România

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
România
România
Flag of Romania.svg Coat of arms of Romania.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của România
Vị trí của  România  (xanh đậm)

– ở châu Âu  (xanh & xám đậm)
– trong Liên minh Châu Âu  (xanh)  –  [Chú giải]

Quốc ca
Deșteaptă-te, române!
'"Hãy thức dậy, người Romania!"

Hành chính
Chính phủ Cộng hòa đại nghị
Tổng thống Klaus Iohannis
Thủ tướng Viorica Dăncilă
Thủ đô Bucharest
Thành phố lớn nhất Bucharest
Địa lý
Diện tích 238.397 km² (hạng 81)
Diện tích nước 3 %
Múi giờ CET (UTC+2); mùa hè: CEST (UTC+3)
Lịch sử
Ngày thành lập 9 tháng 5 năm 1877
13 tháng 7 năm 1878
Dân cư
Ngôn ngữ chính thức Tiếng România
Dân số ước lượng (2017) giảm 19.638.000[1] người (hạng 59)
Dân số (2011) 20.121.641[2] người
Mật độ 84,4 người/km² (hạng 117)
Kinh tế
GDP (PPP) (2017) Tổng số: 470,31 tỷ USD[3] (hạng 42)
Bình quân đầu người: 23.957 USD (hạng 61)
GDP (danh nghĩa) (2017) Tổng số: 197,004 tỷ USD[3] (hạng 49)
Bình quân đầu người: 10.097 USD (hạng 67)
HDI (2015) 0,802[4] rất cao (hạng 50)
Hệ số Gini (2013) 34[5] trung bình
Đơn vị tiền tệ Leu (RON)
Thông tin khác
Tên miền Internet .ro

România (tiếng România: România, trong tiếng Việt thường được gọi là Rumani theo tiếng Pháp: Roumanie), là một quốc gia tại đông nam châu Âu, với diện tích 238.391 km². România giáp với UkrainaMoldova về phía bắc và đông bắc; giáp với Hungary về phía tây bắc; giáp với Serbia về phía tây nam; giáp với Bulgaria về phía nam và giáp với Biển Đen về phía đông. Nước này nằm trên phần lớn diện tích của đồng bằng sông Danube. Tính đến năm 2017, dân số của nước này là 19.638.000 người[6]. Thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất România là Bucharest.

Lãnh thổ România ngày nay được hình thành do sự hợp nhất của nhiều công quốc România thời trung cổ, trong đó quan trọng nhất là Moldavia, WallachiaTransilvania. România giành được độc lập từ tay Đế chế Ottoman và được cộng đồng quốc tế công nhận vào năm 1878. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, România trở thành một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa có quan hệ gắn bó với Liên Xô. Năm 1989, chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ tại România và nước này quay trở lại con đường tư bản chủ nghĩa. România chính thức trở thành một thành viên của NATO (2004) và Liên minh châu Âu (2007).

Mặc dù là một trong những nước nghèo nhất trong Liên minh châu Âu, nhưng România đứng thứ 50 về chỉ số phát triển con người và là một nước đang phát triển[7][8], với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm là 7% (tính đến năm 2017)[9]. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào các ngành dịch vụ, và là một nhà sản xuất và xuất khẩu máy móc và năng lượng điện, có các công ty sản xuất ôtô như DaciaOMV Petrom. Đại đa số người România tự nhận mình là Kitô hữu và nói tiếng România. Lịch sử văn hoá của România thường được đề cập đến khi nói về các nghệ sỹ có ảnh hưởng, nhạc sĩ, nhà phát minh và vận động viên thể thao .

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Bức thư của Neacşu từ năm 1521, tài liệu còn sót lại lâu đời nhất được viết bằng tiếng România.

Cái tên România có nguồn gốc từ romanus trong tiếng Latin , có nghĩa là "công dân của Roma"[10]. Tên gọi này được sử dụng lần đầu tiên vào thế kỷ 16 bởi các nhà nhân chủng học người Ý khi đi khám phá ở Transylvania, MoldaviaWallachia[11][12][13][14].

Các tài liệu cổ xưa nhất được biết đến còn sót được viết bằng tiếng România , một bức thư năm 1521 được gọi là Scrisoarea lui Neacșu (Lá thư của Neacşu từ Câmpulung) "[15], xuất hiện tên của đất nước: Wallachia được nhắc đến như Ţeara Rumânească (nghĩa là Đất của România; ţeara bắt nguồn từ terra trong tiếng Latin, có nghĩa là "đất").

Hai hình thức chính tả: românrumân đã được sử dụng thay thế cho nhau, cho đến khi sự phát triển xã hội vào cuối thế kỷ 17, dẫn đến sự khác biệt về ngữ nghĩa của hai hình thức: rumân có nghĩa là "người đầy tớ", trong khi român giữ lại ý nghĩa ban đầu. Sau khi bãi bỏ chế độ nô lệ vào năm 1746, từ rumân dần dần mất đi tính sử dụng, và cách viết chính thức là român. Tudor Vladimirescu, một nhà lãnh đạo cách mạng của România đầu thế kỷ 19, đã sử dụng thuật ngữ Rumânia để chỉ riêng xứ Wallachia.

Việc sử dụng tên Români để chỉ quê hương chung người România - ý nghĩa ngày nay của nó - lần đầu tiên vào đầu thế kỷ 19. Tên này được chính thức sử dụng kể từ ngày 11 tháng 12 năm 1861.

Trong tiếng Anh, tên của quốc gia này đã được đánh vần là Rumania hoặc Roumania [16]. Rumani trở nên phổ biến chính trong khoảng năm 1975[17]. Romania cũng là cách viết chính thức theo tiếng Anh được sử dụng bởi chính phủ România[18]. Một số ít các ngôn ngữ khác (bao gồm Ý, Hungary, Bồ Đào Nha và Na Uy) cũng đã chuyển từ "u" sang "o" như tiếng Anh, nhưng nhiều ngôn ngữ vẫn sử dụng "u", ví dụ như: Roumanie (tiếng Pháp), Rumänien (tiếng Đứctiếng Thụy Điển), Rumani (tiếng Tây Ban Nha), Rumunia (tiếng Ba Lan) , và Румыния (tiếng Nga; chuyển tự: Rumyniya ).

Tiếng Việt gọi đất nước này là Rumani, bắt nguồn từ Roumanie trong tiếng Pháp. Phiên âm Hán Việt của România là La Mã Ni Á, trong tiếng Trung được viết là 羅馬尼亞 (Luómǎníyǎ).

Các tên chính thức trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Địa lý România
Quan cảnh núi Pietros

Với diện tích 238.391 km², România là quốc gia lớn nhất ở Đông Nam Âu và lớn thứ mười hai ở châu Âu[19], nằm giữa vĩ độ 43° và 49°N và kinh độ 20° và 30°E. Nước này giáp với Hungary về phía tây bắc, MoldovaUkraina về phía đông bắc, Sông Danube ở phía nam là biên giới tự nhiên giữa România và Bulgaria, đồng thời cũng là biên giới giữa Serbia và nước này. Dãy núi Karpat chiếm phần lớn phía tây của đất nước, đỉnh cao nhất là Moldoveanu (2.544 m)[20]. Khoảng 47% diện tích đất của quốc gia được bao phủ bởi các hệ sinh thái tự nhiênbán tự nhiên[21]. Các thành phố lớn bao gồm Craiova, Cluj-Napoca, Galaţi, Constanţa, Iasi, TimişoaraBraşov. Dân số các thành phố này khoảng từ 250.000 cho đến 500.000 người[22].

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ Phân loại khí hậu Köppen România

Do vị trí nằm ở phần phía đông nam lục địa Châu Âu, nên Romania có khí hậu ôn đới và lục địa, với bốn mùa rõ rệt. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 11°C ở phía Nam và 8°C ở phía bắc[23]. Vào mùa hè, nhiệt độ trung bình ở Bucharest tăng lên 28°C, và nhiệt độ trên 35°C là khá phổ biến ở các vùng hạ lưu của đất nước[24]. Vào mùa đông, nhiệt độ tối đa trung bình thấp hơn 2°C[24]. Lượng mưa trung bình rơi vào khoảng 750 mm/năm tại các ngọn núi phía tây, trong khi đó ở Bucharest nó giảm xuống khoảng 600 mm[25]. Có một sự khác biệt trong các khu vực: ở các phần phía tây, như Banat, khí hậu ôn hòa hơn do sự ảnh hưởng của Địa Trung Hải; phần phía đông của đất nước có khí hậu lục địa. Tại Dobruja, Biển Đen cũng ảnh hưởng đến khí hậu khu vực[26].

Nhiệt độ trung bình tháng tại một số thành phố của Romania[27]
Thành phố Tháng 7(°C) Tháng 1 (°C)
Bucharest 28.8/15.6 1.5/−5.5
Cluj-Napoca 24.5/12.7 0.3/−6.5
Timișoara 27.8/14.6 2.3/−4.8
Iași 26.8/15 −0.1/−6.9
Constanța 25.9/18 3.7/−2.3
Craiova 28.5/15.7 1.5/−5.6
Brașov 24.2/11.4 −0.1/−9.3
Galați 27.9/16.2 1.1/–5.3


Thực vật và động vật[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng 10.000 km² (khoảng 5% tổng diện tích) là các khu bảo tồn, bao gồm 13 vườn quốc gia và ba khu dự trữ sinh quyển[28][21]. Đã xác định được 3.700 loài thực vật thủy sinh, 74 loài đã tuyệt chủng, 39 loài nguy cấp, 171 loài dễ bị tổn thương và 1.253 loài quý hiếm[29].

Các loài cây ưu thế của rừng Romania là sồiVân sam Na-uy.

Hệ động vật bao gồm 33.792 loài. Trong đó: 33.085 loài động vật không xương sống, 707 động vật có xương sống[29], gần 400 loài động vật có vú, chim, bò sát và lưỡng cư [30]. khoảng 50% Gấu nâu châu Âu (không kể Nga)[31] và 20% chó sói đều tập trung tại quốc gia này[32].

Có 12 vườn quốc gia ở Rumani và tổng cộng hơn 500 khu bảo tồn thiên nhiên. Hầu hết các khu bảo tồn nằm ở Dãy núi Karpat, và chỉ có một số ít phục vụ như một địa điểm du lịch. Đồng bằng sông Danube được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới và là vùng đất ngập nước lớn nhất châu Âu. Cổng Sắt trên biên giới Serbia và România có nhiều khung cảnh đẹp.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử România

Thời kỳ tiền sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng đất România ngày nay đã có những nhóm người khác nhau đến sinh sống từ thời tiền sử. Một mẫu hóa thạch xương hàm của người đàn ông đã được tìm thấy tại România và được xác định có niên đại khoảng 34.000 đến 36.000 năm. Đây được coi là mẫu hóa thạch người cổ nhất tại châu Âu[33]. Bên cạnh đó, một hộp sọ có niên đại khoảng 35.000 đến 40.000 năm cũng được tìm thấy tại một hang động gần Anina đã khẳng định con người đã xuất hiện tại vùng đất România từ rất sớm.

Vương quốc Dacia[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Dacia vào năm 82 trước công nguyên

Những người Dacia đã xuất hiện tại România ít nhất vào khoảng năm 513 trước công nguyên. Dưới sự lãnh đạo của Burebista, Dacia trở thành một quốc gia hùng mạnh và thậm chí còn đe dọa cả một số vùng của Đế quốc La Mã. Trước tình cảnh đó, hoàng đế Julius Caesar dự định mở một chiến dịch lớn chống lại người Dacia nhưng ông đã bị ám sát vào năm 44 trước công nguyên. Không lâu sau đó, Burebista cũng bị ám sát bởi một trong những quý tộc của ông ta. Vương quốc Dacia bị phân thành những quốc gia nhỏ hơn rồi tái thống nhất lại vào năm 95 sau công nguyên dưới sự cai trị của vua Decebalus. Sau đó Dacia lại phải trải qua một giai đoạn đầy biến động cho đến khi hoàng đế La Mã là Marcus Ulpius Nerva Traianus đánh bại Decebalus vào năm 106 sau công nguyên và Dacia trở thành một phần của đế quốc. Nhưng đến năm 271, người La Mã đã phải rút lui do sự xâm lược của người Goth và người Carpi đối với vùng đất này.

Trung cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng năm 271, La Mã rút khỏi Daica. Dân du mục Goth vào chiếm và sinh sống với dân địa phương cho đến thề kỷ 4, khi dân du mục Hung tiến vào. Khu vực Transilvania do dân GepidAvar chiếm đóng cho đến thế kỷ VIII. Sau đó bị sát nhập vào đế quốc Bulgaria đến năm 1018. Trong thế kỷ X - XI, Transilvania thuộc vương quốc Hungary cho đến thế kỷ XVI khi Tỉnh độc lập Transilvania được thành lập. Do sự tàn phá và các gánh nặng về kinh tế, dân địa phương không bị ảnh hưởng bởi dân nhập cư về văn hóa và lối sống. Người Pechenegs, người Cumans và người Uzes cũng được nhắc đến trong quá trình lịch sử trên vùng lãnh thổ România, cho đến sự thành lập của các tỉnh România mang tên gọi Wallachia bởi Basarab I, và Moldavia bởi Dragoş vào thế kỷ thứ XIII và thứ XIV theo thứ tự được kể.

Vào thời Trung Cổ, người Romani sống trong hai tỉnh độc lập chính: Wallachia (tiếng Romani: Ţara Românească - "Đất của người Romani"), Moldavia (tiếng Romani: Moldova) cũng như tỉnh Transilvania được cai quản bởi Hungary.

Vào năm 1475, Stefan III Đại đế xứ Moldavia đã đại thắng trước quân Ottoman trong trận Vaslui. Tuy nhiên, về sau Wallachia và Moldavia lại dần chịu sự bá chủ của Đế quốc Ottoman trong suốt thế kỷ XV và thế kỷ XVI (năm 1476 đối với Wallachia, Moldavia vào năm 1514), như là những nước chư hầu phải nộp triều cống với quyền tự trị hoàn toàn và sự độc lập đối với bên ngoài cuối cùng mất hẳn vào thế kỷ thứ XVIII.

Một trong những vị vua kiệt xuất của Hungary, Mátyás Corvin (được biết đến trong tiếng România như là Matei Corvin), người trị vì từ 1458-1490, được sinh ra ở Transilvania. Ông tự nhận là người România bởi vì cha ông là người România, Iancu de Hunedoara (Hunyadi János trong tiếng Hungary), và bởi người Hungary vì mẹ ông là người Hungary. Sau này, vào năm 1541, Transilvania trở thành một bang gồm nhiều chủng tộc dưới quyền cai quản của triều đình Ottoman sau trận Mohács.

Cận đại[sửa | sửa mã nguồn]

Lâu đài Peleş Castle - nơi ở của hoàng gia România

Mihail Viteazal (1558-9 tháng 8 năm 1601) là Công tước xứ Wallachia (1593-1601), xứ Transilvania (1599-1600), và xứ Moldavia (1600). Trong suốt triều đại ông 3 tỉnh này được cư ngụ đa số bởi người România lần đầu tiên sống dưới cùng một chế độ cai trị.

Vào năm 1812 đế quốc Nga sát nhập Bessarabia, phân nửa phần phía đông của Moldavia (một phần bị mất do Hòa ước Paris (1856)); vào năm 1775 các hoàng đế nhà Habsburg đã sát nhập phần phía bắc, Bukovina, và Đế quốc Ottoman phần đông-nam, Budjak.

Vào cuối thế kỷ XVIII, triều đình Habsburg đã sát nhập Transilvania vào phần mà sau này trở thành Đế quốc Áo. Trong suốt thời gian thống trị của đế quốc Áo-Hung (1867-1918), người dân România ở vùng Transilvania đã trải qua một sự đàn áp tệ hại nhất dưới hình thức các chính sách Hungary hóa của nhà nước Hungary.

Vương quốc România[sửa | sửa mã nguồn]

Cung Văn hoá Iaşi

Nước România hiện đại được thành lập với sự sát nhập của hai bang Moldavia và Wallachia vào năm 1859 dưới thời Công tước Alexandru Ioan Cuza xứ Moldavia. Ông ta bị thay thế bởi Công tước Karl xứ Hohenzollern-Sigmaringen vào năm 1866. Trong Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ, 1877-78, România chiến đấu ủng hộ phía Nga; trong Hiệp định Berlin, 1878 România được công nhận như là một nước độc lập bởi các nước đế quốc. Để đổi lại việc nhượng cho Nga ba quận phía nam của Bessarabia mà sau này được lấy lại bởi Moldavia sau Chiến tranh Krym vào năm 1852, Vương quốc România đoạt lấy Dobruja. Vào năm 1881 bang này được nâng lên thành một vương quốc và Công tước Carol I trở thành vua Carol I.

România tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất cùng phe với Đồng minh ba bên. Chiến dịch quân sự của România đã kết thúc thảm hại khi quân Liên minh Trung tâm chinh phục phần lớn đất nước và bắt hoặc giết phần lớn quân đội România chỉ trong vòng 4 tháng. Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến, đế quốc Nga hoàng sụp đổ năm 1917 với cuộc Cách mạng Tháng Hai, còn đế quốc Áo-Hung thì tan rã năm 1918. Những sự kiện này cho phép Bessarabia, Bukovina và Transilvania tái gia nhập với Vương quốc România vào năm 1918. Nước Hungary khôi phục sau cuộc chiến đã bãi bỏ các đặc quyền và danh hiệu của Hoàng gia Habsburg trong Hiệp ước Trianon vào năm 1920.

Chiến tranh thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh thổ România trong Chiến tranh thế giới thứ hai

Năm 1940 trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Bắc Bukovina và Bessarabia, Bắc Transilvania và phía nam Dobruja bị chiếm bởi Liên Xô, HungaryBulgaria theo thứ tự kể trên. Vua Carol II độc đoán đã thoái vị vào năm 1940 và những năm sau đó România bước vào cuộc chiến tham gia lực lượng của Phe Trục. Sau sự chiếm đóng của Liên Xô, România lấy lại được Bessarabia và phía bắc Bukovina từ nước Nga Xô-viết, dưới sự lãnh đạo của tướng Ion Antonescu. Đức tặng thưởng lãnh thổ Transnistria cho România. Trong suốt cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền Antonescu, liên minh với phát xít Đức, đã đóng một vai trò trong Holocaust, với các chính sách đàn áp và tàn sát người Do Thái, và ở mức độ thấp hơn là người România. Theo một báo cáo phát hành năm 2004 bởi một cơ quan do cựu Tổng thống Ion Iliescu bổ nhiệm và điều hành bởi Elie Wiesel (người đã từng đoạt giải Nobel), các nhà cầm quyền România là thủ phạm trong việc lên kế hoạch và thực hiện việc giết từ 280.000 đến 380.000 người Do Thái, nguyên trong miền đông România thu lại hay chiếm của Liên Xô, dù trong một số tài liệu ước lượng thương vong trong thế chiến II thậm chí còn cao hơn.

Vào tháng 8 năm 1944 chính quyền Antonescu bị lật đổ, và România gia nhập phe Đồng Minh chống lại phát xít Đức, nhưng vai trò của nước này trong việc đánh bại Đức không được công nhận bởi Hiệp định Hòa bình Paris, 1947.

Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa România[sửa | sửa mã nguồn]

Nicolae Ceaușescu, lãnh đạo România từ năm 1965 cho đến năm 1989.

Vào năm 1947, vua Michael I bị những người Xã hội Chủ nghĩa bắt phải từ bỏ quyền lực và rời khỏi đất nước. Sau đó, România tuyên bố là một nhà nước Cộng hòa và đặt dưới sự quản trị của quân đội Liên Xô cùng nền kinh tế phụ thuộc Liên Xô cho đến thập niên 50 của thế kỷ XX.

Sau cuộc thương thảo về việc rút lui của Liên Xô tại đây vào năm 1958, România - dưới sự lãnh đạo của Nicolae Ceauşescu - bắt đầu theo đuổi những chính sách độc lập hơn với Liên Xô như việc chỉ trích Khối Warszawa can thiệp quân sự vào Tiệp Khắc, tiếp tục duy trì quan hệ ngoại giao với Israel sau Cuộc chiến 6 ngày năm 1967, thiết lập các mối quan hệ kinh tế và ngoại giao với Cộng hòa Liên bang Đức. Ngoài ra, sự hợp tác chặt chẽ với các quốc gia Ả Rập cho phép România đóng vai trò chủ chốt trong tiến trình đối thoại Israel-Ai CậpIsrael-PLO. Tuy nhiên, nợ nước ngoài của România gia tăng không ngừng, từ năm 1977-1981, nợ nước ngoài tăng từ 3 lên 10 tỷ USD, ảnh hưởng của các tổ chức tài chính quốc tế như IMF và Ngân hàng thế giới tăng lên, mâu thuẫn với đường lối chính trị của Nicolae Ceauşescu. Ông đề xướng một dự án cuối cùng để hoàn trả nợ nước ngoài của România bởi các đường lối chính trị trên đã làm nghèo và kiệt quệ România, trong khi mở rộng quyền lực của công an và tệ sùng bái cá nhân. Việc đó đã làm giảm uy tín của Nicolae Ceauşescu và Chính phủ của ông bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính quân sự tháng 12 năm 1989. Ông và vợ bị tử hình sau một phiên xử chiếu lệ chỉ diễn ra hai giờ và không có luật sư bào chữa[34] Tháng 12 năm 1989, chế độ xã hội chủ nghĩa ở România do Nicolae Ceausescu đứng đầu bị sụp đổ, România chuyển sang chế độ đa nguyên, đa đảng.

Hậu Cộng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1990, Ion Iliescu được bầu làm Tổng thống và lấy tên chính thức của nước là Cộng hòa România. Hiến pháp mới được phê chuẩn qua cuộc trưng cầu ý dân năm 1991. Sau khi thay đổi thể chế chính trị, cánh tả đã cầm quyền tại România cho tới cuối 1996. Tháng 11 năm 1996, cánh hữu thắng cử nhưng đã thất bại trong việc phục hồi và quản lý kinh tế - xã hội nên cánh tả trở lại nắm quyền cuối năm 2000. Năm 1995, România đệ đơn xin gia nhập Liên hiệp châu Âu. Năm 1996, România và Hungary ký một hiệp định chung tuyên bố bãi bỏ những tranh chấp (không xâm phạm biên giới và bảo đảm quyền của thiểu số người Hungary sống trong lãnh thổ România). Đảng Dân chủ Cơ Đốc giáo giành thắng lợi trong cuộc bầu cử lập pháp, Emil Constantinescu trở thành Tổng thống. Năm 2000, Ion Iliescu tái đắc cử và trở lại lãnh đạo đất nước. Tuy nhiên, do đời sống nhân dân chậm được cải thiện nên tháng 12 năm 2004 cánh hữu lại thắng cử và cầm quyền cho tới nay. România đã gia nhập NATO từ 29 tháng 3 năm 2004EU từ 1 tháng 1 năm 2007.

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chính trị România
Bài chi tiết: Chính phủ România
Klaus Iohannis Senate of Poland 2015 02 (cropped 2).JPG Viorica Dăncilă.jpg
Klaus Iohannis
Tổng thống
Viorica Dăncilă
Thủ tướng

Khuôn khổ chính trị của România là một nước cộng hòa bán tổng thống, đại nghị, nơi thủ tướng là người đứng đầu chính phủ và tổng thống là người đứng đầu nhà nước. Quyền hành pháp được thực hiện bởi tổng thống nước cộng hòa và chính phủ. România có một hệ thống đa đảng, có quyền lập pháp trong chính phủ và hai viện của Quốc hội: Phòng Đại biểu và Thượng viện. các cơ quan tư pháp là độc lập của cơ quan hành pháp và cơ quan lập pháp. Hiến pháp România năm 1991 (sửa đổi năm 2003) tuyên bố nó một nước cộng hòa dân chủ và xã hội, bắt nguồn của nó từ nhân dân. Theo hiến pháp, "Nhân phẩm, quyền công dân và tự do, sự phát triển không cản trở nhân cách, công lý và đa nguyên chính trị là những giá trị tối cao và được bảo đảm."

Hiến pháp quy định về một Tổng thống, một Quốc hội, một Toà án Hiến pháp và một hệ thống của tòa án riêng biệt bao gồm Tòa án Tối cao. Quyền bỏ phiếu được cấp cho tất cả công dân trên 18 tuổi.

Tổ chức Tình báo Kinh tế đã đánh giá România là nước dân chủ thiếu sót vào năm 2016.

Tổng thống[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tổng thống România

Tổng thống Romania là nguyên thủ quốc gia. Tổng thống được bầu trực tiếp qua hai lần. Một cá nhân có thể phục vụ hai kỳ. Trong nhiệm kỳ của mình, Tổng thống có thể không là thành viên của bất kỳ đảng phái chính trị nào. Tổng thống hiện tại của România là Klaus Iohannis, từ ngày 21 tháng 12 năm 2014.

Quan hệ ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Các nước có cơ quan đại diện ngoại giao thường trú của România

Từ tháng 12 năm 1989, România đã theo đuổi một chính sách tăng cường quan hệ với phương Tây nói chung, cụ thể hơn là với Hoa KỳLiên minh châu Âu, mặc dù vẫn có quan hệ với Nga. Nước này gia nhập NATO ngày 29 tháng 3 năm 2004, Liên minh châu Âu vào ngày 1 tháng 1 năm 2007, gia nhập Quỹ Tiền tệ Quốc tếNgân hàng Thế giới vào năm 1972. România là một thành viên sáng lập của Tổ chức Thương mại Thế giới[35].

Chính phủ hiện nay tuyên bố mục tiêu tăng cường quan hệ với và giúp đỡ các nước khác (đặc biệt là Moldova, UkrainaGruzia) với quá trình hội nhập với các nước phương Tây[36]. Từ những năm 1990, nước này có những đóng góp đáng kể cho NATO và giúp đỡ cho các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ ở Đông Âu và khu vực Kavkaz trở thành thành viên EU [36]. Romania cũng tuyên bố sự hỗ trợ của chính phủ đối với Thổ Nhĩ Kỳ, và việc Croatia gia nhập Liên minh châu Âu[36]. Vì người Hungary là dân tộc thiểu số ở România, nước này cũng đã phát triển mối quan hệ mạnh mẽ với Hungary. Rumani đã chọn ngày 1 tháng 1 năm 2007 để tham gia Khu vực Schengen và đề xuất ​thành viên của họ đã được Nghị viện châu Âu thông qua vào tháng 6 năm 2011, nhưng đã bị Hội đồng châu Âu loại bỏ vào tháng 9 năm 2011.

Tháng 12 năm 2005, Tổng thống Traian Băsescu và Ngoại trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice đã ký một thoả thuận cho phép sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại România, chủ yếu ở phía đông đất nước[37] . Tháng 5 năm 2009, Hillary Clinton, Ngoại trưởng Hoa Kỳ tuyên bố rằng "România là một trong những đối tác đáng tin cậy và đáng kính nhất của Mỹ"[38].

Mối quan hệ với Moldova là một trường hợp đặc biệt. Hai nước này đều chia sẻ cùng một ngôn ngữ và lịch sử chung. Một phong trào thống nhất của Romania và Moldova xuất hiện vào đầu những năm 1990 sau khi cả hai nước từ bỏ chế độ cộng sản[36], nhưng đã bị mất điểm vào giữa những năm 1990 khi một chính phủ Moldova mới theo đuổi một chương trình nghị sự nhằm bảo vệ một nước cộng hòa Moldova độc lập[39]. Sau cuộc biểu tình năm 2009 tại Moldova, quyền lực của đảng Cộng sản bị xóa bỏ, quan hệ giữa hai nước đã được cải thiện đáng kể[40].

Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội România tại Afghanistan năm 2003

Lực lượng vũ trang România bao gồm lục quân, không quân và hải quân, được lãnh đạo bởi một Tổng tư lệnh dưới sự giám sát của Bộ Quốc phòng. Lực lượng vũ trang bao gồm khoảng 15.000 thường dân và 75.000 là quân nhân - 45.800 lực lượng lục quân, 13.250 trong lực lượng không quân, 6.800 trong lực lượng hải quân và 8.800 trong các đơn vị khác[41]. Tổng chi tiêu cho quốc phòng năm 2007 chiếm 2,05% tổng GDP quốc gia, khoảng 2,9 tỷ đô la Mỹ, với tổng số 11 tỷ đô la dành cho việc hiện đại hoá và mua sắm trang thiết bị mới từ năm 2006 đến năm 2011[42].

Rumani đã đóng góp quân đội cho việc gìn giữ hòa bình ở Afghanistan từ năm 2002[43], với sự triển khai tối đa 1.600 quân năm 2010. Nghĩa vụ quân sự của nước này đã kết thúc vào năm 2014[44]. Quân đội România đã tham gia Các cuộc tấn công Iraq, với khoảng 730 lính, trước khi rút xuống còn 350 binh lính. România đã chấm dứt sứ mệnh của mình tại Iraq và rút quân vào ngày 24 tháng 7 năm 2009. Các tàu khu trục HMS Coventry (mua từ Vương quốc Anh) của România tham gia vào can thiệp quân sự năm 2011 tại Libya. Vào tháng 12 năm 2011, Thượng viện România đã nhất trí thông qua dự thảo luật phê chuẩn thoả thuận giữa România và Hoa Kỳ ký kết vào tháng Chín năm đó, cho phép thiết lập và vận hành hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo trên đất liền của Mỹ ở România như là một phần của NATO, nhằm xây dựng một lá chắn tên lửa lục địa[45].

Đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống phân cấp đơn vị hành chính của România khá đơn giản, chỉ gồm 2 cấp:

  • Cấp hạt (județ): Gồm 41 hạt và một đô thị đặc biệt là thủ đô (capitală) Bucharest
  • Cấp xã (comună): Phân loại thành 103 thành phố (municipiu), 217 thị trấn (oraş) và 2856 xã nông thôn (comună)
Vùng Diện tích (km2) Dân số (2011)[46] Thành phố lớn nhất*[47]
Nord-Vest 34.159 2.600.132 Cluj-Napoca (411.379)
Centru 34.082 2.360.805 Brașov (369.896)
Nord-Est 36.850 3.302.217 Iași (382.484)
Sud-Est 35.762 2.545.923 Constanța (425.916)
Sud - Muntenia 34.489 3.136.446 Ploiești (276.279)
București - Ilfov 1.811 2.272.163 Bucharest (2.272.163)
Sud-Vest Oltenia 29.212 2.075.642 Craiova (356.544)
Vest 32.028 1.828.313 Timișoara (384.809)

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kinh tế România
Circle frame.svg

GDP theo lĩnh vực (2015)

  Nông nghiệp (11.8%)
  Công nghiệp (36.1%)
  Dịch vụ (52.1%)
Một góc thành phố Bucharest

România là một trong những nhà sản xuất và xuất khẩu hàng đầu các sản phẩm nông nghiệp ở Châu Âu, chiếm 10% GDP. Diện tích rừng chiếm 40% bề mặt đất nước; Tài nguyên rừng phong phú và nghề đánh cá đang mở rộng. Các mỏ khí tự nhiên và dầu mỏ đóng góp một phần đáng kể vào nhu cầu tiêu dùng hàng ngày, nhưng nước này lại phải nhập khẩu chúng, chủ yếu từ Nga. Để cố gắng giảm sự phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài, các nhà máy điện hạt nhân và thủy điện đã được đẩy mạnh việc hoạt động, và cung cấp 45% năng lượng tiêu thụ trong nước.

Một nông trại ở Transylvania

Ngành công nghiệp chiếm 35% GDP, mặc dù trong thời gian gần đây, các cơ sở được xây dựng trong giai đoạn kinh tế kế hoạch đã trở nên lỗi thời và các nhà máy đã phải đầu tư rất lớn vào hiện đại hóa. Các ngành chính là dệt may, sắt thép, sản xuất máy móc thiết bị và các phương tiện, vũ khí và chế biến sản xuất nông nghiệp.

Một chiếc Dacia Duster của România

Nông nghiệp chiếm khoảng 8,1% GDP. Tính đến tháng 8 năm 2009, gần 30% lực lượng lao động của đất nước được sử dụng trong nông nghiệp, so với tỷ lệ 4-5% của các nước phương Tây. Các sản phẩm nông nghiệp gồm ngô, lúa mì, khoai tây, dầu thực vật, rau và gia súc.

Ngành sản xuất ôtô của România bao gồm các nhà máy chi nhánh của các công ty nước ngoài, mặc dù có một số nhà sản xuất ôtô quan trọng trong nước như Dacia, Ford Romania, Roman BraşovIgero[48]. Trong năm 2013, có khoảng 410.997 xe ô tô đã được sản xuất tại România, tăng từ 78.165 vào năm 2000.

Dịch vụ chiếm 55% GDP, với du lịch là ngành chính. Ngành du lịch đã đóng góp trực tiếp 2,09 tỷ Euro vào GDP năm 2015, cao hơn một chút so với năm 2014. Mức đóng góp của ngành du lịch vào nền kinh tế România bao gồm các khoản đầu tư và chi tiêu được xác định bởi ngành này, đạt được 8,3 tỷ Euro vào năm 2015, tăng 3,4% so với năm 2014. Biển Đen, vùng Đồng bằng sông Danubedãy núi Karpat là những điểm thu hút tự nhiên mà tập trung các ngành du lịch, trong khi ở Transylvania lại tập trung về những di sản văn hóa của vùng.

România cũng có một hải cảng chiến lược cạnh tranh tốt với nhiều quốc gia láng giềng trong việc tiến hành các hoạt động kinh doanh trên biển. Hải cảng Constanta là hải cảng náo nhiệt nhất ở Biển Đen, vượt trội so với những nơi khác. Thêm vào đó, cơ sở hạ tầng của hải cảng và lực lượng lao động được giáo dục đào tạo tốt, có kỹ năng, cũng là nền tảng cho việc phát triển nền kinh tế sản xuất hàng hóa và các hoạt động xuất nhập khẩu.

Sau Thế chiến II, các nguồn lực kinh tế của România đã được quốc hữu hóa và hoạt động theo mô hình kinh tế kế hoạch. Vào năm 1989, với sự sụp đổ của chế độ cộng sản, chính phủ mới đã tiến hành một loạt các cải cách để đưa ra hệ thống kinh tế thị trường . Sau nhiều năm tư nhân hoá và phân cấp, chính phủ România đã có sự can thiệp đáng kể trong nền kinh tế, ngoài một nền kinh tế phong phú hơn trong thời kỳ XHCN, bắt đầu chuyển từ chủ nghĩa cộng sản sang chủ nghĩa tư bản vào cuối năm 1989 [49]. Dẫn đến một cuộc suy thoái 3 năm năm 2000. Kể từ khi kết thúc chủ nghĩa cộng sản, đất nước này đã trải qua hàng loạt các cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị kể từ năm 1990. Một cuộc khảo sát của Viện Điều tra tội ác chủ nghĩa Cộng sản cho thấy 60% người România cho rằng nền kinh tế hoạt động tốt hơn dưới chế độ cộng sản[50] . Cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008/2012 đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến România và chính phủ đã giảm chi tiêu công xuống 1 tỷ euro trong năm 2009 và 3 tỷ trong năm 2010, dẫn tới sự sụt giảm kinh tế của đất nước khoảng 8-8,5% trong năm 2009 của Tổng sản phẩm nội địa.

Giữa năm 2009 và 2013 nhiều công ty bị phá sản. Đất nước này thậm chí còn phải nhờ đến những gói cứu trợ của EUIMF (khoảng 20.000 triệu euro), điều này bắt nguồn từ một loạt các điều chỉnh và cải cách. Lớn nhất là cắt giảm 25% lương công chức và 15% lương hưu, gây ra một làn sóng biểu tình, buộc thủ tướng Emil Boc phải từ chức vào tháng Hai năm 2012[51].

Trong năm 2017, GDP România khoảng 197,004 tỷ USD, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước, trong khi tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống 5,5%. Dưới sự lãnh đạo của Sorin Grindeanu, Thủ tướng România, Chính phủ đã giảm thuế giá trị gia tăng, đồng thời tăng mức lương của công chức và người về hưu. Lạm phát vẫn ở mức dưới 3,5%[52][53].

Đơn vị tiền tệ chính thức của România là leu. Quốc gia này gia dự kiến ​​sẽ thông qua đồng Euro vào năm 2022[54].

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử dân số
Năm Số dân ±%
1866 4.424.961 —    
1887 5.500.000 +24.3%
1899 5.956.690 +8.3%
1912 7.234.919 +21.5%
1930 18.057.028 +149.6%
1939 19.934.000 +10.4%
1941 13.535.757 −32.1%
1948 15.872.624 +17.3%
1956 17.489.450 +10.2%
1966 19.103.163 +9.2%
1977 21.559.910 +12.9%
1992 22.760.449 +5.6%
2002 21.680.974 −4.7%
2011 20.121.641 −7.2%
2016 (est.) 19.474.952 −3.2%
Các số liệu trước 1948 không phản ánh thực tại.
Bản đồ phân bố dân tộc ở România

Tính đến năm 2011, dân số România vào khoảng 20.112.641 người[2]. Giống như các nước khác trong khu vực, con số dân số dự kiến ​​sẽ giảm dần trong những năm tới do tỷ lệ sinh và tỷ lệ di cư giảm. Thống kê vào tháng 10 năm 2011,người România chiếm 88,9% dân số. Các dân tộc thiểu số lớn nhất là người Hungary (chiếm 6,5% dân số), và người Di-gan (chiếm 3,3% dân số)[55] . Người Hungary tại România sinh sống chủ yếu ở HarghitaCovasna. Các dân tộc thiểu số khác gồm người Ukraina, người Đức, người Thổ, người Lippovans, người Arumans, người Tatarngười Serb[56]. Năm 1930, 745.426 người Đức sống ở România[57], nhưng hiện nay chỉ còn lại 36.000 người[56] . Năm 2009, khoảng 133.000 người nhập cư sống ở România, chủ yếu đến từ MoldovaTrung Quốc[58].

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Circle frame.svg

Dân số România theo khu vực

  Đô thị (53.93%)
  Nông thôn (46.7%)

Tiếng România là ngôn ngữ chính thức của nước này, đây là một ngôn ngữ Rôman thuộc nhóm ngôn ngữ gốc Ý của ngữ hệ Ấn-Âu, có nhiều điểm tương đồng với tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nhatiếng Bồ Đào Nha[59], trong đó thứ tiếng này gần với tiếng Ý nhất[59]. Tiếng România được nói như là ngôn ngữ mẹ đẻ của 85% dân số, trong khi tiếng HungaryVlax Romani (một nhánh ngôn ngữ của tiếng România) được nói bởi những người bản xứ, chiếm 6,2% và 1,2% dân số. Có 25.000 người nói tiếng Đức và 32.000 người nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ sống ở România, cũng như gần 50.000 người nói tiếng Ukraina[60], tập trung ở một số khu vực nhỏ gần biên giới, nơi họ chiếm đa số[61]. Hiến pháp hội đồng địa phương quy định phải đảm bảo quyền lợi về ngôn ngữ của tất cả các dân tộc thiểu số, và trong cộng đồng nơi dân tộc thiểu số chiếm hơn 20% dân số nên các ngôn ngữ thiểu số có thể được sử dụng trong mục đích hành chính, hệ thống tư pháp và giáo dục. Người nước ngoài và người không quốc tịch sống ở Romania có quyền tiếp cận công lý và giáo dục bằng ngôn ngữ của họ[62]. Tiếng Anhtiếng Pháp là hai ngoại ngữ chính được giảng dạy tại các trường học[63][64]. Năm 2010, Cộng đồng Pháp ngữ xác định 4.756.100 người nói tiếng Pháp, chiếm 17% dân số. Khoảng 31% dân số nước này nói tiếng Anh[65].

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tôn giáo România
Tôn giáo tại România (2011)
Tôn giáo Tỷ lệ
Chính thống giáo Đông phương
  
81.0%
Công giáo Roma
  
4.3%
Khác
  
1.8%
Vô thần
  
0.2%
Không rõ
  
6.2%
Nhà thờ chính tòa Metropolitan Iaşi, nhà thờ Chính Thống giáo lớn nhất ở România, được xây dựng vào năm 1833.

România là một nhà nước thế tục và không có tôn giáo nào được công nhận quốc giáo. Tuy nhiên, đại đa số công dân của nước này tự nhận mình là Kitô hữu. 86,7% dân số của đất nước được xác định là Chính Thống giáo theo điều tra dân số năm 2002, phần lớn trong số đó thuộc về Giáo hội Chính thống România. Các giáo phái Kitô giáo khác là Tin Lành (5,2%), Công giáo Rôma (4,7%) và Giáo hội Công giáo nghi lễ Hy Lạp (0,9%).[66] Đây cũng là hai tổ chức tôn giáo phải chịu đựng sự đàn áp nặng nề nhất dưới chế độ Cộng sản. Giáo hội Công giáo nghi lễ Hy Lạp vẫn bị cấm bởi chính quyền cộng sản vào năm 1948,[67] sau đó, dưới chế độ Ceauşescu, một số nhà thờ ở Transilvania đã bị phá hủy. Tin Lành và Công giáo cũng tập trung ở Transilvania.

România cũng có một cộng đồng Hồi giáo tập trung ở Dobruja, chủ yếu là người Thổ Nhĩ KỳTatar với dân số 67.500 người.[68] Theo kết quả điều tra dân số năm 2002, có 66.846 công dân România theo đức tin Unitarian (0,3% tổng dân số). Trong tổng số các dân tộc thiểu số nói tiếng Hungary ở România, giáo phái Unitarians đại diện cho 4,55% dân số, là nhóm giáo phái Kitô lớn thứ ba sau Giáo hội Cải cách ở România (47,10%) và Công giáo (41,20%). Từ năm 1700, Giáo hội Unitarian đã có 125 giáo xứ, trong năm 2006, có 110 mục sư Unitarian và 141 nơi thờ tự ở România.

Ngày 27 tháng 12 năm 2006, một Luật mới về tôn giáo đã được phê duyệt, theo đó các giáo phái tôn giáo chỉ có thể nhận được sự công nhận chính thức của nhà nước nếu họ có ít nhất 20.000 thành viên, chiếm khoảng 0,1% tổng dân số của România.[69]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục ở România dựa trên hệ thống giáo dục miễn phí, bình đẳng. Tiếp cận với giáo dục miễn phí được đảm bảo theo Điều 32 trong Hiến pháp România[70]. Giáo dục được quy định và thực thi bởi Bộ Giáo dục quốc gia[71], đều có hình thức tổ chức riêng và chịu sự điều chỉnh của các luật và chỉ thị khác nhau. Kể từ sự sụp đổ của chế độ cộng sản, hệ thống giáo dục România đã được thông qua một số cải cách.

Mẫu giáo là tùy chọn dưới sáu tuổi. Học tập bắt buộc bắt đầu từ sáu tuổi, với "năm học chuẩn bị" (clasa pregătitoare) để vào lớp một. Việc bắt buộc đi học cho đến lớp mười (tương ứng với mười sáu hay mười bảy tuổi). Chu kỳ giáo dục của một học sinh kết thúc vào lớp mười hai, khi sinh viên tốt nghiệp đại học. Giáo dục đại học được sắp xếp vào Khu vực Giáo dục Đại học Châu Âu. Ngoài hệ thống giáo dục chính thức, gần đây đã được thêm vào hệ thống tư nhân, dạy kèm, bán pháp lý và không chính thức.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Văn hóa România

România là một quốc gia đa dạng về văn hóa, thể hiện qua con người, địa lý và lịch sử riêng biệt. Người ta đưa ra giả thuyết và suy đoán rằng người România, (Proto-Romania, bao gồm Aromanians, Megleno-Romania, và Istro-Romania) là hậu duệ của người La Mã và người dân bản địa. Người Daci]], một trong những người bản xứ chủ yếu ở TrungĐông Nam Âu, là một trong những tổ tiên của người Proto-Romania. Người ta tin rằng người La Mã, người Daci, người Slavngười Illyria là tổ tiên của người România, người Aromania (Vlach), người Megleno-Romanians, và người Istro-Romania. Văn hoá România cũng có một số nét tương đồng với các nền văn hoá cổ xưa khác bên ngoài Balkans, chẳng hạn như văn hóa của người Armenia.

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ẩm thực Romania

Ẩm thực Romania là sự kết hợp đa dạng từ nhiều món khác nhau từ một số truyền thống, nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng riêng. Nó có ảnh hưởng lớn bởi ẩm thực Ottoman, ngoài ra nó cũng có ảnh hưởng từ một số ẩm thực của các quốc gia lân cận, bao gồm Đức, Serbia, BulgariaHungary.

Có vài loại món khác nhau, đôi khi thường được diễn tả bằng một thuật ngữ chung; ví dụ, ciorbă bao gồm nhiều loại súp với hương vị chua đặc trưng. Chúng có thể là súp rau, súp nội tạng (ciorbă de burtă) và chân bê, hoặc súp cá, tất cả đều có vị chua từ nước chanh, nước dưa cải Đức, giấm, hoặc borș. țuică (brandy mận) làm thuật ngữ chung cho loại spirit có cồn mạnh tại Romania, trong khi ở các nước khái mỗi loại có tên gọi khác nhau.


Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thể thao România

Thể thao là một phần quan trọng trong nền văn hoá của România. Bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất ở România, các câu lạc bộ thành công nhất là Steaua Bucharest đội bóng Đông Âu đầu tiên giành Cúp châu ÂuSiêu cúp châu Âu năm 1986. Các câu lạc bộ bóng đá quan trọng khác là FC Dinamo Bucureşti, Universitatea Craiova, FC Rapid BucureștiCFR Cluj. România là một trong bốn đội tuyển quốc gia từ châu Âu tham gia World Cup 1930. Các đội bóng đá quốc gia România đã tham gia bảy lần FIFA World Cup và đã thành công nhất trong suốt những năm 1990, khi họ vào vòng tứ kết giải bóng đá vô địch thế giới 1994, và để thua Thụy Điển tại vòng bán kết. Romania được FIFA xếp thứ ba vào năm 1997[72].

Các môn thể thao phổ biến khác bao gồm bóng ném, bóng chuyền, bóng rổ, bóng bầu dục, tennisthể dục dụng cụ[73]. Nhiều vận động viên România đã đạt được thành công đáng kể và đã giành được huy chương tại các kỳ thi quốc tế và châu Âu trong những năm qua. România lần đầu tiên tham gia Thế vận hội Mùa hè 1900 và đã tham gia 21 trong 28 trận đấu. România là một trong trong những nước thành công nhất tại Thế vận hội mùa hè, với tổng số 307 huy chương giành được, 25 trong số những huy chương vàng giành được đều nằm trong thể dục dụng cụ. Các vận động viên România cũng đã giành được huy chương vàng trong các môn thể thao Olympic khác, chẳng hạn như chèo thuyền, đấu vật, bắn súng, đấu kiếm, bơi, ném đĩa, cử tạ, boxingjudo. România cũng là quốc gia thành công nhất trong các giải của Balkan Championships[74].


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Annual official estimate".(PDF) 2017 Revision
  2. ^ a ă “Romanian 2011 census (final results)” (PDF) (bằng tiếng rumænsk). INSSE. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2012.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  3. ^ a ă “Romania”. International Monetary Fund. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2017. 
  4. ^ “2016 Human Development Report Romania” (PDF). United Nations Development Programme. 2016. tr. 2–3. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2017. 
  5. ^ “Gini coefficient of equivalised disposable income (source: SILC)”. Eurostat Data Explorer. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015. 
  6. ^ "Annual official estimate".(PDF) 2017 Revision
  7. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  8. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  9. ^ "Country Comparison : GDP - Real Growth Rate", CIA World Factbook, accessed 26 July 2017”. Cia.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  10. ^ “Explanatory Dictionary of the Romanian Languae, 1998; New Explanatory Dictionary of the Romanian Language, 2002” (bằng tiếng Romania). Dexonline.ro. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  11. ^ Verres, Andréas. Acta et Epistolae I. tr. 243. nunc se Romanos vocant 
  12. ^ Cl. Isopescu (1929). “Notizie intorno ai romeni nella letteratura geografica italiana del Cinquecento”. Bulletin de la Section Historique XVI: 1–90. ... si dimandano in lingua loro Romei ... se alcuno dimanda se sano parlare in la lingua valacca, dicono a questo in questo modo: Sti Rominest ? Che vol dire: Sai tu Romano, ... 
  13. ^ Holban, Maria (1983). Călători străini despre Țările Române (bằng tiếng Romanian) II. Ed. Științifică și Enciclopedică. tr. 158–161. Anzi essi si chiamano romanesci, e vogliono molti che erano mandati quì quei che erano dannati a cavar metalli ... 
  14. ^ Cernovodeanu, Paul (1960). Voyage fait par moy, Pierre Lescalopier l'an 1574 de Venise a Constantinople, fol 48. Studii și materiale de istorie medievală (bằng tiếng Romanian) IV. tr. 444. Tout ce pays la Wallachie et Moldavie et la plus part de la Transilvanie a eté peuplé des colonies romaines du temps de Traian l'empereur ... Ceux du pays se disent vrais successeurs des Romains et nomment leur parler romanechte, c'est-à-dire romain ... 
  15. ^ Ion Rotaru, Literatura română veche, "The Letter of Neacșu from Câmpulung" Lưu trữ 9 June 2011 tại Wayback Machine., București, 1981, pp. 62–65
  16. ^ See, for example, "Rumania: Remarkable Common Ground" Lưu trữ 31 December 2016 tại Wayback Machine., The New York Times (December 21, 1989).
  17. ^ See the Google Ngrams for Romania, Rumania, and Roumania.
  18. ^ “General principles” (bằng tiếng Romanian). cdep.ro. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2009.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  19. ^ “Geography, Meteorology and Environment” (PDF) (bằng tiếng Romanian). Romanian Statistical Yearbook. 2004. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2009.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  20. ^ “Romania Geography”. aboutromania.com. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  21. ^ a ă “Romania's Biodiversity”. Ministry of Waters, Forests and Environmental Protection of Romania (via enrin.grida.no). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2008. 
  22. ^ Romania: largest cities and towns and statistics of their population World Gazetteer
  23. ^ “Romania: Climate”. U.S. Library of Congress. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  24. ^ a ă “Permafrost Monitoring and Prediction in Southern Carpathians, Romania”. CliC International Project Office (CIPO). 22 tháng 12 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008. 
  25. ^ “The 2004 Yearbook” (PDF) (bằng tiếng Romanian). Romanian National Institute of Statistics. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  26. ^ Clima Romaniei | Site-ul Administratiei Nationale de Meteorologie Lưu trữ 22 January 2016 tại Wayback Machine.
  27. ^ “Klimatafel von Rumänien”. Baseline climate means (1961–1990) from stations all over the world (bằng tiếng German). Deutscher Wetterdienst. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  28. ^ “Protected Areas in Romania”. Romanian Ministry of Waters, Forests and Environmental Protection (via envir.ee). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2008. 
  29. ^ a ă “Flora si fauna salbatica” (bằng tiếng Romanian). enrin.grida.no. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2009. 
  30. ^ “EarthTrends: Biodiversity and Protected Areas – Romania” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2008. 
  31. ^ “Bears. Status Survey and Conservation Action Plan.” (PDF). Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 23 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  32. ^ “Canids: Foxes, Wolves, Jackals and Dogs. Status Survey and Conservation Action Plan” (PDF). IUCN/SSC Canid Specialist Group. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 23 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  33. ^ http://news.bbc.co.uk/2/hi/science/nature/3129654.stm Hóa thạch người tại châu Âu - BBC
  34. ^ Jeri Laber The Courage of Strangers
  35. ^ “Understanding the WTO – members”. WTO. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  36. ^ a ă â b “Foreign Policy Priorities of Romania for 2008” (bằng tiếng Romanian). Romanian Ministry of Foreign Affairs. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  37. ^ “Background Note: Romania – U.S.-Romanian Relations”. U.S. Department of State. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  38. ^ [1] Lưu trữ 12 May 2009 tại Wayback Machine.
  39. ^ Gabriel Andreescu; Valentin Stan; Renate Weber (30 tháng 10 năm 1994). “Romania'S Relations with the Republic of Moldova”. International Studies (Centre for International Studies). Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008. 
  40. ^ “Moldova, Romania open new chapter in bilateral relations”. People's Daily. 29 tháng 4 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  41. ^ “Press conference” (Thông cáo báo chí). Ministry of National Defense of Romania. 21 tháng 1 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008. 
  42. ^ “MoND Budget as of 2007” (bằng tiếng Romanian). Ziarul Financiar. 30 tháng 10 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008. 
  43. ^ “Romania: 2 soldiers killed, 1 injured in Afghanistan”. Colorado Springs Gazette. Associated Press. 7 tháng 5 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  44. ^ “Romania To Send 450 More Troops To Afghanistan”. Radio Free Europe/Radio Liberty. 21 tháng 12 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  45. ^ Romania ratifies US missile shield agreement. SpaceWar. 6 tháng 12 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  46. ^ “2011 Regions Population”. INSSE. 4 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2018.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  47. ^ “Population at 20 October 2011” (bằng tiếng Romanian). INSSE. 5 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2018.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp) [liên kết hỏng]
  48. ^ “El Car”. Igero.ro. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011. 
  49. ^ https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/ro.html
  50. ^ http://www.lavanguardia.com/internacional/20130922/54387867414/pobreza-rumania-despierta-nostalgia-dictadura-comunista.html
  51. ^ https://elpais.com/economia/2015/10/02/actualidad/1443795099_892369.html
  52. ^ http://www.lavanguardia.com/lectores-corresponsales/20111219/54242240387/rumania-economia-crecimiento-pib.html
  53. ^ https://www.elconfidencial.com/economia/2017-08-17/pib-espana-lider-crecimiento-economia-recuperacion_1429611/
  54. ^ http://www.abc.es/economia/abci-rumania-confia-adoptar-euro-2022-201708290245_noticia.html
  55. ^ “European effort spotlights plight of the Roma”. usatoday. 10. februar 2005. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  56. ^ a ă Official site of the results of the 2002 Census (Bản báo cáo) (bằng tiếng rumænsk). Bản gốc lưu trữ 5. februar 2012. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate=, |accessdate= (trợ giúp)
  57. ^ “German Population of Romania, 1930–1948”. hungarian-history.hu. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2009.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate=, |accessdate= (trợ giúp)
  58. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên hdrstats.undp.org
  59. ^ a ă Stoica, Vasile (1919). The Roumanian Question: The Roumanians and their Lands. Pittsburgh: Pittsburgh Printing Company. tr. 50. 
  60. ^ “2011 census results by native language” (xls). www.recensamantromania.ro, website of the Romanian Institute of Statistics. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2015. 
  61. ^ “IARNA UCRAINEANĂ - Află care sunt localitățile din Maramureș în care se prăznuiesc sărbătorile de iarnă după rit vechi” [Ukrainian winter: find out in which communes of Maramureș are the Winter holidays celebrated by the old calendar], Infomm.ro, truy cập 5. maj 2015  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  62. ^ “Constitutia României”. Cdep.ro. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  63. ^ “Two-thirds of working age adults in the EU28 in 2011 state they know a foreign language” (PDF). Eurostat. 26 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2014.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  64. ^ “Roumanie - Organisation internationale de la Francophonie”. francophonie.org. 
  65. ^ “EUROPEANS AND THEIR LANGUAGES, REPORT” (PDF). Eurostat. 2012. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2014.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  66. ^ http://www.recensamant.ro/pagini/rezultate.html
  67. ^ Harper-Collins Encyclopedia of Catholicism, 1132; Niessen, "The Greek Catholic Church and the Romanian Nation," 59–60
  68. ^ (Report). Recensamant.ro. Truy cập 2008-01-01
  69. ^ "Romania President Approves Europe's "Worst Religion Law"
  70. ^ “Art. 32 – Dreptul la învățătură”. Constituția României. 
  71. ^ “Misiune”. edu.ro. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2016. 
  72. ^ “Men's Ranking”. FIFA.com. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2014. 
  73. ^ “What’s the most popular sport in Romania?”. CESport.eu. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2016. 
  74. ^ “Romania ranks 1st at Balkan Athletics Championships”. balkan-athletics.eu. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2015.