do Lý Triện, Trịnh Khả, Đỗ Bí, có 2 ngàn quân; cánh quân của Đinh Lễ,, Nguyễn Xí có 2 ngàn tinh binh.[7]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Nghĩa quân Lam Sơn tiến quân ra Bắc

Sau 8 năm khởi nghĩa, nghĩa quân Lam Sơn ngày càng trở nên vững mạnh, chiếm lại được vùng đất rộng lớn từ Thanh Hóa trở vào đến Tân Bình, Thuận Hóa (Thừa Thiên-Huế ngày nay), nghĩa quân Lam Sơn đang bao vây thành Nghệ An. Lê Lợi nhận định rằng tinh binh quân Minh tập trung ở Nghệ An, các thành ở Đông Đô tất suy yếu. Tháng 8 năm 1426, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh bắc tiến, Khu mật đại sứ Phạm Văn Xảo, Thái úy Lê Triện, Thái gám Lê Khả, Á hầu Lê Như Huân, Lê Bí đem hơn 3.000 quân 1 thớt voi đi tuần các xứ Thiên Quan[8] , Quảng Oai, Quốc Oai, Gia Hưng[9], Quy Hóa[10], Đà Giang, Tam Đới[11], Tuyên Quang để cắt đứt đường viện binh của quân Minh từ Vân Nam sang; thái úy Lê Bị, Thái giám Lê Khuyển đem 2.000 quân và 1 thớt voi đánh ra các xứ Khoái Châu[12], Bắc Giang, Lạng Giang để chặn viện binh từ Lưỡng Quảng tới; Tư không Lê Lễ và Lê Xí thì đem tinh binh tiến sau để phô trương thanh thế.[2][13]

Ngày 12, tháng 8, năm 1426, cánh quân Lý Triện tiến đến sát thành Đông Quan, quân Minh nghĩ quân từ xa tới, liền dốc quân ra đánh, trận chiến diễn ra ở xứ Ninh Kiều[14] thuộc Ứng Thiên. Nghĩa quân phá tan quân Minh, chém hơn 2000 người, rồi dời quân đóng ở phía tây sông Ninh giang[1][2][15]

Ngày 17, tháng 9, Lý An, Phương Chính để Thái Phúc giữ thành Nghệ An, đem quân vượt biển về cứu Đông Đô. Lê Lợi đem tinh binh đuổi theo, đóng quân ở Lỗi Giang.[1][2]

Ngày 20, cánh quân do Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả chỉ huy đánh bại đô ty Vương An Lão khi viên đô ty này đem hơn 1 vạn viện binh từ Vân Nam sang, chém 1000 người, chết đuối rất nhiều, số còn lại chạy vào thành Tam Giang.

Cùng ngày đó Lý Triện đánh nhau với quân Minh ở cầu Nhân Mục[16], chém hơn 1000 người, bắt được đô ty Vi Lượng.[1][2]

Nghĩa quân Lam Sơn tuy luôn đánh thắng, nhưng vẫn dựa vào đất Nghệ An, Thanh Hóa. Cánh quân của Lý Triện và Trịnh Khả chỉ huy vì quân đơn độc, cứ đi đi lại lại ở vùng Thiên Quan, Quảng Oai, Tam Giang rồi áp sát vào Đông Quan. Người trong nước còn sợ oai quân Minh, chưa quy phục hết thảy.[17]

Viện binh nhà Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tháng 10, năm 1426 Nhà Minh đã phải cử Vương Thông, Thượng thư bộ binh Trần Hiệp, Tham tướng Mã Anh dẫn hơn 5 vạn quân, 5000 kỵ binh sang tăng viện cho Đông Quan[18][19]. Trước đó, một vạn quân Van Nam đã bị Trịnh Khả đánh bại, chạy vào thành Tam Giang.

Ngày mồng 6, tháng 10, Vương Thông tập hợp quân hơn 10 vạn, chia làm ba đường đánh nghĩa quân Lam Sơn.[1][2]

Trận mở màn[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 6, tháng 10, năm 1426 [20], cánh quân của Vương Thông kéo đến đóng tại bến đò trên sông Đáy ở làng Cổ Sở,[21] làm cầu phao qua sông. Cánh quân của Phương Chính kéo đến Sa Đôi (đò Đôi) trên sông Nhuệ[22] đóng đồn. Sơn Thọ kéo theo đường qua làng Nhân Mục (cống Mọc trên sông Tô Lịch) đến đóng đồn tại cầu Thanh Oai bắc qua sông cổ Đỗ Động.[23]. Quân Minh dàn doanh trại liền nhau đến vài mươi dặm, cờ xí rợp đồng, giáo mác rực trời, tự cho là đánh một trận là bắt hết được nghĩa quân Lam Sơn.[1][2]

Lý Triện, Lê Bí mai phục binh tượng ở đồng Cổ Lãm[24], cho du binh nhử đánh vào doanh quân Sơn Thọ, Mã Kỳ rồi giả vờ thua chạy. Quân Minh đuổi theo, khi qua bờ cầu Tam La[25], chỗ ấy ruộng nước, bùn lầy, quân mai phục của nghĩa quân nổi dậy đánh tạt ngang vào. Quân Minh bị sa lầy. Nghĩa quân chém hơn một nghìn người, đuổi tận đến cầu Nhân Mục. Xác quân Minh phơi ngổn ngang đến vài mươi dặm, bị bắt sống hơn 500 người.[1][2]

Lý Triện, Đỗ Bí định đánh chặn hậu doanh của Phương Chính, nhưng Phương Chính đã rút đi rồi. Trời tối, bèn thu quân về.[1][2]

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Trận Tốt Động Chúc Động

Ngày mồng 7, tháng 10 [20] cánh quân Lý Triện, Đỗ Bí đánh Vương Thông ở các trại ngoài Cổ Sở. Quân Minh đã phục binh sẵn, đan tra làm lá chắn, bên trong gài chông sắt, giả cách vứt lá chắn bỏ chạy. Voi của nghĩa quân giẫm lên, trúng phải chông sắt, quân ta thất lợi, phải tạm lui. Lý Triện, Đỗ Bí tự liệu không thể chặn được mới phá hủy doanh trại cũ, thu quân giữ nơi hiểm yếu, cáo cấp trước với cánh quân Đinh Lễ, Trương Chiến, Nguyễn Xí.

Cánh quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí, Trương Chiến đã bí mật mai phục tinh binh ở Thanh Đàm[26] để đợi quân Minh, được tin báo của Lý Triện, bèn đang đêm đem hơn 3 nghìn quân tinh nhuệ và 2 thớt voi đến dứu, hội quân ở Cao Bộ[27], chia quân phục sẵn ở các chổ hiểm yếu. Nhân bắt được gián điệp của quân Minh, tra hỏi biết được quân Minh định đặt súng phía sau nghĩa quân Lam Sơn.[1][2][28]

Sách Khâm định Việt sử thông giám chép rằng:Bắt được gián điệp của địch, ta biết Thông đã tiến đóng ở Ninh Kiều, ngầm cho kỳ binh tiền nhanh đến phía sau quân Triện, còn chính binh của Thông sẽ vượt sông tiến lên phía trước. Chúng hẹn nhau hễ nghe tiếng súng pháo nổ, thì các mũi quân địch cùng lúc đánh khép lại.

Đinh Lễ và Lý Triện dùng luôn kế của quân Minh, hạ lệnh cho các quân nghe tiếng súng nổ vẫn nằm im không được nhúc nhích. Quân Minh cho là không có quân, đi theo đường tắt tới, nổ súng rồi đem toàn bộ quân tiến sâu vào.[2][29]

Đến cách sông Yên Duyệt[30] vài dặm thì phục binh nghĩa quân ba mặt đều xông lên, hăng hái đánh vào các xứ Tốt Động[31], Chúc Động[32], phá tan quân Minh, chém Thượng thư Trần Hiệp, Nội quan Lý Lượng và 5 vạn quân Minh. Quân Minh chết đuối rất nhiều, nước sông ở Ninh Kiều do vậy mà tắc nghẽn. Bắt sống hơn 1 vạn người[33], thu được ngựa, quân tư, khí giới, xe cộ nhiều không kể xiết. Phương Chính theo đường bến Cổ Sở trốn về. Vương Thông, Mã Kỳ chỉ thoát được thân, chạy về thành Đông Quan.[2][29][34]

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

5 vạn quân Minh bị tiêu diệt, 1 vạn quân Minh bị bắt sống, quân tư, khí giới, xe cộ thu được nhiều vô kể. Một lực lượng lớn tháo chạy qua sông Ninh Giang bị chết đuối nhiều đến mức "làm nghẽn cả khúc sông Ninh Giang". Đinh Lễ, Đỗ Bí, Nguyễn Xí, thừa thắng tiến thẳng sát thành bổ vây[2][29][35][36][37][38] Các chỉ huy của quân Minh là Trần Hiệp, Lý Lượng, Lý Đằng bị giết tại trận. Ngay Vương Thông cũng bị thương.[39]

Ý nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Kết cục của trận Tốt Động-Chúc Động đã làm phá sản kế hoạch phản công của Vương Thông đồng thời tạo ra lợi thế cho nghĩa quân Lam Sơn buộc quân Minh phải rút về cố thủ và chấp nhận đàm phán. Do mất rất nhiều vũ khí trong trận này, quân Minh buộc phải tìm cách chế tạo vũ khí, Vương Thông đã sai quân phá chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh để làm hỏa khí. Trong khi đó, quân Lam Sơn có thêm rất nhiều vũ khí và có thể đã tiếp thu thêm công nghệ chế tạo súng của quân Minh.[40]

Sách Đại Việt thông sử viết rằng:

[41]

Đây là trận quyết chiến, một trong những thắng lợi quyết định toàn cục của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Trận đánh này đã làm cho tên tuổi của Lý Triện, Đinh Lễ nổi danh, sử gia Ngô Sỹ Liên cho rằng, Tướng giỏi thời ấy thì Lễ và Triện đứng đầu[42]

Trong Văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm Bình Ngô đại cáo viết rằng:

Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh lây muôn dặm!
Tốt Động thây nằm đầy nội, để thối nghìn thu!
Lý Lượng là sâu mọt dân, ta đã đem phanh xác!
Trần Hiệp là tay chân quân giặc, cũng bị bêu đầu!
Vương Thông dẹp loạn mà nơi cháy lại cháy thêm.
Mã Anh gỡ đòn mà kẻ giận càng giận dữ![43]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, dịch giả Viện sử học Việt Nam.
  • Đại Việt thông sử, tác giả Lê Quý Đôn, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, dịch giả Ngô Thế Long.
  • Lam Sơn thực lục, Nhà xuất bản Tân Việt, 1956, dịch giả Mạc Bảo Thần.
  • Việt sử tiêu án, Tác giả Ngô Thì Sỹ, Nhà xuất bản Văn Sử, 1991.
  • Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, tập XIII.
  • Trương Hữu Quýnh chủ biên (2007), Đại cương lịch sử Việt Nam (tập I).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê Đại việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 338
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l Đại Việt sử ký toàn thư
  3. ^ a ă Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 60
  4. ^ Tốt Động: tên nôm gọi là làng Rér. Đây là vùng đất thấp, lầy lội. Cánh đồng Tốt Động là đồng chiêm trũng, rất lầy lội. Chú giải của sách Đại Việt sử ký toàn thư
  5. ^ Chúc Động: cách Tốt Động 6km về phía đông bắc và ở ngay phía tây Ninh Kiều. Cả hai con đường từ Ninh Kiều đến Cao Bộ đều phải đi qua vùng Cbúc Động. Chúc Động nay là Chúc Sơn, xã Ngọc Sơn, huyện Chương Mỹ, Hà Tây.
  6. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học Xã Hội hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 338
  7. ^ a ă Lam sơn thực lục, Nhà xuất bản Tân Việt, 1956, cuốn 2
  8. ^ Thiên Quan: vùng đất huyện Nho Quan cũ, nay thuộc huyện Hoàng Long, tỉnh Ninh Bình.
  9. ^ Gia Hưng: gồm các huyện Thuận Châu, Mộc Châu, Yên Châu, Mai Sơn, Phù Yên tỉnh Sơn La, các huyện Thanh Sơn, Tam Thanh tỉnh Phú Thọ và huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình ngày nay
  10. ^ Quy Hóa: thuộc Yên Bái, Lào Cai ngày nay
  11. ^ Tam Đới: thuộc tỉnh Vĩnh Phú ngày nay.
  12. ^ Nguyên văn là Khoái Giang, sửa lại theo Đại Việt thông sử và Cương mục.
  13. ^ Đại việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 337
  14. ^ Ninh Kiều: là vùng Ninh Sơn, xã Ngọc Sơn, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây ngày nay. Đây là một vị trí trọng yếu và hiểm trở nằm trên đường thượng đạo từ Đông Quan vào Thiên Quan và Thanh Hóa.
  15. ^ Ninh Giang: là đoạn sông Đáy chảy qua vùng Hà Tây, Nam Hà rồi theo sông Mỹ Đô chảy vào sông Hồng (đoạn Hoàng Giang).
  16. ^ Cầu Nhân Mục: tức là Cống Mọc ở xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm Hà Nội, cầu bắc qua sông Tô Lịch, trên đường từ Đông Quan đến Ninh Kiều
  17. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 205
  18. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, sách đã dẫn, trang 338
  19. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 59
  20. ^ a ă âm lịch
  21. ^ Yên Sở
  22. ^ Nay thuộc Đại Mỗ và Phú Đô xã Mễ Trì huyện Từ Liêm
  23. ^ Nay thuộc Bình Đà xã Bình Minh huyện Thanh Oai
  24. ^ Cổ Lãm: tức tổng Thắng Lãm, tên nôm là Sốm, nay gồm các xã Phú Lâm, Phú Cường, Văn Khê, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.
  25. ^ Cầu Tam La:tức Ba La, còn gọi là Ba La Bông Đỏ, sát thị xã Hà Đông, trên đường đi Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.
  26. ^ Thanh Đàm: tức là Thanh Trì, trị sở huyện này xưa ở phía đông nam Văn Điển, Hà Nội ngày nay.
  27. ^ Cao Bộ: tên nôm là làng Bụa, thuộc xã Trung Hòa, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây ngày nay.
  28. ^ Sách Lam sơn thực lục viết là cánh quân do Lê Lễ, Lê Hối, Lê Chiếu, Lê Xí chỉ huy
  29. ^ a ă â Đại việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 339
  30. ^ Sông Yên Duyệt: ở làng Yên Duyệt, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây ngày nay.
  31. ^ Tốt Động: tên nôm gọi là làng Rér. Đây là vùng đất thấp, lầy lội. Cánh đồng Tốt Động là đồng chiêm trũng, rất lầy lội.
  32. ^ Chúc Động: cách Tốt Động 6km về phía đông bắc và ở ngay phía tây Ninh Kiều. Cả hai con đường từ Ninh Kiều đến Cao Bộ đều phải đi qua vùng Cbúc Động. Chúc Động nay là Chúc Sơn, xã Ngọc Sơn, huyện Chương Mỹ, Hà Tây
  33. ^ Lam Sơn thực lục, Nhà xuất bản Tân Việt, 1956, chỉ bắt sống 100 người
  34. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 216, số liệu 5 vạn quân bị giết, 1 vạn quân bị bắt sống
  35. ^ Lam Sơn thực lục, Nhà xuất bản Tân Việt, 1956
  36. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 216, số liệu 5 vạn quân bị giết, 1 vạn quân bị bắt sống
  37. ^ Việt sử thông giám cương mục, tập XIII.
  38. ^ Tuy nhiên, theo Sun Laichen (2003), trang 13, các sử liệu Trung Quốc chỉ thừa nhận số quân Minh hy sinh là 2-3 vạn.
  39. ^ Trương Hữu Quýnh, sách đã dẫn, tr 301.
  40. ^ Sun Laichen (2003), "Chinese Military Technology and Dai Viet: c.1390-1597," Asia Research Institute Working Paper Series, No.11, September.
  41. ^ Đại Việt thông sử, trang 205, sách đã dẫn.
  42. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 344
  43. ^ Lam Sơn thực lục, Nhà xuất bản Tân việt, 1956, cuốn 3, dịch giả Mạc Bảo Thần

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]