Busan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quảng vực thị Busan
Chuyển tự Tiếng Triều Tiên
 • Hangul 부산 광역시
 • Hanja 釜山廣域市
 • Romaja quốc ngữ Busan Gwangyeoksi
 • McCune–Reischauer Pusan Kwangyŏkshi
Chuyển tự Tên ngắn
 • Hangul 부산
 • Hanja
 • Romaja quốc ngữ Busan
 • McCune–Reischauer Pusan
Haeundae về đêm
Haeundae về đêm
Hiệu kỳ của Quảng vực thị Busan
Hiệu kỳ
Vị trí Busan trên bản đồ Hàn Quốc
Vị trí Busan trên bản đồ Hàn Quốc
Quảng vực thị Busan trên bản đồ Thế giới
Quảng vực thị Busan
Quảng vực thị Busan
Quốc gia Hàn Quốc
Vùng Yeongnam
Phân cấp hành chính 15 khu, 1 quận
Chính quyền
 • Kiểu Chính quyền quảng vực thị Busan
 • Thị trưởng Hur Nam-sik
Diện tích
 • Tổng cộng 763,46 km2 (29,477 mi2)
Dân số (2006)[1]
 • Tổng cộng 3.635.389
 • Mật độ 48/km2 (120/mi2)
Múi giờ UTC+9 sửa dữ liệu
Mã bưu chính 600-010, 619-963 sửa dữ liệu
Mã điện thoại (+82) 51 sửa dữ liệu
Mã ISO 3166 KR-26 sửa dữ liệu
Thành phố kết nghĩa Vladivostok, Tijuana, Cao Hùng, Los Angeles, Shimonoseki, Barcelona, Rio de Janeiro, Fukuoka, Thượng Hải, Surabaya, Auckland, Valparaíso, Montréal, Istanbul, Dubai, Chicago, Manila, Casablanca, Sankt-Peterburg, Bangkok, Thessaloniki, Nagasaki, Dubai sửa dữ liệu
Tiếng địa phương Phương ngữ Gyeongsang

Quảng vực thị Busan (âm Hán Việt: Phủ Sơn), hay còn được gọi là Pusan là thành phố cảng lớn nhất của Hàn Quốc, nằm ở phía Đông Nam của bán đảo Triều Tiên. Với dân số khoảng 3.5 triệu người, Busan là thành phố lớn thứ nhì tại Hàn Quốc sau Seoul. Về mặt hành chính, Busan được coi là một khu vực đại đô thị tự quản. Khu nội thành đông dân cư nhất nằm lòng chảo hẹp giữa hai con sông Nakdong (Lạc Đông) và sông Suyeong (Thủy Doanh), trong khi vùng ngoại thành có nhiều đồi núi.

Trên diện trường quốc tế, Busan là địa điểm tổ chức Đại hội Thể thao châu Á 2002 và hội nghị APEC 2005 tại Hàn Quốc. Ngày 14 tháng 11 năm 2005, thành phố Busan nộp đơn đăng cai Thế vận hội Mùa hè 2020[2] nhưng ban tổ chức rốt cuộc chọn Tokyo, Nhật Bản.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Busan về đêm
Tranh vẽ cảng Busan năm 1899

Thời gian đầu, khu vực thành phố Busan ngày nay được gọi là quốc Geochilsan, một trong những trung tâm của những thủ lĩnh Thần hàn (진한 Jinhan) trong thế kỉ 2thế kỉ 3. Sau đó, vùng này trở thành một phần của vương quốc Tân La và đổi tên thành quận Geochilsan.

Trong khoảng những năm 300-400, trong thời kỳ Tam Quốc Triều Tiên, vùng đất Busan được cai trị bởi những vị thủ lĩnh đầy quyền lực. Đến năm 757, quận Geochilsan đổi tên lại thành Dongnae (Đông Lai), cái tên vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

Quang cảnh Busan chụp từ vệ tinh

Vào đầu thế kỉ 15, chính quyền Triều Tiên chọn Busan là điểm giao thương với Nhật Bản và cho phép người Nhật được định cư sinh sống tại đây. Trong khi những khu kiều dân của người Nhật tại các vùng Ulsan (Uý Sơn) và Jinhae (Trấn Hải) suy tàn sau đó, thì khu định cư của người Nhật tại Busan, gọi là khu Waegwan (Oa Quán) lại phát triển nhanh chóng cho đến khi xảy ra cuộc chiến tranh xâm lược của Nhật Bản vào Triều Tiên năm 1592. Sau chiến tranh, quan hệ ngoại giao với Nhật Bản được tái thiết lập năm 1607 và Triều Tiên cho phép Waegwan được xây dựng lại và tiếp tục phát triển nhanh chóng, đóng vai trò quan trọng trong giao thương giữa hai nước Triều Tiên và Nhật Bản. Năm 1876, Busan trở thành thương cảng quốc tế đầu tiên của Triều Tiên.

Trong thời kỳ cai trị của Đế quốc Nhật Bản, Busan tiếp tục giữ vai trò như một hải cảng quan trọng. Busan là thành phố đầu tiên của Triều Tiên có đường xe lửa chạy bằng hơi nước trước khi được điện khí hóa vào năm 1924.

Trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên, Busan là một trong số ít những vùng ở miền nam không bị rơi vào tay của quân cộng sản Bắc Triều Tiên. Do đó, nó đóng vai trò như một nơi tị nạn của nhiều người Triều Tiên trong chiến tranh và từng là thủ đô lâm thời của Hàn Quốc. Quân đội của Liên Hiệp Quốc đã từng xây dựng một bức thành lũy lớn bao quanh thành phố Busan vào mùa hè và mùa thu năm 1950 để chuẩn bị cho trận Vành đai Pusan - trận đánh bước ngoặt của cuộc chiến. Giống như Seoul, Busan là một khu vực đại đô thị có chính quyền tự quản và ngày nay tiếp tục đóng vai trò một cảng biển lớn và quan trọng bậc nhất của Hàn Quốc.

Địa lí[sửa | sửa mã nguồn]

Busan nằm ở mũi Đông Nam bán đảo Triều Tiên. Đây là thành phố gần nhất trong sáu thành phố lớn nhất của Hàn Quốc tới Nhật Bản. Khoảng cách theo đường chim bay từ Busan đến đảo Tsushima, Nhật Bản, khoảng 49,5 km và đến Fukuoka, Nhật Bản, khoảng 180 km. Busan cách thủ đô Seoul khoảng 325 km. Busan giáp các ngọn núi thấp ở phía bắc và phía tây và biển cả ở phía nam và đông. Đồng bằng sông Nakdong nằm ở phía tây thành phố, và Geumjeongsan, ngọn núi cao nhất trong thành phố, về phía bắc. Sông sông Nakdong, con sông dài nhất của Hàn Quốc, chảy qua phía tây và đổ xuống eo biển Triều Tiên. Khu vực Đông Nam, được gọi là [Yeongnam] ở Hàn Quốc, bao gồm cả Gyeongsang Province và 3 thành phố đô thị là Busan, DaeguUlsan. Ulsan nằm ở phía đông bắc Busan. Tổng dân số của cả 3 thành phố vượt quá 13 triệu người.

Phân chia hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1957, thành phố Busan mới chỉ được chia thành 6 khu. Nhưng ngày nay, Busan đã được chia thành 15 khu và 1 quận:

Tên của Gu (quận) & Gun (hạt) Diện tích (km²) Dân số
Khu Bắc (북구; 北區; Bắc khu) 39.44 313,553
Khu Busanjin (부산진구; 釜山鎭區; Phủ Sơn Trấn khu) 29.69 398,174
Khu Đông (동구; 東區; Đông khu) 9.78 102,859
Khu Dongnae (동래구; 東萊區; Đông Lai khu) 16.63 283,636
Khu Gangseo (강서구; 江西區; Giang Tây khu) 180.24 66,269
Khu Geumjeong (금정구; 金井區; Kim Tỉnh khu) 65.17 257,662
Khu Haeundae (해운대구; 海雲臺區; Hải Vân Đài khu) 51.46 429,477
Khu Trung (중구; 中區; Trung khu) 2.82 50,555
Khu Nam (남구; 南區; Nam khu) 26.77 301,904
Khu Saha (사하구; 沙下區; Sa Hạ khu) 40.96 362,697
Khu Sasang (사상구; 沙上區; Sa Thượng khu) 36.06 261,673
Khu Tây (서구; 西區; Tây khu) 13.88 127,068
Khu Suyeong (수영구; 水營區; Thủy Doanh khu) 10.20 179,208
Khu Yeongdo (영도구; 影島區; Ảnh Đảo khu) 14.13 148,431
Khu Yeonje (연제구; 蓮堤區; Liên Đê khu) 12.08 213,453
Quận Gijang (기장군; 機張郡; Ky Trương quận) 218.04 103,762
Phân chia hành chính Busan

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Busan nhìn từ núi Geumjeong

Nằm ở bờ biển phía đông nam của Hàn Quốc, Busan có thời tiết khá ôn hòa với khí hậu cận nhiệt đới ẩm (Köppen Climate Cwa). Nhiệt độ cực kỳ cao hoặc thấp rất hiếm khi xảy ra. Nhiệt độ cao nhất từng ghi nhận là 37,3 ° C (99,1 ° F) vào ngày 14 tháng 8 năm 2016 trong khi nhiệt độ thấp nhất từng được ghi nhận là -14,0 ° C (6,8 ° F) vào ngày 13 tháng 1 năm 1915. Từ tháng 5 đến tháng 7, vào thời điểm cuối xuân đầu hè, khí hậu thường mát mẻ hơn vùng nội địa do hiệu ứng đại dương. Cuối mùa hè và đầu mùa thu, từ tháng tám đến tháng chín, khí hậu nói chung là nóng và ẩm, thành phố có thể đón những cơn bão vào thời điểm đó nhưng thông thường sẽ là mưa. Tuy nhiên, Busan đã từng phải hứng chịu những cơn bão rất mạnh trong quá khứ. Vào ngày 15 tháng 9 năm 1959, siêu bão Sarah đã băng qua bờ biển thành phố và gây ra thiệt hại thảm khốc. Một cơn bão nghiêm trọng bất thường vào ngày 12 tháng 9 năm 2003, bão Maemi, cũng gây thiệt hại cho các con tàu ngoài cảng và các tòa nhà, làm hơn 48 người thiệt mạng.

Tháng 10 và tháng 11 nhìn chung là thoải mái nhất, với bầu trời trong lành và nhiệt độ dễ chịu. Mùa đông tương đối lạnh và khô với gió lớn, nhưng ấm áp hơn nhiều so với các vùng khác của Hàn Quốc ngoại trừ đảo Jeju và một số hòn đảo ngoài khơi bờ biển phía nam. Busan và các khu vực lân cận có ít tuyết nhất so với các khu vực khác của Hàn Quốc do vị trí ngay sát biển của nó. Tuyết rơi vào trung bình chỉ khoảng 5 ngày một năm. Ngay cả sự tích tụ ít tuyết cũng có thể đóng cửa thành phố cảng biển vì địa hình đồi núi và sự không quen thuộc của người lái xe với việc lái xe trên tuyết.

Dữ liệu khí hậu của Busan (1981–2010, extremes 1904–present)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 18.4 20.3 22.9 28.1 34.0 33.4 35.8 37.3 35.2 29.8 25.6 20.9 37,3
Trung bình cao °C (°F) 7.8 9.8 13.4 18.2 21.7 24.4 27.3 29.4 26.3 22.4 16.3 10.5 18,9
Trung bình ngày, °C (°F) 3.2 4.9 8.6 13.6 17.5 20.7 24.1 25.9 22.3 17.6 11.6 5.8 14,7
Trung bình thấp, °C (°F) −0.6 1.1 4.9 9.9 14.1 17.9 21.8 23.4 19.5 14.1 7.8 2.0 11,3
Thấp kỉ lục, °C (°F) −14 −12.6 −9.7 −1.5 5.4 9.3 13.8 15.4 9.6 1.8 −6.5 −12 −14
Giáng thủy mm (inch) 34.4
(1.354)
50.2
(1.976)
80.7
(3.177)
132.7
(5.224)
157.4
(6.197)
206.7
(8.138)
316.9
(12.476)
255.1
(10.043)
158.0
(6.22)
58.4
(2.299)
45.8
(1.803)
22.8
(0.898)
1.519,1
(59,807)
độ ẩm 48.3 51.4 57.7 62.7 69.8 77.4 84.3 79.9 73.9 64.0 57.0 50.1 64,7
Số ngày giáng thủy TB (≥ 0.1 mm) 5.5 6.2 8.4 9.1 9.4 10.4 13.6 11.5 9.3 5.2 5.5 4.2 98,3
Số ngày tuyết rơi TB 1.7 1.4 0.8 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 0.2 1.1 5,2
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 199.0 182.5 193.0 210.0 221.7 179.7 165.8 200.9 167.2 208.9 194.4 204.3 2.327,3
Tỷ lệ khả chiếu 63.6 59.3 52.0 53.6 51.1 41.4 37.5 48.2 44.9 59.6 62.6 67.0 52,3
Nguồn: Korea Meteorological Administration[3][4][5] (percent sunshine and snowy days)[6]


Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Quang cảnh thành phố Busan
Xưởng tàu Hanjin

Busan là một trung tâm kinh doanh và tài chính quốc tế nổi tiếng về máy móc, thép, đóng tàu và công nghiệp hàng hải, thời trang, du lịch và hội chợ. Busan là cảng biển bận rộn thứ 5 trên thế giới. Giao thông vận tải và đóng tàu là hai lĩnh vực kinh tế chính của thành phố. Từ năm 1978, Busan đã mở ba cảng côngtenơ lớn là Jaseungdae (Tử Thành Đài), Shinsundae và Gamman. Thành phố này được biết đến là một trong những hải cảng lớn nhất thế giới và lưu thông tới 13,2 triệu TEU côngtenơ hàng hóa mỗi năm. Khu vực Tự do Kinh tế Busan-Jinhae được thành lập đã thu hút nhiều tàu bè đến với Busan, tiếp nối truyền thống thương cảng của thành phố này trong quá khứ, đồng thời cũng tạo điều kiện để Busan chuyển mình thành một trung tâm tài chính lớn của Hàn Quốc. Gần đây, Busan được Hội quản lý cảng biển Hoa Kỳ ("American Association of Port Authorities") xếp hạng là cảng biển lớn thứ ba thế giới theo khối lượng hàng hóa lưu thông và năng suất vận tải.

Korea Exchange (KRX), đơn vị điều hành giao dịch chứng khoán duy nhất của Hàn Quốc, có trụ sở tại Busan.

Busan có trụ sở của Renault Samsung Motors, Công nghiệp nặng Hanjin, ngân hàng Busan, hãng hàng không Air Busan, các công ty đầu tư và chứng khoán, Bảo hiểm nhân thọ Woori Aviva , các tập đoàn công nghệ và tài chính Hàn Quốc, trung tâm Lưu ký Chứng khoán Hàn Quốc, Công ty Bảo lãnh Nhà ở Hàn Quốc, Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc, Tập đoàn Tài chính BNK.

Thị trường cá Jagalchi cũng là thị trường cá lớn nhất ở Hàn Quốc.

Busan được xếp hạng thành phố tốt nhất thứ tư sau Singapore, SeoulTokyo trong số các thành phố hội nghị hàng đầu châu Á trong bảng xếp hạng toàn cầu năm 2011 bởi Hiệp hội Quốc tế và Hội nghị Quốc tế (ICCA).

Busan được xếp hạng 27 trong 83 thành phố và 8 trung tâm hàng đầu Châu Á - Thái Bình Dương của Chỉ số Trung tâm Tài chính toàn cầu (GFCI) do Tập đoàn Z / Yen của Anh công bố vào tháng 3 năm 2014.

Busan còn là một trung tâm thương mại sầm uất, từ những chợ nhỏ với các nông phẩm, hải sản cho đến các siêu thị lớn.

Quang cảnh Busan từ tháp Busan


Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Các trường đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Đại học Hải dương Hàn Quốc

Các học viện khác[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Phạm Ngư
Tháp Busan lúc hoàng hôn

Núi Geumjeongsan (Kim Tỉnh Sơn) ở phía tây thành phố là địa điểm đi bộ yêu thích của người dân Busan. Ở phía bắc thành phố, khu vực xung quanh trường Đại học Quốc gia Busan, một trong những trường đại học uy tín nhất Hàn Quốc có nhiều rạp hát, quán café, nhà hàng, tiệm ăn và những buổi trình diễn văn hóa trên đường phố vào mỗi cuối tuần. Gần đó là chùa Beomeosa (Phạm Ngư tự), một trong những ngôi đền Phật giáo chính của Hàn Quốc.

Khu Dongnae vốn từ lâu đã nổi tiếng là một khu vực dân cư sầm uất. Dongnae Oncheon là một khu vực suối nước khoáng tự nhiên với nhiều nhà tắm, khách sạn, nhà hàng và các trung tâm mua sắm. Nhiều nhà hàng trong khu vực nổi tiếng với những cách chế biến món ăn gia truyền.Trung Liệt từ, một miếu thờ Khổng Tử ở Busan còn là nơi tưởng niệm những người lính hy sinh trong cuộc tấn công xâm lược của Nhật Bản vào cuối thế kỉ 16.

Busan được coi như thủ đô mùa hè của Hàn Quốc. Vào mỗi mùa hè, người dân Hàn Quốc lại kéo đền những bãi biển tuyệt đẹp ở Busan, trong đó nổi tiếng nhất là bãi biển Haeundae (Hải Vân Đài). Công viên Quốc gia Taejongdae trên đảo Yeongdo thì lại thu hút du khách với những vách đá dốc đứng hướng ra phía biển.

Khu phố thương mại dành cho người nước ngoài tại Busan, hay còn được gọi là "phố Texas" nằm gần cảng Busan là nơi có nhiều người nước ngoài sinh sống, trong đó có người Nga. Khu vực này cũng có một khu Chinatown sầm uất với sự hiện diện của một cộng đồng người Trung Quốc. Những cơ sở thương mại ở đây được dựng nên từ thập niên 1940thập niên 1950, chủ yếu phục vụ cho lính Mỹ đóng tại đây thời chiến tranh.

Thành phố Busan rất nổi tiếng với Liên hoan phim quốc tế Busan, một trong những liên hoan phim lớn nhất châu Á và thu hút sự tham dự của nhiều bộ phim cũng như khách du lịch trên thế giới mỗi năm. Busan Biennale, một liên hoan nghệ thuật đương đại quốc tế được tổ chức hai năm một lần cũng thu hút rất nhiều nghệ sĩ và khách du lịch đến thành phố này với nhiều tác phẩm nghệ thuật thuộc nhiều lĩnh vực.

Thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 부산광역시 - 선진부산 - 일반현황 - 기본현황
  2. ^ [http://english.people.com.cn/200511/14/eng20051114_221062.html Busan ứng cử đăng cai Thế vận hội Mùa hè 2020
  3. ^ “평년값자료(1981–2010) 부산(159)” (bằng tiếng Korean). Korea Meteorological Administration. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2017. 
  4. ^ “기후자료 극값(최대값) 전체년도 일최고기온 (℃) 최고순위, 부산(159)” (bằng tiếng Korean). Korea Meteorological Administration. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2017. 
  5. ^ “기후자료 극값(최대값) 전체년도 일최저기온 (℃) 최고순위, 부산(159)” (bằng tiếng Korean). Korea Meteorological Administration. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2017. 
  6. ^ “Climatological Normals of Korea” (PDF). Korea Meteorological Administration. 2011. tr. 499 and 649. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2017. 

Tọa độ: 35°10′46″B 129°04′32″Đ / 35,17944°B 129,07556°Đ / 35.17944; 129.07556