Viêng Chăn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Viêng Chăn
ວຽງຈັນ
Pha That Luang
Viêng Chăn trên bản đồ Lào
Viêng Chăn
Viêng Chăn
Tọa độ: 17°58′B 102°36′Đ / 17,967°B 102,6°Đ / 17.967; 102.600
Quốc gia Lào
Diện tích
 • Vùng đô thị 3.920 km2 (1.514 mi2)
Dân số (ước 2013)
 • Thành phố 783,000
Múi giờ UTC+7 sửa dữ liệu
Thành phố kết nghĩa Bangkok, Chittagong, Phnôm Pênh, Orlando, Florida, Thành phố Hồ Chí Minh, Cirebon sửa dữ liệu
Chùa Pha That Luang, một trong những địa điểm quan trọng nhất tại Viêng Chăn, Lào

Viêng Chăn hay Vientiane (IPA: vjɛnˈtjɑːn; tiếng Lào ວຽງຈັນ), tiếng Việt xưa gọi là Vạn Tượng hay Mường Viêng[1] là thành phố trực thuộc trung ương duy nhất ở Lào, là đơn vị hành chính địa phương cấp 1 ngang với các tỉnh của Lào. Viêng Chăn bao gồm 9 đơn vị hành chính cấp 2 trong đó có 5 đơn vị đô thị và 4 đơn vị nông thôn. Khu vực đô thị, hay nội thành, gồm 5 muang của Viêng Chăn được xác định là thủ đô Viêng Chăn của Lào.Tên được đặt tên cho 1 con đường tại quận 5

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Các quận huyện của thủ đô Viêng Chăn (màu hồng) và tỉnh Viêng Chăn.

Thủ đô Viêng Chăn gồm có khu vực nội thành và khu vực ngoại thành. Nội thành, hay Thủ đô Viêng Chăn, gồm 5 quận là:

Ngoại thành gồm 4 huyện là:

  • Mayparkngum
  • Naxaithong
  • Sangthong
  • Xaythany

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Viêng Chăn rộng 3.920 km² và có 692.900 dân (năm 2004) trong đó khu vực Thủ đô có 200.000 người (2005). Nếu tính cả vùng đô thị Viêng Chăn (toàn bộ các huyện nông thôn của Viêng Chăn và các tỉnh Viêng Chăn) được cho là hơn 730.000 người. Viêng Chăn nằm ở tả ngạn sông Mê Công, ở tọa độ 17°58' Bắc, 102°36' Đông (17.9667, 102.6). [1]. Ở đoạn này con sông chính là biên giới giữa Lào với Thái Lan.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Theo trường thi lịch sử của Lào, Phra Lak Phra Lam thì ông hoàng Thattaradtha sau khi nhường ngôi xứ Muong Inthapatha Maha Nakhone huyền thoại cho em thì ra đi lập ra một thị trấn mới mang tên Maha Thani Si Phan Phao ở bờ phía tây sông Cửu Long; sử Lào cho đó là Udon Thani ngày nay thuộc Thái Lan. Ngày nọ có Naga bảy đầu khuyên Thattaradtha xây một thành phố mới ở bờ đối diện. Thattaradtha nghe theo mà xây nên Chanthabuly Si Sattanakhanahud tức là tiền thân của Viêng Chăn hiện nay.

Khác với truyện Phra Lak Phra Lam thì sử học cho rằng Viêng Chăn nguyên thủy là một thị trấn của người Khmer tập trung quanh một ngôi đền Hindu. Ngôi đền đó là Pha That Luang sau này.

Vào thế kỷ 1112, người LàoThái tràn xuống Đông Nam Á từ Hoa Nam đánh đuổi người Khmer và đồng hóa số còn lại, chiếm cứ khu vực trung châu nước Lào. Năm 1354, khi Phà Ngừm lập ra vương quốc Lan Xang và Viêng Chăn trở thành một trung tâm hành chính quan trọng cho dù đó không phải là kinh đô Lan Xang. Hơn hai trăm năm sau vua Xaysethathirath mới thiên đô về Viên Chăn năm 1560, xây dựng thêm thành quách. Khi Lan Xang tan rã năm 1707 thì Viêng Chăn trở thành một vương quốc độc lập cai trị trung nguyên Lào và Đông Bắc Thái Lan. Không lâu sau đó năm 1779, Viên Chăn bị Xiêm La uy hiếp; tướng Xiêm là Phraya Chakri chiếm được và bắt người Lào thần phục Xiêm triều.

Khi vua Anouvong (tiếng Việt phiên âm là A Nỗ, hay Chậu A Nụ) dấy binh đánh đuổi người Thái, lúc đầu lập được chiến công nhưng sau bị vua Xiêm phản công đánh đại bại. Năm 1827 quân Xiêm vây Viêng Chăn. Người Lào cố cầm cự nhưng kinh thành thất thủ; Viêng Chăn bị quân Xiêm tàn phá tiêu hủy gần như hoàn toàn. Cư dân trong thành phần bị người Xiêm bắt, phần thì xiêu tán cả, Viêng Chăn bị bỏ ngỏ hoang tàn. Mãi tới năm 1893 khi người Pháp xúc tiến đặt nền bảo hộ trên xứ Lào thì Viêng Chăn mới phục hồi, trở thành thủ phủ nước Lào năm 1899.

Trước năm 1989, thành phố Viêng Chăn và tỉnh Viêng Chăn là một đơn vị hành chính. Sau khi tách ra, Lào vừa có tỉnh Viêng Chăn vừa có thành phố trực thuộc trung ương Viêng Chăn.

Nguồn gốc tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Viêng Chăn trong tiếng Lào là Nakhonluang Viangchan (tiếng Lào: ນະຄອນຫຼວງວຽງຈັນ), trong đó Nakhon là "thành phố", luang là "chính" hoặc "lớn". Trong đó, phần Thủ đô Viêng Chăn trong tiếng Lào gọi là Kampheng nakhon Viangchan.

Tên gọi của thành phố bắt nguồn từ tiếng Pali, ngôn ngữ diễn đạt văn chương của Phật giáo tiểu thừa, và những nghĩa ban đầu của nó là "Khu rừng đàn hương của nhà vua", loại cây quý vì mùi hương của nó theo kinh điển Ấn Độ. Nghĩa của Viêng Chăn là "Thành (phố) Trăng" trong tiếng Lào. Cách phát âm và phép chính tả hiện đại Lào không phản ánh rõ ràng từ nguyên tiếng Pali này. Tuy nhiên tên gọi trong tiếng Thái เวียงจันทน์ vẫn giữ được nguyên gốc từ nguyên, và "Thành Đàn hương" là nghĩa gốc của tên gọi này. Cách phát âm theo các ngôn ngữ latinh (Vientiane) có nguồn gốc từ tiếng Pháp, và phản ánh sự khó khăn của người Pháp khi đánh vần phụ âm "ch" của tiếng Lào; một cách Latin hóa từ chữ cái Lào (ວຽງຈັນ) là "Viangchan", từ chữ cái Thái (เวียงจันทน์) là "Wiangchan".

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Dữ liệu khí hậu của Viêng Chăn (1951–2000)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình cao °C (°F) 28.4 30.3 33.0 34.3 33.0 31.9 31.3 30.8 30.9 30.8 29.8 28.1 31,1
Trung bình thấp, °C (°F) 16.4 18.5 21.5 23.8 24.6 24.9 24.7 24.6 24.1 22.9 19.3 16.7 21,8
Lượng mưa, mm (inch) 7.5
(0.295)
13.0
(0.512)
33.7
(1.327)
84.9
(3.343)
245.8
(9.677)
279.8
(11.016)
272.3
(10.72)
334.6
(13.173)
297.3
(11.705)
78.0
(3.071)
11.1
(0.437)
2.5
(0.098)
1.660,5
(65,374)
độ ẩm 70 68 66 69 78 82 82 84 83 78 72 70 75
Số ngày mưa TB 1 2 4 8 15 18 20 21 17 9 2 1 118
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 254.4 214.3 216.8 226.3 207.1 152.9 148.6 137.1 137.7 247.7 234.3 257.5 2.434,7
Nguồn #1: Tổ chức Khí tượng Thế giới[2]
Nguồn #2: NOAA (nắng, độ ẩm 1961–1990)[3]

Thắng cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xứ Lào là xứ Chùa. Tổng cộng Lào có 1.400 ngôi chùa. Do đó, tại đây nổi tiếng như cảnh quan That LuangChùa Phra Keo, Chùa Ông Tự, Chùa Si Muong, Chùa Sisaket, Vườn Phật Suốn Xiêng Khuôn (tục gọi là Suốn Phụt tức Vườn Chư Phật), quần thể hàng trăm bức tượng đúc theo Phật thoại, trong vùng Thà-Đừa, cách Vientiane khoảng 25 km, gần cầu Hữu Nghị Lào-Thái.

Ở Vientiane có một ngôi chùa Việt tên Bàng Long, khá nguy nga. Từ chợ sáng trên đại lộ Lan Xang, đã thấy sừng sửng đài Anou Savary(đài chiến sĩ vô danh), sau 1975 được đổi tên thành Khải Hoàn Môn (Patuxay), toạ lạc giữa bùng binh giới ranh phố Vientiane và khu vực That Luang. Đài Anou Savary được tạo dựng từ 1958, phần dưới và ngoài mô phỏng theo đài Arc de Triumphe tại Paris, phần trên và trong gồm những nét kiến trúc, phù điêu đặc thù Lào. Đứng trên tầng cao nhất của Anou Savary ta có thể thấy toàn diện cảnh quan Vientiane.

Con đường huyết mạch ở Vientiane là đường Sí Mương-Samsenthay, sầm uất trù phú, dấu ấn kiến trúc còn lại của thực dân Pháp chạy xuyên suốt từ khu That Khao lên trung tâm Ô-ĐiênSengLao, ra đến vùng Si Khay – Wattay, rồi bỗng dưng ngừng lại, nhường cho kiến trúc cổ truyền Lào: Nhà sàn.

Vientiane nằm thoai thoải ven sông Mêkông. Bên kia bờ là tỉnh Nong Khai (Thái Lan). Khúc sông nầy, năm 1994 chính phủ Úc đã tài trợ xây chiếc Cầu Hữu Nghị Lào-Thái(Lao-Thai Friendship Bridge) dài 1240m. Chính nhờ chiếc cầu này mà đã ra mở ra hướng phát triển mới cho du lịch 2 nước, kết nối hành lang Đông – Tây và mở ra sự phát triển cho ngành du lịch của cả 3 nước Đông Dương. Bờ sông Vientiane chưa được khai thác đúng mức, chủ yếu mới ở mặt hàng ăn, quán cóc. Quán cóc ven bờ sông Vientiane rất đa dạng về thực phẩm, với nhiều món ăn ngon và lạ miệng.

Ngoài ra còn có các điểm tham quan khác.

Viêng Chăn là nơi duy nhất có: nhà thờ Hồi giáo, chỗ chơi bowling, nhà thờnightclub ở Lào. Tại Viêng Chăn cũng có nhiều khách sạn cao cấp.

Các trường đại học và cao đẳng[sửa | sửa mã nguồn]

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu Hữu nghị Thái-Lào, được xây dựng trong thập niên 1990, bắc ngang qua con sông cách vài dặm về phía hạ lưu thành phố Nong Khai, ngang qua biên giới, và tạo nên một trong những điểm giao lưu chính giữa hai nước. Hiện nay, một tuyến đường sắt kết nối quốc tế đang được lắp đặt trên cầu, nhưng điểm ga tàu nằm lệch về phía nam bên trong biên giới Thái Lan.

Viêng Chăn có Sân bay quốc tế Wattay.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tạ Chí Đại Trường. Sử Việt đọc vài quyển. Gardena, CA: Văn Mới, 2004. Tr 326.
  2. ^ “World Weather Information Service—Vientiane” (bằng tiếng Anh). Tổ chức Khí tượng Thế giới. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2015. 
  3. ^ “Vientiane Climate Normals 1961–1990” (bằng tiếng Anh). National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]