Hội thề Lũng Nhai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hội thề Lũng Nhai là một sự kiện trong lịch sử Việt Nam, do Lê Lợi cùng 18 người tổ chức tại Lũng Nhai vào mùa đông năm 1416 [1]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Hội thề Lũng Nhai năm 1416 không được chép trong những cuốn sách sử như Đại việt sử ký toàn thư, Lam sơn thực lục, hội thề chỉ được nhắc trong sách Đại Việt thông sử của sử gia Lê Quí Đôn, ở phần Nhân vật chí.

Có tất cả 6 người[2] là Lê Lai, Lê Thận, Lưu Nhân Chú, Trịnh Khả, Nguyễn Lý, Lê Văn An [3], được Đại Việt thông sử chép rằng:

[4]

Lê Lai sau khi chết được Lê Lợi truy phong Suy trung đồng đức Hiệp mưu Bảo chính Lũng Nhai công thần.[5]

[6]

Chế văn của vua Lê Thái Tổ ban cho Lưu Nhân Chú cũng nhắc đến sự kiện này:

[7]

[8]

[9]

[10]

[11]

Bài văn thề được chép trong gia phả nhiều dòng họ khai quốc công thần triều Lê nên có nhiều dị bản. Nội dung văn thề sau đây được chép lại từ quyển Khởi nghĩa Lam Sơn của Phan Huy Lê và Phan Đại Doãn, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, 1977, được dịch từ gia phả của họ Đinh (Nông Cống và gia phả họ Lê (Kiều Đại)[12][13]:

Niên hiệu Thiên Khánh thứ nhất, năm Bính Thân, tháng 2, qua ngày Kỷ Mão[14] là ngày sóc, đến ngày 12 là Canh Dần[15].
Phụ đạo lộ Khả Lam nước An Nam là Lê Lợi cùng Lê Lai, Lê Thận, Lê Văn An, Lê Văn Linh,Trịnh Khả, Trương Lôi, Lê Liễu, Bùi Quốc Hưng, Lê Ninh, Lê Hiểm, Vũ Uy, Nguyễn Trãi, Đinh Liệt, Lê Nhân Chú, Lê Bồi, Lê Lý, Đinh Lan, Trương Chiến kính đem lễ vật, sinh huyết tấu cáo cùng Hạo nhiên Thượng đế, Hậu thổ Hoàng địa và các tôn linh thần bậc thượng, trung, hạ coi sông núi ở các xứ nước ta.
Cúi xin chứng giám cho:
Rằng có bạn ở phương xa đến, kết giao vui vẻ cùng giữ lòng tin. Vì thế phải có lễ tấu cáo.
Nay ở trong nước, tôi là Phụ đạo Lê Lợi cùng với Lê Lai đến Trương Chiến, 19 người. Tuy họ hàng, quê quán khác nhau, nhưng kết nghĩa thân nhau như một tổ liền cành. Phận vinh hiển đều có khác nhau, mong có tình như cùng chung một họ.
(Có kẻ) bằng đảng xâm chiếm nước ta, qua cửa quan làm hại, nên Lê Lợi cùng Lê Lai đến Trương Chiến, 19 người chung sức đồng lòng, giữ gìn đất nước làm cho xóm làng được ăn ở yên lành. Thề sống chết cung nhau, không dám quên lời thề son sắt.
Tôi cúi xin trời đất và các vị thần linh chứng giám, ban cho trăm phúc, đến thân mình, nhà mình, con cháu trong họ hàng đều được yên vui hưởng lộc trời.
Nếu như Lê Lợi cùng Lê Lai đến Trương Chiến sinh lòng này khác, cầu ơn hiện tại, núp bóng quân thù, không cùng một lòng, quên lời thề ước, chúng tôi nguyện trời đất và các thần linh, giáng trăm tai ương trị mình cho đến họ hàng, con cháu đều bị tru diệt, chịu hết hình phạt của trời.
Kính xin có lời thề.

Bài văn thề do Hoàng Xuân Hãn dịch , hợp chú 2 bản, bản của dòng họ Lê Sát và bản của dòng họ Đỗ Bí:

Bui ! (cổ-ngữ đứng đầu các văn khấn)
Năm đầu niên-hiệu Thiên-khánh là năm Bính-thân (1416), quá ngày sóc (mồng một) là ngày Kỉ-mão đến ngày 12 là ngày Canh-dần. Tại nước A-NAM, lộ Khả-lam, tôi là phụ-đạo Lê-Lợi đứng đầu, với Lê-Lai, Lê-Thận, Lê Văn-Linh, Lê Văn-An, Trịnh-Khả, Trương-Lôi, Lê-Liễu, Bùi Quốc-Hưng, Lê-Nanh, Lê-Kiểm, Vũ-Uy, Nguyễn-Trãi, Lưu Nhân-Chú, Trịnh-Vô, Phạm-Lôi, Lê-Lí, Đinh-Lan, Trương-Chiến,
Chúng tôi kính cẩn đem lễ-vật, sanh-huyết mà thành-khẩn dâng lời tâu, cáo cùng Vua Trời, Hậu Đất và các thần linh bậc thượng, trung, hạ, coi các cảnh đẹp sông núi tại các xứ ta. Chúng tôi cúi xin rộng rủ lòng thương, soi xét để chứng cho việc nầy. Rằng có bạn từ xa tới kết tình vui-vẻ và rất tin nhau, cho nên phải làm lễ tâu cáo.
Nay ở nước tôi, tôi phụ-đạo Lê-Lợi đứng đầu với 18 người từ Lê-Lai đến Trương-Chiến, tuy sinh khác họ, quê quán xa cách nhưng kết nghĩa cùng nhau, xem nhau như cành liền chung một tổ. Tuy phần vinh hiển có khác nhau, nhưng nguyện đem tình đối xử với nhau như người không khác họ.
Nếu có bè đảng, vì muốn xâm-tiếm, tỏ vẻ xem chừng sắp vượt cửa vào để làm hại, thì :
Ví bằng chúng tôi đây, Lê-Lợi với 18 người từ Lê-Lai đến Trương-Chiến, có đều hiệp lực đồng tâm chống giữ địa-phương để làng xóm được yên ; nếu chúng tôi sống chết cùng nhau không quên lời thề ước, thì chúng tôi cúi xin Trời, Đất và các vị Thần linh chứng giám cho, ban xuống trăm điều lành, cho từ thân đến nhà, dòng-dõi, con cháu đều được yên lành để đời đời hưởng lộc Trời.
Ví bằng Lê-Lợi với 18 người từ Lê-Lai đến Trương-Chiến lại ra ý đổi đường, tìm sướng hiện-thời, mập-mờ sao-lãng, không chịu đồng tâm, bỏ quên lời thề ước, thì chúng tôi cúi xin Trời, Đất và các vị Thần linh phát xuống trăm tai, cho từ thân đến nhà, dòng-dõi, con cháu đều chịu giết sạch, đúng với luật Trời.
Kính cẩn tâu trình[16][17]

Địa điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay tồn tại hai quan điểm về địa điểm diễn ra Hội thề Lũng Nhai: một cho rằng hội thề Lũng Nhai diễn ra tại làng Lũng Mi (tên gọi khác là làng Mé), thuộc xã Ngọc Phụng, huyện miền núi Thường Xuân (Thanh Hóa). Ý kiến thứ hai cho rằng diễn ra tại xã Phúc Thịnh hoặc xã Kiên Thọ, huyện miền núi Ngọc Lặc, Thanh Hóa[18].

Tháng 11 năm 2012 và tháng 5 năm 2013, chính quyền địa phương đã tổ chức cho đoàn cán bộ nghiên cứu khảo sát, điền dã tại núi Pù Mé thuộc làng Lũng Mi, xã Ngọc Phụng và hai xã Phúc Thịnh, Kiên Thọ.

Tại hội thảo khoa học "Hội thề Lũng Nhai trong khởi nghĩa Lam Sơn" ngày 20 tháng 7 năm 2013, Phan Huy Lê - chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho rằng hội thề Lũng Nhai diễn ra tại làng Lũng Mi[19].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 191
  2. ^ chúng ta sẽ có 7 người chắc chắn tham gia Hội thề Lũng Nhai là Lê Lợi và 6 người kể dưới đây
  3. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 255
  4. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 191
  5. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 193
  6. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 251
  7. ^ Đại việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 251
  8. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 267
  9. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 269
  10. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 271
  11. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 255
  12. ^ Ông Hoàng Xuân Hãn cho rằng sách dịch bài văn thề này từ Gia-phả họ Đinh (Nông-cống) và bản Gia-phả họ Lê ở Kiều-đại
  13. ^ Văn thề Lũng Nhai, Hoàng Xuân Hãn[1]
  14. ^ Tức ngày 15 tháng 3 năm 1416.
  15. ^ Tức ngày 26 tháng 3 năm 1416.
  16. ^ Văn thề Lũng Nhai, Hoàng Xuân Hãn[2]
  17. ^ Tập san Khoa học xã hội Paris, Số 7, tháng 10. 1980
  18. ^ “Chưa xác định được nơi đã diễn ra Hội thề Lũng Nhai”. Báo điện tử Dân Trí. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2013. 
  19. ^ “Xác định nơi diễn ra hội thề Lũng Nhai”. Báo Tuổi Trẻ. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2013. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lam Sơn thực lục, Nhà xuất bản Tân Việt, 1956, dịch giả Mạc Bảo Thần.
  • Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, dịch giả Viện sử học Việt Nam.
  • Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, dịch giả Ngô Thế Long.
  • "Khởi nghĩa Lam Sơn", Phan Huy Lê và Phan Đại Doãn, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, năm 1977.
  • Hội thề Lũng Nhai diễn ra ở đâu?
  • Thanh Hóa: Cần xác định nơi diễn ra Hội thề Lũng Nhai