Bước tới nội dung

Phần Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng hòa Phần Lan
Tên bản ngữ

Quốc ca: 
Maamme (tiếng Phần Lan)
Vårt land (tiếng Thụy Điển)
(tiếng Anh: "Our Land")
Vị trí của Phần Lan (xanh đậm)

  châu Âu (xanh & xám đậm)
 trong Liên minh châu Âu (xanh)   [Chú giải]

Tổng quan
Thủ đô
và thành phố lớn nhất
Helsinki
60°10′15″B 24°56′15″Đ / 60,17083°B 24,9375°Đ / 60.17083; 24.93750
Ngôn ngữ chính thức
 Ngôn ngữ quốc gia được công nhận
Sắc tộc
(2024)[1]
Tôn giáo
(2024)[1]
  • 34.9% không tôn giáo
  • 2.0% tôn giáo khác
Tên dân cưNgười Phần Lan
Chính trị
Chính phủCộng hòa đại nghị đơn nhất[2]
Alexander Stubb
Petteri Orpo
Jussi Halla-aho
Lập phápQuốc hội
Lịch sử
Độc lập 
29 tháng 3 năm 1809
6 tháng 12 năm 1917
17 tháng 7 năm 1919
Địa 
Diện tích 
 Tổng cộng
338.145[4] km2 (hạng 65)
130.596 mi2
 Mặt nước (%)
9,71 (2015)[5]
Dân số 
 Điều tra 2024
Tăng 5.635.971[1]
18,4/km2 (hạng 213)
41/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2024
 Tổng số
Tăng 361,312 tỷ đô la Mỹ[6] (hạng 59)
Tăng 64.657 đô la Mỹ[6] (hạng 24)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2024
 Tổng số
Tăng 306,083 tỷ đô la Mỹ[6] (hạng 48)
 Bình quân đầu người
Tăng 54.773 đô la Mỹ[6] (hạng 16)
Đơn vị tiền tệEuro () (EUR)
Thông tin khác
Gini? (2023)Giữ nguyên 26,6[7]
thấp
HDI? (2023)Tăng 0,948[8]
rất cao · hạng 12
Múi giờUTC+2 (Giờ Đông Âu)
 Mùa  (DST)
UTC+3 (Giờ mùa hè Đông Âu)
Cách ghi ngày thángdd.mm.yyyy[9]
 điện thoại+358
 ISO 3166FI
Tên miền Internet.fi, .axa, .eub
Trang web
finland.fi
  1. Tên miền .ax được sử dụng ở Åland.

Phần Lan,[a] quốc hiệu là Cộng hòa Phần Lan,[b][c] là một quốc gia thuộc khu vực Bắc Âu. Phần Lan giáp với Thụy Điển về phía tây, Nga về phía đông, Na Uy về phía bắc và Estonia về phía nam qua Vịnh Phần Lan. Thủ đô và thành phố lớn nhất của Phần Lan là Helsinki.

Phần Lan là một trong những nước thưa dân nhất tại châu Âu. Tháng 12 năm 2020, dân số của Phần Lan là 5.546.233 người.[10] Với mật độ dân số chỉ khoảng 18 người/km², Phần Lan là nước có mật độ dân số thấp nhất trong Liên minh châu Âu. Tiếng Phần Lan và tiếng Thụy Điển là ngôn ngữ chính thức của Phần Lan.[11]

Trong lịch sử, Phần Lan từng là một phần của Thụy Điển trong một thời gian dài (từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 18) rồi sau đó là một đại công quốc thuộc Đế quốc Nga từ năm 1809 đến năm 1917. Ngày 6 tháng 12 năm 1917, Phần Lan tuyên bố độc lập, trở thành một nước cộng hòa. Năm 1918, Phần Lan rơi vào nội chiến giữa Cộng hòa Công nhân Xã hội chủ nghĩa Phần Lan và Phần Lan Trắng. Sau một nỗ lực ngắn nhằm thiết lập một vương quốc, Phần Lan trở thành một nền cộng hòa. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô liên tục tìm cách chiếm đóng Phần Lan. Phần Lan buộc phải cắt nhượng cho Liên Xô một phần lãnh thổ bao gồm Karelia, Salla, Kuusamo, Petsamo và một số đảo, nhưng vẫn giữ được độc lập. Trong Chiến tranh Lạnh, Phần Lan là một nước trung lập và chuyển đổi nhanh chóng từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế công nghiệp phát triển cao vào hàng bậc nhất châu Âu.

Phần Lan có một nhà nước phúc lợi rộng rãi dựa trên mô hình Bắc Âu, đem lại sự thịnh vượng cho toàn dân và trở thành một trong những nước có thu nhập bình quân đầu người cao nhất trên thế giới.[12] Phần Lan giữ thứ hạng cao trong các bảng xếp hạng quốc tế về giáo dục, khả năng cạnh tranh kinh tế, tự do dân chủ, chất lượng cuộc sống và phát triển con người.[13][14][15][16] Hiện tại, Phần Lan là một nước cộng hòa đại nghị dân chủ. Phần Lan là thành viên của Liên Hợp Quốc từ năm 1955 và gia nhập Liên minh châu Âu vào năm 1995.

Tên gọi

[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi "Phần Lan" trong tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Trung Quốc. Trong tiếng Anh, Phần Lan được gọi là "Finland". Bằng tiếng Trung, "Fin-land" được phiên âm là “芬蘭” (pinyin: "Fēn lán"). “芬蘭” có âm Hán Việt là “Phân Lan”. Do "Phân" là từ tế nhị, “Phân Lan” trong tiếng Việt được gọi chệch thành “Phần Lan”.[17]

Nguồn gốc xa xưa của tên gọi Phần Lan (Finland) được cho là bắt nguồn từ 3 tảng đá khắc chữ Rune (hệ thống chữ cái của người Bắc Âu từ thế kỉ I đến giữa thời Trung Cổ). 2 tảng đá được tìm thấy ở Uppland, một vùng nhỏ thuộc Thuỵ Điển, và trên 2 tảng này có khắc chữ finlonti (U 582). Tảng đá thứ 3 được tìm thấy ở Gotland, khu biển Ban-tích (Baltic Sea). Trên tảng này có khắc từ Finlandi (G319) và có từ thế kỷ 13.[18]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]
Mô phỏng thời kỳ đồ đá tại Kierikki

Khoảng thế kỷ 1, người Phần LanEstonia đến định cư ở các vùng phía Nam và đến khoảng năm 800 thì mở rộng đến vùng Karelia, nơi đã xuất hiện những cư dân khác gốc Phần Lan-Ugria, từ phía Đông đến lập nghiệp. Họ buôn bán lông thú rất phát đạt đến khi bị dân Viking cạnh tranh dần khắp vùng phía Nam. Khoảng năm 1150, vua Erik IX của Thụy Điển tiến hành một cuộc Thập tự chinh nhằm vào những người Phần Lan vô thần.

Những người tiên phong Karelia, tranh của Pekka Halonen (1900)
Viện nguyên lão Phần Lan, năm 1917

Thuộc Thụy Điển

[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc chinh phục Phần Lan của Thụy Điển bắt đầu từ thế kỷ 12 và kết thúc vào năm 1634. Trong cuộc cải cách tôn giáo ở thế kỷ 18, phần lớn người Phần Lan theo giáo phái của Martin Luther. Nga xâm lược phần lớn lãnh thổ của Phần Lan vào năm 1809.

Thuộc Nga

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Chiến tranh Nga – Thụy Điển (1808–1809), Phần Lan trở thành một đại công quốc tự trị thuộc Đế quốc Nga theo quyết định của Nghị viện Porvoo.[19] Phần Lan là một lãnh thổ của Nga cho đến năm 1917.[20] Năm 1812, Aleksandr I sáp nhập tỉnh Vyborg của Nga vào Đại công quốc Phần Lan. Năm 1854, bờ biển Phần Lan và Åland bị hải quân Anh và Pháp ném bom trong Chiến tranh Åland, phát sinh từ Chiến tranh Krym của Đế quốc Nga.[21]

Độc lập và nội chiến

[sửa | sửa mã nguồn]

Phần Lan hoàn toàn độc lập vào năm 1917.

Chiến tranh thế giới thứ hai

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23 tháng 8 năm 1939, Liên XôĐức Quốc XãHiệp ước Xô-Đức, chia cắt châu Âu thành hai vùng ảnh hưởng.[22] Liên Xô phát động Chiến tranh Liên Xô – Phần Lan vào ngày 30 tháng 11 năm 1939 nhằm sáp nhập Phần Lan.[23][24] Vào đầu cuộc chiến, Iosif Stalin thành lập Cộng hòa Dân chủ Phần Lan như một chính phủ bù nhìn để tiếp quản lãnh thổ Phần Lan.[25] Hành vi xâm lược của Liên Xô bị quốc tế lên án và khiến Liên Xô bị Hội Quốc Liên trục xuất.[26] Hồng quân bại trận trong nhiều trận chiến, tiêu biểu là Trận Suomussalmi.[27] Sau hai tháng chịu tổn thất nặng nề về người và vật chất,[28] lực lượng Liên Xô bắt đầu tiến công vào tháng 2 và chiếm Vyborg (tiếng Phần Lan: Viipuri) vào tháng 3. Ngày 12 tháng 3 năm 1940, Phần Lan ký Hòa ước Moskva, buộc phải nhượng lại 9% lãnh thổ cho Liên Xô.[29][30] Từ năm 1939 đến 1944, khoảng 400.000 người phải sơ tán khỏi Karelia.

Tháng 6 năm 1941, Phần Lan liên minh với Đức Quốc Xã và phát động Chiến tranh Tiếp diễn sau khi Đức Quốc Xã xâm lược Liên Xô, với mục tiêu tái chiếm những lãnh thổ đã phải nhượng lại cho Liên Xô.[31] Lực lượng phần Lan chiếm đóng Đông Karelia từ năm 1941 đến năm 1944 và hỗ trợ Lục quân Đức trong Trận Leningrad.[32] Mùa hè năm 1944, Liên Xô phát động chiến dịch Vyborg–Petrozavodsk, tái chiếm Đông Karelia nhưng bị Phần Lan đẩy lùi trong Trận Tali–Ihantala. Thế bế tắc giữa hai bên khiến Phần Lan ký Hiệp định đình chiến Moskva. Trong Chiến tranh Lapland giai đoạn 1944–1945, Phần Lan giao tranh với quân Đức đang rút lui ở miền bắc Phần Lan.

Sau hai cuộc chiến, Phần Lan buộc phải nhượng lại 12% lãnh thổ, bao gồm thành phố lớn thứ hai là Vyborg và cảng không đóng băng là Liinakhamari, đồng thời mất 20% năng lực công nghiệp.[33] 97.000 quân nhân Phần Lan tử trận và Phần Lan buộc phải bồi thường Liên Xô 300 triệu đô la Mỹ theo giá năm 1938, sau đó được giảm xuống 226,5 triệu đô la Mỹ.[34] Tuy nhiên, Phần Lan không bị Liên Xô chiếm đóng và vẫn duy trì nền độc lập. Phần Lan và Vương quốc Anh là hai nước châu Âu duy nhất tham chiến trong Chiến tranh thế giới thứ hai mà không bao giờ bị chiếm đóng.[35]

Chiến tranh Lạnh

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những thập kỷ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng Cộng sản Phần Lan có ảnh hưởng mạnh trên chính trường Phần Lan. Ngoài ra, Liên Xô buộc Phần Lan phải từ chối nhận viện trợ của Kế hoạch Marshall. Tuy nhiên, Hoa Kỳ bí mật viện trợ Phần Lan và ủng hộ Đảng Dân chủ Xã hội Phần Lan nhằm duy trì độc lập Phần Lan.[36]

Trong Chiến tranh Lạnh, Phần Lan có chính sách đối ngoại trung lập. Hiệp ước Phần Lan - Liên Xô năm 1948 công nhận lập trường trung lập của Phần Lan. Từ năm 1956, Tổng thống Urho Kekkonen phụ trách toàn bộ quan hệ đối ngoại với Liên Xô. Chính phủ Phần Lan né tránh những chính sách, tuyên bố có thể bị diễn giải là chống Liên Xô, được báo chí Tây Đức gọi là "Phần Lan hóa".[37]

Các chính sách kinh tế vĩ mô sai lầm, một cuộc khủng hoảng ngân hàng, sự sụp đổ của đối tác thương mại lớn nhất là Liên Xô và một cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu khiến nền kinh tế Phần Lan rơi vào suy thoái nghiêm trọng vào đầu thập niên 1990. Nền kinh tế bắt đầu phục hồi sau năm 1993 và tăng trưởng đều đặn trong hơn một thập kỷ.[38] Phần lớn tăng trưởng kinh tế vào cuối thập niên of 1990 là nhờ thành công của Nokia.[39][40] Sau khi Liên Xô giải thể, Phần Lan bắt đầu hội nhập sâu rộng hơn với phương Tây.[41] Phần Lan gia nhập Liên minh châu Âu vào năm 1995 và Khu vực đồng euro vào năm 1999.

Thế kỷ 21

[sửa | sửa mã nguồn]
Thủ tướng Sanna Marin và Tổng thống Sauli Niinistö tuyên bố Phần Lan có ý định gia nhập NATO vào năm 2022

Sau khi Nga xâm lược Ukraina vào năm 2022, dư luận Phần Lan chuyển sang ủng hộ mạnh gia nhập NATO. Trước tháng 2 năm 2022, các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy đa số dân số Phần Lan phản đối gia nhập NATO;[42] đến tháng 4 năm 2022, tuyệt đại đa số dân số ủng hộ gia nhập NATO.[43][44][45][46] Ngày 11 tháng 5 năm 2022, Phần Lan ký một hiệp ước an ninh chung với Vương quốc Anh.[47] Ngày 12 tháng 5, Tổng thống và Thủ tướng Phần Lan tuyên bố muốn gia nhập NATO "không chậm trễ".[48] Ngày 17 tháng 5, Quốc hội Phần Lan biểu quyết 188–8 tán thành Phần Lan gia nhập NATO.[49] Phần Lan trở thành một nước thành viên NATO vào ngày 4 tháng 4 năm 2023.[50]

Địa lý

[sửa | sửa mã nguồn]
Vườn quốc gia Pyhä-Luosto.
Vườn quốc gia Repovesi ở đông nam Phần Lan.

Phần Lan nằm ở phía Bắc châu Âu giữa vĩ tuyến 60° và 70°. Một phần tư lãnh thổ là nằm phía bắc của Vòng Bắc Cực (vĩ tuyến 66°33' Bắc). Các nước láng giềng của Phần Lan là Thụy Điển, Na Uy, NgaEstonia. Phần Lan thuộc Bắc Âu. Gần 1/3 lãnh thổ của Phần Lan nằm ở phía bắc vành đai Bắc cực. Hồ chiếm 1/10 diện tích của Phần Lan (tổng số khoảng 188.000 hồ). Hồ lớn nhất là hồ Saimaa rộng hơn 4.400 km². Phần Lan có 179.000 đảo khác nhau. Vào mùa đông, vịnh Bothnia ở phía Tây và Vịnh Phần Lan ở phía Nam đóng băng, ở các cảng phải sử dụng tàu phá băng. Đất của Phần Lan là đất băng giá. Trừ khu vực núi cao có đỉnh tới 1.342 m ở phía Tây Bắc, phần lớn diện tích còn lại của Phần Lan là đất thấp.

Khí hậu

[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu Phần Lan mùa hè ấm, mùa đông dài và rất lạnh, nhất là ở phía bắc. Khí hậu Phần Lan có sự khác biệt rõ rệt vào mùa đôngmùa hè, nhiệt độ trung bình hằng năm tại thủ đô Helsinki khoảng 5,3 °C. Nhiệt độ cao nhất vào ban ngày ở miền Nam của Phần Lan đôi khi cũng lên tới 25 °C. Vào mùa đông, nhất là vào những tháng 1, tháng 2, nhiệt độ thông thường là -20 °C. Phía cực bắc của Phần Lan, dưới vòng Bắc Cực, vào mùa hè có đợt Mặt trời không lặn trong khoảng 73 ngày, đó là những ngày "hè đêm trắng", còn vào mùa đông Mặt Trời không mọc trong 51 ngày liền.

Chính trị

[sửa | sửa mã nguồn]

Phần Lan là một nước cộng hòa đại nghị. Hiến pháp Phần Lan hiện hành có hiệu lực vào ngày 1 tháng 3 năm 2000. Về cơ bản, hiến pháp đảm bào các quyền công dân, mọi người bình đẳng trước pháp luật. Quyền lực tối cao nằm trong tay người dân, mà quốc hội là đại diện.

Quốc hội

[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc hội Phần Lan là cơ quan lập pháp đơn viện, gồm 200 nghị sĩ được bầu theo hình thức phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ 4 năm. Quốc hội bầu thủ tướng, sau đó được tổng thống bổ nhiệm vào nội các. Sau cuộc bầu cử quốc hội ngày 19 tháng 4 năm 2015, các ghế trong quốc hội được phân chia như sau:

ĐảngSố ghế
Đảng Trung tâm 49
Đảng Người Phần Lan thực thụ (Perussuomalaiset) 38
Đảng Liên minh dân tộc 37
Đảng Dân chủ xã hội 34
Đảng Liên hiệp xanh 15
Liên minh cánh tả 12
Đảng Người Thụy Điển 9
Liên đoàn Thiên chúa giáo 5
Khác (đại diện tỉnh Åland) 1

Tổng thống

[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống Phần Lan là nguyên thủ quốc gia, được bầu với nhiệm kỳ sáu năm. Kể từ năm 1991, tổng thống không được giữ chức vụ quá hai nhiệm kỳ liên tiếp. Tổng thống phải là người Phần Lan. Các đảng có ít nhất một ghế trong Quốc hội có quyền đề cử tổng thống. Người nào thu thập được ít nhất 20.000 chữ ký cũng có quyền tự ứng cử tổng thống. Tổng thống bổ nhiệm bộ trưởng theo đề nghị của thủ tướng. Trong vài thập kỷ qua, quyền lực của tổng thống đã bị thu hẹp. Trong bản sửa đổi hiến pháp, có hiệu lực vào năm 1991 hoặc 1992 cùng với một hiến pháp mới được soạn thảo năm 2000, được sửa đổi vào năm 2012, chức vụ tổng thống dần dần trở thành một nhân vật mang tính nghi thức. Nhiều tổng thống đã từng là thủ tướng trước khi tiếp nhận chức tổng thống.

Nội các

[sửa | sửa mã nguồn]

Thủ tướng Phần Lan là người đứng đầu chính phủ. Thủ tướng đương nhiệm là Petteri Orpo, nhậm chức kể từ ngày 20 tháng 6 năm 2023.

Ngoại giao

[sửa | sửa mã nguồn]

Rút ra được những bài học kinh nghiệm từ quá khứ của lịch sử, trong nhiều thập kỷ qua, Phần Lan theo đuổi đường lối đối ngoại trung lập; giữ cân bằng trong quan hệ với các nước lớn, các khối; không tham gia các khối quân sự; ủng hộ và thúc đẩy cho các hoạt động vì hoà bình, giải trừ quân bị, làm giảm căng thẳng tình hình quốc tế; ủng hộ đối thoại giữa các nước và khu vực.

Năm 2008, Phần Lan là chủ tịch Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu. Phần Lan là thành viên tích cực của Liên minh châu Âu, ưu tiên quan hệ với các nước láng giềng như các nước Bắc Âu, Nga và các nước ở vùng biển Baltic. Mới đây, Phần Lan thông qua Hiệp ước Lisboa. Hiện nay, Phần Lan đang tham gia vào chương trình Đối tác vì Hoà bình với NATO và Phần Lan gia nhập NATO vào ngày 4 tháng 4 năm 2023 . Chính phủ Phần Lan cũng chú trọng phát triển quan hệ với châu Á, nhất là với các nền kinh tế đang nổi lên để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Phần Lan thâm nhập thị trường, phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh. Phần Lan gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 1950; Liên Hợp QuốcHội đồng Bắc Âu năm 1955; Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế năm 1969; liên kết với Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu năm 1961 và trở thành thành viên đầy đủ năm 1986; ký Hiệp định Tự do thương mại với Cộng đồng Kinh tế châu Âu năm 1973. Phần Lan gia nhập Liên minh châu Âu từ ngày 1 tháng 1 năm 1995EMU từ 1 tháng 1 năm 1999. Ngoài ra, Phần Lan cũng là thành viên Quỹ tiền tệ Quốc tế và nhiều ngân hàng phát triển như Ngân hàng Phát triển châu Á. Sau khi Nga xâm lược Ukraine năm 2022, Phần Lan xin gia nhập NATO.

Phân cấp hành chính

[sửa | sửa mã nguồn]

Phần Lan được chia thành 18 vùng (maakunta, landskap). Chính quyền vùng gồm hội đồng vùng, là diễn đàn hợp tác cho các đô thị của một khu vực. Nhiệm vụ chính của chính quyền vùng là quy hoạch vùng và phát triển doanh nghiệp, giáo dục. Ngoài ra, các dịch vụ y tế công cộng thường được tổ chức trên cơ sở các vùng. Hiện tại, vùng duy nhất tổ chức bầu cử phổ thông hội đồng là Kainuu. Hội đồng vùng khác được bầu bởi các hội đồng thành phố, mỗi đô thị cử đại diện theo tỷ lệ dân số của nó.

500xp
500xp
Vùng Tiếng Phần Lan Tiếng Thụy Điển Thủ phủ
Lapland Lappi Lappland Rovaniemi
Bắc Ostrobothnia Pohjois-Pohjanmaa Norra Österbotten Oulu
Kainuu Kainuu Kajanaland Kajaani
Bắc Karelia Pohjois-Karjala Norra Karelen Joensuu
Bắc Savonia Pohjois-Savo Norra Savolax Kuopio
Nam Savonia Etelä-Savo Södra Savolax Mikkeli
Nam Ostrobothnia Etelä-Pohjanmaa Södra Österbotten Seinäjoki
Trung Ostrobothnia Keski-Pohjanmaa Mellersta Österbotten Kokkola
Ostrobothnia Pohjanmaa Österbotten Vaasa
Pirkanmaa Pirkanmaa Birkaland Tampere
Trung Phần Lan Keski-Suomi Mellersta Finland Jyväskylä
Satakunta Satakunta Satakunta Pori
Tây Nam Phần Lan Varsinais-Suomi Egentliga Finland Turku
Nam Karelia Etelä-Karjala Södra Karelen Lappeenranta
Päijänne Tavastia Päijät-Häme Päijänne-Tavastland Lahti
Tavastia Proper Kanta-Häme Egentliga Tavastland Hämeenlinna
Uusimaa Uusimaa Nyland Helsinki
Kymenlaakso Kymenlaakso Kymmenedalen KotkaKouvola
Đảo Åland[51] Ahvenanmaa Åland Mariehamn

Luật pháp

[sửa | sửa mã nguồn]
Tòa nhà Tòa án tối cao

Hệ thống pháp luật Phần Lan là một hệ thống dân luật. Hệ thống tòa án gồm những tòa án dân sự, hình sự và những tòa án hành chính. Luật Phần Lan dựa trên luật pháp Thụy Điển và rộng hơn là luật La Mã. Hệ thống tòa án dân sự, hình sự gồm các tòa án địa phương, tòa án phúc thẩm khu vực và Tòa án tối cao. Hệ thống tòa án hành chính gồm các tòa án hành chính và Tòa án Hành chính Tối cao. Ngoài các tòa án thông thường, có một số tòa án chuyên trách một số lĩnh vực hành chính. Ngoài ra còn có một Tòa án cấp cao chuyên luận tội quan chức cấp cao bị cáo buộc hình sự.

Khoảng 92% dân số Phần Lan tuyên bố tin tưởng vào lực lượng an ninh.[52] Tỷ lệ tội phạm của Phần Lan nhìn chung là không cao trong số các nước EU. Một số loại tội phạm có tỉ lệ ở trên mức trung bình, đáng chú ý tỷ lệ giết người ở Phần Lan là cao nhất trong số các nước Tây Âu.[53]

Phần Lan đã chiến đấu mạnh mẽ để chống lại tình trạng tham nhũng trong bộ máy chính phủ từ thập niên 1970 và 1980. Ngày nay, Tổ chức Minh bạch Quốc tế xếp hạng Phần Lan là một trong những quốc gia ít tham nhũng nhất ở châu Âu.

Quân đội

[sửa | sửa mã nguồn]

Phần Lan có ngân sách quốc phòng bình quân đầu người thuộc hàng cao nhất trong Liên minh châu Âu.[54] Lực lượng Phòng vệ Phần Lan là một trong những quân đội mạnh nhất tại châu Âu về quân nhân,[55] vũ khí[56] và tinh thần bảo vệ lãnh thổ.[57][58] NATO sẽ thành lập một đơn vị chỉ huy tại Riihimäki vào năm 2027.[59]

Bản đồ tăng trưởng GDP của Phần Lan từ năm 1998 đến 2009.
Trụ sở chính của công ty điện thoại di động Nokia.
Särkänniemi, một công viên giải tríTampere, Phần Lan.

Tính đến năm 2016, GDP của Phần Lan là 239,186 tỷ đô la Mỹ, đứng thứ 44 thế giới và đứng thứ 17 châu Âu.

Từ một nước bị tàn phá sau chiến tranh và phải trả một khoản bồi thường chiến tranh lớn giữa những năm 1940, Phần Lan đã tập trung vào xây dựng đất nước và đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế có sức cạnh tranh và tiềm năng phát triển hàng đầu thế giới với nhiều ngành công nghiệp mũi nhọn truyền thống, có chuyên môn hoá cao như công nghiệp gỗ giấy; luyện kim; đóng tàu và vận tải; cơ khí; điện tử, viễn thông; công nghiệp hoá chất, dược phẩm. Về nông nghiệp, Phần Lan có 2.504 ngàn héc-ta đất trồng trọt (chiếm 8% diện tích), tự túc 85% lương thực.

Chính phủ Phần Lan luôn chú trọng gắn giáo dục với nghiên cứu và sáng tạo phục vụ phát triển kinh tế, trong đó hiện nay tập trung vào công nghệ thông tin. Theo xếp hạng của Ủy ban Sáng tạo châu Âu (EIS), Phần Lan được xếp là nền kinh tế sáng tạo thứ ba thế giới, vượt xa mức trung bình của châu ÂuMỹ, được Diễn đàn Kinh tế Thế giới (2004) đánh giá là đất nước có "văn hóa sáng tạo", trong đó Nokia là một điển hình. Tình hình kinh tế của Phần Lan hiện nay nhìn chung ổn định. Kinh tế Phần Lan đã chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu (thu nhập từ xuất khẩu, chiếm 40% GDP của Phần Lan, đã giảm mạnh). Tuy nhiên, theo đánh giá mới đây của EU, về trung và dài hạn, Phần Lan có nền kinh tế ổn định và vững chắc. Tỷ lệ thất nghiệp năm 2017 là là 7,5%[60] (2010 là 8,4%).

Rừng chiếm 2/3 diện tích của Phần Lan và các sản phẩm gỗ chiếm 45% số ngoại tệ thu được ở Phần Lan. Điện thoại di động Nokia (chính gốc là của Phần Lan) hiện đang chiếm một con số đáng kể trong doanh thu của kinh tế Phần Lan. Chế biến kim loạicơ khí, đặc biệt đóng tàu là các ngành công nghiệp chính của Phần Lan nổi tiếng về chất lượng và thiết kế. Ngoài gỗ, quặng đồngthủy điện, các nguồn tài nguyên khác đều nghèo. Phần Lan có mức sống cao, mặc dù việc buôn bán với Nga, bạn hàng chủ yếu, bị sụp đổ kéo theo những khó khăn nghiêm trọng về kinh tế trong những năm 1991-1992. Công nghiệp đánh cá có quy mô đáng kể. Nông nghiệp sản xuất ra các sản phẩm sữa cho tiêu dùng và cho xuất khẩu.

Các đối tác thương mại lớn nhất của Phần Lan là Đức, Nga, Thụy Điển, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Hà LanTrung Quốc. Phần Lan là nước Bắc Âu duy nhất tham gia Khu vực đồng euro.

Công nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Phần Lan tiến hành công nghiệp hóa nhanh chóng sau Thế chiến II, đạt mức GDP bình quân đầu người ngang bằng với Nhật BảnAnh vào đầu những năm 1970. Ban đầu, phần lớn sự phát triển dựa trên hai nhóm ngành công nghiệp phục vụ xuất khẩu, là "công nghiệp kim loại" (metalliteollisuus) và "công nghiệp rừng" (metsäteollisuus). Các "ngành công nghiệp kim loại" bao gồm đóng tàu, gia công kim loại, ngành công nghiệp xe hơi, các sản phẩm thiết kế như động cơ và điện tử, và sản xuất kim loại (thép, đồng và crom). Những con tàu du lịch lớn nhất thế giới được chế tạo tại các xưởng đóng tàu của Phần Lan. "Ngành công nghiệp rừng" bao gồm lâm nghiệp, gỗ, bột giấy và giấy, và là một sự phát triển hợp lý dựa trên nguồn tài nguyên rừng rộng lớn của Phần Lan (77% diện tích được bao phủ bởi rừng, phần lớn là sử dụng tái tạo). Trong ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nhiều công ty lớn nhất có trụ sở tại Phần Lan (Ahlstrom, Metsä Board, và UPM). Tuy nhiên, nền kinh tế Phần Lan đang dần đa dạng hóa, mở rộng sang các lĩnh vực khác như điện tử (như Nokia), đo lường (Vaisala), nhiên liệu vận tải (Neste), hóa chất (Kemira), tư vấn kỹ thuật (Pöyry) và công nghệ thông tin (ví dụ Rovio Entertainment, nổi tiếng với tựa game Angry Birds), và không còn bị chi phối bởi hai ngành công nghiệp kim loại và rừng. Tương tự như vậy, cấu trúc đã thay đổi, với tỉ trọng các ngành dịch vụ ngày càng tăng, và với việc công nghiệp sản xuất ngày càng giảm tầm quan trọng; nông nghiệp thì chỉ chiếm một phần nhỏ.

Thương mại

[sửa | sửa mã nguồn]
Đường Aleksanterinkatu, một con đường thương mại ở Phần Lan.

Thương mại đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Phần Lan, trong đó xuất khẩu chiếm tỷ trọng GDP cao. Ba ngành xuất khẩu quan trọng trong nền kinh tế Phần Lan là: Các sản phẩm thép, máy móc và thiết bị vận tải (chiếm 31,1% xuất khẩu); Thiết bị quang học và điện tử (chiếm 28% xuất khẩu); và sản phẩm giấy và gỗ (chiếm 20,3% xuất khẩu). Công nghiệp Phần Lan phụ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu nguyên liệu thô, máy móc và phụ kiện cần thiết cho sản xuất các sản phẩm tiêu thụ trong nước cũng như cho xuất khẩu. Các thị trường xuất khẩu chính của Phần Lan là Đức, Thuỵ Điển, NgaMỹ. Các đối tác nhập khẩu chính là Đức (15,8%), Nga (14%), Thụy Điển (13,7%) và Hà Lan (6,8%).

Chính sách ODA

[sửa | sửa mã nguồn]

Phần Lan luôn coi trọng chính sách viện trợ và hợp tác phát triển, coi đây là một phần quan trọng trong chính sách đối ngoại của mình. Thông qua viện trợ phát triển, Phần Lan mong muốn hỗ trợ các nước nghèo cải thiện điều kiện kinh tế xã hội, qua đó tăng cường khả năng thu hút đầu tư và thương mại của các nước này ("aid for trade"), hướng tới xoá bỏ tình trạng nghèo đói trên thế giới. Ngày 18 tháng 10 năm 2007, chính phủ Phần Lan đã thông qua Chương trình chính sách phát triển (Development Policy Programme) mới với chủ đề "Toward a Sustainable and Just World Community"(Hướng tới một cộng đồng thế giới công bằng và bền vững). Mục tiêu chính của chính sách phát triển mới này là xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững phù hợp với các mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2009, viện trợ phát triển của Phần Lan đạt 0,5% GDI. Phần Lan cam kết tăng viện trợ phát triển lên 0,58% GDI năm 2011 và 0,7% GDI năm 2015. Hiện nay, hợp tác phát triển của Phần Lan tập trung vào 8 nước đối tác dài hạn gồm: Mozambique, Tanzania, Ethiopia, Zambia, Kenyachâu Phi; Nicaraguachâu Mỹ Latin; Việt NamNepalchâu Á.

Phần Lan đón hơn 3 triệu du khách nước ngoài trong năm 2017, trong đó có khoảng 1,5 triệu đến từ các nước Liên minh châu Âu.[61] Năm 2013, giá trị của ngành du lịch chiếm khoảng 2,5% GDP của Phần Lan, và cung cấp khoảng 136 700 việc làm.[62]

Cảnh quan chiếm ưu thế tại Phần Lan là những cánh rừng thông dày và những ngọn đồi thoai thoải, cùng với một số lượng rất lớn các hồ nước và những con lạch. Phần lớn lãnh thổ Phần Lan là nguyên sơ và hoang sơ, bao gồm 40 công viên quốc gia từ bờ biển phía Nam của Vịnh Phần Lan đến vùng núi cao Lapland. Phần Lan cũng có các vùng dân cư với nhiều sự kiện và hoạt động văn hóa.

Các chuyến du lịch thương mại giữa các thành phố cảng biển và ven biển lớn ở khu vực Baltic, bao gồm Helsinki, Turku, Tallinn, StockholmTravemünde, đóng một vai trò quan trọng trong ngành du lịch địa phương. Phần Lan được coi là quê hương của Thánh Nicholas hay Ông già Noel, sống ở vùng Lapland phía bắc.[63] Ông già Noel thường được cho là sống ở Rovaniemi vùng Lapland phía bắc Phần Lan. Ở thị trấn Rovaniemi còn có một ngôi làng gọi là Làng Santa Claus cho khách du lịch đến tham quan.

Khu vực nằm bên trong Vòng Bắc Cực, vào giữa mùa đông thường xảy ra hiện tượng đêm vùng cực, một khoảng thời gian mà mặt trời không mọc trong nhiều ngày hoặc vài tuần, hoặc thậm chí hàng tháng, vào giữa mùa hè thì lại có hiện tượng ban ngày vùng cực, khi mà mặt trời vẫn có thể chiếu sáng ngay cả khi nửa đêm (73 ngày liên tục, tại điểm cực bắc). Hiện tượng cực quang cũng thường xuyên xuất hiện ở vùng phía bắc đất nước vào một thời điểm nhất định trong năm, đây cũng là thời điểm thu hút khách du lịch.

Ngoài ra, vào mùa đông, Phần Lan mang đến cơ hội trượt tuyết băng đồng và trượt tuyết trên núi cao. Nhiều khu nghỉ mát trượt tuyết nổi tiếng nằm ở phía bắc của vòng Bắc cực ở Lapland, ngoài ra còn có khu trượt tuyết Kuusamo ở phía đông bắc của tỉnh Oulu và Himos ở Jämsä, chỉ cách Helsinki 200 km về phía bắc.

Nhân khẩu

[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số Phần Lan theo lục địa nguồn gốc (2025)[64][65]

  Phần Lan (88.3%)
  Khu vực khác của châu Âu (5.6%)
  Châu Á (4.2%)
  Châu Phi (1.4%)
  Châu Mỹ (0.3%)
  Châu Đại Dương (0.1%)

Dân số của Phần Lan xấp xỉ 5.500.000 người. Phần Lan là nước lớn thứ 6 ở châu Âu, mật độ dân số trung bình 18 người/km². Hầu hết người Phần Lan, khoảng 54% sống ở ngoại ô, trong đó 26% sống ở khu vực vùng xa thành phố. Thành phố Helsinki có số dân khoảng 626.305 người, Espoo có khoảng 267.906 người và Vantaa có khoảng 212.473 người; một số các thành phố lớn khác là Tampere với số dân 223.238 người, Bắc Oulu 196.860 người, Turku 184.190 người, Jyväskylä 135.591 người và Kuopio là 111.000 người.

  • Có khoảng 1,8 triệu gia đình ở Phần Lan. Trong số đó các gia đình có trẻ em chiếm khoảng 1,9%. Vào năm 1960 con số đó là 2,27%. Năm 1999 số lực lượng lao động nữ chiếm 2.5 triệu người. Mức thu nhập của họ chiếm 80% so với nam giới và tuổi thọ của nữ giới cũng cao hơn nam. Trung bình tuổi thọ của nữ giới là 83 trong khi nam giới là 76. Trong cuộc bầu cử quốc hội năm 1999, nữ chiếm 74 ghế trong tổng số 200.
  • Chính sách phúc lợi xã hội của Phần Lan rất tốt. Trẻ em khi sinh ra được chính phủ trợ cấp 100 Euro/tháng cho đến khi đủ 18 tuổi. Phụ nữ mang thai được nghỉ 20 tuần nhưng vẫn được trả 100% lương.

Số lượng người nước ngoài sống tại Phần Lan khoảng 322,700 người vào năm 2014, chủ yếu tới từ Nga, Estonia, Somalia, Iraq và Nam Tư.[66]

Tôn giáo

[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn giáo tại Phần Lan (2025)[64]

  Giáo hội Luther Phúc âm (61.2%)
  Giáo hội Chính thống giáo (1.0%)
  Hệ phái Kitô giáo khác (1.0%)
  Hồi giáo (0.5%)
  Tôn giáo khác (0.4%)
  Không tôn giáo (35.9%)

Phần Lan là một trong các nước có tỉ lệ dân số theo tôn giáo lớn nhất châu Âu, tuy tỉ lệ này đang giảm. Năm 2014, khoảng 74% dân số thuộc Giáo hội Luther và khoảng 2% thuộc các nhánh Kitô giáo khác, hay các cộng đồng tôn giáo khác. Khoảng 23,5% dân số không theo tôn giáo nào. Giáo hội Chính thống giáo Phần Lan chỉ có dưới 60.000 tín đồ, tức là khoảng 1.1% dân số. Tự do tín ngưỡng ở Phần Lan đã được bảo đảm từ năm 1923. Sự mộ đạo của Phần Lan đã được mô tả một cách khá đúng là "theo đạo nhưng không thường xuyên dự lễ", vì phần lớn người dân không thường xuyên dự các buổi lễ hàng tuần tại nhà thờ. Vai trò của nhà thờ trong đời sống ở Phần Lan được thể hiện rõ hơn trong các sự kiện hàng năm như lễ Giáng Sinh, lễ Phục Sinh, và trong các sự kiện quan trọng trong gia đình như lễ báp têm, lễ kiên tín, lễ cưới, và lễ tang.

Nhà thờ cổ Petäjävesi, một di sản UNESCO.

Kitô giáo du nhập vào Phần Lan vào thế kỷ 11 từ cả hai phía Đông và Tây, khi đó Phần Lan thuộc ảnh hưởng của Thụy Điển. Vua Thụy Điển Gustavus Vasa, người trị vì trong thế kỷ 16, quyết định ủng hộ cuộc Cải cách Tin Lành trong vương quốc của mình, kết quả là tài sản của Giáo hội Công giáo ở Phần Lan bị tịch thu và Giáo hội Luther dần được thiết lập là giáo hội dân tộc cùng với Giáo hội Chính thống giáo Phần Lan sau này.

Nhà thờ chính tòa Turku, trung tâm của Giáo hội Lutheran tại Phần Lan.

Trong một thời gian dài, Giáo hội đảm trách các chức năng quan trọng của xã hội như hành chính địa phương và giáo dục, trong khi đó Nhà nước tham gia một phần trong các vấn đề như hành chính, tài chính và điều lệ của Nhà thờ. Giáo hội Tin Lành Lutheran Phần Lan và Giáo hội Chính thống giáo Phần Lan tiếp tục giữ vai trò đặc biệt, như trong trường học và các nghi lễ quốc gia.

Tín đồ của hai nhà thờ này trả một khoản lệ phí thành viên dưới dạng thuế nhà thờ khoảng từ 1 đến 2.25%, tùy theo từng giáo xứ, được thu cùng với thuế thu nhập. Ngoài ra, các nhà thờ còn được hưởng một phần nhỏ trong thuế doanh nghiệp do các công ty, tập đoàn hay các tổ chức tương tự như vậy đóng góp. Khoản tiền này được dùng để hỗ trợ quản lý các hoạt động phát triển xã hội của nhà thờ như tạo việc làm cho thanh thiếu niên, công việc xã hội, tu sửa nghĩa trang, duy trì sổ đăng ký của nhà thờ, tu sửa các khu nhà lịch sử.

Ngôn ngữ

[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Phần Lantiếng Thụy Điển là ngôn ngữ chính thức của Phần Lan. Tiếng Phần Lan là thành viên của hệ ngôn ngữ Ural. Tiếng Phần Lan, tiếng Estonia nằm trong một nhánh; tiếng Hungary thuộc nhóm lớn trong nhóm ngôn ngữ người Ugri. Một tiếng bản xứ nữa là tiếng Sami được sử dụng bởi những người Sami, còn được biết đến là người Lapp (miền Bắc của Scandinavia). Tiếng Thụy Điển xuất hiện ở Phần Lan do có lịch sử trước đây, thời kỳ đầu thế kỷ 13 cho đến năm 1809, lúc đó Phần Lan là một phần của lãnh địa Thụy Điển.

Giáo dục

[sửa | sửa mã nguồn]
Đại học Khoa học Ứng dụng LAB ở Lappeenranta.[67]

Giáo dục ở Phần Lan là hoàn toàn miễn phí. Chương trình mầm non được dành cho trẻ từ 4 tuổi đến 6 tuổi. Chương trình giáo dục toàn diện bắt buộc trong 9 năm bắt đầu từ 7 tuổi và kết thúc vào 16 tuổi. 6 năm đầu tiên học sinh sẽ được học với 1 giáo viên duy nhất dạy các môn (trừ các môn năng khiếu), 3 năm cuối cấp sẽ được học theo từng giáo viên bộ môn như: Toán, Khoa học, Kinh tế gia đình,... Đại học hoặc học nghề sau phổ thông (bắt buộc) được thực hiện ở năm 17 tuổi. Các trường đại học ở Phần Lan:

Phần Lan có một trong những hệ thống an sinh xã hội rộng rãi nhất thế giới, một hệ thống đảm bảo tốt điều kiện sống cho tất cả người dân. Kể từ những năm 1980, an sinh xã hội đã được cắt giảm, nhưng hệ thống an sinh xã hội của Phần Lan vẫn là một trong những hệ thống an sinh xã hội phát triển toàn diện nhất và tiến bộ nhất trên thế giới. Hệ thống an sinh xã hội (giáo dục, y tế, phúc lợi) của Phần Lan được hình thành trong 3 thập niên đầu tiên sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, ngày càng được bổ sung, hoàn chỉnh.

Kế hoạch hưu trí của Phần Lan được hình thành từ năm 1937, đến năm 1957, chính phủ Phần Lan thiết lập một kế hoạch lương hưu cải thiện tạo cơ sở để hình thành Luật Hưu trí quốc gia. Vào đầu thập niên 60, kế hoạch lương hưu được bổ sung thêm quỹ lương hưu tư nhân. Trợ cấp thất nghiệp được hình thành vào năm 1959 và 1960, đổi mới vào năm 1972. Trong những thập niên 50 và 60, việc xây dựng mạng lưới bệnh viện, giáo dục nhân sự về y tế được thực hiện nhiều hơn. Hệ thống trợ cấp nhà ở được mở rộng trong thập niên 60, hướng tới toàn bộ dân cư. Từ năm 1963 tới đầu thập niên 70, hệ thống bảo hiểm sức khỏe được thiết lập. Các quan chức y tế bắt đầu nhấn mạnh đến các bệnh viện địa phương nhỏ hơn.

Vào thập niên 80, chi phí xã hội ở Phần Lan chiếm khoảng 24% GDP. Chưa tới 10% chi phí này do những người lao động trả, phần còn lại do nhà nước và chủ lao động trả. Cuối thập niên 80, Bộ Quan hệ xã hội và Sức khỏe định hướng hệ thống phúc lợi thông qua năm vụ: Bảo hiểm xã hội, Phúc lợi xã hội, Y tế, Chính sách chất cồn và điều độ, và Lao động. Trong chính sách xã hội, có 3 ban chủ yếu chịu trách nhiệm về phúc lợi xã hội, y tế và bảo hộ lao động. Các quan chức cấp tỉnh giám sát các chính quyền địa phương – các chính quyền tự trị – cung cấp chăm sóc xã hội. Đầu thập niên 80, nhà nước chi trả 30% cho lương hưu và các dịch vụ xã hội, chủ lao động trả 40%, chính quyền địa phương 15% và người nhận dịch vụ trả phần còn lại. Mọi người dân ở Phần Lan không phải trả tiền cho giáo dục ở bất kỳ mức học nào, kể cả khi theo học trường y hay trường luật. Người về hưu ở Phần Lan được chăm sóc tốt, còn người thất nghiệp được hưởng mức trợ cấp thất nghiệp rất cao.

Biểu tượng quốc gia

[sửa | sửa mã nguồn]

Trinh nữ Phần Lan (tiếng Phần Lan: Suomi-neito, tiếng Thụy Điển: Finlands mö) là một cô gái trẻ được xây dựng thành một hình tượng quốc gia của Phần Lan, biểu thị sự hiện thân của Phần Lan.

Văn học

[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù được ghi nhận là một trong những nền văn học xuất hiện muộn nhất địa vực Âu châu, nhưng Phần Lan thường được mệnh danh Ngôi sao phương Bắc vì những thành tựu khiến nhiều nền văn học lâu đời phải ganh tị. Cái bất thường của nền văn học từ khi ra đời đến nay là hầu như không song hành ngôn ngữ bản địa, cho dù ngôn ngữ Phần Lan cũng có lịch sử ít nhất một thiên niên kỷ. Trong thực tế, các giá trị tạo nên văn học Phần Lan lại không hữu hạn trong quốc thổ mà tỏa ra Thụy Điển, Estonia, Nga và đặc biệt Karjala - miền đất huyền thoại này được coi là khởi thủy dòng văn học tiếng Phần Lan. Do vậy, thuật ngữ văn học Phần Lan còn có tính quốc tế khá cao.

Do nhiều biến cố lịch sử, văn học Phần Lan được cấu thành trên ba ngôn ngữ: Thụy Điển, Phần LanNga. Vì thế, đôi khi Phần Lan được giới phê bình gọi vui là nền văn học chân thiên nga.[68] Trong đó, văn học tiếng Thụy Điển có giá trị cao nhất và khối lượng cũng đồ sộ hơn cả. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chính phủ Phần Lan cùng các cơ quan đặc trách văn hóa đã ra sức nâng tầm tiếng Phần Lan thành quốc ngữ, qua đó dòng văn học tiếng Phần Lan có sự tăng trưởng mạnh hơn các thời trước. Tuy nhiên, dòng nghệ thuật này lại phổ biến ở KarjalaEstonia hơn.

Ngày nay, văn học Phần Lan được san xẻ chung giữa Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, NgaEstonia như bộ phận rất quan trọng cấu thành văn hóa mỗi quốc gia. Tại Latvia, Litva, BelarusBa Lan, thậm chí Komi từ đầu thập niên 1990 đã diễn ra những tranh luận sôi nổi trong vấn đề có hay không công nhận dòng văn học Phần Lan từng tồn tại trong diễn trình lịch sử văn học xứ mình, nhiều quan điểm cho rằng đã tới lúc cần chấp nhận nó như một đặc tính bản địa thay vì coi là ngoại lai.

  1. tiếng Phần Lan: Suomi [ˈsuo̯mi] ; tiếng Thụy Điển: Finland phát âm tiếng Thụy Điển: [ˈfinlɑnd]
  2. tiếng Phần Lan: Suomen tasavalta; tiếng Thụy Điển: Republiken Finland; listen to all
  3. "Republic of Finland", or Suomen tasavalta in Finnish, Republiken Finland in Swedish, and Suoma dásseváldi in Sami, is the long protocol name, which is however not defined by law. Legislation recognizes only the short name.
  1. Includes Finland-Swedes, Romani, Tatar and Sámi people.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 3 "Number of foreign-language speakers exceeded 600,000 during 2024". Population structure. Statistics Finland. ngày 4 tháng 4 năm 2025. ISSN 1797-5395. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2025.
  2. Nousiainen, Jaakko (tháng 6 năm 2001). "From semi-presidentialism to parliamentary government: political and constitutional developments in Finland". Scandinavian Political Studies. 24 (2): 95–109. doi:10.1111/1467-9477.00048. ISSN 0080-6757.
  3. The Soviet Russia's recognition of Finland's independence Dec. 1917 - Jan. 1918, lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2024, truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2024
  4. "Finland". Central Intelligence Agency. ngày 8 tháng 8 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2021 qua CIA.gov.
  5. "Surface water and surface water change". Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2020.
  6. 1 2 3 4 "World Economic Outlook Database, October 2024 Edition. (Finland)". www.imf.org. Quỹ Tiền tệ Quốc tế. ngày 22 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2024.
  7. "Gini coefficient of equivalised disposable income". Eurostat. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2024.
  8. "Human Development Report 2025" (PDF). Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc. ngày 6 tháng 5 năm 2025. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2025.
  9. Ajanilmaukset Lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2017 tại Wayback Machine Kielikello 2/2006. Institute for the Languages of Finland. Retrieved 20 October 2017
  10. https://danso.org/phan-lan/
  11. "Like Finnish and Estonian, it belongs to the Uralic language family, its closest relatives being Mansi and Khanty. It is the most widely-spoken of the several European languages not part of the Indo-European family"
  12. "Finland". International Monetary Fund. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2013.
  13. "Finland: World Audit Democracy Profile". WorldAudit.org. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2013.
  14. "Tertiary education graduation rates—Education: Key Tables from OECD". OECD iLibrary. ngày 14 tháng 6 năm 2010. doi:10.1787/20755120-table1. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2011.
  15. "Her er verdens mest konkurransedyktige land—Makro og politikk". E24.no. ngày 9 tháng 9 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2011.
  16. "The 2009 Legatum Prosperity Index". Prosperity.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  17. Trần Văn Chánh. Từ điển Hán-Việt — Hán ngữ cổ đại và hiện đại. Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa. Năm 2014. Trang 2422.
  18. "National Archies Services, Finland (in English)". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2017.
  19. Merivirta, Raita; Koivunen, Leila; Särkkä, Timo (ngày 1 tháng 1 năm 2022). Finnish Colonial Encounters: From Anti-Imperialism to Cultural Colonialism and Complicity (bằng tiếng Anh). Springer Nature. tr. 43. ISBN 978-3-030-80610-1. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2024.
  20. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "tif"
  21. Junnila, Olavi (1986). "Autonomian rakentaminen ja kansallisen nousun aika". Suomen historia 5 (bằng tiếng Phần Lan). Helsinki: Weilin + Göös. tr. 151. ISBN 951-35-2494-9.
  22. The secret pact that ushered in World War II and changed Europe Lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2024 tại Wayback Machine. Share America, U.S. Department of State. 19 August 2022.
  23. Manninen (2008), pp. 37, 42, 43, 46, 49
  24. "How Finland protected its WW2 independence during the Winter War". Sky HISTORY TV channel (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2025.
  25. Tanner, Väinö (1956). The Winter War: Finland Against Russia, 1939–1940, Volume 312. Palo Alto: Stanford University Press. tr. 114.
  26. History.com (2009): USSR expelled from the League of Nations Lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2024 tại Wayback Machine. A&E Television Networks.
  27. Simons, Paul (ngày 30 tháng 11 năm 2024). "Winter war: Snow skills gave Finland advantage over Soviet invaders in 1939". www.thetimes.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2025.
  28. Trotter (2002), pp. 234–235
  29. "USSR and Finland signed the Moscow Treaty". Presidential Library (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2025.
  30. The Editors of Encyclopaedia Britannica. "Russo-Finnish War". Encyclopedia Britannica, 14 January 2025, https://www.britannica.com/event/Russo-Finnish-War Lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2025 tại Wayback Machine. Accessed 9 April 2025
  31. Michael Jones (2013). "Leningrad: State of Siege". Basic Books. p. 38. ISBN 0-7867-2177-4
  32. Brinkley, Douglas; Haskew, Michael E. (2004), The World War II. Desk Reference, Grand Central Press, tr. 210
  33. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên ":42"
  34. "Gamla hamn i Jakobstad". www.gamla-hamn.fi. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2025.
  35. aucor (ngày 16 tháng 6 năm 2009). "Defensive victory led the way to peace". thisisFINLAND (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2026.
  36. Hidden help from across the Atlantic Lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2007 tại Wayback Machine, Helsingin Sanomat.
  37. Ford, Hal (tháng 8 năm 1972). ESAU -LVI – FINLANDIZATION IN ACTION: HELSINKI'S EXPERIENCE WITH MOSCOW (PDF). DIRECTORATE OF INTELLIGENCE. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2020.
  38. Uusitalo, Hannu (tháng 10 năm 1996). "Economic Crisis and Social Policy in Finland in the 1990s" (PDF). Working Paper Series. SPRC Discussion Paper No. 70. ISSN 1037-2741. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  39. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "infoFinland.fi"
  40. Kelly, Gordon. "Finland and Nokia: an affair to remember". Wired (bằng tiếng Anh). ISSN 1059-1028. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2025.
  41. formin.finland.fi Lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2016 tại Wayback Machine; Suurlähettiläs Jaakko Blomberg: Kylmän sodan päättyminen, Suomi ja Viro – Ulkoasiainministeriö: Ajankohtaista. Retrieved 18 May 2016.
  42. "MTV Uutisten kysely: Nato-jäsenyyden kannatus on noussut 30 prosenttiin, vastustus laskenut selvästi – "Turvallisempaa olisi lännen kanssa"". mtvuutiset.fi (bằng tiếng Phần Lan). ngày 26 tháng 1 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2023.
  43. "MTV:n kysely: Nato-jäsenyyttä kannattaa 68 prosenttia suomalaisista – Venäjän vastatoimet huolestuttavat". mtvuutiset.fi (bằng tiếng Phần Lan). ngày 11 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2023.
  44. "Ukraine War: Finland to decide on Nato membership in weeks says PM Marin". BBC News. ngày 13 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2022.
  45. Gramer, Robbie (ngày 22 tháng 4 năm 2022). "'Thanks, Putin': Finnish and Swedish Lawmakers Aim for NATO Membership". Foreign Policy. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2022.
  46. Askew, Joshua (ngày 29 tháng 4 năm 2022). "NATO chief says Finland and Sweden could join 'quickly' as both warm to membership". Euronews. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2022.
  47. "UK agrees mutual security deals with Finland and Sweden". BBC. ngày 11 tháng 5 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2022. The UK has agreed mutual security pacts with Sweden and Finland, agreeing to come to their aid should either nation come under attack. UK Prime Minister Boris Johnson visited both countries to sign the deals, amid debate about them joining Nato.
  48. "Finland's leaders call for NATO membership 'without delay'". AP NEWS (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 5 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2022.
  49. "Finland's Parliament approves Nato application in historic vote". Yle News. ngày 17 tháng 5 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2022.
  50. Finland and Nato Lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2022 tại Wayback Machine. Finnish Government 3 April 2023. Retrieved 4 April 2023.
  51. Vai trò của các hội đồng khu vực phục vụ trên lục địa Phần Lan nằm trên quần đảo Åland do Chính phủ tự trị Åland quản lý.
  52. Policing corruption, International Perspectives.
  53. "The Burden of Crime in the EU. Research Report: A Comparative Analysis of the European Crime and Safety Survey (EU ICS) 2005" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2010.
  54. "Tilastokeskus - Työvoimakustannukset puuttuvat puolustusmenoista". stat.fi (bằng tiếng Phần Lan). Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2026.
  55. "Finland to raise wartime strength to 280,000 troops". ngày 17 tháng 2 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2022.
  56. "Suomella on järisyttävän suuri ja kadehdittu tykistö". Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2022.
  57. "Video: Finland's president responds to Russian military activity along border". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
  58. Chertok, Paula (ngày 11 tháng 4 năm 2015). "Finland - Sparta of the North". Euromaidan Press. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2022.
  59. "Finland to Host Third NATO HQ: Responsible for Telecommunications and IT". Militarnyi (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2026.
  60. Toivonen, Kirsi. "Statistics Finland - Labour Force Survey". Stat.fi. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2017.
  61. "Yearly nights spent and arrivals by country of residence by Region, Country, Data and Year - Visit Finland". Visit Finland. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2018.
  62. "Matkailun taloudelliset vaikutukset - Visit Finland". Visit Finland. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2016.
  63. "The Real Home of Santa Claus in Finland". Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2017.
  64. 1 2 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "statistics-finland-population-2025"
  65. "Concepts: Origin and background country". Statistics Finland (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2024.
  66. "Ulkomaalaistaustaiset – Tilastokeskus". stat.fi (bằng tiếng Phần Lan). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2016.
  67. LAB University of Applied Sciences (bằng tiếng Anh)
  68. Heikkilä, Tuomas (2010). "Kirjallinen kulttuuri keskiajan Suomessa, Historiallisia tutkimuksia 254,". Suomalaisen kirjallisuuden seura. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2016.

Đọc thêm

[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]