Kinh tế Hàn Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kinh tế Hàn Quốc
Tiền tệ Won Hàn Quốc (KRW)
Năm tài chính năm lịch
Tổ chức kinh tế APEC, WTO, OECD, G-20
Số liệu thống kê
GDP Danh nghĩa: $1.393 tỉ [1] (2015)
PPP: $1.849 tỉ (2015)
Xếp hạng GDP 11th (nominal) / 13th (PPP)
Tăng trưởng GDP 3.3% (2014)
GDP đầu người $35,485 (PPP, 2014)
GDP theo lĩnh vực Nông nghiệp: 2.6%, công nghiệp: 39.2%, dịch vụ: 58.2% (2010)
Lạm phát (CPI) 1.1%,[2] (tháng 1, 2014)
Tỷ lệ nghèo 15%[3]
Hệ số Gini 31.0 (2010)
Lực lượng lao động 25.18 triệu (2012 est.)
Cơ cấu lao động theo nghề Nông nghiệp: 6.4%, công nghiệp: 24.2%, dịch vụ: 69.4% (2011 est.)
Thất nghiệp 3.1% (tháng 10, 2015)[4]
Các ngành chính điện tử, sản xuất ô tô, hóa chất, đóng tàu, thép, sợi, quần áo, da giầy, chế biến thức ăn
Xếp hạng thuận lợi kinh doanh 5th[5]
Thương mại quốc tế
Xuất khẩu $572.66 tỉ (5th; 2014)
Đối tác XK  Trung Quốc 25.4%
 Hoa Kỳ 12.3%
 Nhật Bản 5.6%
 Hồng Kông 4.8%
 Singapore 4.2% (2014)[6]
Nhập khẩu $542.9 tỉ (7th; 2014)
Đối tác NK  Trung Quốc 17.1%
 Nhật Bản 10.2%
 Hoa Kỳ 8.7%
 Ả Rập Saudi 7%
 Qatar 4.9%
 Đức 4.1% (2014)[7]
FDI abroad: $223.2 tỉ (31 tháng 12, 2013)
Tổng nợ nước ngoài $430.9 tỉ (ngày 31 tháng 12 năm 2011)
Tài chính công
Nợ công 33.7% của GDP (2012)
Thu $296.1 tỉ (2013)
Chi $287.2 tỉ (2013)
Viện trợ ODA, $900 triệu (donor) (2009)[8]
aid to North Korea excluded
Dự trữ ngoại hối $368.1 tỉ (5 tháng 11, 2015)[9]
Nguồn dữ liệu: CIA.gov
Tất cả giá trị đều tính bằng đô la Mỹ, trừ khi được chú thích.

Kinh tế Hàn Quốc là nền kinh tế phát triển, đứng thứ ba ở châu Á và đứng thứ 10 trên thế giới theo GDP năm 2006. Sau Chiến tranh Triều Tiên, kinh tế Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng, từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành một trong những nước giàu nhất. Cuối thế kỷ 20, Hàn Quốc là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. GDP (PPP) bình quân đầu người của đất nước đã nhảy vọt từ 100 USD vào năm 1963 lên mức kỉ lục 10.000 USD vào năm 1995 và 25.000 USD vào năm 2007. Bất chấp các ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, nước này đã khôi phục kinh tế rất nhanh chóng và vững chắc. Người ta thường nhắc đến sự phát triển thần kỳ về kinh tế của Hàn Quốc như là "Huyền thoại sông Hán", đến nay huyền thoại này vẫn tiếp tục. Hàn Quốc cũng là một nước phát triển có sự tăng trưởng kinh tế nhanh nhất, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 5% mỗi năm - một phân tích gần đây nhất bởi Goldman Sachs năm 2007 đã chỉ ra Hàn Quốc sẽ trở thành nước giàu thứ 3 trên thế giới vào năm 2025 với GDP bình quân đầu người là 52.000 USD [10] và tiếp 25 năm sau nữa sẽ vượt qua tất cả các nước ngoại trừ Hoa Kỳ để trở thành nước giàu thứ hai trên thế giới, với GDP bình quân đầu người là 81.000 USD [11].

Trong những năm 1970 đến 1980, Kinh tế Hàn Quốc tập trung vào ngành công nghiệp nặngsản xuất ô tô. Với sự hỗ trợ của chính phủ, POSCO, một công ty sản xuất thép, được thành lập trong vòng gần 3 năm, là một xương sống đầu tiên cho nền kinh tế Hàn Quốc trong những năm tiếp theo. Ngày nay, POSCO là nhà sản xuất thép đứng thứ 3 trên thế giới. Hàn Quốc là nước đóng tàu lớn nhất trên thế giới với các công ty hoạt động đa quốc gia như Hyundai Heavy IndustriesSamsung Heavy Industries luôn thống trị thị trường đóng tàu toàn cầu. Ngành sản xuất ô tô cũng phát triển một cách nhanh chóng, đang cố gắng để trở thành một trong những nước đứng đầu thế giới, điển hình là Hyundai Kia Automotive Group, đưa Hàn Quốc thành nước đứng thứ 5 trên thế giới về sản xuất ô tô.

Năm 1996, Hàn Quốc trở thành thành viên của OECD, một mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của đất nước. Giống như các quốc gia phát triển khác, ngành dịch vụ đã tăng nhanh, chiếm khoảng 70% GDP.[12] Cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống của nhân dân được nâng cao rất nhanh trở nên ngang bằng thậm chí cao hơn các quốc gia phát triển khác ở châu Âu và các nước Bắc Mỹ. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,912 vào năm 2006. Hiện nay, thu nhập và tài sản của Hàn Quốc đang tăng một phần là do sự đầu tư và xuất khẩu công nghệ cao sang các nước đang phát triển như Trung Quốc, Việt Nam, và Indonesia. Tuy nhiên, Hàn Quốc cũng là một nước có số giờ làm việc cao nhất thế giới.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng gần như liên tục từ mức gần như không có gì đến mức ngàn tỷ đô la Mỹ trong chưa đầy một nửa thế kỷ, từ năm 1960 đến 2007.

Khi Tướng Park Chung-hee nắm quyền vào năm 1961, Hàn Quốc đã có một thu nhập bình quân đầu người ít hơn $ 80 USD mỗi năm. Trong thời gian đó, Hàn Quốc chủ yếu là phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, chủ yếu là từ Mỹ để đổi lấy sự tham gia của Hàn Quốc trong chiến tranh Việt Nam.[13][14] Phong trào Saemaeul (còn gọi là Phong trào cộng đồng cư dân mới) của Chính phủ tập trung vào phát triển nông thôn Hàn Quốc. Các nhà lãnh đạo quyết đoán và các kế sách mạnh mẽ của Chính phủ, mặc dù bị chỉ trích là sử dụng áp đặt và nặng tay, và hiệu quả của lao động giá rẻ, phục vụ như là một chất xúc tác cho nền kinh tế Hàn Quốc.

Trong vòng chưa đầy bốn thập kỷ, Seoul đã trở thành một thành phố toàn cầu, một trung tâm kinh doanh và thương mại ở Đông Bắc Á và một trung tâm kinh tế phát triển cao, tạo nền móng cho các cơ sở hạ tầng công nghệ và thông tin liên lạc tiên tiến. Hàn Quốc xem xét tăng trưởng nhanh chóng này là biểu tượng của niềm tự hào quốc gia và tự lập. Bên cạnh phong trào Saemaeul, chính phủ Hàn Quốc thực hiện một kế hoạch phát triển kinh tế hiệu quả được gọi là Kế hoạch năm năm. Có hơn 5 kế hoạch được tạo ra, và chúng được thiết kế để vực dậy nền kinh tế. Mỗi kế hoạch trong số đó đã góp phần vào công nghiệp hóa và mở rộng các thị trường Hàn Quốc.

Tăng trưởng nhanh từ 1960 đến 1980[sửa | sửa mã nguồn]

Tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc gia của Hàn Quốc trung bình trên 8% mỗi năm, từ 3,3 tỉ USD vào năm 1962 đến 204 tỉ USD vào năm 1989. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 87 USD vào năm 1962 lên 4.830 USD vào năm 1989. Tỷ trọng của khu vực chế tạo trong GNP tăng từ 14,3% vào năm 1962 lên 30,3% năm 1987. Tổng khối lượng hàng hoá trao đổi tăng từ 480 triệu USD vào năm 1962 lên 127,9 tỉ USD vào năm 1990. Tỉ lệ tiết kiệm nội địa của GNP tăng từ 3,3% vào năm 1962 lên 35,8% vào năm 1989.

Xu hướng kinh tế vĩ mô[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là biểu đồ xu hướng tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc theo giá thị trường được ước tính bởi Quỹ tiền tệ quốc tế, đơn vị tính bằng triệu Won Hàn Quốc.

Năm Tổng sản phẩm nội địa (triệu Won) Tỷ giá Won/USD Chỉ số lạm phát (Năm 2000=100)
1980 38.774.900 605,85 33
1985 84.061.000 869,51 46
1990 186.690.900 707,59 60
1995 398.837.700 771,27 82
2000 578.664.500 1.130,95 100
2005 812.196.561 1.024,11 117

Để tính theo sức mua tương đương, 1 USD = 841,39 Won.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Korea, Rep.”. worldbank.org. 
  2. ^ “S.Korea Jan consumer sentiment hits near 3-yr high”. Reuters. Ngày 26 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  3. ^ “Population below poverty line by Country”. CIA World Factbook. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  4. ^ “(2nd LD) S. Korea's jobless rate rises to 3 pct in Dec.”. Ngày 15 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  5. ^ “Doing Business in Korea, Rep. 2012”. World Bank. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2011. 
  6. ^ “Exports Partners of South Korea”. CIA World Factbook. 2011. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013. 
  7. ^ “Imports Partners of South Korea”. CIA World Factbook. 2011. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013. 
  8. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên oda
  9. ^ “International Reserves and Foreign Currency Liquidity - KOREA, REPUBLIC OF”. International Monetary Fund. Ngày 22 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2011. 
  10. ^ “Korea expected to be ninth largest economy by 2025”. Goldman Sachs. Ngày 26 tháng 1 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2007. 
  11. ^ “Korea to become 2nd richest nation by 2050”. Goldman Sachs. Ngày 26 tháng 1 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2007. 
  12. ^ “Country Studies: South Korea”. The Economist. Ngày 10 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2006. 
  13. ^ Cumings, Bruce. Korea's Place in the Sun: a Modern History. New York: Norton, 2005. Print.
  14. ^ Korea: A Century of Change By Jürgen Kleiner

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]