Lê Lai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lê Lai (chữ Hán: 黎來, ? - 29 tháng 4, 1428), hay còn gọi là Trung Túc vương (忠肅王), một viên tướng nổi tiếng của khởi nghĩa Lam Sơn, có công lao giúp đỡ Lê Thái Tổ gầy dựng sự nghiệp. Câu chuyện ông hy sinh thân mình cứu Lê Thái Tổ thoát khỏi vòng vây của quân Minh được đời sau truyền tụng, gọi là Lê Lai cứu chúa (黎來救主).

Ông được đời sao so sánh như Kỷ Tín, đã giúp Hán Cao Tổ đánh tráo mà thoát thân. Hình ảnh Lê Lai luôn được ca tụng và ghi nhớ, một tượng đài đáng ca ngợi về tấm lòng trung quân báo quốc.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Lai sinh ra ở thôn Dựng Tú, sách Đức Giang huyện Lương Giang (nay là Thanh Hóa), là con của Lê Kiều (黎乔), nối đời làm chức phụ đạo trong vùng. Ông có người anh lớn tên là Lê Lạn (黎烂). Lê Lai tính cương trực, dung mạo khác thường, chí khí cao cả lẫm liệt, lo việc hậu cận cho Lê Lợi.[1]

Năm 1416, ông cùng Thái Tổ và các tướng lĩnh khác tham gia Hội thề Lũng Nhai, thề sống chết có nhau, nguyện chung sức đánh đuổi quân Minh đang cướp phá. Ông được ban tước Quan nội hầu, tổng quản của phủ Đô tổng quản.[2]

Liều mình cứu chúa[sửa | sửa mã nguồn]

Bấy giờ nghĩa quân Lam Sơn lực lượng còn yếu, thiếu lương, thường bị quân Minh đánh bại.

Sách Lam Sơn thực lục chép[sửa | sửa mã nguồn]

  • Theo sách Lam Sơn thực lục [3][4] viết:

Khi ấy quân ta chỉ mới được nhỏ, mà thế giặc đương mạnh, Nhà-vua bèn vời các tướng mà bảo rằng:

- Ai có thể thay mặc áo vàng của Trẫm, lĩnh năm trăm quân, hai thớt voi, đánh vào thành Tây- đô. Thấy giặc ra đối-địch, thì tự xưng tên: "Ta là chúa Lam-sơn đây!". Để cho giặc bắt? Cho ta được náu mình, nghỉ binh, thu-họp cả quân-sĩ, để mưu tính việc về sau!

Các tướng đều không dám nhận lời. '

Chỉ có Lê Lai thưa rằng:

- Tôi bằng lòng xin thay mặc áo Nhà-vua. Ngày sau Bệ-Hạ gây nên Đế-nghiệp, có được thiên-hạ, thương đến công tôi, cho con-cháu muôn đời được chịu ơn nước. Đó là điều tôi mong mỏi!

Nhà-vua lạy Trời mà khấn rằng:

- Lê Lai có công thay đổi áo. Sau này trẫm cùng con-cháu, và các tướng-tá, hay con-cháu các công-thần, nếu không thương đến công ấy, thì xin đền-đài hóa ra rừng núi; ấn-vàng hóa ra đồng sắt; gươm thần hóa ra đao-binh!

Nhà-vua khấn xong, Lê Lai liền đem quân đến cửa trại giặc khiêu-chiến. Giặc cậy quân mạnh xông đánh. Lê Lai cưỡi ngựa, phi vào giữa trận giặc, nói rằng:

- Ta đây là chúa Lam-sơn!

Giặc bèn xúm lại vây, bắt lấy đem về trong thành, xử bằng hình-phạt cực ác, ra hẳn ngoài những tội thường làm

Sách Việt sử tiêu án chép[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sách Việt sử tiêu án (Ngô Thì Sĩ, 1775)[5]

Bình Định Vương đại phá quân Minh ở Mang Thôi. Trước Vương khởi binh ở Lam Sơn, thế quân kém và ít, người Minh lùng bắt mãi, bèn mưu cùng tướng tá rằng: Ai có thể đem thân ra thay ta, để cho ta đi ẩn nấp, giấu tông tích mà cho quân nghỉ, để mưu đồ cử binh lần sau.

Lê Lai xin đem thân nhận lấy việc ấy, Vương lạy khấn trời nói:

"Lê Lai đem thân thay chúa, nếu sau này không nhớ đến công, nguyện cung điện hóa thành rừng núi, bảo ấn hóa thành đổng, thần kiếm hóa thành dao cùn"

Lê Lai liền tự xưng là Bình Định Vương, khiêu chiến với quân Minh rồi chết. Đâu cũng truyền đi là Bình Định Vương chết rồi, người Minh cũng tin là thật, không lưu ý.

Sách Đại Việt thông sử, phần Liệt truyện chép[sửa | sửa mã nguồn]

  • Theo sách Đại Việt thông sử, Liệt truyện đệ tam, phần viết về Lê Lai:

Năm Mậu Tuất 1418, lúc vua mới dựng cờ khởi nghĩa, tướng ít, quân thiếu, bị tướng nhà Minh vây đánh ở Mường Một, vua chạy thoát về đóng ở Trịnh Cao, nơi hẻo lánh, không dân ở, tướng Minh chia quân chặn những chỗ hiểm yếu, tình thế rất cấp bách, nhà vua hỏi các tướng:

Ai dám đổi áo thay ta đem quân ra đánh giặc, xưng danh hiệu của ta, bắt chước như Kỷ Tín đời Hán, để ta có thể giấu tiếng, nghỉ binh, tập hợp tướng sĩ, mưu tính cuộc nổi dậy về sau ?.

Các tướng đều không ai dám hưởng ứng. Riêng Lê Lai đứng dậy nói:Tôi xin đi. Sau này lấy được nước thì nghĩ đến công lao của tôi, khiến cho con cháu muôn đời được nhờ ơn nước, đó là nguyện vọng của tôi.

Nhà vua rất thương cảm. Ông nói:Bây giờ nguy khốn thế này, nếu ngồi giữ mảnh đất nguy hiểm, vua tôi đều bị tiêu diệt, sẽ sợ vô ích, nếu theo kế này, may ra có thể thoát được. Kẻ trung thần chết vì nước nào có tiếc gì. Nhà vua vái trời mà khấn rằng:

Lê Lai có công đổi áo, sau này tôi và con cháu tôi, cùng con cháu tướng ta công thần, nếu không nhờ đến công lao ấy, thì xin cho cung điện biến thành rừng núi, ấn báu thành cục đồng, gươm thần biền biến thành con dao cùn.

Ông bèn dẫn hai con voi và 500 quân kéo thẳng tới trại giặc khiêu chiến. Giặc đốc hết quân ra đánh, ông cưỡi ngựa tốt, xông thẳng vào giữa trận hô lên:Chúa Lam Sơn chính là ta đây, rồi đánh chết được rất nhiều quân giặc. Khi đã kiệt sức, ông bị địch bắt, xử cực hình. Sau đó giặc lui quân về thành Tây Đô, việc phòng bị chúng mới sơ hở, ta vừa có thời cơ, nghỉ binh nuôi chứa nhuệ khí, để có thể trăm trận trăm thắng và lấy được thiên hạ.[6]

Sách Đại Việt thông sử, phần Đế Kỷ Đệ nhất chép[sửa | sửa mã nguồn]

  • Theo sách Đại Việt thông sử, phần Đế kỷ Đệ nhất [7] cuối tháng 4 năm 1418[8], Thái Tổ Cao Hoàng bị thua trận ở Mường Một, chạy thoát về Trịnh Cao, quân Minh đuổi theo vây chặt các lối hiểm yếu. Trong tình thế nguy cấp, Thái Tổ họp các tướng lại hỏi:
Nay thế trận hiểm nguy, có ai dám làm như Kỷ Tín đời Hán, thân khoác hoàng bào mà hi sinh thay ta không?[9]

Các tướng đều ngồi yên không ai dám thưa. Lê Lai đứng dậy nói rằng: "Thần nay nguyện được tử trận thay cho chúa công. Ví như sau này giành được giang sơn thì xin nghĩ đến công lao của thần, khiến cho con cháu muôn đời được nhờ quốc ân, được vậy thần chết cũng nhắm mắt."

Thái Tổ rất thương cảm. Lê Lai lại nói: "Tình hình nguy khổn, nếu ngồi khư khư, quân thần chung mạng, bao công sức đây hãy còn gì. Nếu theo kế này, may ra có thể thoát được. Kẻ trung thần chết vì nước nào có tiếc gì?"

Thái Tổ lại vái trời khấn rằng:

"Lê Lai có công đổi áo, nếu sau này khôi phục nghiệp xưa, nếu không nhớ đến công lao ấy, thì xin cho cung điện biến thành rừng núi, ấn triện biến thành cục đồng, gươm thần biến thành dao cùn."

Lê Lai vâng mệnh mang 2 voi và 500 quân kéo ra trại quân Minh khiêu chiến. Quân Minh đổ ra đánh. Lê Lai thúc ngựa xông thẳng vào giữa trận hô to:

"Ta là chúa Lam Sơn đây!"

Quân Minh ngỡ là Thái Tổ nên xúm lại đánh kịch liệt. Lê Lai cầm binh dùng kế cầm chân giặc khoảng 500 tấn công quân minh ác liệt nhưng lại thất bại, bị quân Minh bắt và đem hành hình. Hôm ấy là ngày 29 tháng 4 (theo âm lịch).

Phong thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Lai chết rồi, Lê Lợi ngầm sai người tìm di hài đem về Lam Sơn mai táng. Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), phong Lê Lai là công thần hạng nhất, tặng là Suy trung Đồng đức Hiệp mưu Bảo chính Lũng Nhai công thần, hàm Thiếu úy, thụy là Toàn nghĩa.

Tháng 12 năm 1429, vua Lê Thái Tổ, sai Nguyễn Trãi viết hai bản lời thế ước trước và lời thề nhớ công của Lê Lai, để trong hòm vàng.

Năm Thái Hòa thứ nhất 1443, ban tặng tước Bình Chương quốc quân trọng sự, ban cho túi kim ngư, ấn vàng, tước Huyện thượng hầu.

Năm 1470, niên hiệu Hồng Đức tặng tước Diên Phúc Hầu.

Năm 1484 truy tặng tước Thái úy Phúc quốc công, sau gia phong Trung túc Vương.[10]

Lê Thái Tổ mất ngày 22 tháng 8 âm lịch, năm 1433, trước khi mất có dặn lại đời sau phải làm giỗ Lê Lai trước một ngày, tức là ngày 21 tháng 8. Từ đó dân gian truyền lại câu: Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi.

Phố Lê Lai[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hà Nội[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là con phố nhỏ thuộc phường Lý Thái Tổ, tại trung tâm quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam, dài 420m, kéo từ phố Đinh Tiên Hoàng đến phố Trần Quang Khải.

Phố được chia làm hai đoạn. Đoạn từ Đinh Tiên Hoàng tới chỗ giao cắt Lý Thái Tổ - Ngô Quyền là đường một chiều (theo hướng Đinh Tiên Hoàng sang), đối xứng chiều với phố Lê Thạch song song qua vườn hoa Lý Thái Tổ. Phần kia là đường hai chiều.

Phố được xây trên nền đất của hai thôn cũ là Vọng Hà và Hậu Bi thuộc hai tổng Tả Túc và Hữu Túc, đều thuộc huyện Thọ Xương. Phố có từ thời Pháp thuộc, được phân ra làm hai phố là Rue Dominé (đoạn từ Đinh Tiên Hoàng tới chỗ giao cắt Lý Thái Tổ - Ngô Quyền) và Rue Bonhour (đoạn từ đường Trần Quang Khải tới chỗ giao cắt Lý Thái Tổ - Ngô Quyền). Sau năm 1945, hai phố này được gộp làm một và được đặt tên là Lê Lai.

Tại các nơi khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tên ông được đặt cho nhiều con đường trên khắp Việt Nam như: Hoành Bồ (Quảng Ninh),...

Cả nhà vì nước[sửa | sửa mã nguồn]

Cả gia đình Lê Lai đều chết vì việc nước. Anh ông là Lê Lạn tử trận khi tham gia đánh ải Khả Lưu năm 1425, được phong tặng Hiệp quận công (俠郡公), hàm Thái phó.

Lê Lai có 3 con trai, đều được Thái Tổ nuôi như con đẻ:

  • Lê Lư (黎櫚), tử trận khi vây thành Nghệ An năm 1425. Tặng hàm Thiếu úy, tước Kiến quận công (建郡公).
  • Lê Lộ (黎璐), có công tham gia đánh bại các tướng Minh là Trần TríPhương Chính, rồi tử trận tháng 10 năm 1424. Tặng hàm Thái úy, tước Chiêu quận công (昭郡公).
  • Lê Lâm (黎琳), sau khi khởi nghĩa thành công được xếp vào hàng công thần thứ ba. Năm 1430 Lê Lâm làm tiên phong đi đánh Ai Lao, đuổi giặc bị trúng chông độc tử trận, tặng làm Thiếu úy. Về sau có con là Lê Niệm làm trọng quan triều đình, gia tặng làm Trung quốc công (忠國公), bên tên thụy là Uy Vũ (威武).

Những Lê Lai khác[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sách Võ tướng Thanh Hoá trong lịch sử dân tộc, sử sách, văn bia còn để lại một số nghi vấn về những nhân vật khác cũng có tên Lê Lai sống cùng thời khởi nghĩa Lam Sơn.

Sách Lam Sơn thực lục tục biên nêu trường hợp Nguyễn Thận người Mục Sơn (Thọ Xuân, Thanh Hoa) là công thần khởi nghĩa Lam Sơn, được đổi sang họ Lê và tên Lai. Sách có đề cập đến một Lê Lai liều mình cứu chúa bị tử trận và sau đó nhân vật Nguyễn Thận này vẫn tiếp tục hoạt động. Như vậy đây là hai người khác nhau.

Văn bia ở Quỳnh Lưu (Nghệ An) cũng đề cập đến một công thần khác của Lê Lợi cũng có tên là Lê Lai.

Một nguồn tài liệu khác lại cho rằng Lê Văn An, một công thần khác của Lê Thái Tổ cũng từng có tên là Lê Lai.

Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư phần bản kỷ, quyển số 10, trang 27b chỉ thấy chép: "Ngày 13 tháng giêng năm Đinh Mùi (1427) giết Tư mã Lê Lai, tịch biên gia sản vì Lai cậy có chiến công nên nói năng khinh mạn". Nên có giả thuyết rằng, Lê Lai may mắn sống sót sau khi cứu chúa, tiếp tục tham gia kháng chiến và bị chính Lê Lợi ra lệnh giết về sau này.

Những nghi vấn trên còn tiếp tục được khảo cứu.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Việt thông sử,1976 Nhà xuất bản văn hóa thông tin
  2. ^ Đại Việt thông sử,1976 Nhà xuất bản văn hóa thông tin
  3. ^ 1431
  4. ^ NXB Tân Việt (in lần thứ 3) 1956, bản điện tử, trang số 09)
  5. ^ Nhà xuất bản: Văn Sử 1991
  6. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976
  7. ^ Đại Việt thông sử, nhà xuất bản văn hóa thông tin, trang 39, in 1976
  8. ^ Theo Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục thì việc này diễn ra năm 1419
  9. ^ Khi Hán Cao Tổ Lưu Bang bị Hạng Vũ vây ngặt ở Huỳnh Dương, Kỷ Tín mặc áo ngồi xe, giả làm Lưu Bang ra hàng. Hạng Vũ tưởng bắt được Lưu Bang nên nới lỏng vòng vây, nhờ đó Lưu Bang chạy thoát. Sau Hạng Vũ phát hiện Kỷ Tín không phải Lưu Bang nên giết Tín
  10. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 193

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]