România

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
România
România  (tiếng România)
Flag of Romania.svg Coat of arms of Romania.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của România
Tiêu ngữ
Không có
Quốc ca
Deșteaptă-te, române!
'"Hãy thức dậy, người Romania!"

Hành chính
Chính phủ Cộng hòa đại nghị
Tổng thống Klaus Iohannis
Thủ tướng Mihai Tudose
Thủ đô Bucharest
Thành phố lớn nhất Bucharest
Địa lý
Diện tích 238.397 km² (hạng 81)
Diện tích nước 3 %
Múi giờ CET (UTC+2); mùa hè: CEST (UTC+3)
Lịch sử
Ngày thành lập 9 tháng 5 năm 1877
13 tháng 7 năm 1878
Dân cư
Ngôn ngữ chính thức Tiếng România
Dân số ước lượng (2017) giảm 19.638.000[1] người (hạng 59)
Dân số (2011) 20.121.641[2] người
Mật độ 84,4 người/km² (hạng 117)
Kinh tế
GDP (PPP) (2017) Tổng số: 470,31 tỷ USD[3] (hạng 42)
Bình quân đầu người: 23.957 USD (hạng 61)
GDP (danh nghĩa) (2017) Tổng số: 197,004 tỷ USD[3] (hạng 49)
Bình quân đầu người: 10.097 USD (hạng 67)
HDI (2015) 0,802[4] rất cao (hạng 50)
Hệ số Gini (2013) 34[5] trung bình
Đơn vị tiền tệ Leu (RON)
Thông tin khác
Tên miền Internet .ro

România (tiếng România: România, trong tiếng Việt thường được gọi là Rumani theo tiếng Pháp: Roumanie), là một quốc gia tại đông nam châu Âu. România giáp với UkrainaMoldova về phía bắc và đông bắc; giáp với Hungary về phía tây bắc; giáp với Serbia về phía tây nam; giáp với Bulgaria về phía nam và giáp với Biển Đen về phía đông. Nước này nằm trên phần lớn diện tích của đồng bằng sông Danube. Tính đến tháng 7 năm 2007, dân số của nước này là 22.276.057 người. [1]. Thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất România là Bucharest.

Lãnh thổ România ngày nay được hình thành do sự hợp nhất của nhiều công quốc România thời trung cổ, trong đó quan trọng nhất là Moldavia, WallachiaTransilvania. România giành được độc lập từ tay Đế chế Ottoman và được cộng đồng quốc tế công nhận vào năm 1878. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, România trở thành một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa có quan hệ gắn bó với Liên Xô. Năm 1989, chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ tại România và nước này quay trở lại con đường tư bản chủ nghĩa. Ngày 1 tháng 1 năm 2007, România đã chính thức trở thành một thành viên của Liên minh châu Âu.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử România

Thời kỳ tiền sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng đất România ngày nay đã có những nhóm người khác nhau đến sinh sống từ thời tiền sử. Một mẫu hóa thạch xương hàm của người đàn ông đã được tìm thấy tại România và được xác định có niên đại khoảng 34.000 đến 36.000 năm. Đây được coi là mẫu hóa thạch người cổ nhất tại châu Âu[6]. Bên cạnh đó, một hộp sọ có niên đại khoảng 35.000 đến 40.000 năm cũng được tìm thấy tại một hang động gần Anina đã khẳng định con người đã xuất hiện tại vùng đất România từ rất sớm.

Vương quốc Dacia[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Dacia vào năm 82 trước công nguyên

Những người Dacia đã xuất hiện tại România ít nhất vào khoảng năm 513 trước công nguyên. Dưới sự lãnh đạo của Burebista, Dacia trở thành một quốc gia hùng mạnh và thậm chí còn đe dọa cả một số vùng của Đế quốc La Mã. Trước tình cảnh đó, hoàng đế Julius Caesar dự định mở một chiến dịch lớn chống lại người Dacia nhưng ông đã bị ám sát vào năm 44 trước công nguyên. Không lâu sau đó, Burebista cũng bị ám sát bởi một trong những quý tộc của ông ta. Vương quốc Dacia bị phân thành những quốc gia nhỏ hơn rồi tái thống nhất lại vào năm 95 sau công nguyên dưới sự cai trị của vua Decebalus. Sau đó Dacia lại phải trải qua một giai đoạn đầy biến động cho đến khi hoàng đế La Mã là Marcus Ulpius Nerva Traianus đánh bại Decebalus vào năm 106 sau công nguyên và Dacia trở thành một phần của đế quốc. Nhưng đến năm 271, người La Mã đã phải rút lui do sự xâm lược của người Goth và người Carpi đối với vùng đất này.

Trung cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng năm 271, La Mã rút khỏi Daica. Dân du mục Goth vào chiếm và sinh sống với dân địa phương cho đến thề kỷ 4, khi dân du mục Hung tiến vào. Khu vực Transilvania do dân GepidAvar chiếm đóng cho đến thế kỷ VIII. Sau đó bị sát nhập vào đế quốc Bulgaria đến năm 1018. Trong thế kỷ X - XI, Transilvania thuộc vương quốc Hungary cho đến thế kỷ XVI khi Tỉnh độc lập Transilvania được thành lập. Do sự tàn phá và các gánh nặng về kinh tế, dân địa phương không bị ảnh hưởng bởi dân nhập cư về văn hóa và lối sống. Người Pechenegs, người Cumans và người Uzes cũng được nhắc đến trong quá trình lịch sử trên vùng lãnh thổ România, cho đến sự thành lập của các tỉnh România mang tên gọi Wallachia bởi Basarab I, và Moldavia bởi Dragoş vào thế kỷ thứ XIII và thứ XIV theo thứ tự được kể.

Vào thời Trung Cổ, người Romani sống trong hai tỉnh độc lập chính: Wallachia (tiếng Romani: Ţara Românească - "Đất của người Romani"), Moldavia (tiếng Romani: Moldova) cũng như tỉnh Transilvania được cai quản bởi Hungary.

Vào năm 1475, Stefan III Đại đế xứ Moldavia đã đại thắng trước quân Ottoman trong trận Vaslui. Tuy nhiên, về sau Wallachia và Moldavia lại dần chịu sự bá chủ của Đế quốc Ottoman trong suốt thế kỷ XV và thế kỷ XVI (năm 1476 đối với Wallachia, Moldavia vào năm 1514), như là những nước chư hầu phải nộp triều cống với quyền tự trị hoàn toàn và sự độc lập đối với bên ngoài cuối cùng mất hẳn vào thế kỷ thứ XVIII.

Một trong những vị vua kiệt xuất của Hungary, Mátyás Corvin (được biết đến trong tiếng România như là Matei Corvin), người trị vì từ 1458-1490, được sinh ra ở Transilvania. Ông tự nhận là người România bởi vì cha ông là người România, Iancu de Hunedoara (Hunyadi János trong tiếng Hungary), và bởi người Hungary vì mẹ ông là người Hungary. Sau này, vào năm 1541, Transilvania trở thành một bang gồm nhiều chủng tộc dưới quyền cai quản của triều đình Ottoman sau trận Mohács.

Cận đại[sửa | sửa mã nguồn]

Mihail Viteazal (1558-9 tháng 8 năm 1601) là Công tước xứ Wallachia (1593-1601), xứ Transilvania (1599-1600), và xứ Moldavia (1600). Trong suốt triều đại ông 3 tỉnh này được cư ngụ đa số bởi người România lần đầu tiên sống dưới cùng một chế độ cai trị.

Lâu đài Peleş Castle - nơi ở của hoàng gia România

Vào năm 1812 đế quốc Nga sát nhập Bessarabia, phân nửa phần phía đông của Moldavia (một phần bị mất do Hòa ước Paris (1856)); vào năm 1775 các hoàng đế nhà Habsburg đã sát nhập phần phía bắc, Bukovina, và Đế quốc Ottoman phần đông-nam, Budjak.

Vào cuối thế kỷ XVIII, triều đình Habsburg đã sát nhập Transilvania vào phần mà sau này trở thành Đế quốc Áo. Trong suốt thời gian thống trị của đế quốc Áo-Hung (1867-1918), người dân România ở vùng Transilvania đã trải qua một sự đàn áp tệ hại nhất dưới hình thức các chính sách Hungary hóa của nhà nước Hungary.

Vương quốc România[sửa | sửa mã nguồn]

Nước România hiện đại được thành lập với sự sát nhập của hai bang Moldavia và Wallachia vào năm 1859 dưới thời Công tước Alexandru Ioan Cuza xứ Moldavia. Ông ta bị thay thế bởi Công tước Karl xứ Hohenzollern-Sigmaringen vào năm 1866. Trong Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ, 1877-78, România chiến đấu ủng hộ phía Nga; trong Hiệp định Berlin, 1878 România được công nhận như là một nước độc lập bởi các nước đế quốc. Để đổi lại việc nhượng cho Nga ba quận phía nam của Bessarabia mà sau này được lấy lại bởi Moldavia sau Chiến tranh Krym vào năm 1852, Vương quốc România đoạt lấy Dobruja. Vào năm 1881 bang này được nâng lên thành một vương quốc và Công tước Carol I trở thành vua Carol I.

Cung Văn hoá Iaşi

România tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất cùng phe với Đồng minh ba bên. Chiến dịch quân sự của România đã kết thúc thảm hại khi quân Liên minh Trung tâm chinh phục phần lớn đất nước và bắt hoặc giết phần lớn quân đội România chỉ trong vòng 4 tháng. Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến, đế quốc Nga hoàng sụp đổ năm 1917 với cuộc Cách mạng Tháng Hai, còn đế quốc Áo-Hung thì tan rã năm 1918. Những sự kiện này cho phép Bessarabia, Bukovina và Transilvania tái gia nhập với Vương quốc România vào năm 1918. Nước Hungary khôi phục sau cuộc chiến đã bãi bỏ các đặc quyền và danh hiệu của Hoàng gia Habsburg trong Hiệp ước Trianon vào năm 1920.

Chiến tranh thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Romania1941.png

Năm 1940 trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Bắc Bukovina và Bessarabia, Bắc Transilvania và phía nam Dobruja bị chiếm bởi Liên Xô, HungaryBulgaria theo thứ tự kể trên. Vua Carol II độc đoán đã thoái vị vào năm 1940 và những năm sau đó România bước vào cuộc chiến tham gia lực lượng của Phe Trục. Sau sự chiếm đóng của Liên Xô, România lấy lại được Bessarabia và phía bắc Bukovina từ nước Nga Xô-viết, dưới sự lãnh đạo của tướng Ion Antonescu. Đức tặng thưởng lãnh thổ Transnistria cho România. Trong suốt cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền Antonescu, liên minh với phát xít Đức, đã đóng một vai trò trong Holocaust, với các chính sách đàn áp và tàn sát người Do Thái, và ở mức độ thấp hơn là người România. Theo một báo cáo phát hành năm 2004 bởi một cơ quan do cựu Tổng thống Ion Iliescu bổ nhiệm và điều hành bởi Elie Wiesel (người đã từng đoạt giải Nobel), các nhà cầm quyền România là thủ phạm trong việc lên kế hoạch và thực hiện việc giết từ 280.000 đến 380.000 người Do Thái, nguyên trong miền đông România thu lại hay chiếm của Liên Xô, dù trong một số tài liệu ước lượng thương vong trong thế chiến II thậm chí còn cao hơn.

Vào tháng 8 năm 1944 chính quyền Antonescu bị lật đổ, và România gia nhập phe Đồng Minh chống lại phát xít Đức, nhưng vai trò của nước này trong việc đánh bại Đức không được công nhận bởi Hiệp định Hòa bình Paris, 1947.

Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa România[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1947, vua Michael I bị những người Xã hội Chủ nghĩa bắt phải từ bỏ quyền lực và rời khỏi đất nước. Sau đó, România tuyên bố là một nhà nước Cộng hòa và đặt dưới sự quản trị của quân đội Liên Xô cùng nền kinh tế phụ thuộc Liên Xô cho đến thập niên 50 của thế kỷ XX.

Sau cuộc thương thảo về việc rút lui của Liên Xô tại đây vào năm 1958, România - dưới sự lãnh đạo của Nicolae Ceauşescu - bắt đầu theo đuổi những chính sách độc lập hơn với Liên Xô như việc chỉ trích Khối Warszawa can thiệp quân sự vào Tiệp Khắc, tiếp tục duy trì quan hệ ngoại giao với Israel sau Cuộc chiến 6 ngày năm 1967, thiết lập các mối quan hệ kinh tế và ngoại giao với Cộng hòa Liên bang Đức. Ngoài ra, sự hợp tác chặt chẽ với các quốc gia Ả Rập cho phép România đóng vai trò chủ chốt trong tiến trình đối thoại Israel-Ai CậpIsrael-PLO. Tuy nhiên, nợ nước ngoài của România gia tăng không ngừng, từ năm 1977-1981, nợ nước ngoài tăng từ 3 lên 10 tỷ USD, ảnh hưởng của các tổ chức tài chính quốc tế như IMF và Ngân hàng thế giới tăng lên, mâu thuẫn với đường lối chính trị của Nicolae Ceauşescu. Ông đề xướng một dự án cuối cùng để hoàn trả nợ nước ngoài của România bởi các đường lối chính trị trên đã làm nghèo và kiệt quệ România, trong khi mở rộng quyền lực của công an và tệ sùng bái cá nhân. Việc đó đã làm giảm uy tín của Nicolae Ceauşescu và Chính phủ của ông bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính quân sự tháng 12 năm 1989. Ông và vợ bị tử hình sau một phiên xử chiếu lệ chỉ diễn ra hai giờ và không có luật sư bào chữa[7] Tháng 12 năm 1989, chế độ xã hội chủ nghĩa ở România do Nicolae Ceausescu đứng đầu bị sụp đổ, România chuyển sang chế độ đa nguyên, đa đảng.

Hậu Cộng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1990, Ion Iliescu được bầu làm Tổng thống và lấy tên chính thức của nước là Cộng hòa România. Hiến pháp mới được phê chuẩn qua cuộc trưng cầu ý dân năm 1991. Sau khi thay đổi thể chế chính trị, cánh tả đã cầm quyền tại România cho tới cuối 1996. Tháng 11 năm 1996, cánh hữu thắng cử nhưng đã thất bại trong việc phục hồi và quản lý kinh tế - xã hội nên cánh tả trở lại nắm quyền cuối năm 2000. Năm 1995, România đệ đơn xin gia nhập Liên hiệp châu Âu. Năm 1996, România và Hungary ký một hiệp định chung tuyên bố bãi bỏ những tranh chấp (không xâm phạm biên giới và bảo đảm quyền của thiểu số người Hungary sống trong lãnh thổ România). Đảng Dân chủ Cơ Đốc giáo giành thắng lợi trong cuộc bầu cử lập pháp, Emil Constantinescu trở thành Tổng thống. Năm 2000, Ion Iliescu tái đắc cử và trở lại lãnh đạo đất nước. Tuy nhiên, do đời sống nhân dân chậm được cải thiện nên tháng 12 năm 2004 cánh hữu lại thắng cử và cầm quyền cho tới nay. România đã gia nhập NATO từ 29 tháng 3 năm 2004EU từ 1 tháng 1 năm 2007.

Đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống phân cấp đơn vị hành chính của România khá đơn giản, chỉ gồm 2 cấp:

  • Cấp hạt (județ): Gồm 41 hạt và một đô thị đặc biệt là thủ đô (capitală) Bucharest
  • Cấp xã (comună): Phân loại thành 103 thành phố (municipiu), 217 thị trấn (oraş) và 2856 xã nông thôn (comună)

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kinh tế România

Năm 2016, GDP của România (PPP) đạt 441,601 tỷ USD và GDP bình quân đầu người ( PPP ) là 22.348 USD. [187] Theo Ngân hàng Thế giới , România là một nền kinh tế có thu nhập bình quân đầu người khá cao. [188] Theo Eurostat , GDP bình quân đầu người (PPS) ở mức 59%, ngang với mức trung bình của EU vào năm 2016, tăng 41% trong năm 2007 (sau khi gia nhập EU), làm cho Romania một trong những nước phát triển kinh tế nhanh nhất ở EU.

Sau năm 1989 đất nước trải qua một thập kỉ kinh tế bất ổn và suy thoái, bởi nền công nghiệp lạc hậu và thiếu cải cách cơ cấu. Tuy nhiên, từ năm 2000, nền kinh tế România đã trở thành một trong những nền kinh tế vĩ mô tương đối và ổn định: tăng trưởng kinh tế cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp và lạm phát giảm. Năm 2006, theo Cục Thống kê România, tăng trưởng GDP thực tế đạt mức 7,7%, một trong những mức cao nhất ở châu Âu. [190] Tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 buộc chính phủ phải vay mượn từ bên ngoài, bao gồm chương trình cứu trợ trị giá 20 tỷ Euro của IMF. [191] GDP đã tăng trưởng hơn 2% mỗi năm kể từ đó.[192] Theo Ngân hàng Thế giới, GDP bình quân đầu người (PPP) của România từ 13.442 năm 2007 lên khoảng 22.124 USD trong năm 2015. [193]Tuy nhiên, România vẫn là một trong những quốc gia có mức lương trung bình hàng tháng thấp nhất trong Liên minh châu Âu, với khoảng 540 Euro vào năm 2016, [194] và lạm phát -1,1% vào năm 2016. [195] Thất nghiệp ở Romania là 5,4% vào năm 2017, rất thấp so với các nước EU khác. [193]

Tăng trưởng sản lượng công nghiệp đạt 6,5% vào năm 2013, cao nhất trong EU.[196] Các công ty lớn nhất trong nước bao gồm nhà sản xuất ô tô Automobile Dacia, Petrom, Rompetrol, Ford Romania, Electrica, Romgaz, RCS & RDSBanca Transilvania. [197]Các mặt hàng xuất khẩu của România chủ yếu là ô tô, phần mềm, hàng may mặc, vải, máy móc công nghiệp, thiết bị điện tử, sản phẩm luyện kim, nguyên liệu, trang thiết bị quân sự, dược phẩm, hóa chất tinh chế và các sản phẩm nông nghiệp (trái cây, rau và hoa). Thương mại chủ yếu tập trung vào các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu, ĐứcÝ là đối tác thương mại lớn nhất của nước này. Số dư tài khoản trong năm 2012 ước tính là -4,52% GDP.

Sau một loạt các cải cách vào cuối những năm 90 và 2000, sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế România thấp hơn một chút so với các nền kinh tế châu Âu khác. [199] Năm 2005, chính phủ thay thế hệ thống thuế của Romania với thuế 16% cho cả thu nhập cá nhân và lợi nhuận của công ty, trong số các nước có tỷ lệ thấp nhất ở Liên minh châu Âu. [200] Nền kinh tế chủ yếu dựa vào các ngành dịch vụ, chiếm 51% GDP, mặc dù ngành công nghiệp và nông nghiệp cũng đóng góp đáng kể, lần lượt chiếm 36% và 13% GDP. Ngoài ra, 30% nguồn lao động România đã được sử dụng trong nông nghiệp và sản xuất sơ cấp (2006), một trong những tỷ lệ cao nhất ở châu Âu. [201]

Từ năm 2000, lượng đầu tư nước ngoài vào România ngày càng tăng, trở thành điểm đến đầu tư lớn nhất ở Đông Nam ÁTrung Âu. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có giá trị từ 8,3 tỷ Euro năm 2006. [202] Theo số liệu từ Ngân hàng Thế giới, Romania hiện đứng thứ 72 trong số 175 nền kinh tế trong thuận lợi kinh doanh, thấp hơn so với các nước khác trong khu vực, như Cộng hòa Séc...[203] Ngoài ra, một nghiên cứu năm 2006 đã đánh giá România là nền kinh tế cải cách lớn thứ hai thế giới (sau Gruzia).

Kể từ năm 1867, đơn vị tiền tệ chính thức của nước này là Leu Rumani (RON). Sau khi gia nhập EU vào năm 2007, một dự luật về việc thay đổi tiền tệ của nước này bằng Euro dự kiến ​​sẽ được thông qua vào năm 2020. [205]

Vào ngày 1 tháng 7 năm 2015, khoản nợ nước ngoài của Rumani là 90,59 tỷ Euro.

Cơ sở hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo INSSE , tổng lượng đường bộ của România ước tính vào năm 2015 là khoảng 86.080 kilômét (53.488 dặm). [207] Ngân hàng Thế giới ước tính mạng lưới đường sắt khoảng 22,298 km (13.855 dặm), đây là mạng lưới đường sắt lớn thứ tư ở châu Âu. [208] Giao thông đường sắt đã trải qua một sự suy giảm mạnh mẽ sau năm 1989, và ước tính có 99 triệu hành khách vào năm 2004; nhưng đã trải qua một sự hồi phục gần đây (2013) do cải tiến cơ sở hạ tầng và tư nhân hoá một phần các tuyến đường, [160] chiếm 45% tổng số hành khách và vận chuyển hàng hóa trong nước. [160] Bucharest Metro , Hệ thống tàu điện ngầm được mở cửa vào năm 1979 với 61.41 km (38.16 dặm) [209] Có mười sáu sân bay thương mại quốc tế đang hoạt động hiện nay, với 5 sân bay (Sân bay Quốc tế Henri Coandă , Sân bay Quốc tế Aurel Vlaicu , Sân bay Quốc tế Timişoara , Sân bay Quốc tế Constanta và Sân bay Quốc tế Sibiu ) có khả năng vận chuyển máy bay thân rộng . Hơn 9,2 triệu hành khách đã bay qua sân bay quốc tế Henri Coandă của Bucharest vào năm 2015. [210]

Rumani là nước xuất khẩu ròng về năng lượng điện và đứng thứ 48 trên toàn thế giới về tiêu thụ năng lượng điện. [211] [ cần nguồn tốt hơn ] Khoảng một phần ba năng lượng được sản xuất từ ​​nguồn tái tạo, chủ yếu là thủy điện. [212] Năm 2015, các nguồn chính là than (28%), thủy điện (30%), hạt nhân (18%), và hydrocarbon (14%). [213] Nó có một trong những nhà máy tinh chế lớn nhất ở Đông Âu, mặc dù sản lượng dầu và khí đốt tự nhiên đã giảm trong hơn một thập kỷ. [211] Với một trong những trữ lượng lớn nhất của dầu thô và khí đá phiến ở Châu Âu, [211]nó là một trong những quốc gia độc lập về năng lượng nhất trong Liên minh châu Âu [214] và đang tìm cách mở rộng nhà máy điện hạt nhân của mình tại Cernavodă . [215]

Có gần 18,3 triệu kết nối vào Internet trong tháng Sáu năm 2014. [216] Theo Bloomberg , năm 2013 Romania đứng thứ 5 trên thế giới, và theo The Independent , nó đứng số một ở châu Âu với tốc độ internet, [217] [218] với Timişoara được xếp hạng cao nhất thế giới. [219]

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Du lịch là một đóng góp đáng kể cho nền kinh tế Rumani, tạo ra khoảng 5% GDP. [220] Theo Hội đồng Du lịch và Du lịch Thế giới , Romania ước có việc đi lại và du lịch tổng nhu cầu phát triển nhanh nhất thứ tư trên thế giới, với tốc độ tăng trưởng tiềm năng ước tính 8% mỗi năm từ năm 2007 đến năm 2016. [221] Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, số khách du lịch đã tăng đều đặn, đạt 9,33 triệu du khách nước ngoài vào năm 2016. [222] Du lịch Ru-ma-ni đã thu hút 400 triệu euro đầu tư vào năm 2005. [223]

Hơn 60% du khách nước ngoài trong năm 2007 đến từ các nước EU khác. [224] Các điểm tham quan mùa hè nổi tiếng của Mamaia và các Khu nghỉ mát Biển Đen khác thu hút 1,3 triệu khách du lịch trong năm 2009. [225] [226] Các khu trượt tuyết phổ biến nhất là dọc theo Valea Prahovei và Poiana Braşov . Các lâu đài ở các thành phố Transylvanian như Sibiu , Braşov và Sighişoara cũng thu hút được một lượng lớn khách du lịch. Lâu đài Bran , gần Braşov, là một trong những điểm tham quan nổi tiếng nhất ở Rumani, thu hút hàng trăm ngàn du khách mỗi năm vì nó thường được quảng cáo là Lâu đài của Dracula . [227]

Du lịch nông thôn, tập trung vào văn hoá dân gian và truyền thống, đã trở thành một sự lựa chọn quan trọng [228] , và nhằm mục đích quảng bá các địa điểm như Bran và lâu đài Dracula's , nhà thờ Painted của miền bắc Moldavia , và các nhà thờ bằng gỗ của Maramureş . [229] Các điểm tham quan khác bao gồm Đồng bằng Sông Danube , và Ensemble Ensemble of Constantin Brâncuşi tại Târgu Jiu . [230] [231]

Trong năm 2014, Rumani đã có 32.500 công ty hoạt động trong ngành khách sạn và nhà hàng với tổng doanh thu 2,6 tỷ EUR. [232] Hơn 1,9 triệu khách du lịch nước ngoài đến thăm Romania vào năm 2014, hơn 12% so với năm 2013. [233] Theo Viện Thống kê Quốc gia của nước này, một số 77% đến từ châu Âu (đặc biệt từ Đức, Ý và Pháp), 12% từ châu Á, và ít hơn 7% từ Bắc Mỹ. [233]

Khoa học công nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt lịch sử, các nhà nghiên cứu và nhà phát minh Rumani đã có những đóng góp đáng kể cho một số lĩnh vực. Trong lịch sử bay, Traian Vuia đã đưa chiếc máy bay đầu tiên cất cánh với sức mạnh riêng của mình [234] và Aurel Vlaicu xây dựng và bay một số máy bay thành công sớm nhất , trong khi Henri Coandă phát hiện ra hiệu ứng Coandă của chất lỏng. Victor Babeş đã khám phá ra hơn 50 loại vi khuẩn ; nhà sinh vật học Nicolae Paulescu đã khám phá ra insulin , còn Emil Palade , đã nhận được giải Nobel vì những đóng góp của ông đối với sinh học tế bào. Lazăr Edeleanu là nhà hóa học đầu tiên tổng hợp amphetamine và ông cũng phát minh ra thủ tục tách các thành phần dầu mỏ có giá trị với các dung môi chọn lọc, trong khi Costin Neniţescu đã phát triển nhiều lớp mới của các hợp chất trong hóa học hữu cơ . Các nhà toán học nổi tiếng bao gồm Spiru Haret , Grigore Moisil , và Ştefan Odobleja ; nhà vật lí và nhà phát minh: Şerban Ţiţeica , Alexandru Proca , và Ştefan Procopiu .

Trong thập kỷ 90 và 2000, sự phát triển của nghiên cứu bị cản trở bởi nhiều yếu tố, bao gồm tham nhũng, ngân sách thấp và rò rỉ chất xám đáng kể . [235] Tuy nhiên, kể từ khi gia nhập Liên minh châu Âu , điều này đã bắt đầu thay đổi. [236] Sau khi bị cắt giảm 50% trong năm 2009 do suy thoái kinh tế toàn cầu, chi tiêu cho R & D đã tăng 44% trong năm 2010 và hiện ở mức 0,5 tỷ đô la (1,5 tỷ lei). [237] Vào tháng 1 năm 2011, Quốc hội cũng đã thông qua một đạo luật thực thi "kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt đối với các trường đại học và đưa ra những quy tắc khó khăn cho việc đánh giá tài chính và xem xét lại". [238] Nước này đã tham gia một số tổ chức quốc tế lớn như CERNvà Cơ quan Vũ trụ châu Âu . [239] [240] Nói chung, tình hình đã được mô tả là "cải thiện nhanh chóng", mặc dù từ một căn cứ thấp. [241]

Các vật lý hạt nhân cơ sở của Liên minh châu Âu đề xuất của cơ sở hạ tầng cực nhẹ (ELI) tia laser sẽ được xây dựng tại Romania. [242] Vào đầu năm 2012, Rumani đã phát hành vệ tinh đầu tiên từ Trung tâm Không gian Guyanais ở Guyana thuộc Pháp. [243] Bắt đầu từ tháng 12 năm 2014, Rumani là đồng sở hữu Trạm Không gian Quốc tế . [244]

Nhân khẩu học[sửa | sửa mã nguồn]

Theo cuộc tổng điều tra năm 2011 , dân số Romania là 20.121.641. [3] Giống như các nước khác trong khu vực, dân số dự kiến ​​sẽ giảm dần trong những năm tới do kết quả của tỷ lệ sinh thay thế phụ và tỷ suất di cư thuần âm . Vào tháng 10 năm 2011, người Rumani chiếm 88,9% dân số. Các dân tộc thiểu số lớn nhất là người Hungari , 6,1% dân số, và người Roma , 3,0% dân số. [d] [245] Người Hungari chiếm phần lớn trong các quận của Harghita và Covasna . Các dân tộc khác bao gồmUkraina , Đức , Thổ Nhĩ Kỳ , Lipovans , Aromanians , Tatar và Serbs . [246] Năm 1930, đã có 745.421 người Đức ở Romania , [247] nhưng chỉ có khoảng 36.000 vẫn ngày hôm nay. [246] Đến năm 2009 , có khoảng 133.000 người nhập cư sống ở Romania, chủ yếu từ Moldova và Trung Quốc . [128]

Các tổng tỷ suất sinh (TFR) năm 2015 ước đạt 1,33 trẻ em sinh ra trên mỗi phụ nữ, đó là dưới mức sinh thay thế là 2,1, và một trong những mức thấp nhất trên thế giới. [248] Năm 2014, 31,2% số trường hợp sinh ra là phụ nữ chưa lập gia đình. [249] Các tỷ lệ sinh (9,49 ‰, năm 2012) là thấp hơn nhiều so với tỷ lệ tử vong (11,84 ‰ năm 2012), kết quả là bị thu hẹp (-0,26% mỗi năm, 2012) và dân số già (tuổi trung bình: 39,1, năm 2012) , với khoảng 14,9% tổng dân số từ 65 tuổi trở lên. [250] [251] [252] Tuổi thọ vào năm 2015 ước tính là 74,92 năm (nam giới là 71,46 tuổi, nữ giới là 78,59 tuổi). [248]

Số người Romania và cá nhân có tổ tiên sinh ra ở Romania sống ở nước ngoài ước tính khoảng 12 triệu người. [139] Sau cuộc Cách mạng Rumani 1989 , một số lượng đáng kể người Rumani di cư đến các nước châu Âu khác, Bắc Mỹ hoặc Úc. [253] Ví dụ, vào năm 1990, 96.919 người Rumani định cư ở nước ngoài vĩnh viễn. [254]

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ chính thức là tiếng Rumani , một ngôn ngữ Giao cảm ở phương Đông tương tự như Aromanian , Megleno-Rumani , và Istro-Rumani , nhưng chia sẻ nhiều tính năng với các ngôn ngữ Romance khác như Ý , Pháp , Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha . ( Bảng chữ cái Rumani có 26 chữ cái Latinh cộng với 5 chữ khác, tổng cộng là 31). Người Rumani được 85% dân số sử dụng ngôn ngữ đầu tiên, còn Hungarian và Vlax Romanilần lượt là 6.2% và 1.2% dân số. Có 25.000 người Đức gốc bản xứ, và 32.000 người Thổ Nhĩ Kỳ ở Romania, và gần 50.000 người nói tiếng Ucraina, [255] tập trung ở một số khu vực nhỏ gọn, gần biên giới, nơi họ chiếm đa số. [256] Theo Hiến pháp, các hội đồng địa phương đảm bảo quyền ngôn ngữ cho tất cả các dân tộc thiểu số , với các địa phương có dân tộc thiểu số trên 20%, ngôn ngữ của người thiểu số có thể được sử dụng trong hệ thống hành chính công, hệ thống tư pháp và giáo dục. Công dân nước ngoài và những người không quốc tịch sống ở Romania có quyền công bằng và giáo dục bằng ngôn ngữ của họ. [257] Tiếng Anh và tiếng Pháp là những ngoại ngữ chính được giảng dạy trong các trường học. [258]Trong năm 2010, tổ chức quốc tế de la Francophonie xác định 4.756.100 người nói tiếng Pháp trong nước. [259] Theo Eurobarometer 2012 , tiếng Anh được 31% người Rumani nói, tiếng Pháp là 17%, và tiếng Ý là 7%. [260]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tin:RO, IS, Iasi, Metropolitan Cathedral 1.jpg
Nhà thờ chính tòa Metropolitan Iaşi, nhà thờ Chính Thống giáo lớn nhất ở România, được xây dựng vào năm 1833.
Bài chi tiết: Tôn giáo România

România là một nhà nước thế tục và không có tôn giáo nào được công nhận quốc giáo. Tuy nhiên, đại đa số công dân của nước này tự nhận mình là Kitô hữu. 86,7% dân số của đất nước được xác định là Chính Thống giáo theo điều tra dân số năm 2002, phần lớn trong số đó thuộc về Giáo hội Chính thống România. Các giáo phái Kitô giáo khác là Tin Lành (5,2%), Công giáo Rôma (4,7%) và Giáo hội Công giáo nghi lễ Hy Lạp (0,9%).[8] Đây cũng là hai tổ chức tôn giáo phải chịu đựng sự đàn áp nặng nề nhất dưới chế độ Cộng sản. Giáo hội Công giáo nghi lễ Hy Lạp vẫn bị cấm bởi chính quyền cộng sản vào năm 1948,[9] sau đó, dưới chế độ Ceauşescu, một số nhà thờ ở Transilvania đã bị phá hủy. Tin Lành và Công giáo cũng tập trung ở Transilvania.

România cũng có một cộng đồng Hồi giáo tập trung ở Dobruja, chủ yếu là người Thổ Nhĩ KỳTatar với dân số 67.500 người.[10] Theo kết quả điều tra dân số năm 2002, có 66.846 công dân România theo đức tin Unitarian (0,3% tổng dân số). Trong tổng số các dân tộc thiểu số nói tiếng Hungary ở România, giáo phái Unitarians đại diện cho 4,55% dân số, là nhóm giáo phái Kitô lớn thứ ba sau Giáo hội Cải cách ở România (47,10%) và Công giáo (41,20%). Từ năm 1700, Giáo hội Unitarian đã có 125 giáo xứ, trong năm 2006, có 110 mục sư Unitarian và 141 nơi thờ tự ở România.

Ngày 27 tháng 12 năm 2006, một Luật mới về tôn giáo đã được phê duyệt, theo đó các giáo phái tôn giáo chỉ có thể nhận được sự công nhận chính thức của nhà nước nếu họ có ít nhất 20.000 thành viên, chiếm khoảng 0,1% tổng dân số của România.[11]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ Cuộc Cách mạng Rumani năm 1989 , hệ thống giáo dục Rumani đã được tiến hành liên tục trong quá trình cải cách đã nhận được những lời chỉ trích hỗn tạp. [270] Năm 2004, có khoảng 4,4 triệu người được học ở trường. Trong số này, 650.000 trẻ mẫu giáo (3-6 năm), 3.11 triệu ở cấp tiểu học và trung học cơ sở, và 650.000 ở bậc đại học (đại học). [271] Trong cùng năm đó, tỷ lệ biết chữ ở người lớn là 97,3% (thứ 45 trên toàn thế giới), trong khi tổng tỷ lệ nhập học chung cho các trường tiểu học, trung học cơ sở và đại học là 75% (52 trên toàn thế giới). [272] Mẫu giáo là tùy chọn giữa 3 và 6 năm. Từ năm 2012, học bắt buộc bắt đầu từ 6 tuổi với "năm học chuẩn bị" (clasa pregătitoare ) [273] và bắt buộc cho đến lớp mười. [274] Giáo dục tiểu học và trung học được chia thành 12 hoặc 13 lớp. Ở đó còn tồn tại một hệ thống dạy kèm tư nhân bán chính thức, không chính thức được sử dụng chủ yếu trong trường trung học, đã thịnh vượng trong chế độ Cộng sản. [275]

Giáo dục đại học phù hợp với khu vực giáo dục đại học Châu Âu . Kết quả của nghiên cứu đánh giá PISA tại các trường học cho năm 2012 đã đặt Romania vào vị trí thứ 45 trong số 65 quốc gia tham gia [276] và năm 2016 chính phủ Rumani đã công bố số liệu thống kê cho thấy 42% số thanh thiếu niên 15 tuổi có chức năng đọc mù chữ . [277] mặc dù Romania thường giành huy chương trong các môn olympiad [278] [279] [280] và không chỉ. Đại học Alexandru Ioan Cuza của Iaşi, Đại học Cluj-Napoca Babeş-Bolyai , Đại học Bucharest , vàĐại học Tây Timişoara đã được xếp vào top 800 của Đại học Thế giới về QS . [281]


Thắng cảnh du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Du lịch România

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Annual official estimate".(PDF) 2017 Revision
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên CensusRef
  3. ^ a ă “Romania”. International Monetary Fund. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2017. 
  4. ^ “2016 Human Development Report Romania” (PDF). United Nations Development Programme. 2016. tr. 2–3. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2017. 
  5. ^ “Gini coefficient of equivalised disposable income (source: SILC)”. Eurostat Data Explorer. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015. 
  6. ^ http://news.bbc.co.uk/2/hi/science/nature/3129654.stm Hóa thạch người tại châu Âu - BBC
  7. ^ Jeri Laber The Courage of Strangers
  8. ^ http://www.recensamant.ro/pagini/rezultate.html
  9. ^ Harper-Collins Encyclopedia of Catholicism, 1132; Niessen, "The Greek Catholic Church and the Romanian Nation," 59–60
  10. ^ (Report). Recensamant.ro. Truy cập 2008-01-01
  11. ^ "Romania President Approves Europe's "Worst Religion Law"