Châu Á

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Châu Á
Asia (orthographic projection).svg
Diện tích 44.579.000 km2 (17.212.000 dặm vuông)
Dân số 4.164.252.000 (hạng 1)[1]
Mật độ dân số 87/km2 (225/sq mi)]
Quốc gia 48
Phần phụ thuộc
Vùng không thừa nhận
Múi giờ UTC+2 đến UTC+12
Tên miền Internet .asia
Thành phố lớn nhất

Thái Lan Bangkok
Trung Quốc Bắc Kinh
Hàn Quốc Busan
Bangladesh Chittagong
Ấn Độ Delhi
Bangladesh Dhaka
Qatar Doha
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Dubai
Trung Quốc Quảng Châu
Việt Nam Hà Nội
Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh
Hồng Kông Hồng Kông
Thổ Nhĩ Kỳ Istanbul
Indonesia Jakarta
Pakistan Karachi
Malaysia Kuala Lumpur
Philippines Manila
Ấn Độ Mumbai
Nhật Bản Osaka
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Pyongyang
Ả Rập Xê Út Riyadh
Trung Quốc Thượng Hải
Trung Quốc Thâm Quyến
Singapore Singapore
Hàn Quốc Seoul
Đài Loan Đài Bắc[2]
Iran Tehran
Nhật Bản Tokyo

Mông Cổ Ulaanbaatar

Châu Á hay Á Châuchâu lục lớn nhất và đông dân nhất thế giới nằm ở Bắc bán cầuĐông bán cầu. Châu Á chiếm 8.6% tổng diện tích bề mặt Trái Đất (chiếm 29.9% diện tích mặt đất) và có 4 tỉ người, chiếm 60% dân số hiện nay của thế giới.

Sự phân chia ranh giới giữa châu Á và châu Phieo đất Suez (mặc dù bán đảo Sinai, một phần của Ai Cập, nằm về phía đông của kênh đào này thông thường về mặt địa lý-chính trị được coi là một phần của châu Phi). Ranh giới giữa châu Á và châu Âu chạy qua eo biển Dardanelles, biển Marmara, eo biển Bosphorus, tới Biển Đen, dãy núi Kavkaz, Biển Caspi, dọc theo dãy núi Ural tới Biển Kara của Nga.

Châu Á, khi được xem xét theo khía cạnh chính trị, bao gồm một phần của đại lục Á-Âu và các quần đảo gần kề trong Ấn Độ DươngThái Bình Dương, và thông thường không bao gồm Nga. Một số quốc gia châu Á có lãnh thổ vượt ra ngoài châu Á.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi trong tiếng Việt của châu Á bắt nguồn từ tên gọi tiếng Trung “亞洲” (âm Hán Việt: Á châu). Chữ “Á” 亞 trong “Á châu” 亞洲 là gọi tắt của “Á Tế Á” 亞細亞.[3][4] “Á Tế Á” (亞細亞 - "Yà xì yà") là phiên âm tiếng Trung của danh xưng tiếng Bồ Đào Nha “Asia”.[3]

Từ “Asia” trong tiếng Bồ Đào Nha bắt nguồn từ tên gọi tiếng La-tinh “Asia”.[3]

Từ "Asia" lại bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ đại Ασία (Asia), lần đầu tiên được chứng thực ở Herodotus, ở đó nó được nói đến như là Tiểu Á, hoặc trong các kết quả của các cuộc chiến tranh Ba Tư, đối với đế chế Ba Tư như là sự tương phản với Hy LạpAi Cập. Homer đã biết đồng minh của người Troia (Tờ roa) có tên gọi là Asios, con trai của Hyrtacus, một người cai trị nhiều thành thị.

Thuật ngữ Hy Lạp có lẽ có từ Assuwa, liên minh của nhiều quốc gia vào thế kỷ XIV TCN ở Anatolia cổ đại. Trong tiếng Hittite assu- "tốt" có lẽ là một thành phần trong tên gọi này. Ngoài ra, ngôn từ cơ bản của thuật ngữ này có thể có nguồn gốc từ chữ asu trong tiếng Akkad, có nghĩa là "đi ra ngoài" hay "mọc", ám chỉ tới hướng của Mặt Trời khi nó mọc ở Trung Đông. So sánh giả thiết này với giả thiết về ngôn từ học của châu Âu trong tiếng Semit erebu "lặn" có thể thấy lý do đặt tên của châu Á và Châu Âu là sự tương phản với nhau, tương tự như các thuật ngữ orientoccident (tên gọi của AnatoliaLevant cũng là dấu hiệu của "mặt trời mọc"). Tuy được viện dẫn nhiều nhưng giả thuyết này bị phản đối do thực tế là Anatolia ở Akkad hoặc Semit nói chung không nằm ở phía đông.

Ranh giới[sửa | sửa mã nguồn]

Người Hy Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Phép chiếu đồng khoảng cách 2 điểm của châu Á và các vùng đất xung quanh

Người Hy Lạp cổ đại đã phân định ranh giới rõ ràng giữa châu Âu và châu Á, là biển Aegea, Dardanelles, biển Marmara, Bosporus, biển Đen, eo biển Kerch, và biển Azov. Sông Nile đã từng được sử dụng làm ranh giới giữa châu Á và châu Phi (lúc đó được gọi là Libya), mặc dù một số nhà địa lý Hy Lạp đề nghị ranh giới này là biển Đỏ thì tốt hơn.[5]

Châu Á - châu Đại Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Ranh giới giữa châu Á và châu Đại Dương được xem là thuộc quần đảo Mã Lai. Thuật ngữ Đông Nam Á và châu Đại Dương được tách ra vào thế kỷ XIX do có sự khác biệt lớn về ý mặt địa lý. Đặc điểm chính để xác định các đảo nào của quần đảo Malay thuộc châu Á là vị trí của quá trình thuộc địa hóa của nhiều đế chế khác nhau tại đây (không phải hoàn toàn từ châu Âu). Lewis và Wigen viết rằng "sự thu hẹp của 'Đông Nam châu Á' đến ranh giới hiện tại đã diễn ra từ từ."[5]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Địa lý châu Á
Đỉnh núi Everest, đỉnh núi cao nhất Trái Đất.

Châu Á là lục địa lớn nhất trên trái đất. Nó chiếm 9% diện tích bề mặt của Trái đất (30% diện tích đất liền), và có đường bờ biển dài nhất là 62.800 km (39.022 mi). Châu Á nói chung được định nghĩa là phần phía đông chiếm 4/5 diện tích của lục địa Á-Âu. Nó nằm ở phía đông của Kênh đào Suez và Dãy núi Ural, và phía nam của Dãy núi Caucasus, Biển CaspiBiển Đen. Nó tiếp giáp với Thái Bình Dương ở phía đông, với Ấn Độ Dương ở phía nam và Bắc Băng Dương ở phía bắc. Châu Á bao gồm 48 quốc gia, ba trong số đó (Nga, Kazakhstan và Thổ Nhĩ Kỳ) có một phần lãnh thổ ở châu Âu.

Châu Á có khí hậu và các đặc điểm địa lý cực kỳ đa dạng. Khí hậu bao gồm từ khí hậu vùng cực ở Siberia đến khí hậu nhiệt đới ở miền nam Ấn ĐộĐông Nam Á. Siberia là một trong những nơi lạnh nhất ở Bắc bán cầu. Nơi hoạt động tích cực nhất trên Trái Đất của lốc xoáy nhiệt đới nằm ở phía đông bắc của Philippines và phía nam Nhật Bản. Sa mạc GobiMông Cổsa mạc Ả Rập trải dài trên phần lớn Trung Đông. Sông Dương TửTrung Quốc là con sông dài nhất ở châu lục này. Dãy Himalaya giữa Nepal và Trung Quốc là dãy núi cao nhất trên thế giới, trong đó có Đỉnh Everest được coi là "nóc nhà của thế giới". Rừng nhiệt đới trải dài trên nhiều khu vực phía nam châu Á trong khi rừng lá kim và lá rộng nằm xa hơn về phía bắc.

Châu Á tự nó được phân chia thành các bộ phận khu vực như sau:

Bắc Á[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ này ít được các nhà địa lý sử dụng, và thông thường nó được nhắc đến để chỉ phần châu Á lớn hơn của Nga, còn được biết đến như là Siberi. Đôi khi các phần miền bắc của các quốc gia châu Á khác, như Kazakhstan cũng được tính vào Bắc Á.

Khu vực này bao gồm:

  • Liên Bang Nga (phía đông dãy Uran)
  • Mông Cổ

Trung Á (Trung Đông)[sửa | sửa mã nguồn]

Không có sự nhất trí tuyệt đối trong sử dụng thuật ngữ này. Thông thường, Trung Á bao gồm:

Trung Á hiện nay là quan trọng về địa lý chính trị do các tranh chấp và mâu thuẫn quốc tế về các ống dẫn dầu, Nagorno-KarabakhChechnya cũng như là sự có mặt của quân đội Mỹ tại Afghanistan.

Đông Bắc Á/Đông Á[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực này bao gồm:

Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực này bao gồm bán đảo Mã Lai, Bán đảo Trung-Ấn và các đảo trong Ấn Độ DươngThái Bình Dương. Các quốc gia nằm ở đây bao gồm:

Nước Malaysia bị chia thành hai phần qua biển Đông và vì thế có cả hai phần: lục địa và hải đảo.

Nam Á (tiểu lục địa Ấn Độ)[sửa | sửa mã nguồn]

Nam Á còn được nói đến như là tiểu lục địa Ấn Độ. Nó bao gồm:

Tây Nam Á (Tây Á)[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng được gọi là Trung Đông hay Trung Cận Đông. Trung Đông thông thường cũng được sử dụng để chỉ một số quốc gia ở Bắc Phi (trong một số diễn giải). Tây Nam Á có thể chia nhỏ thành:

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chính: Kinh tế châu Á

Singapore có một trong những cảng bận rộn nhất trên thế giới và là trung tâm giao dịch ngoại hối lớn thứ tư thế giới..

Châu Á có GDP danh nghĩa lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau châu Âu, nhưng lại là lớn nhất khi được tính bằng sức mua tương đương (PPP).

Xếp hạng Nước GDP (PPP, 2016)
Triệu USD
1  Trung Quốc 20,853,331
2  Ấn Độ 8,642,758
3  Nhật Bản 4,901,102
4  Nga 3,684,643
5  Indonesia 3,010,746
6  Hàn Quốc 1,928,602
7  Ả Rập Xê Út 1,720,027
8  Thổ Nhĩ Kỳ 1,665,332
9  Iran 1,439,295
10  Thái Lan 1,108,111

Trong những năm gần đây theo GDP (PPP) thì châu Á những nền kinh tế lớn nhất là Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn QuốcIndonesia.

Xếp Hạng Nước GDP (Danh nghĩa, 2016)
Triệu USD
1  Trung Quốc 11,383,030
2  Nhật Bản 4,412,600
3  Ấn Độ 2,288,720
4  Hàn Quốc 1,404,400
5  Nga 1,132,740
6  Indonesia 936,955
7  Thổ Nhĩ Kỳ 751,186
8  Ả Rập Xê Út 618,274
9  Đài Loan 508,849
10  Thái Lan

Vào cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000, nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ đã phát triển vượt bậc, cả hai có tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trên 8%. Các quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao các năm gần đây ở châu Á bao gồm:  IsraelMalaysiaIndonesiaBangladeshPakistanThái LanViệt NamMông CổUzbekistanSíp, Philippines, các nước giàu khoáng sản như KazakhstanTurkmenistanIranBruneiCác Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhấtQatarKuwaitẢ Rập Xê ÚtBahrain và Oman.

Vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, GDP của Nhật Bản đã vươn lên đứng thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Mỹ. Năm 1995, nền kinh tế Nhật Bản đã suýt đuổi kịp với Hoa Kỳ để trở thành nền kinh tế lớn nhất trong thế giới trong một ngày, sau khi đồng tiền Nhật Bản đạt mức cao kỷ lục 79 yên / USD. Trong khi đó từ thập niên 1980 Kinh tế Trung Quốc đã có sự lột xác ngoạn mục sau những cải cách của Đặng Tiểu Bình, và sang thế kỷ 21 GDP của Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới. 4 quốc gia Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng KôngSingapore cũng đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong giai đoạn cuối thế kỷ 20, do đớ những nền kinh tế này còn được mệnh danh là Bốn con hổ châu Á. Israel cũng là một quốc gia có nền kinh tế phát triển nhờ tinh thần kinh doanh dựa trên một nền công nghiệp đa dạng.

Một số quốc gia Trung Đông như Saudi Arabia, Qatar, United Arab Emirates, Bahrain, Kuwait, và Oman hay BruneiĐông Nam Á dù chưa phải là những nền kinh tế phát triển, song vẫn là những quốc gia có mức sống cao nhờ nguồn tài nguyên dầu mỏ dồi dào.

Theo GDP (PPP) thì Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới sau nền kinh tế của EU và Mỹ, tiếp theo là Nhật BảnẤn Độ với vị trí thứ tư và thứ năm (sau đó là các quốc gia trong EU: Đức, Anh Quốc, PhápÝ). Theo thuật ngữ của tỷ giá hối đoái thì Nhật Bản lại là nền kinh tế lớn nhất ở châu Á và là thứ ba trên thế giới. Hàn Quốc cũng là một trong những nền kinh tế lớn của châu Á, trong khi Bắc Triều Tiên lại là một trong những nước nghèo nhất.

Theo dự đoán của các chuyên gia thì GDP danh nghĩa của Ấn Độ sẽ vượt Nhật Bản vào năm 2020 [6]. Đến năm 2027, theo Goldman Sachs, Trung Quốc sẽ là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Một số khối thương mại tồn tại, với sự phát triển nhất là Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á.

Theo dự đoán của các chuyên gia thì GDP danh nghĩa của Nhật Bản sẽ vượt Ấn Độ vào năm 2051 do sự phát triển kinh tế của G20

Các khối thương mại:

Các nguồn tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Á theo ranh giới (được cho là như thế) là lục địa lớn nhất thế giới và nó rất giàu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, như dầu mỏsắt.

Với năng suất cao trong nông nghiệp, đặc biệt là trong sản xuất lúa gạo, đã cho phép mật độ dân số cao của các quốc gia trong các khu vực nóng ẩm. Các sản phẩm nông nghiệp chính còn có lúa mìthịt gà.

Lâm nghiệp cũng phát triển trong phạm vi rộng của châu Á, ngoại trừ khu vực Trung và Tây Nam Á. Nghề cá là một nguồn chủ yếu cung cấp thực phẩm ở châu Á, cụ thể là ở Nhật Bản.

Công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sản xuất công nghiệp ở châu Á theo truyền thống là mạnh nhất ở khu vực Đông và Đông Nam Á, cụ thể là ở Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn QuốcSingapore. Các ngành nghề công nghiệp dao động từ sản xuất các mặt hàng rẻ tiền như đồ chơi tới các mặt hàng công nghệ cao như máy tínhô tô. Nhiều công ty ở châu Âu, Bắc MỹNhật Bản có các sự hợp tác đáng kể ở châu Á đang phát triển để tận dụng các lợi thế so sánh về sức lao động rẻ tiền.

Một trong các lĩnh vực chính của sản xuất công nghiệp ở châu Á là công nghiệp may mặc. Phần lớn việc cung cấp quần áo và giày dép hiện nay của thế giới có nguồn gốc từ Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á.

Tài chính và các dịch vụ khác[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Á có 3 trung tâm tài chính lớn. Chúng nằm ở Hồng Kông, SingaporeTokyo. Các trung tâm mới nổi ở Ấn Độ hay Trung Quốc là do sự kinh tế về sản xuất công nghiệp theo hình thức gia công ở các quốc gia này cũng như sự có được của nhiều người trẻ có học vấn cao và nói tiếng Anh

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chính: Lịch sử châu Á

Các quốc gia và vùng lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử dân số
NămSố dân±%
1500 243.000.000—    
1700 436.000.000+79.4%
1900 947.000.000+117.2%
1950 1.402.000.000+48.0%
1999 3.634.000.000+159.2%
Nguồn: "UN report 2004 data" (PDF).

Dân số châu Á trong tương lai[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Dân số Mật độ (km²) Tỉ lệ tăng lên % Dân số thế giới
2020 4.598.426.260 148,178 0.8161% 65.69%
2025 4.774.708.304 153,858 0.664% 68.21%
2030 4.922.829.661 158,631 0.5371% 70.33%
2035 5.045.488.373 162,584 0.4271% 72.08%
2040 5.143.850.426 165,754 0.326% 73.48%
2045 5.218.032.708 168,144 0.226% 74.54%
2050 5.266.848.432 169,717 0.1278% 75.24%
2055 5.290.517.068 170,480 0.0325% 75.58%
2060 5.290.029.643 170,464 -0.0483% 75.57%
2065 5.270.626.348 169,839 -0.106% 75.29%
2070 5.237.952.908 168,785 -0.1516% 74.83%
2075 5.194.086.547 167,372 -0.192% 74.2%
2080 5.140.833.583 165,655 -0.2261% 73.44%
2085 5.080.577.103 163,715 -0.2463% 72.58%
2090 5.017.487.286 161,682 -0.2532% 71.68%
2095 4.953.893.193 159,632 -0.2595% 70.77%

Nguồn:World Population Review,http://worldpopulationreview.com/continents/asia-population/

Tên vùng[7]
lãnh thổ cùng quốc kỳ
Diện tích
(km²)
Dân số
(Thống kê 1 tháng 7 năm 2008)
Mật độ dân số
(theo km²)
Thủ đô
Trung Á:
 Kazakhstan[8] 2.724.900 15.666.533 5,7 Astana
 Kyrgyzstan 199.951 5.356.869 24,3 Bishkek
 Tajikistan 143.100 7.211.884 47,0 Dushanbe
 Turkmenistan 488.100 5.179.573 9,6 Ashgabat
 Uzbekistan 447.400 28.268.441 57,1 Tashkent
Đông Á:
 Nhật Bản 377.930 127.288.628 336,1 Tokyo
 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên 120.538 23.479.095 184,4 Bình Nhưỡng
 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa[9] 9.596.961 hay 9.640.011 1.322.044.605 134,0 Bắc Kinh
 Đài Loan [10] 36.188 22.920.946 626,7 Đài Bắc
 Hàn Quốc 99.678 hay 100.210[11] 49.232.844 490,7 Seoul
Bắc Á:
 Nga[12] 17.098.242 142.200.000 26,8 Moskva
 Mông Cổ 1.564.100 2.996.082 1,7 Ulaanbaatar
Đông Nam Á:[13]
 Brunei 5.765 381.371 66,1 Bandar Seri Begawan
 Myanma 676.578 47.758.224 70,3 Naypyidaw[14]
 Campuchia[15] 181.035 13.388.910 74 Phnôm Pênh
 Đông Timor[16] 14.874 1.108.777 73,8 Dili
 Indonesia[17] 1.919.440 230.512.000 120,1 Jakarta
 Lào 236.800 6.677.534 28,2 Viêng Chăn
 Malaysia 330.803 27.780.000 84,2 Kuala Lumpur
 Philippines 300.000 92.681.453 308,9 Manila
 Singapore 704 4.608.167 6.545,7 Singapore
 Thái Lan 513.120 65.493.298 127,4 Bangkok
 Việt Nam 331.212 95.261.021 259,6 Hà Nội
Nam Á:
 Afghanistan 652.090 32.738.775 42,9 Kabul
 Bangladesh 147.998 153.546.901 1040,5 Dhaka
 Bhutan 38.394 682.321 17,8 Thimphu
 Ấn Độ[18] 3.201.446 hay 3.287.263[19] 1.147.995.226 349,2 New Delhi
 Maldives 300 379.174 1.263,3 Malé
   Nepal 147.181 29.519.114 200,5 Kathmandu
 Pakistan 796.095 hay 801.912 [19] 167.762.049 208,7 Islamabad
 Sri Lanka 65.610 21.128.773 322,0 Sri Jayawardenepura Kotte
Tây Á:
 Armenia[20] Yerevan
 Azerbaijan[21] 86.600 8.845.127 102,736 Baku
 Bahrain 750 718.306 987,1 Manama
 Síp[22] 9.251 792.604 83,9 Nicosia
 Gruzia[23] 69.700 64,0 Tbilisi
 Iraq 438.371 28.221.181 54,9 Baghdad
 Iran 1.628.750 70.472.846 42,8 Tehran
 Israel 22.072 7.112.359 290,3 Jerusalem[24]
 Jordan 89.342 6.198.677 57,5 Amman
 Kuwait 17.818 2.596.561 118,5 Thành phố Kuwait
 Liban 10.452 3.971.941 353,6 Beirut
 Oman 309.500 3.311.640 12,8 Muscat
 Palestine 6.257 4.277.000 683,5 Ramallah
 Qatar 11.586 928.635 69,4 Doha
 Ả Rập Xê Út 2.149.690 23.513.330 12,0 Riyadh
 Syria 185.180 19.747.586 92,6 Damas
 Thổ Nhĩ Kỳ[25] 783.562 Ankara
 Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 83.600 4.621.399 29,5 Abu Dhabi
 Yemen 527.968 23.013.376 35,4 Sanaá
Tổng cộng 43.810,582 4.162.966.086 89,07
Ghi chú: Một phần của Ai Cập (Bán đảo Sinai) thuộc về Tây Á về mặt địa lý.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Phần lớn dân số thế giới theo các niềm tin tôn giáo khởi nguồn từ châu Á.

Các tôn giáo lớn trên thế giới hầu hết đều khởi nguồn từ châu Á và với phần lớn những người theo ngày nay đang sống ở châu Á bao gồm:

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Theo khu vực[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Á[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa Trung Quốc chiếm vai trò trung tâm, là nền văn hóa nổi bật và có sức ảnh hưởng lớn nhất khu vực Đông Á. Hệ thống chữ viết của Trung Quốc là một trong những hệ thống chữ viết được sử dụng liên tục lâu đời nhất trên thế giới, và là một phương tiện quan trọng để truyền bá văn hóa Trung Quốc ở Đông Á. Ngoài ảnh hưởng thống nhất của Nho giáo, Đạo giáo, chữ viết Trung Quốc và nhiều ảnh hưởng văn hóa của Trung Quốc khác thì phong tục, kiến trúc, văn học, ẩm thực, âm nhạc truyền thống, nghệ thuật biểu diễn ở mỗi nước Đông Á cũng đều có những nét đặc sắc riêng biệt.

Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Á[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Á[sửa | sửa mã nguồn]

Kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ List of continents by population
  2. ^ World urban areas
  3. ^ a ă â An Chi. Rong chơi miền chữ nghĩa, tập 2. Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016. ISBN 9786045852118. Trang 142.
  4. ^ Trần Văn Chánh, Lê Anh Minh. Toàn thư tự học chữ Hán. Tái bản lần thứ hai. Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa. Năm 2013. Trang 220 và 221.
  5. ^ a ă Lewis & Wigen 1997, tr. 170–173
  6. ^ “Commonwealth Business Council-Asia”. 
  7. ^ Continental regions as per UN categorisations (map), except 12. Depending on definitions, various territories cited below (notes 6, 11-13, 15, 17-19, 21-23) may be in one or both of Asia and Europe, Africa, or Oceania.
  8. ^ Kazakhstan đôi khi được coi là một quốc gia xuyên lục địa tại Trung Á và Đông Âu; số liệu diện tích và dân số chỉ tính phần thuộc châu Á.
  9. ^ "Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" thường được gọi một cách vắn tắt là "Trung Quốc". Số liệu chỉ tính Trung Quốc đại lục, không bao gồm Hồng Kông, Ma CaoĐài Loan.
  10. ^ Số liệu cho khu vực nằm dưới quyền kiểm soát trên thực tế của Trung Hoa Dân Quốc, thường được gọi là Đài Loan
  11. ^ Cục thống kê Hàn Quốc
  12. ^ Russia được coi là một quốc gia xuyên lục địa tại Đông Âu và Bắc Á; số liệu dân số và diện tích tính trên bình diện cả nước.
  13. ^ Không tính Đảo ChristmasQuần đảo Cocos (Keeling)
  14. ^ Thủ đô hành chính của Myanma chính thức chuyển từ Yangon (Rangoon) tời một khu vực phía tây Pyinmana vào năm 2005.
  15. ^ General Population Census of Cambodia 2008 - Provisional population totals, National Institute of Statistics, Ministry of Planning, released 3rd September, 2008
  16. ^ Đông Timor được coi là một quốc gia xuyên lục địa giữa Đông Nam Á và châu Đại Dương.
  17. ^ Indonesia thường được coi là một quốc gia xuyên lục địa tại Đông Nam Á và châu Đại Dương; số liệu không bao gồm Irian Jayaquần đảo Maluku, thường được liệt là thuộc châu Đại Dương (Melanesia/Australasia).
  18. ^ Bao gồm Jammu and Kashmir, lãnh thổ tranh cãi giữa Ấn Độ, Pakistan, và Trung Quốc.
  19. ^ a ă Theo UN 2007
  20. ^ Armenia đôi khi được coi là một quốc gia xuyên lục địa: về mặt địa lý thuộc Tây Á, song có liên kết về lịch sử và chính trị-xã hội với châu Âu.
  21. ^ Azerbaijan thường được coi là một quốc gia xuyên lục địa giữa Tây Á và Đông Âu; số liệu dân số và diện tích chỉ tính phần thuộc châu Á. Số liệu bao gồm cả Nakhchivan, một lãnh thổ bị tách rời của Azerbaijan giáp với Armenia, IranThổ Nhĩ Kỳ.
  22. ^ Hòn đảo Cộng hòa Síp đôi khi được coi là một lãnh thổ xuyên lục địa. Nằm ở Đông Địa Trung Hải, phía nam Thổ Nhĩ Kỳ, phía bắc củaSinai, và phía tây của LibanSyria, có một số liên kết xã hội-chính trị với châu Âu. Tuy nhiên, Liên Hiệp Quốc coi Síp thuộc Tây Á, trong khi CIA xem quốc đảo thuộc vùng Trung Đông.
  23. ^ Gruzia thường được coi là một quốc gia xuyên lục địa tại Tây Á và Đông Âu; số liệu dân số và diện tích chỉ tính phần thuộc châu Á.
  24. ^ Năm 1980, Jerusalem được tuyên bố là thủ đô của nước Israel thống nhất, sau sự thôn tính của nước này với khu vực do người Ả Rập chiếm ưu thế tại Đông Jerusalem trong Chiến tranh Sáu ngày 1967. Liên Hiệp Quốc và nhiều quốc gia khác không công nhận điều này, hầu hết các nước duy trì đại sứ quán tại Tel Aviv.
  25. ^ Thổ Nhĩ Kỳ thường được coi là một quốc gia xuyên đại lục tại Tây Á và Nam Âu; số liệu diện tích và dân số chỉ tính phần thuộc châu Á, không bao gồm tỉnh Istanbul.

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lewis, Martin W.; Wigen, Kären (1997), The myth of continents: a critique of metageography, Berkeley and Los Angeles: University of California Press, ISBN 0-520-20743-2 
  • Ventris, Michael; Chadwick, John (1973). Documents in Mycenaean Greek (ấn bản 2). Cambridge: University Press. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]