K-pop

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
K-pop
Nguồn gốc từ loại nhạc
Khởi nguồn từ văn hóa Những năm cuối 1980— những năm 1990, Hàn Quốc
Nhạc cụ điển hình
Sân khấu địa phương

K-pop (viết tắt của từ tiếng Anh Korean pop, tức nhạc pop tiếng Hàn hay nhạc pop Hàn Quốc; Hangul케이팝, còn được gọi là Kayo hay Gayo), là một thể loại âm nhạc có nguồn gốc từ Hàn Quốc đặc trưng bởi rất nhiều các yếu tố nghe nhìn trực quan. Nhiều nghệ sĩ và nhóm nhạc đã xuất phát từ Hàn Quốc và đã trở nên phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Sự phổ biến của K-pop thường được xem là một phần của sự nổi lên của các Làn sóng Hàn Quốc (Hallyu, 한류), sự trỗi dậy của tính phổ biến của Văn hóa Hàn Quốc đương đại ở châu Á.

Trong năm 2012, bài hát Gangnam style của ca sĩ PSY chính thức đưa K-pop lên bản đồ thế giới với hơn 1 tỷ lượt xem trên YouTube chỉ trong vòng 5 tháng và hiện tại con số này đã tăng lên đến 3 tỉ lượt xem.

Trong năm 2013, bài hát " I Got A Boy " của Girls' Generation đã giành được giải Video của năm ở lễ trao giải Youtube Music Award và SNSD chính là nhóm nhạc đâu tiên của Hàn Quốc nói riêng, châu Á nói chung nhận được giải thưởng này.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc điểm chung của K-pop:

  • Hệ thống đào tạo bài bản đối với các ca sĩ: các công ty âm nhạc Hàn Quốc dùng các hợp đồng ràng buộc các ca sĩ trong một thời gian dài, có khi lên đến hàng chục năm. Các ca sĩ sống hoàn toàn biệt lập, dành hoàn toàn thời gian trong ngày để luyện tập thanh nhạc, các điệu nhảy, ngoại ngữ và các thông tin nhằm gây cảm tình cho người nghe và báo giới.[1]
  • Các nhóm nhạc với nhiều nhóm nhỏ và nhiều thành viên: các nhóm nhạc K-pop thường có rất nhiều thành viên, từ bốn đến hơn mười thành viên. Các thành viên này, dưới hệ thống đào tạo của các công ty và ngoại hình hấp dẫn (nhiều ca sĩ thậm chí dùng phẫu thuật thẫm mĩ), nhanh chóng chiếm được cảm tình của các fan hâm mộ trên khắp thế giới.[2][3][4]
  • Hệ thống phân phối nhanh chóng qua Internet: Mặc dù K-pop có rất nhiều fan trên thế giới, hệ thống phân phối của các công ty âm nhạc Hàn Quốc tương đối nhỏ. Vì vậy, họ lợi dụng các website như Youtube để nhanh chóng mang các bài nhạc mới nhất đến các fan hâm mộ ngoài nước.[5]
  • Tiếng Anh: Vì tiếng Triều Tiên (tiếng Hàn) không phải là thứ tiếng thông dụng trên thế giới và có rất ít người nước ngoài hiểu tiếng Hàn Quốc nên tiếng Anh được sử dụng như một phương tiện liên kết với người hâm mộ ở nước ngoài. Các bài nhạc k-pop dùng một đoạn tiếng Anh ngắn, thường là catch phrase của bài nhạc để người hâm mộ ngoại quốc dễ dàng nhận diện bài hát.

Danh sách các ca sĩ/ nhóm nhạc K-pop[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc Hàn lời Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Làn sóng Hàn Quốc lan tỏa ra khắp châu Á từ đầu thế kỷ 21, bắt đầu với những bộ phim truyền hình dành cho các bà nội trợ trung niên, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền giải trí Việt Nam. Nhiều ca sĩ V-pop lúc bấy giờ đã hát lại hoặc phối lại nhạc Hàn bằng tiếng Việt, trong đó có cả những ca khúc nhạc phim đình đám:[6]

STT Tên bài hát gốc (romaja) Tên tiếng Anh Nghệ sĩ thể hiện Năm phát hành Tên bài hát phiên bản Việt Nam
1 Run To You DJ Doc 2000 Khóc Cho Yêu Thương - Thanh Thảo
2 사랑해 (Saranghae) I Love You Jewelry 2001 Em Thích Anh - H.A.T
3 A Better Day - Hát lại từ nhạc Na Uy jtL 2001
  • Ngày Tươi Sáng (A Better Day) (2003) - Ngô Thanh Vân ft. Okio
  • Con Tim Tình Yêu - Thanh Thảo ft. Tiến Đạt
  • Mãi Mãi Bên Em - Phong Đạt ft. nhóm OXY
4 No.1 BoA 2002 Tình yêu mãi xanh - Nhóm Mây Trắng
5 The Best Kim Yoo-jin (Eugene) 2003 Bến Bờ Xanh (2004)[7] - Nhóm The Bells
6 10 Minutes Lee Hyori 2003 10 Minutes (2006) - Bảo Thy
7 Y (Please Tell Me Why) Free Style 2004 Please Tell Me Why (2006) - Bảo Thy ft. Vương Khang
8 Never Say Goodbye - Nhạc phim Cô em họ bất đắc dĩ Park So-bin, Mario, Song Bo-ram, Go Eun-ju 2005 Never Say Goodbye (2008) - Thanh Thảo ft. Lil' Knight

Từ quãng năm 2008 với những bản hit K-pop như "Nobody" (Wonder Girls), "Haru Haru" (Big Bang) hay "Mirotic" (TVXQ), và đặc biệt là từ khi bộ phim truyền hình thần tượng "Boys Over Flowers" lên sóng vào năm 2009 đã tạo nên cơn sốt hâm mộ cuồng nhiệt trên toàn châu Á, giúp cho làn sóng Hàn Quốc hồi sinh theo hướng trẻ trung hóa, năng động hóa. Cũng từ năm 2009 là sự bùng nổ của dòng nhạc K-pop và sự ra đời của hàng loạt nhóm nhạc thần tượng Hàn Quốc mới. Nhiều ca khúc đình đám đã được hát lại hay phối lại bằng tiếng Việt như:

STT Tên bài hát gốc (romaja) Tên tiếng Anh Nghệ sĩ thể hiện Năm phát hành Tên bài hát phiên bản Việt Nam
1 Missing You F.T. Island 2009 Anh Nhớ Em - Thái Triệu Luân
2 Sorry, Sorry Super Junior 2009 Cơ Hội Yêu - Kio Band
3 내 머리가 나빠서 (Nae Meoliga Nappaseo) - Nhạc phim Boys Over Flowers Because I'm Stupid SS501 2009
4 Stand By Me - Nhạc phim Boys Over Flowers Shinee 2009 Gần Bên Anh - Noo Phước Thịnh

Thập niên 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh trào lưu bắt chước, chạy theo phong cách âm nhạc Hàn Quốc thì một số ca sĩ, nhóm nhạc Việt còn hát lại hay phối lại nhạc K-pop bằng tiếng Việt.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “NYT Draws Attention to K-Pop Idol-Making Factories”. Chosun Ilbo. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012. 
  2. ^ “South Korean girls' obsession with double eyelid surgery as they strive to look like 'pretty western celebrities'. Daily Mail. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012. 
  3. ^ “What’s the big deal about plastic surgery in Kpop?”. seoulbeats. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012. 
  4. ^ “World and Its Peoples: Eastern and Southern Asia”. Marshall Cavendish Corporation. Marshall Cavendish. 2007. 
  5. ^ Chace, Zoe. “Gangnam Style: Three Reasons K-Pop Is Taking Over The World”. National Public Radio. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2012. 
  6. ^ Lan Phương (ngày 20 tháng 4 năm 2017). “Học hỏi Kpop và nhạc Hoa, ca sĩ Việt liên tục bị nghi đạo nhạc”. Zing.vn. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2018. 
  7. ^ theo Đất Mũi (ngày 6 tháng 7 năm 2004). “The Bells - tiếng chuông lại tiếp tục ngân vang”. VnExpress Giải Trí. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2018. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]