Lê Sát

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Sát
Tiểu sử
Sinh ?
Làng Bỉ Ngũ, thuộc Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, Việt Nam
Mất 1437
Đông Kinh, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Khởi nghĩa Lam Sơn
Thuộc Quân đội nhà Lê sơ
Năm tại ngũ 1418 - 1428
Tham chiến Trận ở Lỗi Giang, Trận ở cửa Khả Lưu, Trận Chi Lăng - Xương Giang
Khen thưởng Suy trung Tán trị Hiệp trung mưu quốc công thần. Nhập nội Kiểm hiệu Tư khấu Bình chương quân quốc trọng sự, huyện thượng hầu
Gia đình Con gái Lê Ngọc Dao
Công việc khác Đại tư đồ, Phụ chính.

Lê Sát (chữ Hán: 黎察, ? – 1437) là công thần khai quốc nhà Lê sơ trong lịch sử Việt Nam, người làng Bỉ Ngũ, thuộc Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, Việt Nam.[1]

Lê Sát trí dũng hơn người, theo Lê Lợi khởi binh, trải bao gian hiểm, lập nhiều chiến công. Năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi phong thưởng cho các công thần, ông được ban hiệu Suy trung Tán trị Hiệp trung mưu quốc công thần Nhập nội kiểm hiệu Tư khấu bình chương quân quốc trọng sự. Năm 1429, tên ông đứng thứ nhì, phong Huyện thượng hầu.[2]

Năm thứ 6, đời vua Lê Thái Tổ 1433 ông được phong làm Đại tư đồ, nhận cố mệnh giúp vua Lê Thái Tông. Năm thứ nhất Thiệu Bình 1434, ông được phong làm thủ tướng. Lê Sát hăng hái giúp vua sửa chính sự, năng can gián nhưng ông không hiểu đại thể, làm theo ý riêng, nóng nảy. Lê Thái Tông bên ngoài tỏ vẻ bao dung, trong lòng ghét bỏ. Năm 1437, Lê Sát bị bãi chức, sau bắt tự tử tại nhà, vợ con gia sản đều bị tịch thu.[3]

Tham gia Khởi nghĩa Lam Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Tham gia khởi nghĩa và chiến công ở Lỗi Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Sát được miêu tả trong sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn là trí dũng hơn người, mùa xuân, tháng Giêng, năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi xưng Bình Định vương khởi binh ở Lam Sơn, Lê Sát tham gia khởi nghĩa từ đầu, theo Lê Lợi trải bao gian hiểm.[1]

Tháng 10, năm Canh Tý, 1420, nghĩa quân Lam Sơn đánh bại 10 vạn quân do Lý Bân, Phương Chính chỉ huy ở Thi Lang [4], Lý An, Phương Chính chỉ chạy thoát được thân mình. Tháng 12 năm đó, Lê Lợi tiến quân đóng ở sách Ba Lẫm[5], thuộc huyện Lỗi Giang, khiêu khích cho quân Minh ra đánh. Tướng Minh là Đô ty Tạ Phương, Hoành Thành bỏ đồn Nga Lạc, về giữ trại Quan Du[6] để phòng bị cho thành Tây Đô, cố giữ không ra đánh. Lê Lợi ngày đêm dùng nhiều cách tiến công uy hiếp để quân Minh mỏi mệt, rối loạn. Lại sai Lê Sát, Lê Hào chia nhau tiến đánh, cả phá bọn giặc, chém được hơn nghìn thủ cấp, thu được rất nhiều chiến cụ, từ đó thế giặc ngày một suy. Vua bèn chiêu tập nhân dân các xứ. Các huyện bên cạnh đều sôi nổi hưởng ứng, cùnh nhau tiến đánh và uy hiếp các đồn do quân Minh chiếm giữ.[7]

Trận đánh ở ải Khả Lưu[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 12, năm Giáp Thìn (1424), sau khi Cầm Bành đã đầu hàng, Lê Lợi chuẩn bị tiến quân ra vây thành Nghệ An, thì được tin quân Minh do Trần Trí, Sơn Thọ đem quân đến. Lê Lợi sai Đinh Liệt đi đường tắt giữ thế tranh tiên, giữ huyện Đỗ Gia, bản thân tự cầm đại quân giữ nơi hiểm yếu.[8]

Ba, bốn hôm sau, Lê Lợi đánh bại quân Minh ở cửa Khả Lưu, quân Minh dựa vào núi, đắp lũy, cố thủ. Lê Lợi đốt doanh trại cũ, tiến quân ngược dòng sông, giả trốn đi, rồi quay lại theo đường tắt, ngầm đợi quân Minh đến. Quân Minh không nghi ngờ gì, đem quân đến đóng ở doanh trại cũ của nghĩa quân, Lê Lợi cho quân tinh nhuệ khiêu chiến, quân Minh đem quân ra đánh. Lê Lợi tung phục binh ra đánh, Lê Sát, Lê Lễ, Lê Vấn, Lê Nhân Chú, Lê Ngân, Lê Chiến, Lê Tông Kiều, Lê Khôi, Lê Bôi, Lê Văn An làm tướng tiên phong, tranh nhau giá trận, quân Minh tan vỡ, Đô đốc Chu Kiệt bị bắt sống, đô ty Hoàng Thành bị chém, bắt sống hàng nghìn người, vật tư, khí giới, thuyền bè không sao kể xiết.[8][9]

Lê Lợi đuổi tới 3 ngày, tới tận thành Nghệ An, quân Minh rút vào thành cố thủ.[8][9] Sách Đại Việt thông sử chép rằng:Từ đó thế quân lừng lẫy.[1]

Vây thành Tây Đô[10][sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ất Tỵ, 1425, nghĩa quân vây thành Nghệ An, quân Minh tập trung cứu thành Nghệ An, Lê Lợi cho rằng các thành Tây Đô suy yếu, liền sai chọn 2000 quân tinh nhuệ, 2 thớt voi, Lê Lễ, Lê Sát, Lê Nhân Chú và Lê Triện, Lê Bị đi gấp theo đường đất đánh úp thành Tây Đô, chém được hơn 500 thủ cấp, bắt sống được rất nhiều. Bấy giờ người Thanh Hóa tranh nhau đến cửa quân xin liều chết đánh giặc. Lê Lợi sai quân vây thành Tây Đô.[9][11]

Trận Chi Lăng – Xương Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bính Ngọ 1426, tháng 8, Lê Lợi sai 3 cánh quân tiến ra Bắc, cánh quân do Lý Triện, Đỗ Bí và Đinh Lễ, Nguyễn Xí đánh bại 10 vạn quân của Vương Thông ở trận Tốt Động, Chúc Động. Lê Lợi kéo quân từ Lũng Giang[12] ra hội quân đóng ở Tây Phù Liệt[13], rồi chuyển tới Đông Phù Liệt[14]. Vương Thông bị bao vây, định giảng hòa với nghĩa quân, nhưng nghe lời của Trần Phong[15], Lương Nhữ Hốt mà đổi ý.[9][16]

Lê Lợi bèn sai các tướng chia quân đi đánh các thành: Quốc Hưng đánh hai thành Điêu Diêu[17], và Thị Cầu[18]; Lê Khả và Lê Khuyển đánh thành Tam Giang[19]; Lê Sát, Lê Thụ, Lê Lý, Lê Lãnh và Lê Triện đánh thành Xương Giang[20]; Lê Lựu và Lê Bôi đánh thành Khâu Ôn[21].[1][9][22]

Năm Đinh Mùi, 1427, nghĩa quân bao vây thành Đông Quan, quân Minh ở Nghệ An, Điêu Diêu đầu hàng, quân Minh bị đánh gấp bỏ thành Khâu Ôn, thành Xương Giang chưa bị phá. Hai tướng vây cửa Nam thành Đông Quan là Đinh Lễ và Lý Triện bị tử trận khi tướng Minh là Vương Thông đánh úp ra, Lê Sát, Nguyễn Lý, Trịnh Lỗi, Nguyễn Chích được điều về vây mặt nam Đông Quan.[9][23]

Tháng 6, năm 1427, Lê Sát được thăng làm Tư mã, Lê Lợi sai ông cùng Thái úy Trần Nguyên Hãn đánh gấp thành Xương Giang, tháng 9 hạ được.[1][24]

Tháng 9 năm 1427, Liễu Thăng đi đường Quảng Tây mang 10 vạn quân, 2 vạn ngựa; Mộc Thạnh đi đường Vân Nam mang 5 vạn quân, 1 vạn ngựa sang cứu Vương Thông. Đường Liễu Thăng đi dự tính từ Lạng Sơn, qua Xương Giang để vào Đông Quan. Lê Lợi sai Lê Sát cùng Lê Nhân Chú, Lê Lãnh, Lê Liệt, Lê Thụ mang 1 vạn quân và 5 thớt voi lên ải Chi Lăng[25] đón đánh.

Lê Sát đặt phục binh ở Chi Lăng rồi sai tướng giữ ải là Trần Lựu mang quân ra đánh nhử, giả thua, trước tiên bỏ ải Pha Lũy về ải Chi Lăng. Quân Minh hăng hái tiến lên giành ải Pha Lũy, rồi tiến đến Chi Lăng. Ngày 20 tháng 9, hai bên lại đụng nhau ở Chi Lăng, Trần Lựu lại thua chạy. Liễu Thăng dẫn quân tiên tiến lên trước, Lê Sát và Lưu Nhân Chú đổ ra đánh, chém được Liễu Thăng ở núi Mã Yên[26]

Ngày 25 tháng 9, Lê Sát cùng các tướng lại xung trận, đánh thắng quân Minh một trận nữa, giết được tướng Lương Minh. Thôi Tụ và Hoàng Phúc lên nắm quyền chỉ huy. Quân Minh tuy thua nhưng còn đông và mạnh, Lê Sát chủ trương vây đánh, chặn giữ các đồn ải quanh vùng Chi Lăng và chặn đường về, chỉ để ngỏ đường đến Xương Giang. Thôi Tụ dự tính vào thành Xương Giang làm nơi trú quân để phối hợp với Vương Thông, nhưng khi tiến đến Xương Giang mới biết là thành đã bị quân Lam Sơn hạ. Thôi Tụ phải đóng quân ngoài cánh đồng Xương Giang.

Lê Lợi điều Lê Văn AnNguyễn Lý mang quân lên tiếp viện cho Lê Sát, vây chặt quân Minh. Tháng 10 âm lịch năm 1427, quân Lam Sơn tổng tấn công, thắng quân Minh một trận lớn, tiêu diệt 5 vạn địch, bắt sống Thôi Tụ, Hoàng Phúc cùng hơn 3 vạn quân. Lê Sát được tính có công đầu trong trận này.

Mộc Thạnh nghe tin Liễu Thăng bị tiêu diệt phải bỏ chạy. Vương Thông ở Đông Quan thấy viện binh bị phá cũng đành xin giảng hòa và rút về nước.

Trong chiến dịch này, sử gia Lê Quý Đôn cho rằng công ông đứng đầu các tướng.[27]

Phong thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thuận Thiên thứ nhất, Mậu Thân, 1428, Lê Sát được ban hiệu Suy trung Tán trị Hiệp trung mưu quốc công thần. Nhập nội Kiểm hiệu Tư khấu Bình chương quân quốc trọng sự.[27]

Tháng 5, ngày mồng 3, năm 1429 ban biển ngạch công thần cho 93 viên, Lê Sát được phong Huyện thượng hầu, công hàng thứ nhất.[9][28]

Tham dự triều chính[sửa | sửa mã nguồn]

Triều vua Lê Thái Tổ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thuận Thiên thứ 2, 1429, Lê Sát cùng 6 vị đại thần khác được lệnh của vua Lê Thái Tổ mang kim sách lập quốc vương Lê Tư Tề và Hoàng Thái tử Lê Nguyên Long. Ngày mồng 7, sai Nhập nội kiểm hiệu bình chương sự Lê Vấn, Nhập nội đại tư mã Lê Ngân,Nhập nội thiếu phó Lê Văn Linh mang kim sách lập Hữu tướng quốc Khai quân công Tư Tề làm Quốc vương, giúp coi việc nước.Sai Nhập nội tư khấu Lê Sát, Tư không Lê Nhân Chú, Nhập nội tư mã Lê Lý, Nhập nội thiếu úy Lê Quốc Hưng mang kim sách lập Lương quận công Nguyên Long làm Hoàng thái tử.[29]

Lê Sát được sự tín nhiệm của Lê Thái Tổ trong việc ủy thác phò trợ con nhỏ là thái tử Lê Nguyên Long mới lên 10 tuổi. Năm 1433, ông được Lê Thái Tổ gia phong làm Dương Vũ tĩnh nạn công thần, thăng làm Đại tư đồ.[30]

Triều vua Lê Thái Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 nhuận âm lịch năm 1433, Lê Thái Tổ mất, hoàng thái tử Lê Nguyên Long kế vị, tức vua Lê Thái Tông, ông chịu cố mệnh phụ chính.[30]

Năm Thiệu Bình thứ nhất (1434), do là bậc có công đầu, ông làm thủ tướng.[31]

Lê Sát ghét Tư khấu Lê Nhân Chú nên đã vu cáo để giết đi[32] , lại ngờ em của Nhân Chú là Lưu Khắc Phục oán mình, nên xin đoạt quyền hành của Khắc Phục. Lưu khắc Phục bị bãi chức Nam đạo Hành khiển, cho làm Phán đại tông chính, cho coi việc hành ngục. Do đó các công thần đều sợ, lại thêm ông dùng hình phạt quá nghiêm khắc tàn bạo[33]

Giám sinh Nguyễn Đức Minh theo gia đình đến trường giám, thấy có lá thư nặc danh dán ở trên tường ngôi chùa bên đường, lá thư viết rằng đại tư đồ Lê Sát và Đô đốc Phạm Vấn cùng lập mưu giết Lưu Nhân Chú. Giám sinh Nguyễn Đức Minh nói bô bô gọi mọi người đến xem rồi xé bỏ, vứt xuống nước. Có người tốt cáo chuyện đó, Lê Sát ngờ rằng giám sinh họ Nguyễn viết, đem tra khảo, y không chịu nhận. Hình quan cho rằng tội trạng không rõ ràng nên Đức Minh chỉ bị đi đày và tịch biên tài sản.[34]

Uy Viễn quân nhân Nguyễn Bẩm, trung quân thiết đột Trình Thọ Lộc, chuyên làm nghề rủ trộm những kẻ kẻ nô tì nhà nước để ban cho các quan, tư mã Đinh Liệt bắt được, đem tâu. Hiện giờ nô tì của nhà nước bỏ trốn nhiều. Lê Sát giận lắm, sai hình quan tra tấn ngay giữa điện đình rồi đem chém.[35]

Triều đình làm chùa Báo Thiện, việc thổ mộc nặng nề, có người thợ tên Cao Sư Đãng làm việc khó nhọc, nói vụng rằng Thiên tử thì không có đức để đến hạn hán, đại thần thì ăn của đút, cử dùng người không có công lao, có gì là thiện đâu mà làm chùa to thế. Có người cáo giác, quan Thẩm hình viện Nguyễn Đình Lịch đề nghị chém. Nguyễn Thiên Hựu và Bùi Cầm Hổ tâu xin miễn tội chết cho người này. Vua Thái Tông sắp nghe theo, Lê Sát nói:Trước kia nghe lời bọn Thiên Hựu, không giết Nguyễn Đức Minh đến nỗi chúng bỏ thư nặc danh vu nhau, nay muốn tha người này thì làm sao cho người khác răn sợ. Thiên Hựu không dám nói nữa, bén đem chém.[36]

Quan đồng tri Bắc đạo Bùi Ư Đài xin chọn những bậc kỳ lão vào hầu để khuyên răn nhắc bảo vua, bên ngoài đặt chức sư phó để chỉ huy trăm quan. Lê Sát giận lắm. xin giao Ư Đài cho ngục quan xét hỏi, ghép vào tội ly gián vua tôi. Vua Lê Thái Tông không nghe, Lê Sát tâu 4 lần, vua đều không nghe. Các đại thần Nguyễn Thiên Hựu, hữu bật Lê Văn Linh đều nghe lời Lê Sát, nhà vua bất đắc dĩ phải đày Bùi Ư Đài, trong lòng vua bắt đầu ghét Lê Sát.[37]

Tháng 9, năm 1433, năm Thiệu Bình thứ nhất, sứ Chiêm Thành mang thư và lễ vật sang cống để cầu hòa thân. Đại tư đồ Lê Sát hỏi: "Nước ngươi vào trộm đất ta, bắt bớ dân chúng ở châu Hóa là cớ làm sao?". Sứ thần trả lời: "Vua nước tôi nghe tin Tiên đế băng hà, nay Hoàng đế lên ngôi, hai nước chưa trao đổi sứ thần, cũng chưa tin hẳn, nên sai tướng quân đến đầu địa giới hỏi thăm tin tức. Tướng quân tự tiện làm trái lời dạy bảo, bắt trộm 6 người của châu Hóa đem về. Vua nước tôi giận lắm, xử tội tất cả (những người vào cướp châu Hóa) từ đại tướng trở xuống đều bị chặt chân, rồi đưa người bị bắt giao trả cho Tổng quản Hóa Châu, không dám xâm phạm đến".[38]

Tháng 6, năm 1434, Lê Sát làm xong chùa Thanh Đàm và Chiêu Độ gồm hơn 90 gian, vô cùng tráng lệ. Nhà vua thấy Lê Sát là người có công lớn, truy phong hai đời (cha và ông nội) của Lê Sát.[39]

Cùng tháng 6, 1435, Lê Sát cùng các đại thần thấy vua mới 13 tuổi, hàng ngày cùng với bọn hầu cận chơi trong cung, muốn chọn những kẻ túc nho vào để khuyên bảo vua. Họ cử Hành khiển thừa chỉ Nguyễn Trãi, Trung thư thị lang Trình Thuấn Du và văn thần năm, sáu người cùng với vài ba đại thần chia phiên nhau vào hầu Kinh diên. Vua Lê Thái Tông trả lại tờ tâu không nhận.[40]

Năm 1435, Lê Sát lại tâu Lê Thái Tông phải giết hoạn quan Nguyễn Cung mà Thái Tông ưa dùng. Thái Tông không nghe theo.[41]

Lê Thái Tông lên 14 tuổi,sai người cưỡi voi đấu với sơn dương, sơn dương bị cùng quẫn, lấy sừng húc bừa vào voi, voi sợ chạy, ngã xuống giếng chết. Lê Sát, Lê Ngân, Phan Thiên tước tới can, vua lặng im.[42]

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1437, Thái Tông đã lớn và biết xử lý công việc. Tháng 6 năm đó, vua bàn với các cận thần muốn triệu Trịnh Khả là người từng bị Lê Sát đuổi ra làm quan ở ngoài về kinh giữ chức Đồng tổng quản, cầm cấm binh để kiềm chế bớt quyền hành của ông.

Lê Sát còn chưa biết vua Thái Tông đối phó với mình, lại vào triều tâu:

Nếu Trịnh Khả được vào hầu trong cung cấm, thì sợ sẽ làm hại thần

Thái Tông im lặng bỏ vào trong. Mấy hôm sau, các cận thần của vua làm sớ tâu Lê Sát chuyên quyền, tội không thể dung tha được. Vua nhận sớ tâu, sai bắt ông, giao cho hình quan xét hỏi. Lê Sát tâu rằng:

Nay buộc cho thần cái tội chuyên quyền, thế là tội của thần do tiên đế ban cho.

Lê Văn LinhLê Ngân muốn tâu đỡ tội cho ông, nhưng vua Thái Tông không nghe, hạ chiếu nói:

"Lê Sát tự chuyên giữ quyền bính, ghen người tài, giết Nhân Chú để tự ra oai của mình, truất Trịnh Khả để người ta phục, bãi chức của Ư Đài khiến đình thần không ai dám nói, đuổi Cầm Hổ ra nơi biên thùy để gián quan phải ngậm miệng. Xem những việc làm ấy đều không phải là đạo làm tôi. Nay muốn khép vào luật hình để tỏ rõ phép nước, song vì là đại thần cố mệnh, có công với nhà nước, đặc cách khoan tha, nhưng phải bãi chức tước."

Sau đó Thái Tông bắt giam người cùng phe Lê Sát là Đặng Đắc, cho Bùi Ư Đài được phục chức, triệu Bùi Cầm Hổ về kinh, cử tư khấu Lê Ngân thay Lê Sát chấp chính.

Lê Sát hận Lê Ngân lấy mất chức của mình, nuôi nhiều võ sĩ như Lê Thảo, Lê Khản và Lê Khắc Hài, định dùng làm thích khách để mưu giết Lê Ngân. Việc đó nhanh chóng bị bại lộ.

Tháng 7 năm 1437, Lê Thái Tông ra lệnh phế truất con gái ông là Nguyên phi Lê Ngọc Dao làm dân thường, rồi ra chiếu kết tội Lê Sát và những người cùng cánh[43]:

"Tội của Lê Sát đáng phải chết, không thể dung thứ được… Đặng Đắc là kẻ bày mưu cho Sát định hại xã tắc thì chém bêu đầu. Nguyễn Gia Mô biết chuyện mà không tố cáo thì phải lưu đày nơi xa[44]. Còn bọn Lê Văn Linh, Lê Lĩnh, Lê Thụ, Lê Ê, Lê Hiêu đều nên theo luật trị tội, nếu gặp ân xá cũng không được tha. Lê Bang là con rể Lê Sát,... nên lưu đày nơi xa... Lê Sát nay lại ngầm nuôi bọn võ sĩ, mưu hại người trung lương, mưu kế gian giảo, đáng chém để rao."

Lê Ngân và Bùi Cầm Hổ can rằng Lê Sát là công thần, không nên chém rao, vì vậy Thái Tông ra lệnh cho ông tự tử tại nhà.

Tháng 7 năm 1437, Lê Sát tự vẫn chết tại nhà. Vợ con và điền sản của ông bị tịch thu. Những người cùng phe hoặc từng nói đỡ tội cho ông cũng bị phạt: Tham đốc Lê Văn Linh bị giáng xuống làm Tả bộc xạ, Điện tiền đô kiểm điểm Lê Ê bị giáng xuống làm Đồng tổng quản lộ Quy Hóa. Hai người cùng bị truy đoạt tấm biển "công thần" được ban cho từ thời Lê Thái Tổ.

Năm 1453, Lê Nhân Tông đại xá, cấp cho con cháu ông 100 mẫu ruộng quan điền. Năm 1484, vua Lê Thánh Tông truy tặng ông chức Thái bảo, Cảnh quốc công.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

[45]

[46]

[9][47]

Hậu thế ghi công[sửa | sửa mã nguồn]

Đền Ngọc Lan, nơi thờ tự Công chúa Ngọc Lan và 7 vị khai quốc công thần nhà Hậu Lê
  • Đền Ngọc Lan thuộc quần thể khu di tích lịch sử Lam Kinh (căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn) cách TP.Thanh Hoá 51 km về phía Tây Bắc, thuộc xã Xuân Lam- huyện Thọ Xuân, được bộ Văn hoá Thông tin (cũ) xếp hạng là khu di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1962. Đền hiện thờ Công chúa Ngọc Lan và bảy vị Công thần Khai quốc của nhà Lê; đó là các vị đại thần Lưu Nhân Chú, Phạm Vấn, Lê Sát, Lê Ngân, Nguyễn Lý, Lê Văn Linh và Bùi Quốc Hưng.[48]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Đại Việt thông sử, tác giả Lê Quý Đôn, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, Dịch giả Ngô Thế Long, trang 238
  2. ^ Đại Việt thông sử, tác giả Lê Quý Đôn, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, Dịch giả Ngô Thế Long, trang 238, 239, 240
  3. ^ Đại Việt thông sử, tác giả Lê Quý Đôn, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, Dịch giả Ngô Thế Long, trang 238, 239, 240, 241, 242, 243, 244
  4. ^ Thi Lang: hay Bồ Thi Lang, là một địa điểm gần căn cứ của nghĩa quân lúc ấy.
  5. ^ Ba Lẫm: tên sách, có lẽ là vùng Chiềng Lâm ở xã Điền Lư, thuộc huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.
  6. ^ Quan Du: sau đổi là châu Quan Hóa, nay là huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa
  7. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội 1993, bản điện tử, trang 329
  8. ^ a ă â Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 334, 335
  9. ^ a ă â b c d đ e ê Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên .C4.90.E1.BA.A1i_Vi.E1.BB.87t_s.E1.BB.AD_k.C3.BD_to.C3.A0n_th.C6.B0
  10. ^ Thành Tây Đô: nay ở vào khoảng giữa hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
  11. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 335, 336
  12. ^ Lũng Giang: tức là sông Đáy, còn gọi là sông Đại Lũng.
  13. ^ Tây Phù Liệt: thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội ngày nay.
  14. ^ Đông Phù Liệt: tên xã, cũng thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội ngày nay.
  15. ^ Bọn họ gièm rằng:"Trước kia Ô Mã Nhi bị thua ở sông Bạch Đằng, đem quân về hàng. Hưng Đạo [25b] Đại Vương cho hàng, nhưng dùng mưu lấy thuyền lớn cho đưa họ về nước, rối cho người giỏi bơi lặn sung làm phu thuyền. Ra đến ngoài biển, lừa lúc ban đêm mọi người ngủ say, bọn phu thuyền lặn xuống nước, dùi đủng đáy thuyền, những người đầu hàng đều bị chết đuối hết, không một ai sống sót trở về được".
  16. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 340, 341, chúng tôi tóm lược
  17. ^ Thành Điêu Diêu: ở huyện Gia Lâm, Hà Nội.
  18. ^ Thành Thị Cầu: nay thuộc thị xã Bắc Ninh, tỉnh Hà Bắc.
  19. ^ Thành Tam Giang: ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
  20. ^ Thành Xương Giang: nay là thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  21. ^ Thành Khâu Ôn: là tỉnh lỵ Lạng Sơn ngày nay. Lần này Lê Sát được Lê Lợi tiến phong Thiếu úy.
  22. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 341
  23. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 341, 342
  24. ^ Sách Đại việt sử ký toàn thư chép Thái úy Trần Hãn, Tư mã Lê Sát, thiếu úy Lê Triện, Lê Lý đánh lấy được thành Xương Giang.
  25. ^ Chi Lăng: là ải hiểm trở nhất trên con đường từ Pha Lũy đến Đông Quan, cách Pha Lũy khoảng 60 km, thuộc xã Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn ngày nay.
  26. ^ Mã Yên: tên nôm là núi Yên ngựa, một hòn núi đá cao khoảng 40m so với mặt đất, chu vi 300m, nằm ở phía nam cánh đồng lầy lội, muốn qua phải bắc cầu mới đi được.
  27. ^ a ă Đại Việt thông sử, tác giả Lê Quý Đôn, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, Dịch giả Ngô Thế Long, trang 240
  28. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 366
  29. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, sách đã dẫn, trang 365
  30. ^ a ă Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 240
  31. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 241
  32. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 241
  33. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, sách đã dẫn, trang 375
  34. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 241
  35. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 241
  36. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 242
  37. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 242, 243
  38. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, bản điện tử, đã dẫn, trang 373
  39. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 243
  40. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 243
  41. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 243
  42. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 243
  43. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ quyển 11
  44. ^ Ám chỉ vụ Lê Sát định giết Lê Ngân
  45. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 241
  46. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 246
  47. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 371, chúng tôi tóm lược
  48. ^ Đền thờ Ngọc Lan thờ 7 vị khai quốc công thần