Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.

Seoul

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm


Seoul
서울시
—  Thành phố đặc biệt  —
Thành phố Đặc biệt Seoul
서울특별시
Seoul montage.
Thông tin về hình này
Hiệu kỳ của Seoul
Hiệu kỳ
Ấn chương chính thức của Seoul
Ấn chương
Huy hiệu của Seoul
Huy hiệu
Biểu trưng chính thức của Seoul
Biểu trưng
Vị trí Seoul trên bản đồ Hàn Quốc
Vị trí Seoul trên bản đồ Hàn Quốc
Seoul trên bản đồ Hàn Quốc
Seoul
Seoul
Seoul trên bản đồ Asia
Seoul
Seoul
Tọa độ: 37°34′59,53″B 126°58′40,69″Đ / 37,56667°B 126,96667°Đ / 37.56667; 126.96667
Quốc gia Hàn Quốc[1]
VùngVùng thủ đô Seoul
Khu
Chính quyền
 • KiểuChính quyền Thành phố Đặc biệt Seoul
Chính quyền thị trưởng-hội đồng
 • Thị trưởngPark Won-soon (Dân chủ)
 • Hội đồngHội đồng Thành phố Đặc biệt Seoul
 • Đại biểu Quốc dân
 - Quốc hội
49 / 300
16.3% (tổng số ghế)
49 / 253
19.4% (ghế bầu cử)
Diện tích[2]
 • Thành phố đặc biệt605 km2 (234 mi2)
Độ cao38 m (125 ft)
Dân số (2018[3])
 • Thành phố đặc biệt10.049.607
 • Mật độ17,000/km2 (43,000/mi2)
 • Vùng đô thị25.600.000
 • Tên gọi dân cư서울 사람 (Seoul saram). 서울시민 (Seoul-si-min). Seoulite
 • Phương ngữPhương ngữ Seoul
Múi giờUTC+9 sửa dữ liệu
Mã ISO 3166KR-11 sửa dữ liệu
Thành phố kết nghĩaSan Francisco, Cairo, Jakarta, New Delhi, Đài Bắc, Ankara, Guam, Tehran, Bogotá, Tokyo, Moskva, Sydney, Bắc Kinh, Ulaanbaatar, Hà Nội, Warszawa, Nur-Sultan, Athena, Washington, D.C., Bangkok, Tirana, São Paulo, Delhi, Buenos Aires, Thành phố México, Rio de Janeiro, Quận Honolulu, Paris, Roma, Thành phố New York, Honolulu sửa dữ liệu
ChimChim ô thước
MàuĐỏ Seoul[4]
HoaHoa liên kiều
Phong cảnhPhong cảnh Seoul (sông HánNamsan)[5]
Linh vậtHaechi
Khẩu hiệu"I·SEOUL·U"[6]
Bài hát"S.E.O.U.L"
CâyCây bạch quả
GDP (PPP) (Thành phố Đặc biệt)407 tỉ US$[7]
GDP (PPP) bình quân đầu người (Thành phố Đặc biệt)41,126 US$ [8][9]
Trang webseoul.go.kr

Seoul (Hangul: 서울; Bính âm từ Hoa ngữ: Hán Thành ; Phiên âm Tiếng Việt: Xê-un hay Xơ-un; tiếng Trung Quốc: 首爾; Hán-Việt: Thủ Nhĩ) Về âm thanh nàynghe thủ đô của Đại Hàn Dân Quốc, nằm bên Sông Hánphía tây bắc Hàn Quốc. Tên chính thức là thành phố đô thị đặc biệt Seoul, là thủ đô và đô thị lớn nhất của Hàn Quốc. Seoul là trung tâm của Thủ đô Seoul, bao gồm thành phố tiếp giáp Incheon xung quanh và tỉnh Gyeonggi, là nơi sinh sống của khoảng hơn một nửa dân số của đất nước. Thành phố cách biên giới với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên 50 km về phía nam (Khu phi quân sự Triều Tiên). Seoul là một thành phố cổ, từng là kinh đô của Bách Tế (18 TCN660) và Triều đại Triều Tiên (1392-1910). Thành phố đã trở thành thủ đô của Hàn Quốc sau khi thành lập chính phủ Hàn Quốc vào năm 1948. Seoul là một thành phố đặc biệt, trực thuộc trung ương. Với dân số lên đến 25.600.000 người vào năm 2018, Seoul là thành phố lớn nhất Hàn Quốc và là một trong những thành phố lớn nhất trên thế giới tính theo dân số[10]. Diện tích chỉ 605.21 km² - nhỏ hơn Luân Đôn hay Thành phố New York nhưng đây là một trong những thành phố lớn có mật độ dân số cao nhất trên thế giới. Seoul cũng là một trong những thành phố có kết nối số nhiều nhất thế giới với số lượng người dân sử dụng Internet còn nhiều hơn tất cả Châu Phi hạ Sahara, trừ Cộng hòa Nam Phi ra[11]. Seoul còn là một trong 20 thành phố toàn cầu quan trọng.

Vùng thủ đô Seoul bao gồm cả thành phố cảng lớn Incheontỉnh Gyeonggi, có tổng cộng hơn 30 triệu cư dân sinh sống[12], là vùng đô thị lớn thứ hai thế giới sau Vùng thủ đô Tokyo, chiếm một nửa dân số Hàn Quốc cùng với hơn 1.000.000 người nước ngoài[13]. Hầu như một nửa dân Hàn Quốc sống ở Vùng thủ đô Seoul khiến nơi đây trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của quốc gia này. Thành phố đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc và được xem là nơi khởi nguồn của "Kỳ tích sông Hán".

Seoul có hơn 5 triệu xe hơi được đăng ký và nạn kẹt xe xảy ra thường xuyên. Trong những năm gần đây, chính quyền vùng thủ đô đã áp dụng nhiều biện pháp để làm sạch nướckhông khí bị ô nhiễm. Sự phục hồi của con suối trong trung tâm thành phố Cheonggyecheon là thành quả của nhiều dự án làm đẹp đô thị lớn[14].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Seoul
Cung điện Gyeongbokgung

Sự định cư của con người ở vùng lưu vực sông Hán, nơi có Seoul ngày nay, bắt đầu vào năm 4000 TCN.

Lịch sử của Seoul có thể quay về từ 18 TCN, khi đây là kinh đô Wiryeseong của triều đại Bách Tế (thành lập năm 18 TCN) ở khu vực đông bắc Seoul. Có một số bức tường thành còn lại trong khu vực đó kể từ thời điểm này. Pungnaptoseong, một bức tường bằng đất ở ngay bên ngoại ô Seoul, được cho là đã có mặt tại vị trí chính của Wiryeseong. Khi 3 nước Tam Quốc tranh giành vùng chiến lược này, sự kiểm soát đã chuyển từ Bách Tế sang Cao Câu Ly vào thế kỷ thứ 5 và từ Cao Câu Ly đến Tân La vào thế kỷ thứ 6.

Trong thế kỷ 11, sau khi đánh bại được Tân La Thống nhất, triều đình Cao Câu Ly xây dựng một cung điện mùa hè ở Hanseong (Seoul ngày nay), được gọi là "Kinh đô phía Nam". Chỉ từ thời kỳ này, Seoul trở thành một khu vực đông dân cư hơn. Khi nhà Triều Tiên (còn gọi là Joseon) thay thế Cao Câu Ly, kinh đô được dời hẳn đến Hanseong (Hán Thành), và trở thành kinh đô của nhà Triều Tiên cho đến khi triều đại sụp đổ năm 1910. Cung điện Gyeongbokgung, được xây dựng vào thế kỷ 14, là dinh thự của hoàng gia cho đến năm 1592. Cung điện lớn khác, Changdeokgung, được xây dựng năm 1405, phục vụ như là cung điện hoàng gia từ năm 1611 đến năm 1872. Sau khi nhà Triều Tiên đổi tên thành Đế quốc Đại Hàn năm 1897, Hanseong cũng được đổi tên thành Seoul như ngày nay.

Ban đầu, thành phố này hoàn toàn bị bao quanh bởi một bức tường đá tròn để bảo vệ người dân an toàn trước thú dữ, trộm cướp và các cuộc tấn công quân sự từ nội loạn và ngoại bang. Sau đó, thành phố đã phát triển vượt ra khỏi những bức tường và mặc dù chúng không còn tồn tại nữa (ngoại trừ núi Bugaksan (Hangul: 북악산 Hanja: 北岳 山), phía bắc khu vực trung tâm thành phố, các tường thành vẫn nằm gần khu trung tâm thành phố Seoul, bao gồm cả Sungnyemun (thường được gọi là Namdaemun) và Heunginjimun (thường được gọi là Dongdaemun). Trong triều đại Joseon, các cửa được mở và đóng cửa mỗi ngày, cùng với tiếng chuông lớn ở tháp chuông Bosingak. Vào cuối thế kỷ 19, sau hàng trăm năm cô lập, Seoul đã mở cửa cho người nước ngoài và bắt đầu hiện đại hóa. Seoul đã trở thành thành phố đầu tiên ở Đông Á sử dụng điện trong cung điện hoàng gia, được xây dựng bởi Công ty chiếu sáng Edison và một thập kỷ sau đó, Seoul cũng đã xây dựng hoàn thiện các đèn đường điện.

Phần lớn sự phát triển này của Seoul là do những hoạt động thương mại với nước ngoài như PhápHoa Kỳ. Ví dụ: Công ty Điện của Seoul, Công ty Xe điện Đệ nhất của Seoul và Công ty Nước Nóng Nước Seoul đều là các doanh nghiệp liên doanh Mỹ gốc Hàn. Vào năm 1904, một người Mỹ tên là Angus Hamilton đã viếng thăm thành phố và nói, "Các đường phố ở Seoul rất thanh lịch, rộng rãi, sạch đẹp, gây ấn tượng và thoát nước tốt. Những làn đường hẹp và bẩn đã được cải tạo và mở rộng, Seoul đã vươn lên mạnh mẽ để trở thành một trong những thành phố phát triển nhanh nhất, hấp dẫn và sạch nhất ở phương Đông".

Trong thời kỳ Triều Tiên thuộc Nhật, thành phố được mang tên tiếng NhậtKeijo. Công nghệ của Nhật đã được nhập khẩu vào thành phố, các bức tường thành đã được gỡ bỏ, một số cửa thành bị phá hủy. Các con đường trở thành các công trình lát gạch và xây dựng theo phong cách phương Tây. Thành phố được giải phóng vào cuối Thế chiến thứ II.

Năm 1945, thành phố được chính thức đặt lại tên cũ là Seoul, và được chỉ định là một thành phố đặc biệt của Hàn Quốc vào năm 1949.

Trong chiến tranh Triều Tiên, Seoul được xem là chiến trường chính và nhiều lần bị tranh giành xâu xé giữa quân đội Bắc Triều TiênHàn Quốc, khiến thành phố gần như bị phá hủy hoàn toàn sau chiến tranh. Thủ đô Hàn Quốc phải tạm thời di dời đến Busan. Một ước tính về các thiệt hại to lớn cho thấy rằng sau chiến tranh, ít nhất 191.000 tòa nhà, 55.000 ngôi nhà, và 1.000 nhà máy bị tàn phá. Ngoài ra, một đợt người tị nạn đã vào Seoul trong lúc chiến tranh, làm dân số của thành phố và khu vực đô thị của nó tăng lên đến một ước tính khoảng 1,5 triệu vào năm 1955.

Sau chiến tranh, Seoul bắt đầu tập trung vào việc tái thiết và hiện đại hóa. Khi nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu phát triển nhanh chóng từ những năm 1960, quá trình đô thị hóa cũng tăng tốc và công nhân bắt đầu chuyển tới Seoul và các thành phố lớn khác. Từ những năm 1970, quy mô của khu vực hành chính Seoul đã mở rộng đáng kể khi nó sáp nhập một số thị trấn và làng mạc từ một số quận hạt xung quanh. Những chính sách kinh tế năng nổ thập niên 1960 và thập niên 1970 đã giúp tái thiết thành phố rất nhanh. Seoul chính là đầu tàu tạo nên kì tích sông Hán kỳ diệu cho nền kinh tế Hàn Quốc.

Theo dữ liệu điều tra dân số năm 2012, dân số của khu vực Seoul chiếm khoảng 20% tổng dân số Hàn Quốc, Seoul đã trở thành trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của đất nước, với một số công ty thuộc Fortune Global 500, bao gồm Samsung, SK Group, Hyundai, POSCOTập đoàn LG có trụ sở tại đó.

Seoul đã đăng cai Đại hội Thể thao châu Á 1986Thế vận hội Mùa hè 1988. Thành phố cũng là một trong những địa điểm thi đấu ở FIFA World Cup 2002.

Nhiều cuộc chiến tranh quy mô lớn trong thế kỷ XX đã khiến nhiều di tích lịch sử của Seoul bị phá hủy. Trong thập niên 1990, nhiều công trình lịch sử đã được phục dựng, bao gồm Cung Gyeongbok (Cảnh Phúc), cung điện chính của triều đại Triều Tiên.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố được biết đến trong quá khứ bởi các tên gọi kế tiếp nhau như Wiryeseong (âm Hán Việt: Úy Lễ Thành; ; Bách Tế), Hanyang (Hán Dương; ) và Hanseong (Hán Thành; ; Cao LyTriều Tiên). Tên hiện nay lấy từ tên trong từ Hàn cổ Seorabeol hay Seobeol, có nghĩa là "kinh thành", trước kia dùng cho Gyeongju (Khánh Châu), kinh đô của vương quốc Tân La xưa kia.

Không giống như các địa danh khác ở Hàn Quốc, "Seoul" là tên riêng thuần tiếng Triều Tiên, không phải là từ Hán-Triều nên không có chữ Hán tương đương. Ngày 18 tháng 1 năm 2005, chính quyền Seoul chính thức sử dụng tên chữ Hán là "Thủ Nhĩ" (giản thể: 首尔; phồn thể: 首爾; bính âm: shǒu'ěr, vốn là dùng tiếng tiếng Quan Thoại của Trung Quốc phiên âm cho từ "Seoul") để thay thế tên gọi lịch sử nhưng không còn phổ biến là Hán Thành (giản thể: 汉城; phồn thể: 漢城; bính âm: hànchéng).[15][16][17]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Cung Đồ, bức tranh nổi tiếng mô phỏng cung điện Changdeokgung.

Seoul nằm ở phía tây bắc Hàn Quốc, với diện tích đất đai ước tính khoảng 605,52 km² với bán kính khoảng 15 km, bị chia cắt thành hai nửa bắc và nam bởi sông Hán. Sông Hán đã đóng một vai trò quan trọng trong suốt chiều dài lịch sử Triều Tiên. Thời Tam Quốc ở Triều Tiên, ba quốc gia luôn cố gắng giành quyền kiểm soát vùng đất này, nơi mà có con sông được dùng làm trạm thông thương tới Trung Quốc (qua biển Hoàng Hải). Tuy nhiên con sông này hiện nay không còn được sử dụng với mục đích hàng hải nữa do cửa sông nằm trên biên giới giữa hai miền Triều Tiên và bị chắn không cho dân thường qua lại.

Trong lịch sử, thành phố vào thời triều đại Joseon được bao bọc bởi Bức tường pháo đài Seoul, trải dài giữa bốn ngọn núi chính ở trung tâm Seoul: Namsan, Naksan, Bukhansan và Inwangsan. Thành phố được bao quanh bởi 8 ngọn núi cũng như những vùng đất của đồng bằng sông Hán và khu vực phía tây. Do địa lý và chính sách phát triển kinh tế, Seoul là một thành phố rất đa trung tâm. Khu vực vốn là kinh đô cũ của triều đại Joseon, và chủ yếu bao gồm Quận Jongno và Quận Jung, tạo thành trung tâm lịch sử và chính trị của thành phố. Tuy nhiên, ví dụ, trung tâm tài chính của thành phố được coi là phát triển mạnh ở Yeouido, trong khi trung tâm kinh tế của nó là quận Gangnam.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Theo phân loại khí hậu Köppen, Seoul chủ yếu có khí hậu ôn đới lục địa ẩm và chỉ bao gồm một ít đặc điểm của khí hậu cận nhiệt đới ẩm, bất chấp việc Hàn Quốc bị vung quanh bởi ba mặt đều là biển. Vùng ngoại ô của Seoul thường mát hơn trung tâm Seoul vì hiệu ứng đảo nhiệt đô thị. Mùa hè bình thường có khí hậu nóng và ẩm do ảnh hưởng của gió mùa Đông Á, với mùa mưa kéo dài từ tháng 6 đến tháng 9. Tháng 8 là tháng nóng nhất trong năm, có nhiệt độ trung bình từ 23.4 °C đến 32.6 °C (74 °F đến 91 °F) và cũng có thể nóng hơn. Mùa đông có khí hậu rất lạnh nếu so sánh với các vùng ở cùng vĩ độ, với thời tiết thường dưới mức đóng băng, nhiệt độ trung bình tháng giêng từ -5.9 °C đến 1.5 °C (24.7 °F đến 31.4 °F), mùa đông thường khô hơn rất nhiều so với mùa hè dù bình thường trong một năm ở Seoul trung bình có khoảng 24.9 ngày là có tuyết. Đôi khi, nhiệt độ giảm đáng kể xuống dưới −10 °C (14 °F) và trong một số trường hợp thấp đến −15 °C (5 °F) trong khoảng thời gian giữa mùa đông của tháng 1 và tháng 2. Nhiệt độ dưới −20 °C (4 °F) cũng đã được ghi lại.

Dữ liệu khí hậu của Seoul (1981–2010, cao kỉ lục/thấp kỉ lục 1907–nay)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 14.4 18.7 23.8 29.8 34.4 37.2 38.4 38.2 35.1 30.1 25.9 17.7 38,4
Trung bình cao °C (°F) 1.5 4.7 10.4 17.8 23.0 27.1 28.6 29.6 25.8 19.8 11.6 4.3 17,0
Trung bình ngày, °C (°F) −2.4 0.4 5.7 12.5 17.8 22.2 24.9 25.7 21.2 14.8 7.2 0.4 12,5
Trung bình thấp, °C (°F) −5.9 −3.4 1.6 7.8 13.2 18.2 21.9 22.4 17.2 10.3 3.2 −3.2 8,6
Thấp kỉ lục, °C (°F) −22.5 −19.6 −14.1 −4.3 2.4 8.8 12.9 13.5 3.2 −5.1 −11.9 −23.1 −23,1
Giáng thủy mm (inch) 20.8
(0.819)
25.0
(0.984)
47.2
(1.858)
64.5
(2.539)
105.9
(4.169)
133.2
(5.244)
394.7
(15.539)
364.2
(14.339)
169.3
(6.665)
51.8
(2.039)
52.5
(2.067)
21.5
(0.846)
1.450,5
(57,106)
độ ẩm 59.8 57.9 57.8 56.2 62.7 68.1 78.3 75.6 69.2 64.0 62.0 60.6 64,4
Số ngày giáng thủy TB (≥ 0.1 mm) 6.5 5.8 7.4 7.8 9.0 9.9 16.3 14.6 9.1 6.3 8.7 7.4 108,8
Số ngày tuyết rơi TB 8.0 5.2 3.4 0.1 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 0.1 2.1 6.1 24,9
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 160.3 163.3 189.0 205.0 213.0 182.0 120.0 152.5 176.2 198.8 153.2 152.6 2.066,0
Tỷ lệ khả chiếu 52.3 53.6 51.0 51.9 48.4 41.2 26.8 36.2 47.2 57.1 50.2 51.1 46,4
Nguồn: Korea Meteorological Administration[18][19][20] (Tỷ lệ khả chiếu, ngày tuyết)[21]

Chất lượng không khí[sửa | sửa mã nguồn]

   Rất không lành mạnh
  Không lành mạnh
   Không lành mạnh cho những nhóm nhạy cảm
   Trung bình
  Tốt
Theo Chỉ số Hiệu suất Môi trường 2016, Hàn Quốc xếp thứ 173 trên 180 quốc gia về chất lượng không khí. Hơn 50 phần trăm dân số ở Hàn Quốc tiếp xúc với mức độ bụi mịn nguy hiểm.

Ô nhiễm không khí là một vấn đề lớn ở Seoul. Theo Cơ sở dữ liệu ô nhiễm không khí xung quanh đô thị toàn cầu của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2016, nồng độ PM2.5 trung bình hàng năm trong năm 2014 là 24 microgam trên mét khối (1,0 × 10−5 gr / cu ft), cao hơn 2,4 lần so với được khuyến nghị bởi Nguyên tắc chất lượng không khí của WHO cho PM2.5 trung bình hàng năm. Chính quyền thành phố Seoul giám sát và chia sẻ công khai dữ liệu chất lượng không khí theo thời gian thực.

Từ đầu những năm 1960, Bộ Môi trường đã thực hiện một loạt các chính sách và tiêu chuẩn gây ô nhiễm không khí để cải thiện và quản lý chất lượng không khí cho người dân. "Đạo luật đặc biệt về cải thiện chất lượng không khí ở khu vực thủ đô Seoul" đã được thông qua vào tháng 12 năm 2003. Kế hoạch cải thiện chất lượng không khí ở thành phố Seoul (2005-2014) đã tập trung vào việc cải thiện nồng độ PM10 và nitơ điôxít bằng cách giảm khí thải. Do đó, nồng độ PM10 trung bình hàng năm giảm từ 70,0 g / m3 năm 2001 xuống còn 44,4 μg / m3 năm 2011 và 46 g / m3 năm 2014. Tính đến năm 2014, nồng độ PM10 trung bình hàng năm vẫn ít nhất gấp đôi so với khuyến nghị của Nguyên tắc chất lượng không khí của WHO. Kế hoạch cải thiện chất lượng không khí của thành phố Seoul lần thứ 2 (20152020) đã bổ sung PM2.5 và ozone vào danh sách các chất gây ô nhiễm được quản lý.

Bão cát vàng, khí thải từ Seoul và nói chung từ phần còn lại của Hàn Quốc, cũng như khí thải từ Trung Quốc, tất cả đều góp phần vào chất lượng không khí của Seoul. Một quan hệ đối tác giữa các nhà nghiên cứu ở Hàn Quốc và Hoa Kỳ đang tiến hành một nghiên cứu thực địa chất lượng không khí quốc tế tại Hàn Quốc (KORUS-AQ) để xác định mỗi nguồn đóng góp bao nhiêu.

Cảnh quan thành phố[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm cũ của Seoul thời vương triều Triều Tiên hiện nay là một nơi kinh doanh sầm uất, phần lớn những cung điện, văn phòng chính phủ, trụ sở các tập đoàn, khách sạn và chợ truyền thống đều nằm ở đây. Vùng nay bao phủ châu thổ Cheonggyecheon, với một dòng suối nhỏ chạy từ tây tới đông qua châu thổ trước khi đổ ra sông Hán. Trong nhiều năm, dòng suối này đã được tu bổ bằng xi măng và gần đây được khôi phục qua một dự án phục sinh đô thị. Về phía bắc của khu kinh doanh là ngọn núi Bukhan (Bắc Hán), về phía nam là ngọn núi Namsan (Nam Sơn) nhỏ hơn. Tiến sâu nữa về phía nam là vùng ngoại ô khu Yongsan (Long Sơn), khu Maposông Hán. Qua con sông Hán là vùng khu Gangnam, khu Seocho rất phát triển. Trung tâm Thương mại Thế giới Hàn Quốc nằm ở khu Gangnam, rất nhiều triển lãm và hội nghị được tổ chức tại đây. Tại khu Gangnam còn có COEX Mall, một trung tâm giải trí và mua sắm trong nhà lớn ở Seoul. Bamseom là một hòn đảo nằm giữa con sông Hán gần Yeouido và trụ sở của quốc hội cũng như các kênh truyền hình lớn và một vài tòa nhà hành chính. Sân vận động Olympic, công viên Olympic và Lotte World nằm ở khu Songpa, bờ nam sông Hán. phía nam vùng Gangnam là các ngọn núi Namhan (Nam Hán), CheonggyeGwanak.

Trụ sở chính phủ Seoul City.

Các công trình đáng chú ý tại Seoul có thể kể đến Tòa nhà Tài chính Hàn Quốc, Tháp N Seoul, và Trung tâm thương mại thế giới Seoul, Tòa nhà 63 và sáu tòa cao ốc dân dụng Tower Palace. Những kế hoạch phát triển đô thị đã trở thành một khái niệm quan trọng khi Seoul được thiết kế để trở thành thủ đô vào cuối thế kỷ XIV. Cung điện của vương triều Triều Tiên hiện vẫn nằm ở Seoul, với cung chính, Cung Gyeongbok, hiện đang được khôi phục nguyên trạng. Ngày nay, ở Seoul có 8 đường xe điện ngầm trải dài hơn 250 km.

Con đường đậm chất lịch sử nhất ở Seoul là đường Cái Chuông, trên con đường này người ta có thể thấy Phổ Tín Các (Bosingak), một ngôi đình có một chiếc chuông lớn. Chiếc chuông rung bốn lần trong ngày, vì vậy mà có thể kiểm soát được bốn cổng chính vào thành phố. Bây giờ thì chiếc chuông này chỉ còn được rung vào nửa đêm trong dịp năm mới, khi đó nó sẽ được rung 30 lần.

Con đường ô tô quan trọng nhất của Seoul trước đây chạy dọc đường Cái Chuông, nhưng đến đầu thập niên 1970, nó đã bị thay bởi đường ray số 1 của hệ thống tàu điện ngầm. Một vài con đường nổi tiếng khác ở Seoul bao gồm đường Eulji, đường Teheran, đường Thế Tông, đường Chungmu, đường Yulgong, và đường Toegye.

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố đặc biệt Seoul được cấu thành từ 25 khu (구 gu), 15.267 động (동 dong). Động tương đương với thôn hoặc làng. Hơn mười lăm nghìn động này lại được chia ra thành 112.734 phiên địa (번지 beonji).

Cờ Seoul cũ (1947–1996).
Các khu của Seoul.
Nơi bắt đầu của suối Cheonggyecheon.

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Seoul có mật độ dân số rất cao, gần gấp đôi New York và cao gấp 8 lần so với Rome. Khu vực đô thị của thành phố được xem là nơi có mật độ dân số cao nhất trong OECD ở châu Á vào năm 2012 và đứng thứ hai trên thế giới sau Paris. Tính đến năm 2015, dân số là 9,86 triệu, vào năm 2012 là 10.442.426. Tính đến cuối tháng 6 năm 2011, 10.29 triệu công dân Hàn Quốc đã sống trong thành phố. Con số này giảm 0,24% so với cuối năm 2010. Dân số của Seoul đã giảm từ đầu những năm 1990, nguyên nhân là do chi phí sinh hoạt ngày càng đắt đỏ và dân số quá đông.

Hầu hết những người dân của Seoul là người Triều Tiên cùng với một số ít người Trung QuốcNhật Bản. Ngày nay, 200.000 người nước ngoài được ước tính đang sống tại Seoul, những người này bao gồm người từ Nam Á, Đông Nam Á, Trung Á, Châu Phi, Châu Âu, Châu Đại DươngChâu Mỹ. Tỉ lệ phạm pháp ở Seoul là rất thấp. Dù một nửa dân số không theo đạo, hai đạo phổ biển ở Seoul là đạo Phậtđạo Cơ Đốc (mỗi đạo chiếm khoảng 25%). Những đạo khác bao gồm Shaman giáoNho giáo, tuy nhiên hai đạo sau được nhìn nhận như là triết lý phổ biển của xã hội hơn.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Cheonggyecheon chảy qua khu trung tâm Seoul.

Với việc là nơi đặt trụ sở đầu não của những tập đoàn Tài phiệt lớn nhất thế giới như Samsung, LG, Hyundai, Lotte hay CJ, lĩnh vực dịch vụ tại Seoul đã phát triển nhanh chóng, đóng góp cho nền kinh tế quốc gia cũng như sự phát triển của đất nước. Hàn Quốc thu được 63,2% GDP từ khu vực dịch vụ, trên cả thu nhập quốc gia bình quân. Các sản phẩm xuất khẩu chính là hàng điện tử, ô tô và thiết bị máy móc. Sự phát triển kinh tế này cũng giúp tỉ lệ thất nghiệp chỉ giữ ở mức 3,4%. Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tại đây cũng rất cao, vào khoảng hơn 4 tỉ dollar Mỹ. Tuy nhiên, Hàn Quốc có thể bị đe dọa với một nền kinh tế đang tăng trưởng chậm và điều này có thể ảnh hưởng tới chính Hàn Quốc cũng như sự phát triển của đất nước này. Là một trong "bốn con Rồng của châu Á", Hàn Quốc đã trải qua một giai đoạn phát triển vượt bậc vào những năm 90. Tuy nhiên, tài liệu của CIA đã chỉ ra rằng kinh tế Hàn Quốc đã có dấu hiệu của sự tăng trưởng ở mức vừa phải trong giai đoạn từ 2003 đến 2006 với tốc độ tăng trưởng bình quân 4-5%. Sự suy giảm về tiêu thụ hàng hóa của người tiêu dùng đã hạn chế tốc độ phát triển kinh tế của Hàn Quốc, tuy nhiên sự tiêu thụ cũng đã bắt đầu dần tăng trưởng trở lại. Nhìn chung, kinh tế của Hàn Quốc đã và đang chạy với tốc độ tốt và viễn cảnh của nó là rất khả quan.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Các ngành công nghiệp sản xuất truyền thống, lao động thâm canh liên tục được thay thế bằng công nghệ thông tin, điện tử và lắp ráp các ngành công nghiệp; tuy nhiên, sản xuất thực phẩmđồ uống cũng như công nghiệp in ấnxuất bản vẫn nằm trong các ngành công nghiệp cốt lõi. Các nhà sản xuất lớn có trụ sở tại thành phố, bao gồm Samsung, LG, Hyundai, KiaSK. Các công ty thực phẩm và đồ uống đáng chú ý bao gồm Jinro, có soju là loại đồ uống có cồn bán chạy nhất trên thế giới, đánh bại Smirnoff vodka, nhà sản xuất bia hàng đầu Hite (sáp nhập với Jinro) và Oriental Brewery. Thành phố cũng sở hữu những công ty cung cấp thực phẩm như Seoul Dairy Cooperative, Nongshim, Ottogi, CJ, Orion, Maeil Holdings, Namyang Dairy Products và Lotte.

Tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Seoul tập trung nhiều trụ sở của các công ty đa quốc giangân hàng, bao gồm 15 công ty trong danh sách Fortune Global 500 của tạp chí Forbes như Samsung, LG và Hyundai. Hầu hết các trụ sở ngân hàng và Sở giao dịch Hàn Quốc đều nằm ở Yeouido (đảo Yeoui), thường được gọi là "Phố Wall của Hàn Quốc" và đã từng là trung tâm tài chính của thành phố từ những năm 1980. Trung tâm tài chính quốc tế Seoul & SIFC MALL, tòa nhà Hanhwa 63, trụ sở chính của công ty bảo hiểm Hanhwa. Hanhwa là một trong ba công ty bảo hiểm lớn nhất Hàn Quốc, cùng với nhóm bảo hiểm nhân thọ của Samsung Life và Gangnam & Kyob.

Thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Thị trường bán buôn và bán lẻ lớn nhất ở Hàn Quốc, chợ Dongdaemun, nằm ở Seoul. Myeongdong là khu mua sắm và giải trí ở trung tâm thành phố Seoul với các cửa hàng trung cấp, cao cấp, cửa hàng thời trang và các cửa hàng thương hiệu quốc tế. Chợ Namdaemun gần đó, được đặt tên theo Cổng NamdaemunSungnyemun, là chợ chạy liên tục lâu đời nhất ở Seoul.

Insa-dong là chợ nghệ thuật văn hóa của Seoul, nơi các tác phẩm nghệ thuật truyền thống và hiện đại của Hàn Quốc, như tranh vẽ, tác phẩm điêu khắcthư pháp được bán. Chợ trời Hwanghak-dong và Chợ Cổ Janganpyeong cũng cung cấp các sản phẩm đồ cổ. Một số cửa hàng cho các nhà thiết kế địa phương đã mở tại Samcheong-dong, nơi có rất nhiều phòng trưng bày nghệ thuật nhỏ. Trong khi Itaewon đã phục vụ chủ yếu cho khách du lịch nước ngoài và lính Mỹ có trụ sở tại thành phố, người Hàn Quốc hiện nay bao gồm phần lớn du khách đến khu vực. Quận Gangnam là một trong những khu vực giàu có nhất ở Seoul và được ghi nhận cho các khu vực Apgujeong-dongCheongdam-dong thời thượng và cao cấp và trung tâm mua sắm COEX Mall. Các chợ bán buôn bao gồm Chợ Thủy sản NoryangjinChợ Garak.

Chợ thiết bị điện tử Yongsan là thị trường điện tử lớn nhất châu Á. Thị trường điện tử là ga tàu điện ngầm Gangbyeon tuyến 2, Techno mart, ENTER6 MALL & khu phức hợp trung tâm mua sắm Technindart Shindorim.

Times Square là một trong những trung tâm mua sắm lớn nhất của Seoul với CJ CGV - cụm rạp chiếu phim với màn hình dài hơn 35m (lớn nhất trên thế giới).

Khu phức hợp Trung tâm Thương mại Thế giới Hàn Quốc, bao gồm trung tâm mua sắm COEX, trung tâm đại hội, 3 khách sạn Inter-continental, tháp kinh doanh (tháp Asem), khách sạn Residence, Casino và nhà ga sân bay thành phố được thành lập năm 1988 trong thời gian diễn ra Thế vận hội Mùa hè 1988 ở Seoul. Trung tâm thương mại thương mại thế giới thứ 2 đang có kế hoạch tổ hợp sân vận động Olympic Seoul như MICE HUB của thành phố Seoul. Tòa nhà văn phòng chính của Ex-Kepco đã được mua lại bởi tập đoàn Hyundai với hơn 10 tỷ USD để xây dựng tòa nhà Hyundai GBC & khách sạn 115 tầng cho đến năm 2021. Hiện tại tòa nhà 25 tầng cũ đang được phá dỡ.

Công nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Seoul được các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ cao trên thế giới mô tả là "Thành phố có tốc độ xử lí thông tin nhanh nhất trên thế giới", ngoài ra, thành phố này còn được xếp hạng đầu tiên về mức độ "sẵn sàng cho công nghệ mới" – theo báo cáo mới nhất về các "Thành phố cơ hội" của PwC. Seoul có cơ sở hạ tầng công nghệ rất tiên tiến, hiện đại.

Seoul là một trong những thành phố hàng đầu thế giới về kết nối Internet, là thủ đô của Hàn Quốc – nơi có mức thâm nhập băng thông rộng cáp quang cao nhất thế giới và tốc độ internet trung bình toàn cầu cao nhất là 26,1 Mbit / s. Kể từ năm 2015, Seoul đã cung cấp truy cập Wi-Fi miễn phí trong không gian ngoài trời thông qua dự án trị giá 47,7 tỷ won (44 triệu USD) với truy cập Internet tại 10,430 công viên, đường phố và các địa điểm công cộng khác. Tốc độ Internet ở một số tòa nhà chung cư đạt tới 52,5 Gbit / giây với sự hỗ trợ của Nokia và mặc dù tiêu chuẩn trung bình bao gồm 100 dịch vụ / giây, các nhà cung cấp trên toàn quốc đang nhanh chóng triển khai các kết nối 1 Gbit / giây với mức tương đương 20 USD mỗi tháng. Ngoài ra, thành phố được phục vụ bởi đường sắt cao tốc KTX và hệ thống Tàu điện ngầm Seoul, nơi cung cấp 4G LTE, WiFi và công nghệ truyền phát đa phương tiện kỹ thuật số (DMB) bên trong các toa tàu điện ngầm. 5G sẽ được giới thiệu thương mại vào tháng 3 năm 2019 tại Seoul.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Các trường đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Seoul là nơi tập trung phần lớn các trường đại học danh giá và lâu đời nhất Hàn Quốc, bao gồm: Đại học Quốc gia Seoul, Đại học Yonsei, Đại học Cao Ly, Đại học Sogang, Đại học Thành Quân Quán, Đại học Hanyang, Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc, Đại học Chung-Ang, Đại học Kyunghee, Đại học Seoul, Đại học Nữ giới Ewha, Đại học Hongik, Đại học Konkuk, Đại học DonggukĐại học Soongsil,...

Seoul xếp thứ 10 trong bảng xếp hạng "Thành phố tốt nhất cho sinh viên" năm 2018.

Giáo dục trung học[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục bắt buộc kéo dài từ lớp 1-9 (sáu năm tiểu học và 3 năm trung học cơ sở). Học sinh học sáu năm ở trường tiểu học, ba năm trung học cơ sở, và ba năm trung học. Các trường trung học thường yêu cầu học sinh mặc đồng phục. Có một kỳ thi để tốt nghiệp trung học và nhiều sinh viên tiến lên cấp đại học được yêu cầu tham dự kỳ thi Đại học Scholastic Ability được tổ chức vào tháng 11 hàng năm. Mặc dù có một bài kiểm tra cho các học sinh tốt nghiệp trung học, được gọi là kỳ thi lấy bằng cấp trường, hầu hết người Hàn Quốc đều làm bài kiểm tra.

Seoul là nơi có nhiều trường chuyên ngành, bao gồm ba trường trung học khoa học (Hansung Science High School, Trường Trung học Khoa học Sejong và Trường Trung học Khoa học Seoul), và sáu trường Trung học Ngoại ngữ (Trường Ngoại ngữ Daewon, Trường Ngoại ngữ Daeil, Ewha) Trường trung học ngoại ngữ của nữ sinh, trường trung học ngoại ngữ Hanyoung, trường trung học ngoại ngữ Myungduk và trường trung học ngoại ngữ Seoul). Văn phòng Giáo dục Thủ đô Seoul bao gồm 235 trường Trung học chuyên nghiệp, 80 trường dạy nghề, 377 trường trung học cơ sở và 33 trường giáo dục đặc biệt vào năm 2009.

Kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Trái tim truyền thống của Seoul là kinh đô của triều đại Joseon cũ, bây giờ là khu vực trung tâm thành phố, nơi có hầu hết các cung điện, văn phòng chính phủ, trụ sở công ty, khách sạn và chợ truyền thống. Cheonggyecheon, một dòng suối chảy từ tây sang đông qua thung lũng trước khi đổ vào sông Hán, đã được nhiều năm phủ kín bê tông, nhưng gần đây đã được khôi phục bởi một dự án hồi sinh đô thị vào năm 2005. Đường Jongno, có nghĩa là "Phố Chuông", là một đường phố chính và là một trong những con phố thương mại đầu tiên của thành phố, nơi người ta có thể tìm thấy Bosingak, một gian hàng có chứa một cái chuông lớn. Tiếng chuông báo hiệu những thời điểm khác nhau trong ngày và điều khiển bốn cổng chính đến thành phố. Phía bắc của trung tâm thành phố là núi Bukhan, và phía nam là Namsan nhỏ hơn. Xa hơn về phía nam là vùng ngoại ô cũ, quận Yongsanquận Mapo. Bên kia sông Hán là những khu vực mới và giàu có hơn của quận Gangnam, quận Seocho và các khu vực lân cận.

Kiến trúc lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Changdeokgung, một trong năm cung điện lớn của Hàn Quốc, là Di sản thế giới của UNESCO.

Seoul có nhiều địa danh lịch sử và văn hóa. Tại khu định cư thời tiền sử Amsa-dong, quận Gangdong, những tàn tích từ thời kỳ đồ đá mới được khai quật và vô tình phát hiện bởi một trận lụt vào năm 1925.

Quy hoạch đô thị và dân sự là một khái niệm quan trọng khi Seoul lần đầu tiên được thiết kế để phục vụ như một thủ đô vào cuối thế kỷ 14. Triều đại Joseon đã xây dựng "Ngũ Đại Cung" ở Seoul - Changdeokgung, Changgyeonggung, Deoksugung, GyeongbokgungGyeonghuigung - tất cả đều nằm ở quận Jongno và quận Jung. Trong số đó, Changdeokgung đã được thêm vào danh sách Di sản thế giới của UNESCO vào năm 1997 như là một "ví dụ nổi bật về kiến ​​trúc cung điện và thiết kế sân vườn vùng Viễn Đông". Cung điện chính, Gyeongbokgung, đã trải qua một dự án phục hồi quy mô lớn. Các cung điện được coi là kiến ​​trúc gương mẫu của thời kỳ Joseon. Bên cạnh các cung điện, Unhyeongung được biết đến là nơi cư trú hoàng gia của Hưng Tuyên Đại Viện Quân, cha đẻ của hoàng đế Triều Tiên Cao Tông vào cuối triều đại Joseon.

Deoksugung vào mùa thu.

Seoul đã được bao quanh bởi các bức tường được xây dựng để điều chỉnh lượng dân cư đến từ các khu vực khác và bảo vệ kinh thành trong trường hợp bị xâm lược. Pungnap Toseong là một bức tường đất bằng phẳng được xây dựng ở rìa sông Hán, nơi được cho là địa điểm của Wiryeseong. Mongchon Toseong (Hangul: 몽촌 토성; Hanja: 蒙 村 土城) là một bức tường đất khác được xây dựng trong thời Bách Tế hiện đang nằm bên trong Công viên Olympic. Bức tường Pháo đài của Seoul được xây dựng sớm trong triều đại Joseon để bảo vệ kinh thành. Sau nhiều thế kỷ của sự hủy diệt và xây dựng lại, khoảng ⅔ của bức tường vẫn còn, cũng như sáu trong tám cửa ban đầu. Các cổng này bao gồm SungnyemunHeunginjimun, thường được gọi là Namdaemun (cổng Nam) và Dongdaemun (cổng Đông). Namdaemun là cánh cổng bằng gỗ lâu đời nhất cho đến một vụ tấn công bằng xà cừ năm 2008, và được mở lại sau khi được phục hồi hoàn toàn vào năm 2013. Nằm gần các cửa là các chợ truyền thống và trung tâm mua sắm lớn nhất, chợ Namdaemunchợ Dongdaemun.

Ngoài ra còn có nhiều tòa nhà được xây dựng theo phong cách quốc tế vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Cổng Độc lập được xây dựng vào năm 1897 để truyền cảm hứng cho một tinh thần độc lập. Ga Seoul được khai trương vào năm 1900 như ga Gyeongseong.

Kiến trúc hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều tòa nhà văn phòng và nhà ở cao tầng khác nhau, như Trung tâm Tài chính Gangnam, Samsung Tower Palace, Tháp Namsan Seoul và Tháp Lotte World, chiếm ưu thế trên đường chân trời của thành phố. Tòa nhà cao nhất là Lotte World Tower, đạt chiều cao 555m. Tòa tháp mở cửa cho công chúng vào tháng 4 năm 2017.

Trung tâm Seoul cùng với tháp Lotte World Tower ở đằng xa.

Trung tâm thương mại thế giới Seoul, nằm ở quận Gangnam, tổ chức nhiều triển lãm và hội nghị khác nhau. Cũng ở quận Gangnam là trung tâm mua sắm COEX Mall, khu mua sắm và giải trí lớn trong nhà. Hạ lưu từ quận Gangnam là Yeouido, một hòn đảo có Quốc hội, các hãng phát sóng lớn, và một số tòa nhà văn phòng lớn, cũng như Tòa nhà Tài chính Hàn Quốc và Nhà thờ Yoido Full Gospel. Sân vận động Olympic (Seoul), công viên Olympic và Lotte World nằm ở quận Songpa, phía nam sông Hán, phía thượng nguồn của quận Gangnam. Ba điểm mốc hiện đại mới của Seoul là Dongdaemun Design Plaza & Park, được thiết kế bởi Zaha Hadid, Tòa thị chính Seoul hình sóng mới, bởi Yoo Kerl của iArc, và Lotte World Tower, tòa nhà cao thứ 5 trên thế giới được thiết kế bởi Kohn Pederson Fox.

Năm 2010, Seoul được chỉ định là "Thủ đô Thiết kế" của Thế giới trong năm.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Gần như tất cả ôtô ở Hàn Quốc (Seoul nói riêng) đều do các tập đoàn xe hơi trong nước như: Hyundai, KIA, Daewoo...sản xuất.

Giao thông của Seoul bắt đầu bùng nổ từ thời kỳ Đế quốc Đại Hàn, khi những con đường ô tô đầu tiên được đặt nền móng, một con đường nổi Seoul với Incheon được hoàn thành trong giai đoạn này. Seoul có hơn 5 triệu phương tiện giao thông được đăng ký vì vậy tắc nghẽn giao thông đã trở thành một điều thường nhật tại thành phố này.

Xe buýt[sửa | sửa mã nguồn]

Xe buýt ở Seoul.

Hệ thống xe buýt của Seoul được điều hành bởi chính quyền Seoul Metropolitan (S.M.G.), với bốn cấu hình xe buýt chính phục vụ hầu hết các thành phố. Seoul có nhiều bến xe buýt liên tỉnh / tốc hành lớn. Các xe buýt này kết nối Seoul với các thành phố trên khắp Hàn Quốc. Bến Xe buýt Seoul Express, Nhà ga Trung tâm Thành phố và Ga Seoul Nambu nằm ở quận Seocho. Ngoài ra, Bến Xe buýt Đông Seoul ở quận Gwangjin và Ga Sangbong ở Quận Jungnang xử lý buôn bán chủ yếu từ các tỉnh GangwonChungcheong.

Tàu điện ngầm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tàu điện ngầm Seoul
Một hành khách trong hành lang chờ của tàu điện ngầm tuyến số 5.

Seoul có một hệ thống tàu điện ngầm nối mỗi quận của thành phố và các khu vực xung quanh. Với lượng khánh hơn 10 triệu người mỗi ngày, hệ thống tàu điện ngầm của Seoul được xếp vào một trong những hệ thống tàu điện ngầm bận rộn nhất trên thế giới. Tàu điện ngầm vùng đô thị Seoul có 21 tuyến phục vụ Seoul, Incheon, Gyeonggi, tây Gangwon, và bắc Chungnam. Ngoài ra, để đối phó với nhiều hình thức vận chuyển khác nhau, chính quyền vùng đô thị Seoul thuê một số nhà toán học để tính toán việc điều phối tàu điện ngầm, xe buýt, và lịch giao thông theo một thời gian biểu. Nhiều tuyến khác nhau được vận hành bởi Korail, Seoul Metro, Tổng công ty đường sắt cao tốc đô thị Seoul, AREX, Shinbundang Railroad CorporationMetro 9.

Tàu cao tốc[sửa | sửa mã nguồn]

Seoul được kết nối với mọi thành phố lớn ở Hàn Quốc bằng đường sắt. Seoul cũng liên kết với hầu hết các thành phố lớn của Hàn Quốc bằng tàu cao tốc KTX, có tốc độ di chuyển bình thường hơn 300 km/h (186 dặm một giờ). Một chuyến tàu dừng ở tất cả các điểm dừng chính là tàu lửa Mugunghwa và Saemaeul. Các ga đường sắt chính bao gồm:

  • Ga Seoul, Quận Yongsan: Tuyến Gyeongbu (KTX / ITX-Saemaeul / Nuriro / Mugunghwa-ho)
  • Ga Yongsan, Quận Yongsan: Tuyến Honam (KTX / ITX-Saemaeul / Nuriro / Mugunghwa), tuyến Jeolla / Janghang (Saemaul / Mugunghwa)
  • Ga Yeongdeungpo, Quận Yeongdeungpo: Tuyến Gyeongbu / Honam / Janghang (KTX / ITX-Saemaeul / Saemaul / Nuriro / Mugunghwa)
  • Ga Cheongnyangni, Quận Dongdaemun: Tuyến Gyeongchun / Jungang / Yeongdong / Taebaek (ITX-Cheongchun / ITX-Saemaeul / Mugunghwa)
  • Ga Suseo (HSR), Quận Gangnam: Suseo HSR (SRT)

Hàng không[sửa | sửa mã nguồn]

Có hai sân bay quốc tế nằm ở Seoul. Sân bay quốc tế Gimpo, từng nằm ở Gimpo nhưng đã được xáp nhập vào Seoul từ năm 1963, là sân bay quốc tế duy nhất cho Seoul từ khi được xây dựng lần đầu trong thời Chiến tranh Triều Tiên. Ngoài ra, còn một vài sân bay nội địa khác được xây dựng trong thời chiến, bao gồm một sân bay nằm ở Yeouido.

Khánh thành vào tháng 3 năm 2001, Sân bay quốc tế Incheon tại đảo YeongjongIncheon đã thay thế tầm quan trọng của sân bay Gimpo. Incheon hiện giờ thực hiện hầu hết tất cả các chuyến bay trong nước và quốc tế trừ những chuyến bay tới Sân bay HanedaTokyoSân bay Hồng KiềuThượng Hải. Điều này đã làm giảm rất nhiều tần suất bay của sân bay Gimpo.

Sân bay quốc tế Incheon, cùng với Sân bay quốc tế Hồng Kôngsân bay Changi, đã trở thành những trung tâm vận tải quan trọng ở châu Á. Trong một cuộc đồng điều tra của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tếHội đồng Sân bay Quốc tế đã bầu chọn Incheon là sân bay tốt nhất thế giới. Skytrax chọn đây là một trong 5 sân bay tốt nhất thế giới năm 2006.

Incheon và Gimpo nối với thành phố Seoul bằng đường quốc lộ, Gimpo còn được nối bằng đường điện ngầm số 5.

Xe đạp[sửa | sửa mã nguồn]

Đi xe đạp ngày càng trở nên phổ biến ở Seoul và trong cả nước. Cả hai bờ sông Hán đều có đường đi xe đạp chạy khắp thành phố dọc theo con sông. Ngoài ra, Seoul đã giới thiệu vào năm 2015 một hệ thống chia sẻ xe đạp có tên là Ddareungi.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố là nơi quy tụ của các công ty giải trí hàng đầu ở Hàn Quốc cũng như Châu Á, một số cái tên tiêu biểu có thể nhắc đến như: SM Entertainment, JYP Entertainment, YG Entertainment, Cube Entertainment, Big Hit Entertainment,... của những nhóm nhạc K-Pop và các ca sĩ đơn nổi tiếng nhất. Có một số bài hát viết về Seoul như: "Seoul Song" (Super Junior & Girls' Generation), "Fly To Seoul" (2PM, Girls' generation), "Seoul" (SNSD; Super Junior), "Moon of Seoul "(KihyunMonstaX), "With Seoul" (BTS), "Seoul" (RMBTS), "Seoul" (Lee Hyori),...

Các di tích lịch sử và bảo tàng[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Triều Tiên đã xây dựng Ngũ cung ở Seoul. Hai trong số 5 cung điện được miêu tả trong bức Đông Cung Đồ.

Bảo tàng[sửa | sửa mã nguồn]

Seoul là nơi có 115 viện bảo tàng, bao gồm bốn bảo tàng quốc gia và chín bảo tàng thành phố chính thức. Trong số các bảo tàng quốc gia của thành phố, Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc là đại diện nhất của bảo tàng không chỉ ở Seoul mà là toàn Hàn Quốc. Từ khi thành lập vào năm 1945, bảo tàng đã xây dựng một bộ sưu tập 220.000 hiện vật. Vào tháng 10 năm 2005, bảo tàng đã chuyển đến một tòa nhà mới ở công viên Yongsan. Bảo tàng dân gian quốc gia nằm trên cơ sở cung điện Gyeongbokgung ở quận Jongno và sử dụng bản sao của các vật thể lịch sử để minh họa lịch sử dân gian của người Triều Tiên. Bảo tàng Cung điện Quốc gia Hàn Quốc cũng nằm trong khuôn viên Cung điện Gyeongbokgung. Cuối cùng, chi nhánh Seoul của Bảo tàng nghệ thuật đương đại quốc gia (Hàn Quốc), có bảo tàng chính nằm ở Gwacheon, khai trương vào năm 2013, ở Sogyeok-dong.

Làng Hanok BukchonLàng Namsangol Hanok là những khu dân cư cũ hanok bao gồm các ngôi nhà truyền thống của Hàn Quốc, công viên và bảo tàng cho phép du khách trải nghiệm văn hóa truyền thống Hàn Quốc.

Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc.
Bảo tàng dân gian quốc gia Hàn Quốc.

Đài tưởng niệm chiến tranh, một trong chín bảo tàng thành phố ở Seoul, mang đến cho du khách một trải nghiệm giáo dục và cảm xúc về nhiều cuộc chiến tranh khác nhau mà Hàn Quốc tham gia, bao gồm cả các chủ đề chiến tranh Triều Tiên. Nhà tù Seodaemun là một nhà tù cũ được xây dựng trong thời gian Nhật Bản chiếm đóng, và hiện đang được sử dụng như một bảo tàng lịch sử.

Bảo tàng Nghệ thuật Seoul và Bảo tàng Nghệ thuật Ilmin đã bảo tồn sự xuất hiện của tòa nhà cũ độc đáo về mặt hình ảnh từ các tòa nhà cao tầng, hiện đại lân cận. Ban đầu được điều hành bởi Hội đồng thành phố Seoul và nằm kế bên Cung điện Gyeonghuigung, cung điện hoàng gia Joseon. Leeum, Bảo tàng Nghệ thuật Samsung, được coi là một trong những bảo tàng tư nhân lớn nhất Seoul. Đối với nhiều người yêu phim Hàn Quốc từ khắp nơi trên thế giới, Korean Film Archive đang điều hành Bảo tàng Điện ảnh Hàn Quốc và Cinematheque KOFA tại trung tâm chính của nó ở Digital Media City (DMC), Sangam-dong. Bảo tàng Đồ dùng Nhà bếp & Tteok và Bảo tàng Kimchi Field cung cấp thông tin về lịch sử ẩm thực Triều Tiên.

Ngoại ô vùng đại đô thi:

Chùa và đền[sửa | sửa mã nguồn]

Địa danh tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ Myeongdong

Ngoài ra còn có các tòa nhà tôn giáo có vai trò quan trọng trong xã hội và chính trị Hàn Quốc. Viên Khâu Đàm là một nơi các hoàng đế đã tổ chức các nghi lễ tế trời từ thời Tam Quốc. Kể từ khi triều đại Joseon thông qua Nho giáo như hệ tư tưởng quốc gia của nó trong thế kỷ 14, nhà nước xây dựng nhiều đền thờ Nho giáo. Hậu duệ của gia đình hoàng gia Joseon vẫn tiếp tục tổ chức các buổi lễ tưởng nhớ tổ tiên tại Jongmyo. Đây là ngôi đền Khổng giáo lâu đời nhất của hoàng gia được bảo tồn và các nghi lễ nghi lễ tiếp tục một truyền thống được thành lập vào thế kỷ 14. Munmyo và Dongmyo được xây dựng trong cùng thời kỳ. Mặc dù Phật giáo đã bị đàn áp bởi nhà nước Joseon, nó vẫn tiếp tục tồn tại. Jogyesa là trụ sở của Lệnh Jogye của Phật giáo Hàn Quốc. Hwagyesa và Bongeunsa cũng là những ngôi chùa Phật giáo lớn ở Seoul.

Nhà thờ Myeongdong là một địa danh của Myeongdong, Quận Jung và nhà thờ Công giáo lớn nhất được thành lập vào năm 1883. Đây là biểu tượng của Công giáo tại Hàn Quốc. Nó cũng là một trọng tâm cho bất đồng chính trị trong những năm 1980. Bằng cách này, Giáo hội Công giáo La Mã có ảnh hưởng rất lớn trong xã hội Hàn Quốc.

Có rất nhiều nhà thờ Tin Lành ở Seoul. Nhiều nhất là người theo thuyết, nhưng cũng có nhiều nhà thờ Methodist, Baptist và Lutheran. Yoido Full Gospel Church là một nhà thờ Ngũ Tuần liên kết với Hội chúng của Thiên Chúa trên Yeouido ở Seoul. Với khoảng 830.000 thành viên (2007), đây là hội thánh Kitô giáo Ngũ Tuần lớn nhất thế giới, được sách kỷ lục thế giới Guinness công nhận.

Công viên[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù mật độ dân số cao của thành phố, Seoul có một số lượng lớn các công viên. Một trong những công viên nổi tiếng nhất là Công viên Namsan, nơi có hoạt động đi bộ đường dài giải trí và tầm nhìn ra đường chân trời thành phố Seoul. Tháp N Seoul Tower nằm ở công viên Namsan. Công viên Olympic Seoul, nằm ở Quận Songpa và được xây dựng để tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1988 là công viên lớn nhất Seoul. Trong số các công viên lớn nhất trong thành phố là Seoul Forest, Dream Forest, Children's Grand Park và Haneul Park. Chùa Wongaksa 10 tầng nằm ở Công viên Tapgol, một công viên công cộng nhỏ với diện tích 19.599 m2 (210.962 sq ft). Các khu vực xung quanh suối là nơi công cộng để thư giãn và giải trí. Suối Tancheon và khu vực gần đó đóng vai trò là một công viên rộng lớn với các lối đi cho cả người đi bộ lẫn người đi xe đạp. Cheonggyecheon, một dòng suối chạy gần 6 km (4 dặm) qua trung tâm thành phố Seoul, rất phổ biến đối với cả cư dân và khách du lịch Seoul. Vào năm 2017, Skypark Seoullo 7017 được mở ra, trải dài trên khắp Ga Seoul.

Công viên Olympic Seoul

Ngoài ra còn có nhiều công viên dọc theo sông Hán, như Công viên Ichon Hangang, Công viên Yeouido Hangang, Công viên Mangwon Hangang, Công viên Nanji Hangang, Công viên Banpo Hangang, Công viên Ttukseom Hangang và Công viên Jamsil Hangang. Thủ đô Quốc gia Seoul cũng có một vành đai xanh nhằm ngăn chặn thành phố trải rộng ra tỉnh Gyeonggi lân cận. Những khu vực này thường được những người tìm cách thoát khỏi cuộc sống đô thị vào cuối tuần và trong các kỳ nghỉ. Ngoài ra còn có nhiều công viên khác đang được xây dựng hoặc trong dự án, chẳng hạn như Đường mòn Rừng Gyeongui, Ga Seoul 7017, Công viên Tưởng niệm Seosomun và Công viên Yongsan.

Seoul cũng là nơi có công viên giải trí trong nhà lớn nhất thế giới, Lotte World. Các trung tâm giải trí khác bao gồm các sân vận động phục vụ cho các kỳ Olympic, World Cup cũ và bãi cỏ công cộng City Hall.

Lễ hội[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 10 năm 2012, KBS Hall ở Seoul đã tổ chức các lễ hội âm nhạc quốc tế lớn - TV ABU đầu tiên và các Liên hoan Song ca trong khuôn khổ Đại hội đồng Liên minh Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 49. Hi! Seoul Festival là một lễ hội văn hóa theo mùa được tổ chức bốn lần một năm vào mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông ở Seoul, Hàn Quốc kể từ năm 2003. Dựa trên "Ngày công dân Seoul" được tổ chức vào mỗi tháng 10 kể từ năm 1994 để kỷ niệm 600 năm lịch sử của Seoul là thủ đô của đất nước. Lễ hội được sắp xếp dưới quyền Thủ đô Seoul. Tính đến năm 2012, Seoul đã tổ chức Ultra Music Festival Korea, một lễ hội âm nhạc khiêu vũ thường niên diễn ra vào cuối tuần thứ hai của tháng 6.

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Pháo hoa trong lễ bế mạc Thế vận hội Mùa hè 1988 ở Seoul.

Seoul đã từng tổ chức Đại hội Thể thao châu Á 1986, Thế vận hội Mùa hè 1988Paralympic Games 1988. Đây cũng là một trong những thành phố chủ nhà của FIFA World Cup 2002. Sân vận động World Cup Seoul là nơi tổ chức lễ mở màn và trận đấu đầu tiên của giải đấu.

Taekwondo (Túc thủ đạo) là môn quốc võ của Hàn Quốc và Seoul chính là nơi đặt trụ sở của Quốc kỹ viện, hay còn được biết đến là Liên đoàn Taekwondo Thế giới.

Thành phố có ba đội bóng chày trong Tổ chức Bóng chày Hàn Quốc là: Doosan Bears, LG Twins, và Woori Heros,Samsung Lions. Hai đội bóng rổ trong giải bóng rổ Hàn Quốc: Seoul Samsung ThundersSeoul SK Knights.

Ngoài ra còn có một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp tại Seoul là CLB FC Seoul, đội bóng tham dự giải K-League. Có hai đội bóng giải K3 League đặt tại Seoul là Seoul UnitedEungpyeong Chung-goo FC.

Những câu lạc bộ địa phương[sửa | sửa mã nguồn]

Bóng đá[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bóng đá nam
Hạng Giải Đội Sân nhà
1 K League 1 FC Seoul Sân vận động World Cup Seoul (Bắc Seoul)
2nd K League 2 Seoul E-Land FC Sân vận động Olympic (Seoul) (Nam Seoul)
4th K3 League Seoul United FC Sân vận động Madeul
Jungnang Chorus Mustang FC Sân vận động Jungnang
  • Bóng đá nữ
Hạng Giải Đội Sân nhà
1 WK League Seoul WFC Sân vận động Hyochang, Sân vận động Olympic (Seoul)

Bóng chày[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Đội Sân nhà
KBO League
LG Twins Sân vận động Jamsil
Doosan Bears
Nexen Heroes Gocheok Sky Dome

Bóng rổ[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Đội Sân nhà
KBL
Seoul SK Knights Jamsil Students' Gymnasium
Seoul Samsung Thunders Jamsil Arena

Bóng chuyền[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Đơn Đội Sân nhà
V-League
Nam Seoul Woori Card Hansae Jangchung Arena
Nữ GS Caltex Seoul KIXX

Bóng ném[sửa | sửa mã nguồn]

  • Doosan, SK Sugar Gliders và Seoul City

Các thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Một vài hình ảnh về Seoul[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trước năm 1972, Seoul là thủ đô "de jure" của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) như được nêu trong mục 103 của Hiến pháp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên seoul1
  3. ^ 행정안전부. 행정안전부> 정책자료> 통계> 주민등록 인구통계. www.mois.go.kr. 
  4. ^ “Color”. 
  5. ^ “Seoul's symbols”. Seoul Metropolitan Government. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
  6. ^ 논란 겪은 ‘I·SEOUL·U’ 서울 공식브랜드로 확정. 
  7. ^ “wearetop10.com Top 10 Wealthiest Cities of the World by GDP”. 
  8. ^ “Global city GDP 2014”. Brookings Institution. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2014. 
  9. ^ This includes Incheon and Gyeonggi Province
  10. ^ “City Mayors: The world's largest cities (1 to 100)”. 
  11. ^ “The Digital Divide at a glance”. 
  12. ^ “Current population of the Seoul National Capital Area”. Statistics Korea. 
  13. ^ http://kosis.kr/abroad/abroad_01List.jsp?parentId=A
  14. ^ “Cuộc 'lột xác' từ cống nước thải đến dòng suối mát ở Seoul”. https://vnexpress.net/. 
  15. ^ 서울특별시표기 首爾로...중국, 곧 정식 사용키로:: 네이버 뉴스 (bằng tiếng Hàn). News.naver.com. Ngày 23 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2012. 
  16. ^ 'Seoul' morphs into Chinese 'Shouer'. Chinadaily.com.cn. Ngày 20 tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2012. 
  17. ^ “goodcharacters.com”. goodcharacters.com. 
  18. ^ “평년값자료(30년)” (bằng tiếng Triều Tiên). Korean Meteorological Administration. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  19. ^ “기후자료 극값(최대값) 전체년도 일최고기온 (℃) 최고순위, 서울(108)” (bằng tiếng Triều Tiên). Korea Meteorological Administration. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2017. 
  20. ^ “기후자료 극값(최대값) 전체년도 일최저기온 (℃) 최고순위, 서울(108)” (bằng tiếng Triều Tiên). Korea Meteorological Administration. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2017. 
  21. ^ “Climatological Normals of Korea” (PDF). Korea Meteorological Administration. 2011. tr. 499 and 649. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016. 

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]


Trang chủ[sửa | sửa mã nguồn]

Du lịch và thông tin đời sống[sửa | sửa mã nguồn]

  • i Tour Seoul – Trang hướng dẫn du lịch chính thức Seoul
  • VisitSeoul – The Official Seoul Tourism Guide YouTube Channel
  • Seoul Travel Guide – Thông tin du lịch dành cho khách đến Seoul

Bản đồ[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
'
Thủ đô của Baekje
18 BC–475 AD
Kế nhiệm:
Ungjin
Tiền nhiệm:
Gaegyeong
Thủ đô của Triều Tiên Kế nhiệm:
Huỷ bỏ
Tiền nhiệm:
Sáng tạo mới
Thủ đô của Hàn Quốc
1948–
Kế nhiệm:
Đương nhiệm