Bước tới nội dung

Gwangju

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Gwangju
Chuyển tự Tiếng Triều Tiên
 • Hangul광주 광역시
 • Hanja光州廣域市
 • Romaja quốc ngữGwangju-gwangyeoksi
 • McCune–ReischauerKwangju-kwangyŏksi
 • Hán ViệtQuang Châu quảng vực thị
Chuyển tự Tên ngắn
 • Hangul광주
 • Romaja quốc ngữGwangju
 • McCune–ReischauerKwangju
Hiệu kỳ của Gwangju
Hiệu kỳ
Bản đồ Hàn Quốc với thành phố được tô đậm.
Bản đồ Hàn Quốc với thành phố được tô đậm.
Gwangju trên bản đồ Thế giới
Gwangju
Gwangju
Quốc giaHàn Quốc
VùngHonam
Thủ đô?
Phân cấp hành chính5 khu
Chính quyền
 • KiểuThành phố Trực thuộc Trung ương
Diện tích
 • Tổng cộng501 km2 (193 mi2)
Dân số tháng 7/2025[1]
 • Tổng cộng1,398,538
 • Mật độ2,800/km2 (7,200/mi2)
Múi giờUTC+9
Mã ISO 3166KR-29
Thành phố kết nghĩaQuảng Châu, San Antonio, Medan, Đài Nam, Sendai
Tiếng địa phươngJeolla
Quang Châu quảng vực thị
Hanja
光州廣域市
Hán-ViệtQuang Châu quảng vực thị

Gwangju (tiếng Hàn광주, hanja光州 (Quang Châu) tiếng Hàn Quốc: [kwaŋ.dʑu] ) trước đây gọi là Kwangju, là thành phố lớn thứ sáu và là một trong 6 thành phố trực thuộc trung ương của Hàn Quốc kể từ năm 1986, nằm ở phía tây nam của bán đảo Triều Tiên. Thành phố từng là thủ phủ của tỉnh Nam Jeolla cho đến khi cơ quan đầu não của tỉnh được chuyển về làng Namak-ri, huyện Muan. Gwangju được xem là một trong những thành phố cổ nhất ở bán đảo Triều Tiên.

Tên của thành phố bao gồm các cụm từ Gwang (tiếng Hàn; Hanja; Hán-Việt: Quang) có nghĩa là "ánh sáng" và Ju (tiếng Hàn; Hanja; Hán-Việt: Châu) là một đơn vị hành chính cổ của Hàn Quốc; vì vậy mà thành phố mới có biệt danh là Thành phố ánh sáng. Trong suốt thời phong kiến, thành phố từng có tên là Muju (무주; 武州; Hán-Việt: Ngô Châu); bởi vào khoảng thời gian đó vua Tân La đã cho sáp nhập toàn bộ lãnh thổ kề cận để thành lập các tỉnh Gwangji, Ungju, Jeonju, và cả thành phố Muju cùng các tỉnh khác, cộng với ranh giới phía nam của Cao Câu Ly để tạo nên một triều đại Tân La thống nhất. Nằm ở trung tâm nông nghiệp trù phú của hai tỉnh Jeolla, Gwangju nổi tiếng với các loại ẩm thực phong phú và đa dạng.

Hiện nay, mặc dù đạt được nhiều bước tiến triển tốt trong bối cảnh xu thế công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nước đang diễn ra sôi nổi, tuy nhiên, thành phố Gwangju vẫn đang tiếp tục đối mặt với những khó khăn, thách thức như tình trạng ô nhiễm môi trường (đặc biệt là ô nhiễm không khí, thường xảy ra vào mùa đông - xuân) do khí thải phát ra từ xe cộ, trung tâm công nghiệp,... cùng hiện tượng sương mù; khủng hoảng nhân khẩu hết sức trầm trọng (dân số của Gwangju tính đến hết năm 2022 vẫn chưa vượt qua 1 triệu người kể từ thập niên 80). Thành phố Gwangju cần phải vượt qua những khó khăn, thách thức trên để có thể phát triển ngày một mạnh mẽ, bền vững hơn trong tương lai.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố được thành lập vào năm 57 trước Công nguyên. Đây là một trong những trung tâm hành chính của Baekje trong thời kỳ Tam Quốc.[2]

Dưới thời Đế quốc Nhật Bản cai trị, thành phố được gọi là Kōshū.Năm 1929, một cuộc xung đột giữa sinh viên Hàn Quốc và Nhật Bản trong thành phố đã dẫn đến Phong trào Độc lập Sinh viên Gwangju, một cuộc biểu tình khu vực đã dẫn đến một trong những cuộc nổi dậy lớn trên toàn quốc chống lại sự tàn bạo của Đế quốc Nhật Bản trong thời kỳ thuộc địa. Cuộc xung đột này đã sớm lan rộng ra toàn bán đảo Triều Tiên khiến cho Đế quốc Nhật phải ráo riết tập trung mọi lực lượng để trấn áp cuộc nổi dậy. Tuy thất bại, cuộc xung đột đã trở thành một tấm gương sáng chói lọi cho tinh thần đấu tranh chống Đế quốc Nhật Bản của người dân Triều Tiên sau này.

Nền công nghiệp hiện đại được thành lập tại Gwangju, và một tuyến đường sắt đến Seoul đã được xây dựng. Một số ngành công nghiệp phát triển bao gồm dệt bông, xay xát gạo và nhà máy bia. Việc xây dựng một khu công nghiệp được chỉ định vào năm 1967 đã thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp, đặc biệt là trong các lĩnh vực liên quan đến ngành công nghiệp ô tô

Trong giai đoạn đầu của chiến tranh Triều Tiên, toàn bộ lãnh thổ của thành phố Gwangju đã bị quân đội Bắc Triều Tiên chiếm đóng. Trong suốt thời gian đó thành phố đã bị tàn phá ghê gớm bởi quân đội Bắc Triều Tiên cùng các lực lượng ủng hộ địa phương. Sau khi chiến tranh qua đi, thành phố đã trải qua khá nhiều lần tu sửa lại với sự hỗ trợ của Mỹ để có thể trở thành thành phố Gwangju như ngày hôm nay.

Vào tháng 5 năm 1980, các cuộc biểu tình ôn hòa đã diễn ra tại Gwangju chống lại Chun Doo-hwan, người lãnh đạo cuộc đảo chính quân sự ngày 12 tháng 12 năm 1979. Các cuộc biểu tình đã bị lực lượng quân đội đàn áp, bao gồm cả các đơn vị tinh nhuệ của Bộ Tư lệnh Tác chiến Đặc biệt. Tình hình leo thang sau một cuộc đàn áp bạo lực, dẫn đến cuộc Khởi nghĩa Gwangju, nơi thường dân đã đột kích các kho vũ khí và tự trang bị vũ khí. Khi cuộc nổi dậy bị đàn áp 9 ngày sau đó, hàng ngìn thường dân và một số lực lượng cảnh sát/binh lính đã thiệt mạng. Sau khi chính quyền dân sự được tái lập vào năm 1987, một nghĩa trang quốc gia đã được thành lập để tưởng nhớ các nạn nhân của vụ việc.[3]

Năm 1986, Gwangju tách khỏi tỉnh Jeolla Nam để trở thành Thành phố trực thuộc trung ương (Jikhalsi), và sau đó trở thành Metropolitan City (Gwangyeoksi) vào năm 1995.[4]

Do có nhiều yếu tố, bao gồm cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa Baekje và Tân La, cũng như sự ưu tiên cho khu vực Gyeongsang bởi các nhà lãnh đạo chính trị trong nửa sau của thế kỷ 20, Gwangju vốn có lịch sử bỏ phiếu lâu dài cho các chính trị gia cánh tả và là thành trì chính của Đảng Dân chủ Đồng hành cùng với các đảng tiền nhiệm, cũng như Đảng Công lý tiến bộ

Nghệ thuật, văn hóa, ẩm thực / thực phẩm, xe hơi và dân chủ hóa được xem là những biểu tượng quan trọng nhất của thành phố Gwangju.

Gwangju đã tổ chức nhiều sự kiện thể thao như 2002 FIFA World Cup, 2015 Summer Universiade, 2019 World Aquatics Championships.

Phân chia hành chính

[sửa | sửa mã nguồn]

Gwangju được chia thành 5 khu ("Gu").

Tên Hangul Hanja Hán-Việt
Buk-gu 북구 北區 Bắc Khu
Dong-gu 동구 東區 Đông Khu
Gwangsan-gu 광산구 光山區 Quang Sơn Khu
Nam-gu 남구 南區 Nam Khu
Seo-gu 서구 西區 Tây Khu

Khí hậu

[sửa | sửa mã nguồn]

Gwangju có khí hậu cận nhiệt đới ẩm (Köppen: Cfa/Cwa) mát mẻ hơn với bốn mùa rõ rệt và lượng mưa quanh năm, đặc biệt là trong mùa gió mùa Đông Á vào những tháng mùa hè.

Mùa đông, tuy vẫn hơi lạnh, nhưng ôn hòa hơn so với Seoul và các thành phố xa hơn về phía bắc do vị trí của thành phố nằm ở phía tây nam bán đảo Triều Tiên. Mùa hè nóng ẩm với lượng mưa dồi dào, đặc biệt là dưới dạng giông bão. Gwangju là một trong những thành phố ấm áp nhất Hàn Quốc vào mùa hè do vị trí địa lý của nó.[cần dẫn nguồn]

Dữ liệu khí hậu của Gwangju
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 18.8
(65.8)
21.1
(70.0)
26.8
(80.2)
29.1
(84.4)
33.9
(93.0)
36.7
(98.1)
38.5
(101.3)
38.5
(101.3)
34.4
(93.9)
31.1
(88.0)
27.1
(80.8)
19.7
(67.5)
38.5
(101.3)
Trung bình ngày tối đa °C (°F) 5.3
(41.5)
7.8
(46.0)
13.0
(55.4)
19.6
(67.3)
24.3
(75.7)
27.5
(81.5)
29.6
(85.3)
30.7
(87.3)
26.9
(80.4)
21.8
(71.2)
14.6
(58.3)
8.1
(46.6)
19.1
(66.4)
Trung bình ngày °C (°F) 0.6
(33.1)
2.5
(36.5)
7.0
(44.6)
13.2
(55.8)
18.3
(64.9)
22.4
(72.3)
25.6
(78.1)
26.2
(79.2)
21.9
(71.4)
15.8
(60.4)
9.1
(48.4)
3.1
(37.6)
13.8
(56.8)
Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) −3.1
(26.4)
−1.8
(28.8)
2.1
(35.8)
7.5
(45.5)
13.0
(55.4)
18.2
(64.8)
22.5
(72.5)
22.8
(73.0)
17.8
(64.0)
10.9
(51.6)
4.5
(40.1)
−0.9
(30.4)
9.5
(49.1)
Thấp kỉ lục °C (°F) −19.4
(−2.9)
−17.7
(0.1)
−10.7
(12.7)
−4.5
(23.9)
1.4
(34.5)
7.2
(45.0)
14.9
(58.8)
12.6
(54.7)
5.6
(42.1)
−2.7
(27.1)
−7.2
(19.0)
−13.7
(7.3)
−19.4
(−2.9)
Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) 37.1
(1.46)
47.9
(1.89)
60.8
(2.39)
80.7
(3.18)
96.6
(3.80)
181.5
(7.15)
308.9
(12.16)
297.8
(11.72)
150.5
(5.93)
46.8
(1.84)
48.8
(1.92)
33.5
(1.32)
1.391
(54.76)
Số ngày giáng thủy trung bình (≥ 0.1 mm) 11.0 9.0 9.5 8.9 9.3 10.7 15.5 14.9 9.8 6.8 9.0 10.0 124.4
Số ngày tuyết rơi trung bình 11.1 7.1 2.8 0.2 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 1.5 8.1 31.0
Độ ẩm tương đối trung bình (%) 67.7 65.2 62.9 61.9 66.4 72.8 80.0 78.1 74.3 68.4 68.1 68.8 69.5
Số giờ nắng trung bình tháng 159.9 164.6 192.0 213.0 222.8 169.2 145.4 172.6 172.3 205.2 163.6 155.9 2.136,3
Phần trăm nắng có thể 51.1 53.4 51.8 54.3 51.3 39.0 32.9 41.4 46.3 58.5 52.7 51.1 48.0
Nguồn: Korea Meteorological Administration[5][6][7] (percent sunshine and snowy days)[8]

Nhân khẩu

[sửa | sửa mã nguồn]
Lịch sử dân số
NămSố dân±%
1970493.634—    
1980727.600+47.4%
19901.139.003+56.5%
20001.352.797+18.8%
20101.475.745+9.1%
20201.477.573+0.1%
20251.398.538−5.3%
Nguồn: [9][10]
Tôn giáo tại Gwangju (2024)[11]
  1. Không (50,0%)
  2. Phật giáo (11,0%)
  3. Tin lành (25,0%)
  4. Công giáo (11,0%)
  5. Khác (3,00%)

Theo điều tra dân số năm 2015, 9,5% dân số theo Phật giáo và 28,7% theo Thiên chúa giáo (20% theo Tin lành và 8,7% theo Công giáo). 61% dân số không theo tôn giáo nào.[12]

Một trong những cộng đồng Koryo-saram (người Triều Tiên gốc Liên Xô cũ) lớn nhất ở Hàn Quốc nằm ở Gwangju: the Gwangju Koryoin Village.[13][14] Các trường học trong khu vực lân cận làng, chẳng hạn như Trường Tiểu học Ha-nam Jung-ang [ko], do đó có tỷ lệ người nói tiếng Nga đáng kể.[15]

Quang cảnh Gwangju lúc hoàng hôn nhìn từ một ngọn đồi

Kinh tế công nghiệp hiện đại được thiết lập tại Gwangju với việc xây dựng đường sắt tới Seoul. Một vài ngành công nghiệp tại đây bao gồm dệt may, xay sát gạo và sản xuất đồ uống chứa cồn (bia). Việc thành lập khu công nghiệp năm 1967 đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ trong công nghiệp, đặc biệt là trong ngành liên quan tới công nghiệp ô tô.

Giáo dục

[sửa | sửa mã nguồn]

Đại học Quốc gia Chonnam, Viện Khoa học và Công nghệ GwangjuĐại học Sư phạm Gwangju là các trường đại học công lập tại Gwangju.

Đại học Honam, Đại học Gwangju, Đại học Gwangshin, Đại học Nữ Gwangju, Đại học Nambu, Đại học ChosunĐại học Cơ đốc giáo Honam là các trường đại học tư thục.

Đại học Y tế Gwangju là một trường cao đẳng cộng đồng tư thục, cung cấp bằng cao đẳng về khoa học xã hội và nhân văn, khoa học chăm sóc sức khỏe và bằng cử nhân điều dưỡng.

Gwangju có 593 trường học, bao gồm 234 trường mẫu giáo, 145 trường tiểu học, 84 trường trung học cơ sở, 65 trường trung học phổ thông, 1 trường trung học phổ thông khoa học,[16] 7 trường cao đẳng, 9 trường đại học, 38 trường sau đại học và 11 trường khác (tính đến ngày 1 tháng 5 năm 2009) với tổng số 406.669 sinh viên, chiếm 28,5% tổng dân số thành phố. Số học sinh trung bình trên mỗi hộ gia đình là 0,8.

Giao thông

[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố có tàu điện ngầm Gwangju Subway. Việc mở rộng đã hoàn thành vào tháng 4 năm 2008, phần còn lại được hoàn thành vào năm 2012. Giai đoạn đầu tiên của tuyến thứ hai, khi hoàn thành, sẽ là một tuyến vòng quỹ đạo, sẽ khai trương vào năm 2026[17] Có hai ga KTX trong thành phố: ga Gwangju và ga Gwangju Songjeong. Ga Gwangju Songjeong kết nối với Gwangju Subway và hệ thống xe buýt địa phương. Hiện nay, ga Songjeong được sử dụng chủ yếu.

Gwangju có một hệ thống xe buýt công cộng rộng khắp đi qua thành phố.[18] Các điểm dừng xe buýt và bản thân xe buýt có thông tin điểm dừng bằng tiếng Hàn và tiếng Anh. Xe buýt địa phương, nhưng không phải tàu điện ngầm hay KTX, kết nối với Bến xe buýt liên tỉnh Gwangju được gọi là U-Square[19]

Giá vé vận chuyển công cộng Gwangju có thể được thanh toán bằng tiền mặt, một số thẻ ngân hàng Hàn Quốc hoặc qua thẻ giao thông công cộng có thể nạp lại hoặc các phụ kiện nhỏ gắn với điện thoại hoặc móc khóa như Hanpay, T-MoneyCashBee có sẵn tại các cửa hàng tiện lợi. Một khoản giảm giá nhỏ được cung cấp khi sử dụng giá vé không dùng tiền mặt. Giảm giá vé có sẵn cho thanh thiếu niên (13 đến 18) và trẻ em (7 đến 12).

Dịch vụ đưa đón có thể được thực hiện miễn phí giữa các tuyến xe buýt địa phương và tàu điện ngầm khi sử dụng giá vé không dùng tiền mặt, miễn là người dùng chạm vào khi thay đổi giữa các phương thức vận chuyển, theo cùng hướng, và trong trường hợp xe buýt đến xe buýt, đang đi xe buýt với một số tuyến đường khác nhau. Dịch vụ đưa đón miễn phí giữa các xe buýt có thể được thực hiện trong vòng một giờ sau khi khai thác; dịch vụ đưa đón từ xe buýt đến tàu điện ngầm phải diễn ra trong vòng nửa giờ.

Hầu hết các taxi địa phương chấp nhận thẻ địa phương và nước ngoài ngoài tiền mặt và thẻ giao thông công cộng như Hanpay.

Gwangju cũng có sân bay Gwangju.

Người nổi bật

[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ thuật

[sửa | sửa mã nguồn]

Văn học

[sửa | sửa mã nguồn]

Địa phương kết nghĩa

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "Population statistics". Korea Ministry of the Interior and Safety. 2025.
  2. ^ "The History of Gwangju". Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2016.
  3. ^ "May 18th Democratic Uprising". Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2016.
  4. ^ "The History of Gwangju". Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2016.
  5. ^ "평년값자료(1981–2010) 광주(156)" (bằng tiếng Hàn). Korea Meteorological Administration. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2017.
  6. ^ "기후자료 극값(최대값) 전체년도 일최고기온 (℃) 최고순위, 광주(156)" (bằng tiếng Hàn). Korea Meteorological Administration. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2017.
  7. ^ "기후자료 극값(최대값) 전체년도 일최저기온 (℃) 최고순위, 광주(156)" (bằng tiếng Hàn). Korea Meteorological Administration. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2017.
  8. ^ "Climatological Normals of Korea" (PDF). Korea Meteorological Administration. 2011. tr. 499 and 649. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2017.
  9. ^ "World Urbanization Prospects". Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2020.
  10. ^ "Population Census". Statistics Korea.
  11. ^ "2024 종교인식조사 종교인구 현황과 종교 활동" [Status of religious population and religious activities in South Korea (2024)] (bằng tiếng Hàn). ngày 11 tháng 12 năm 2024.
  12. ^ "2015 Census – Religion Results" (bằng tiếng Hàn). KOSIS KOrean Statistical Information Service. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2021.
  13. ^ Jung-youn, Lee (ngày 24 tháng 2 năm 2023). "[Weekender] Koryoin from Ukraine find new home in ancestors' land". The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2023.
  14. ^ "The long journey of Korejskij". Korea JoongAng Daily (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2023.
  15. ^ "As multicultural students surge, Korea's classrooms change". Korea JoongAng Daily (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  16. ^ Gwangju science academy
  17. ^ "Work starts on next phase of Gwangju orbital metro line". Railway Gazette. ngày 16 tháng 1 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2025.
  18. ^ 광주광역시 버스정보. bus.gjcity.net. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2016.
  19. ^ U-Square (Gwangju Bus Terminal) (유스퀘어(광주종합버스터미널)). VisitKorea.or.kr. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2016.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]