Lào

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
  • ສາທາລະນະລັດ ປະຊາທິປະໄຕ ປະຊາຊົນລາວ (Lào)
  • Sathalanalat Paxathipatai Paxaxon Lao
Flag of Laos.svg Emblem of Laos.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Lào
Tiêu ngữ
ສັນຕິພາບ ເອກະລາດ ປະຊາທິປະໄຕ ເອກະພາບ ວັດທະນາຖາວອນ
"Hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng"
Quốc ca
Pheng Xat Lao
Hành chính
Chính phủ Xã hội chủ nghĩa một đảng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Bounnhang Vorachith
Thủ tướng Thongloun Sisoulith
Chủ tịch Quốc hội Pany Yathotou
Thủ đô Viêng Chăn
Thành phố lớn nhất thủ đô
Địa lý
Diện tích 236.800 km² (hạng 79)
Diện tích nước 2,53 %
Múi giờ ĐNÁ (UTC+7); mùa hè: ĐNÁ (UTC+7)
Lịch sử
1354–1707 Vương quốc Lan Xang
1707—1778 Luang Phrabang, Viêng ChănChampasak
1778—1893 Chư hầu của ThonburiXiêm
1826—1828 Chiến tranh kế vị
1893—1949 Thuộc địa của Pháp
19/7/1949 Độc lập từ Pháp
22/10/1953 Tuyên bố độc lập
9/11/1953—2/12/1975 Nội chiến Lào
Dân cư
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Lào
Dân số ước lượng (2015) 6.803.699[1] người (hạng 104)
Mật độ 29,6 người/km²
Kinh tế
GDP (PPP) Tổng số: 44,639 tỷ USD[2]
Bình quân đầu người: 6.115 USD[2]
GDP (danh nghĩa) (2017) Tổng số: 14,971 tỷ USD[2]
Bình quân đầu người: 2.051 USD[2]
HDI (2015) 0,586[3] trung bình (hạng 138)
Đơn vị tiền tệ Kíp (LAK)
Thông tin khác
Tên miền Internet .la

Lào (tiếng Lào: ລາວ, phát âm tiếng Lào: [láːw], Lāo), tên chính thức là nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, (tiếng Lào: ສາທາລະນະລັດ ປະຊາທິປະໄຕ ປະຊາຊົນລາວ, Sathalanalat Paxathipatai Paxaxon Lao) là một quốc gia nội lục tại Đông Nam Á, phía tây bắc giáp với MyanmarTrung Quốc, phía đông giáp Việt Nam, phía tây nam giáp Campuchia, phía tây và tây nam giáp Thái Lan.[4]

Quốc gia Lào hiện tại có nguồn gốc lịch sử và văn hoá từ Vương quốc Lan Xang tồn tại trong bốn thế kỷ, là một vương quốc có diện tích lớn tại Đông Nam Á.[5] Sau một giai đoạn xung đột nội bộ, Lan Xang phân chia thành ba vương quốc riêng biệt: Luang Phrabang, VientianeChampasak. Năm 1893, ba vương quốc hợp thành một lãnh thổ bảo hộ thuộc Pháp, tiền thân của quốc gia Lào hiện nay. Lào giành độc lập sau khi Nhật Bản chiếm đóng, song người Pháp sau đó áp đặt lại quyền cai trị cho đến khi Lào được tự trị vào năm 1949. Lào độc lập vào năm 1953 với chính thể quân chủ lập hiến dưới quyền Sisavang Vong. Một cuộc nội chiến trường kỳ kết thúc vào năm 1975 với kết quả là chấm dứt chế độ quân chủ, Phong trào Pathet Lào theo chủ nghĩa cộng sản lên nắm quyền.

Lào là nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa độc đảng, theo chủ nghĩa Marx và do Đảng Nhân dân Cách mạng Lào cầm quyền. Thủ đô của Lào là Vientiane, các thành thị lớn khác là Luang Prabang, Savannakhet, và Pakse. Lào là một quốc gia đa dân tộc, người Lào chiếm khoảng 60% dân số, họ chủ yếu cư trú tại vùng thấp và chiếm ưu thế về chính trị và văn hoá. Các dân tộc Môn-Khmer, H'Mông, và dân tộc bản địa vùng cao khác chiếm khoảng 40% dân số và sống tại khu vực đồi núi.

Chiến lược phát triển của Lào dựa trên sản xuất thuỷ điện và bán điện năng sang các quốc gia láng giềng, cũng như trở thành một quốc gia liên kết giao thương lục địa.[6] Ngoài ra, lĩnh vực khai mỏ của Lào cũng phát triển, khiến quốc gia này được đánh giá là nằm trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất Đông Á và Thái Bình Dương.[7][8] Lào là một thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Hội nghị cấp cao Đông ÁCộng đồng Pháp ngữ. Lào được nhận làm thành viên đầy đủ của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2013.[9]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Phát hiện một sọ người cổ đại trong hang Tam Pa Ling thuộc Dãy Trường Sơn tại miền bắc Lào; hộp sọ có niên đại ít nhất là 46.000 năm, là hoá thạch người hiện đại có niên đại xa nhất được phát hiện tại Đông Nam Á.[10] Các đồ tạo tác bằng đá, trong đó có đồ theo kiểu văn hoá Hoà Bình, được phát hiện trong các di chỉ có niên đại từ thế Canh Tân muộn tại miền bắc Lào.[11] Bằng chứng khảo cổ học cho thấy xã hội nông nghiệp phát triển trong thiên niên kỷ 4 TCN. Các bình và các loại đồ khác được chôn cho thấy một xã hội phức tạp, có các đồ vật bằng đồng xuất hiện khoảng năm 1500 TCN, và các công cụ đồ sắt được biết đến từ năm 700 TCN. Thời kỳ lịch sử nguyên thuỷ có đặc điểm là tiếp xúc với các nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ. Theo bằng chứng ngôn ngữ học và lịch sử khác, các bộ lạc nói tiếng Thái di cư về phía tây nam đến các lãnh thổ Lào và Thái Lan ngày nay từ Quảng Tây khoảng giữa thế kỷ 8 và 10.[12]

Pha That Luang tại Vientiane là biểu trưng quốc gia của Lào.

Lào có nguồn gốc lịch sử từ Vương quốc Lan Xang (Triệu Voi) được Fa Ngum thành lập vào thế kỷ 14,[13]:223. Fa Ngum là hậu duệ của một dòng dõi quân chủ Lào, có tổ tiên là Khoun Boulom. Ông lập Phật giáo Thượng toạ bộ làm quốc giáo và khiến Lan Xang trở nên thịnh vượng. Trong vòng 20 năm hình thành, vương quốc bành trướng về phía đông đến Chăm Pa và dọc Dãy Trường Sơn. Tuy nhiên, các triều thần không chịu được tính tàn nhẫn của ông nên họ đày ông đến khu vực mà nay thuộc tỉnh Nan của Thái Lan vào năm 1373,[14]. Con trai cả của Fa Ngum là Oun Heuan đăng cơ với tước hiệu Samsenthai, Lan Xang trở thành một trung tâm mậu dịch quan trọng trong thời gian 43 năm Samsenthai cai trị. Sau khi Samsenthai mất vào năm 1421, Lan Xang sụp đổ thành các phe phái xung khắc trong 100 năm sau đó.

Năm 1520, Photisarath đăng cơ và dời đô từ Luang Prabang đến Vientiane nhằm tránh Miến Điện xâm chiếm. Setthathirat trở thành quốc vương vào năm 1548, ông ra lệnh xây dựng That Luang, công trình hiện trở thành biểu trương quốc gia của Lào. Setthathirat mất tích khi trở về sau một cuộc viễn chinh sang Cao Miên, Lan Xang bắt đầu suy yếu nhanh chóng. Phải đến năm 1637, khi Sourigna Vongsa đăng cơ, Lan Xang mới bành trướng biên giới hơn nữa. Thời gian Sourigna Vongsa cai trị thường được đánh giá là thời hoàng kim của Lào. Đến khi ông mất, Lan Xang không có người kế vị và bị phân thành ba thân vương quốc: Luang Phrabang, Vientiane, Champasak. Từ năm 1763 đến năm 1769, các đội quân Miến Điện tràn vào miền Bắc Lào và sáp nhập Luang Phrabang, trong khi Champasak cuối cùng nằm dưới quyền bá chủ của Xiêm La.

Chao Anouvong được người Xiêm phong làm vua chư hầu của Vientiane. Ông khuyến khích phục hưng mỹ thuật và văn học Lào, cải thiện quan hệ với Luang Phrabang. Chao Anouvong tiến hành khởi nghĩa chống Xiêm La vào năm 1826, kết quả là thất bại và Vientiane bị cướp phá.[15] Một chiến dịch quân sự của Xiêm La tại Lào vào năm 1876 được một nhà quan sát Anh mô tả là đã "chuyển đổi thành một cuộc tập kích săn nô lệ quy mô lớn".[16]

Binh sĩ Lào bản địa trong vệ binh thuộc địa Pháp, k. 1900.

Đến cuối thế kỷ 19, Luang Prabang bị Quân Cờ Đen từ Trung Quốc sang cướp phá.[17] Pháp giải cứu Quốc vương Oun Kham và đưa Luang Phrabang thành một xứ bảo hộ. Ngay sau đó, Vương quốc Champasak và lãnh thổ Vientiane cũng trở thành xứ bảo hộ của Pháp. Quốc vương Sisavang Vong của Luang Phrabang trở thành quân chủ của một nước Lào thống nhất và Vientiane lại trở thành thủ đô.

Lào chưa từng quan trọng đối với Pháp,[18] đây chỉ là một vùng đệm giữa Thái Lan chịu ảnh hưởng của Anh với Trung Kỳ và Bắc Kỳ vốn quan trọng hơn về kinh tế. Trong thời gian cai trị, người Pháp đưa vào hệ thống sưu dịch, buộc mọi nam giới tại Lào đóng góp 10 ngày lao động chân tay mỗi năm cho chính phủ thực dân. Lào sản xuất thiếc, cao su và cà phê, song chưa từng chiếm hơn 1% xuất khẩu của Đông Dương thuộc Pháp. Đến năm 1940, có khoảng 600 công dân Pháp sống tại Lào.[19]

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, các lực lượng Pháp Vichy, Thái Lan, Đế quốc Nhật Bản, Pháp Tự do, Trung Quốc lần lượt chiếm đóng Lào. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, một nhóm dân tộc chủ nghĩa tuyên bố Lào độc lập, thủ đô là Luang Prabang song đến ngày 7 tháng 4 năm 1945 binh sĩ Nhật Bản chiếm đóng thành phố.[20] Người Nhật nỗ lực ép buộc Sisavang Vong tuyên bố Lào độc lập song đến ngày 8 tháng 4 ông chỉ tuyên bố Lào chấm dứt là lãnh thổ bảo hộ của Pháp. Sau đó ông bí mật phái Thân vương Kindavong đại diện cho Lào trong Đồng Minh và Hoàng tử Sisavang làm đại diện bên người Nhật.[20] Khi Nhật Bản đầu hàng, một số nhân vật dân tộc chủ nghĩa tại Lào (bao gồm Thân vương Phetsarath) tuyên bố Lào độc lập, song đến đầu năm 1946, người Pháp tái chiếm đóng và trao quyền tự trị hạn chế cho Lào.

Trong Chiến tranh Đông Dương, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập tổ chức kháng chiến Pathet Lào. Pathet Lào bắt đầu chiến tranh chống lực lượng thực dân Pháp với viện trợ của Việt Minh. Năm 1950, Pháp trao cho Lào quyền bán tự trị với vị thế một "nhà nước liên kết" trong Liên hiệp Pháp. Pháp duy trì quyền kiểm soát thực tế cho đến ngày 22 tháng 10 năm 1953, khi Lào độc lập hoàn toàn với chính thể quân chủ lập hiến. Hiệp định Genève năm 1954 kết thúc Chiến tranh Đông Dương. Năm 1955, Hoa Kỳ lập một đơn vị đặc biệt nhằm thay thế Pháp ủng hộ Lục quân Hoàng gia Lào chống Pathet Lào cộng sản.

Năm 1960, giao tranh bùng phát giữa Lục quân Hoàng gia Lào và các du kích Pathet Lào được Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Liên Xô hậu thuẫn. Một chính phủ lâm thời đoàn kết dân tộc thứ nhì được Thân vương Souvanna Phouma thành lập vào năm 1962 song thất bại, và tình hình dần xấu đi và biến thành nội chiến quy mô lớn giữa chính phủ Hoàng gia Lào và Pathet Lào.

Di chỉ Muang Khoun bị bom Mỹ tàn phá trong thập niên 1960.

Lào giữ vai trò quan trọng trong Chiến tranh Việt Nam do binh sĩ miền Bắc Việt Nam tiến vào và nắm giữ nhiều lãnh thổ của Lào để mở đường tiếp tế cho chiến trường miền Nam Việt Nam. Đáp lại, Hoa Kỳ oanh tạc các vị trí của quân miền Bắc Việt Nam, ủng hộ các lực lượng chống cộng chính quy và không chính quy tại Lào và hỗ trợ quân Việt Nam Cộng hoà xâm nhập Lào. Năm 1968, quân miền Bắc Việt Nam phát động tấn công giúp Pathet Lào chống lại lực lượng Hoàng gia Lào. Cuộc tấn công này khiến lực lượng Hoàng gia Lào giải ngũ ở mức độ lớn, thế lực chống cộng chính tại Lào chuyển sang lực lượng H'Mông dưới quyền Vàng Pao do Hoa Kỳ và Thái Lan ủng hộ.

Từ năm 1964 đến năm 1973, Hoa Kỳ ném hai triệu tấn bom tại Lào, gần bằng lượng bom họ ném tại châu Âu và châu Á trong Chiến tranh thế giới thứ hai, khiến Lào trở thành quốc gia bị ném bom nặng nề nhất trong lịch sử nếu so với dân số; The New York Times lưu ý rằng "mỗi người Lào nhận gần một tấn bom."[21] Khoảng 80 triệu quả bom không phát nổ và vẫn còn rải rác khắp đất nước, khiến nhiều vùng đất rộng lớn không thể canh tác và làm thiệt mạng hàng chục người Lào mỗi năm.[22]

Năm 1975, Pathet Lào cùng Quân đội Nhân dân Việt Nam lật đổ chính phủ Vương quốc Lào, buộc Quốc vương Savang Vatthana thoái vị vào ngày 2 tháng 12 năm 1975. Từ 20.000 đến 70.000 người Lào chết trong nội chiến.[23][24][25][26] Chính phủ Pathet dưới quyền Kaysone Phomvihane đổi tên nước thành Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào. Năm 1979, Việt Nam yêu cầu Lào kết thúc quan hệ với Trung Quốc, khiến Lào bị Trung Quốc, Hoa Kỳ và các quốc gia khác cô lập về thương mại. Xung đột giữa phiến quân người H'Mông với Pathet Lào và Quân đội Nhân dân Việt Nam tiếp tục sau nội chiến tại các khu vực trọng yếu của Lào. Từ năm 1975 đến năm 1996, Hoa Kỳ tái định cư khoảng 250.000 người tị nạn Lào từ Thái Lan, trong đó có 130.000 người H'Mông.[27]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Lào là quốc gia nội lục duy nhất tại Đông Nam Á[28], hầu hết lãnh thổ nắm giữa vĩ độ 14° và 23° Bắc, và kinh độ 100° và 108° Đông. Lào có cảnh quan rừng rậm, hầu hết là các dãy núi gồ ghề, đỉnh núi cao nhất là Phou Bia cao 2.818 m, cùng một số đồng bằng và cao nguyên. Sông Mekong tạo thành một đoạn dài biên giới phía tây với Thái Lan, còn dãy Trường Sơn tạo thành hầu hết biên giới phía đông với Việt Nam, dãy núi Luangprabang tạo thành biên giới tây bắc với các vùng cao Thái Lan. Có hai cao nguyên là Xiangkhoang tại phía bắc và Bolaven tại phía nam. Lào có khí hậu nhiệt đới, chịu ảnh hưởng của gió mùa.[29] Lào có thể được phân thành ba khu vực địa lý: bắc, trung và nam.[30]

Mùa mưa riêng biệt và kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, tiếp đến là mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4. Theo truyền thống địa phương, một năm có ba mùa là mùa mưa, mùa lạnh và mùa nóng, do hai tháng cuối của mùa khô nóng hơn đáng kể so với bốn tháng trước đó. Thủ đô của Lào là Vientiane, các thành thị lớn khác là Luang Prabang, Savannakhet, và Pakse.

Năm 1993, chính phủ Lào dành ra 21% diện tích đất cho bảo tồn môi trường sống tự nhiên.[31] Đây là một trong các quốc gia thuộc khu vực trồng thuốc phiện "Tam giác Vàng".

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Lào được phân thành 17 tỉnh (khoueng) và thủ đô Vientiane. Tỉnh mới nhất là Xaisomboun, được thành lập vào năm 2013. Các tỉnh được chia thành huyện (muang) rồi đến bản (ban). Một bản "đô thị" về cơ bản là một thị trấn.[30]

Đơn vị Thủ phủ Diện tích (km²) Dân số
1 Attapeu Attapeu 10.320 114.300
2 Bokeo Ban Houayxay 6.196 149.700
3 Bolikhamsai Paksan 14.863 214.900
4 Champasak Pakse 15.415 575.600
5 Hua Phan Xam Neua 16.500 322.200
6 Khammouane Thakhek 16.315 358.800
7 Luang Namtha Luang Namtha 9.325 150.100
8 Luang Prabang Luang Prabang 16.875 408.800
9 Oudomxay Muang Xay 15.370 275.300
10 Phongsali Phongsali 16.270 199.900
11 Sayabouly Sayabouly 16.389 382.200
12 Salavan Salavan 10.691 336.600
13 Savannakhet Savannakhet 21.774 721.500
14 Sekong Sekong 7.665 83.600
15 Vientiane (thủ đô) Vientiane City 3.920 726.000
16 Vientiane (tỉnh) Phonhong 15.927 373.700
17 Xiengkhuang Phonsavan 15.880 229.521
18 Xaysomboun Anouvong 8.300 82.000
Map of the provinces of Laos. Updated 2015.png

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ tịch nước và Tổng bí thư Bounnhang Vorachith.

Lào là một nhà nước xã hội chủ nghĩa công khai tán thành chủ nghĩa cộng sản. Chính đảng hợp pháp duy nhất là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Nguyên thủ quốc gia là chủ tịch nước, người này đồng thời là tổng bí thư của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Thủ tướng là một thành viên trong Bộ Chính trị Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Các chính sách của chính phủ được Đảng xác định thông qua Bộ Chính trị gồm 11 thành viên và Ủy ban Trung ương Đảng gồm 61 thành viên. Các quyết định quan trọng của chính phủ do Hội đồng Bộ trưởng xem xét. Việt Nam duy trì ảnh hưởng đáng kể đến Bộ Chính trị Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.

Hiến pháp đầu tiên của Lào được ban hành vào ngày 11 tháng 5 năm 1947, trong đó tuyên bố Lào là một nhà nước độc lập trong Liên hiệp Pháp. Hiến pháp sửa đổi vào ngày 11 tháng 5 năm 1957 bỏ qua đề cập đến Liên hiệp Pháp, song vẫn còn quan hệ mật thiết về giáo dục, y tế, kỹ thuật với cường quốc thực dân cũ. Văn kiện năm 1957 bị bãi bỏ vào ngày 3 tháng 12 năm 1975, khi thành lập chế độ mới theo chủ nghĩa cộng sản. Một hiến pháp mới được thông qua vào năm 1991, trong đó xác định "vai trò lãnh đạo" của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.

Cuộc bầu cử quốc hội 1992 bầu ra 85 đại biểu, số đại biểu tăng lên 99 vào năm 1997, 115 vào năm 2006 và 132 vào năm 2011.

Quân đội Nhân dân Lào có quy mô nhỏ, ít ngân sách và không đủ nguồn lực; sứ mệnh của họ tập trung vào an ninh biên giới và nội địa, chủ yếu là chống lại các nhóm nổi dậy người H'Mông và đối lập khác. Cùng với Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và chính phủ, Quân đội Nhân dân Lào là trụ cột thứ ba của bộ máy nhà nước, và được dự kiến ngăn chặn bất ổn chính trị và dân sự hoặc tình huống khẩn cấp tương tự. Không tồn tại mối đe doạ từ bên ngoài đối với Lào, và Quân đội Nhân dân Lào duy trì quan hệ mạnh mẽ với Quân đội Việt Nam.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế Lào phụ thuộc nhiều vào đầu tư và thương mại với các nước láng giềng. Năm 2009, dù Lào về chính thức vẫn là nhà nước cộng sản, song chính quyền Obama tuyên bố Lào không còn là nước Marx–Lenin và bỏ lệnh cấm các công ty Lào nhận tài chính từ Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ (Ex-Im Bank).[32] Năm 2011, Sở Giao dịch Chứng khoán Lào bắt đầu giao dịch. Năm 2016, Trung Quốc là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất vào kinh tế Lào, tính luỹ kế họ đã đầu tư 5,395 tỷ USD trong giai đoạn 1989–2014, xếp thứ nhì và thứ ba trong giai đoạn này là Thái Lan (4,489 tỷ USD) và Việt Nam (3,108 tỷ USD).[33]

Nông nghiệp tự cấp vẫn chiếm đến một nửa GDP và tạo 80% số việc làm. Chỉ có 4,01% diện tích lãnh thổ là đất canh tác, và chỉ 0,34% diện tích lãnh thổ được sử dụng làm đất trồng trọt lâu dài,[34] đây là tỷ lệ thấp nhất trong Tiểu vùng Sông Mekong Mở rộng. Lúa chi phối nông nghiệp Lào do khoảng 80% diện tích đất canh tác dành cho trồng lúa.[35] Khoảng 77% nông hộ Lào tự cung cấp gạo.[36] Sản lượng lúa tăng 5% mỗi năm từ năm 1990 đến năm 2005 nhờ cải tiến về giống và cải cách kinh tế,[37] và Lào lần đầu đạt được cân bằng ròng về xuất nhập khẩu gạo vào năm 1999.[38] Lào có lẽ có nhiều giống gạo nhất trong Tiểu vùng Sông Mekong Mở rộng. Từ năm 1995, chính phủ Lào làm việc cùng Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế tại Philippines nhằm thu thập các mẫu hạt của hàng nghìn giống lúa tại Lào.[39]

Chợ sáng tại Vientiane.

Kinh tế Lào nhận được viện trợ phát triển từ IMF, ADB, và các nguồn quốc tế khác, cũng như đầu tư trực tiếp nước ngoài về phát triển xã hội, công nghiệp thuỷ điện và khai mỏ (đáng chú ý nhất là đồng và vàng). Du lịch là ngành tăng trưởng nhanh chóng. Phát triển kinh tế tại Lào bị cản trở do chảy máu chất xám.[40]

Lào giàu tài nguyên thiên nhiên, song phải nhập khẩu dầu khí. Luyện kim là một ngành quan trọng, và chính phủ hy vọng thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển các mỏ than, vàng, bô xít, thiếc, đồng và kim loại có giá trị khác. Ngoài ra, nguồn tài nguyên nước phong phú và địa hình núi non cho phép Lào sản xuất và xuất khẩu thuỷ điện với số lượng lớn. Lào xuất khẩu điện sang Thái Lan và Việt Nam.[41]

Ngành du lịch Lào tăng trưởng nhanh chóng, đạt gần 4,7 triệu du khách quốc tế trong năm 2015, đông nhất là khách Thái Lan (2,32 triệu), Việt Nam (1,19 triệu) và Trung Quốc (0,51 triệu)[42] Du lịch đóng góp 679,1 triệu USD cho GDP vào năm 2010, dự tính tăng lên 1,5857 tỷ USD vào năm 2020. Năm 2010, 1/10,9 số công việc là trong lĩnh vực du lịch. Thu nhập xuất khẩu từ du khách quốc tế và hàng hoá du lịch dự kiến tăng lên 484,2 triệu USD vào năm 2020, chiếm 12,5% xuất khẩu.[43] Luang Prabang với văn hoá Phật giáo và kiến trúc thuộc địa, cùng tổ hợp đền cổ Khmer Wat Phu là các di sản thế giới UNESCO, Cánh đồng Chum cũng được đề cử.

Các sân bay chính của Lào là sân bay quốc tế Wattay tại Vientiane và sân bay quốc tế Luang Prabang, sân bay quốc tế Pakse cũng có một vài đường bay quốc tế. Hãng hàng không quốc gia của Lào là Lao Airlines. Các hãng hàng không khác có đường bay đến Lào là Bangkok Airways, Vietnam Airlines, AirAsia, Thai Airways International, China Eastern AirlinesSilk Air. Phần lớn nước Lào thiếu cơ sở hạ tầng đẩy đủ. Lào chỉ có một đoạn đường sắt ngắn nối Vientiane với Thái Lan qua cầu Hữu nghị Thái-Lào. Các tuyến đường bộ liên kết các trung tâm đô thị lớn, đặc biệt là Đường 13, được nâng cấp trung thời gian qua, song các làng nằm xa các đường chính chỉ có thể tiếp cận bằng đường mòn. Tồn tại hạn chế về viễn thông, song điện thoại di động trở nên phổ biến tại các trung tâm đô thị. Trong nhiều khu vực nông thôn, ít nhất cũng có điện năng cục bộ. Xe Songthaew được sử dụng để vận chuyển đường dài và địa phương.

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà sư khất thực tại Luang Prabang.
Lịch sử dân số
Năm Số dân ±%
1880 870.000 —    
1900 999.000 +14.8%
1950 1.680.000 +68.2%
1960 2.000.000 +19.0%
1970 2.600.000 +30.0%
1980 3.300.000 +26.9%
1990 4.200.000 +27.3%
1995 5.300.000 +26.2%
2005 5.870.000 +10.8%
2010 6.450.000 +9.9%
2017 6.800.000 +5.4%

Dân số Lào ước tính đạt 6,5 triệu người vào năm 2012, phân bổ không đều trên lãnh thổ. Hầu hết dân chúng sống tại các thung lũng của sông Mekong và các chi lưu của nó. Thủ đô Vientiane có 740 nghìn cư dân vào năm 2008. Mật độ dân số Lào đạt 27/km2.[44] Cư dân Lào thường được phân chia theo độ cao, gần tương ứng với dân tộc.

Hơn một nửa dân số (60%) là người Lào, chiếm phần lớn cư dân vùng thấp, họ là dân tộc chiếm ưu thế về chính trị và văn hoá tại Lào. Người Lào thuộc nhóm ngôn ngữ Thái, họ bắt đầu di cư từ Trung Quốc về phía nam vào thiên niên kỷ 1. 10% dân số là các nhóm vùng thấp khác, họ cùng với người Lào hợp thành Lào Loum. Tại vùng núi miền trung và miền nam, các bộ lạc Môn-Khmer gọi chung là Lào Theung, hay Lào vùng giữa, chiếm ưu thế. Họ từng là cư dân bản địa tại miền bắc Lào. Một số người Việt, Hoa và Thái vẫn ở lại, đặc biệt là tại các đô thị, song nhiều người dời đi khi Lào độc lập vào cuối thập niên 1940, nhiều người trong số họ tái định cư tại Việt Nam, Hồng Kông hay sang Pháp. Lào Theung chiếm khoảng 30% dân số.[45] Các dân tộc vùng cao như H'Mông, Dao, Shan, và một số dân tộc Tạng-Miến sống trong các khu vực cô lập tại Lào trong thời gian dài. Các bộ lạc vùng đồi núi có nguồn gốc hỗn hợp về dân tộc/văn hoá-ngôn ngữ tại miền bắc Lào bao gồm người Lua và người Khơ Mú, họ là dân tộc bản địa của Lào. Các dân tộc này được gọi chung là Lào Soung hay Lào vùng cao. Người Lào Soung chiếm khoảng 10% dân số.[46]

Ngôn ngữ chính thức và chi phối tại Lào là tiếng Lào, đây là một ngôn ngữ có thanh điệu thuộc nhóm ngôn ngữ Thái. Tuy nhiên, chỉ hơn một nửa dân chúng nói tiếng Lào bản ngữ, phần còn lại nói các dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở nông thôn. Chữ cái Lào tiến triển trong khoảng giữa thế kỷ 13 và 14, bắt nguồn từ chữ viết Khmer cổ và tương đồng với chữ Thái Lan.[47] Ngoài ra, còn có các ngôn ngữ thiểu số như Khơ MúMông, đặc biệt là tại vùng giữa và vùng cao.

67% người Lào là tín đồ Phật giáo Thượng toạ bộ, 1,5% là tín đồ Cơ Đốc giáo, và 31,5% theo các tôn giáo khác hoặc không xác định[48] theo điều tra nhân khẩu năm 2005.[49] Phật giáo từ lâu đã là một thế lực xã hội quan trọng tại Lào. Phật giáo Thượng toạ bộ tồn tại hoà bình với thuyết đa thần địa phương từ khi được truyền bá đến.

Tuổi thọ dự tính khi sinh của nam giới Lào là 60,85 năm, còn của nữ giới là 64,76 năm tính đến 2012.[49] Tuổi thọ triển vọng khoẻ mạnh là 54 năm vào năm 2007.[50] Năm 2008, 43% dân số không được tiếp cận nguồn nước vệ sinh, song con số này giảm còn 33% vào năm 2010.[49]

Tỷ lệ biết chữ của người thành niên tại Lào vượt quá hai phần ba.[51] Tỷ lệ biết chữ của nam giới cao hơn của nữ giới.[50] Tỷ lệ biết chữ đạt 73% theo ước tính vào năm 2010. Năm 2004, tỷ lệ nhập học tiểu học đạt 84%.[50] Đai học Quốc gia Lào là đại học công lập, thành lập vào năm 1996.

<div class="transborder" style="position:absolute;width:100px;line-height:0;<div class="transborder" style="position:absolute;width:100px;line-height:0;<div class="transborder" style="position:absolute;width:100px;line-height:0;
Circle frame.svg

Lào năm 2016

  Phật giáo (official) (65.8%)
  Dân gian (30.2%)
  Khác (1.1%)
  Không (1.1%)

Dân số trong tương lai[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử dân số
Năm Số dân ±%
2020 7.200.000 —    
2030 8.380.000 +16.4%
2040 9.600.000 +14.6%
2050 10.100.000 +5.2%
2060 10.800.000 +6.9%
2070 10.900.000 +0.9%
2080 11.000.000 +0.9%
2090 10.800.000 −1.8%
2100 10.300.000 −4.6%

Văn hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ công Lào trong dịp tết.

Phật giáo Thượng toạ bộ có ảnh hưởng chi phối trong văn hoá Lào, được phản ánh trên khắp đất nước từ ngôn ngữ trong chùa và trong mỹ thuật, văn học, nghệ thuật trình diễn. Nhiều yếu tố trong văn hoá Lào có trước khi Phật giáo truyền đến, chẳng hạn như âm nhạc Lào do nhạc cụ dân tộc là khèn chi phối, nó có nguồn gốc từ thời tiền sử. Tiếng khèn theo truyền thống đi kèm với người hát theo phong cách dân gian lam. Trong các phong cách lam, lam saravane có lẽ được phổ biến nhất.

Gạo nếp là một loại lương thực đặc trưng và có ảnh hưởng văn hoá và tôn giáo đối với người Lào. Gạo nếp thường được ưa chuộng hơn gạo nhài, và trồng lúa nếp được cho là bắt nguồn tại Lào. Tồn tại nhiều truyền thống và nghi lễ liên quan đến sản xuất lúa trong các môi trường khác nhau và trong nhiều dân tộc. Chẳng hạn, các nông dân Khơ Mú tại Luang Prabang trồng loại lúa Khao Kam với số lượng nhỏ gần lều để tưởng nhớ cha mẹ đã mất, hoặc tại góc ruộng để thể hiện cha mẹ vẫn sống.[52]

Sinh là một loại trang phục truyền thống mà nữ giới Lào mặc trong sinh hoạt thường nhật. Đây là một loại váy lụa dệt tay, có thể nhận diện nữ giới mặc nó theo nhiều cách, chẳng hạn như khu vực xuất thân.

Đa thê là một tội tại Lào theo pháp luật, song hình phạt ở mức thấp, và đa thê vẫn phổ biến trong người H'Mông.[53]

Toàn bộ báo chí tại Lào đều do chính quyền phát hành, trong đó có nhật báo Anh ngữ Vientiane Times và tuần báo Pháp ngữ Le Rénovateur. Thông tấn xã chính thức của quốc gia là Khao San Pathet Lao, hãng này phát hành các phiên bản tiếng Anh và Pháp tờ báo của họ. Lào hiện có chín nhật báo, 90 tạp chí, 43 đài phát thanh, và 32 đài truyền hình hoạt động khắp đất nước. Tính đến năm 2011, Báo Nhân Dân của Việt Nam và Tân Hoa xã của Trung Quốc là các tổ chức truyền thông ngoại quốc duy nhất được phép mở văn phòng tại Lào. Chính phủ Lào kiểm soát nghiêm ngặt toàn bộ các kênh truyền thông nhằm ngăn chặn phê bình các hành động của họ. Công dân Lào chỉ trích chính phủ là đối tượng bị mất tích, bắt giữ tuỳ tiện và tra khảo.[54][55]

Kể từ khi thành lập nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, chỉ có rất ít phim được sản xuất tại Lào. Một trong các phim thương mại đầu tiên là Sabaidee Luang Prabang, sản xuất vào năm 2008.[56] Nhà làm phim người Úc Kim Mordount sản xuất The Rocket tại Lào với dàn diễn viên nói tiếng Lào, phim xuất hiện trong Liên hoan Phim quốc tế Melbourne 2013 và thắng ba giải tại Liên hoan Phim quốc tế Berlin.[57] Gần đây, một vài công ty sản xuất địa phương kế tục sản xuất các phim Lào và giành được công nhận quốc tế. Trong số đó có At the Horizon do Anysay Keola làm đạo diễn[58]Chanthaly do Mattie Do làm đạo diễn.[59][60]

Muay Lào là môn thể thao quốc gia, tương tự như Muay Thái, Lethwei Myanmar và Pradal Serey Campuchia. Bóng đá phát triển thành môn thể thao phổ biến nhất tại Lào. Giải vô địch Lào là giải đấu chuyên nghiệp cao nhất của các câu lạc bộ bóng đá Lào. Từ khi bắt đầu giải đấu, Câu lạc bộ Quân đội Lào là đội thành công nhất.[61]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Laos, Population”. The World Factbook. Central Intelligence Agency (US). Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2015. 
  2. ^ a ă â b “Report for Selected Countries and Subjects”. World Economic Outlook Database. International Monetary Fund. 
  3. ^ “2016 Human Development Report” (PDF). United Nations Development Programme. 2016. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2017. 
  4. ^ “ABOUT LAOS: GEOGRAPHY”. Asia Pacific Parliamentary Forum. Government of Laos. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2016. 
  5. ^ Stuart-Fox, Martin (1998). The Lao Kingdom of Lan Xang: Rise and Decline. White Lotus Press. tr. 49. ISBN 974-8434-33-8. 
  6. ^ “Laos approves Xayaburi 'mega' dam on Mekong”. BBC News. 5 tháng 11 năm 2012. 
  7. ^ “Lao PDR [Overview]”. World Bank. Tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2016. 
  8. ^ “Laos Securities Exchange to start trading”. Ft.com. 10 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011. 
  9. ^ “Lao People’s Democratic Republic and the WTO”. World Trade Organization. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2014. 
  10. ^ Demeter, F; Shackelford, L. L.; Bacon, A. M.; Duringer, P; Westaway, K; Sayavongkhamdy, T; Braga, J; Sichanthongtip, P; Khamdalavong, P; Ponche, J. L.; Wang, H; Lundstrom, C; Patole-Edoumba, E; Karpoff, A. M. (2012). “Anatomically modern human in Southeast Asia (Laos) by 46 ka”. Proceedings of the National Academy of Sciences 109 (36): 14375–80. PMC 3437904. PMID 22908291. doi:10.1073/pnas.1208104109. 
  11. ^ White, J.C.; Lewis, H.; Bouasisengpaseuth, B.; Marwick, B.; Arrell, K (2009). “Archaeological investigations in northern Laos: New contributions to Southeast Asian prehistory”. Antiquity 83 (319). 
  12. ^ Pittayaporn, Pittayawat (2014). Layers of Chinese Loanwords in Proto-Southwestern Tai as Evidence for the Dating of the Spread of Southwestern Tai Lưu trữ 27 June 2015 tại Wayback Machine.. MANUSYA: Journal of Humanities, Special Issue No 20: 47–64.
  13. ^ Coedès, George (1968). Walter F. Vella, biên tập. The Indianized States of Southeast Asia. trans.Susan Brown Cowing. University of Hawaii Press. ISBN 978-0-8248-0368-1. 
  14. ^ “Fa Ngum”. History.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011. 
  15. ^ “Let's hope Laos hangs on to its identity”. Asianewsnet.net. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011. 
  16. ^ "Slavery in Nineteenth-Century Northern Thailand: Archival Anecdotes and Village Voices". The Kyoto Review of Southeast Asia
  17. ^ Librios Semantic Environment (11 tháng 8 năm 2006). “Laos: Laos under the French”. Culturalprofiles.net. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011. 
  18. ^ Cummings, Joe and Burke (2005). Laos. Lonely Planet, Andrew. tr. 23–. ISBN 978-1-74104-086-9. 
  19. ^ “History of Laos”. Lonelyplanet.com. 9 tháng 8 năm 1960. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011. 
  20. ^ a ă Savada, Andrea Matles (editor) (1994) "Events in 1945" A Country Study: Laos Federal Research Division, Library of Congress
  21. ^ Kiernan, Ben; Owen, Taylor (26 tháng 4 năm 2015). “Making More Enemies than We Kill? Calculating U.S. Bomb Tonnages Dropped on Laos and Cambodia, and Weighing Their Implications”. The Asia-Pacific Journal. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2016. 
  22. ^ Wright, Rebecca (6 tháng 9 năm 2016). 'My friends were afraid of me': What 80 million unexploded US bombs did to Laos”. CNN. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2016. 
  23. ^ T. Lomperis, From People's War to People's Rule, (1996), estimates 35,000 total.
  24. ^ Eckhardt, William, in World Military and Social Expenditures 1987–88 (12th ed., 1987) by Ruth Leger Sivard.
  25. ^ Rummel, Rudolph J.: Death By Government (1994)
  26. ^ Obermeyer (2008), "Fifty years of violent war deaths from Vietnam to Bosnia", British Medical Journal.
  27. ^ Laos (04/09). U.S. Department of State.
  28. ^ “LAOS”. National Geographic Kids. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2017. 
  29. ^ “Laos – Climate”. Countrystudies.us. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011. 
  30. ^ a ă “Nsc Lao Pdr”. Nsc.gov.la. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2012. 
  31. ^ “Laos travel guides”. Indochinatrek.com. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011. 
  32. ^ THOMAS FULLER (17 tháng 9 năm 2009). “Communism and Capitalism Are Mixing in Laos”. New York Times. 
  33. ^ Lowe, Sandra (10 tháng 12 năm 2016). “Out of obscurity”. www.atimes.com. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2016. 
  34. ^ Field Listing – Land use, CIA World Factbook.
  35. ^ Rice: The Fabric of Life in Laos. Lao_IRRI Project
  36. ^ Barclay, Adam and Shrestha, Samjhana (April–June 2006) "Genuinely Lao", Rice Today.
  37. ^ "Fifteen years of support for rice research in Lao PDR"
    Asia brief: Filling the rice basket in Lao PRD partnership results
    Genuinely Lao, Prepared by IRRI’s International Programs Management Office
  38. ^ “The Green Revolution comes to Laos”. Eurekalert.org. 15 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2010. 
  39. ^ “A Race Against Time” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2010. 
  40. ^ Özden, Çaḡlar; Schiff, Maurice W. (2006). International migration, remittances, and the brain drain. World Bank Publications. ISBN 978-0-8213-6372-0. 
  41. ^ “Preparing the Cumulative Impact Assessment for the Nam Ngum 3 Hydropower Project: Financed by the Japan Special Fund” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2010. 
  42. ^ “Visitor Statistics, 2009–2015” (PDF). mekongtourism.org. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2017. 
  43. ^ “Laos – Key Facts”. World Travel & Tourism Council. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  44. ^ “Background notes – Laos”. US Department of State. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2012. 
  45. ^ “Khmu people of Laos. OMF International”. Omf.org. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011. 
  46. ^ “Laos – Ethnic groups and languages”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011. 
  47. ^ Benedict, Paul K. (1947). “Languages and Literatures of Indochina”. The Far Eastern Quarterly 6 (4): 379. JSTOR 2049433. doi:10.2307/2049433. 
  48. ^ Pew Research Center's Global Religious Landscape 2010 – Religious Composition by Country.
  49. ^ a ă â Laos. CIA – The World Factbook. Cia.gov. Retrieved on 27 January 2013.
  50. ^ a ă â “Human Development Report 2009. Lao People's Democratic Republic”. HDRstats.undp.org. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2010. 
  51. ^ “Human Development Report 2009 – Lao People's Democratic Republic”. Hdrstats.undp.org. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2010. 
  52. ^ “Evaluation Synthesis of Rice in Lao PDR” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2010. 
  53. ^ “Lao PDR: Family Code”. Genderindex.org. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011. 
  54. ^ “2012 Human Rights Reports: Laos”. State.gov. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2014. 
  55. ^ “Off the air in Laos”. Asia Times Online. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2014. 
  56. ^ Buncomb, Andrew (10 tháng 6 năm 2010). “Good Good Morning, Luang Prabang – and hello to Laos's film industry”. The Independent. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2014. 
  57. ^ “Q&A with director Kim Mordaunt (The Rocket)”. Melbourne International Film Festival. MIFF. Tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2013. 
  58. ^ Catt, Georgia (22 tháng 8 năm 2012). “A tale of revenge in Laos challenges censors”. BBC. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2014. 
  59. ^ “Chanthaly”. Fantastic Fest. 2013. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2014. 
  60. ^ Marsh, James (26 tháng 9 năm 2013). “Fantastic Fest 2013 Review: Chanthaly is A Haunting Portrait of Modern Day Laos”. Twitch. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2014. 
  61. ^ “Laos – List of Champions” (bằng tiếng Anh). RSSSF. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ gió  Myanmar Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Quốc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam Biểu đồ gió
Cờ Thái Lan Thái Lan B Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
T     Lào    Đ
N
Cờ Thái Lan Thái Lan  Campuchia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Enclave: {{{enclave}}}