Kinh tế Hàn Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Kinh tế Hàn Quốc
Seoul (South Korea).jpg
Seoul, thủ phủ kinh tế lớn nhất của Hàn Quốc
Tiền tệWon Hàn Quốc (KRW, ₩)
1,100.7 KRW = 1 USD
Năm tài chính1 tháng 1 – 31 tháng 12
Tổ chức kinh tếAPEC, WTO, OECD, G-20, Paris Club, IEA, WB/WBG, IMF, UNIDO, EAC và nhiều tổ chức khác.
Nhóm quốc gia
Số liệu thống kê
Dân sốTăng 51.309.705 (ước lượng 2021)[3]
GDP
  • Tăng $1,824 nghìn tỷ (danh nghĩa, ước lượng 2021)[4]
  • Tăng $2,503 nghìn tỷ (PPP, ước lượng 2021)[4]
Xếp hạng GDP
Tăng trưởng GDP
  • 2,9% (2018) 2,0% (2019)
  • -0,9% (2020) 4,0% (ước lượng 2021)[5]
GDP đầu người
  • Tăng $35.196 (danh nghĩa, ước lượng 2021)[4]
  • Tăng $48.309 (PPP, ước lượng 2021)[4]
GDP theo lĩnh vực
Lạm phát (CPI)0,5% (2020)[5]
Tỷ lệ nghèo14.4% (2016 est.)[3]
Hệ số GiniGiữ nguyên 35,5 trung bình (2017)[6]
Chỉ số phát triển con người
Lực lượng lao động
  • Tăng 28.466.640 (2020, ILO)[9]
  • Tăng Tỷ lệ việc làm 65,8% (2020)[5]
Cơ cấu lao động theo nghề
Thất nghiệp
  • Tăng theo hướng tiêu cực 3,7% (Tháng 9 năm 2020)[10]
  • Tăng theo hướng tiêu cực 11,5% người trẻ thất nghiệp (15 đến 24 tuổi, tháng 9 năm 2020)[11]
Các ngành chính
Xếp hạng thuận lợi kinh doanhGiữ nguyên 5th (rất thuận lợi, (2020)[12]
Thương mại quốc tế
Xuất khẩuGiảm $512,498 tỷ (2020)[13]
Mặt hàng XK
Đối tác XK
Nhập khẩuGiảm theo hướng tích cực $467,633 tỷ (2020)[13]
Mặt hàng NK
Đối tác NK
FDI
  • Tăng $230.6 tỷ (ước lượng 31 tháng 12 năm 2017)[3]
  • Giảm Nước ngoài: $344.7 tỷ (ước lượng 31 tháng 12 năm 2017)[3]
Tài khoản vãng laiGiảm $68 tỷ (2020)[5]
Tổng nợ nước ngoàiTăng theo hướng tiêu cực $542,4 tỷ (2020)[15]
Tài chính công
Nợ côngTăng theo hướng tiêu cực 39,8% GDP (2020)[16]
Thu$428,7 tỷ (2020)[16]
Chi$456,5 tỷ (2020)[16]
Viện trợODA, $2.4 tỷ (2018) chưa tính viện trợ cho CHDCND Triều Tiên
Dự trữ ngoại hốiTăng $458,700 tỷ (ước lượng tháng 7 năm 2021)[3]
Nguồn dữ liệu: CIA.gov
Tất cả giá trị đều tính bằng đô la Mỹ, trừ khi được chú thích.

Kinh tế Hàn Quốc là một nền kinh tế hỗn hợp phát triển cao[17][18][19] được đặc trưng bởi các tập đoàn sở hữu bởi các gia đình giàu có được gọi là các chaebol. Hàn Quốc là nền kinh tế lớn thứ 4 ở châu Á và thứ 10 thế giới theo GDP danh nghĩa. Đây là quốc gia nổi tiếng được nhiều người biết đến bởi tốc độ phát triển kinh tế thần kỳ từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành nước phát triểnthu nhập cao chỉ qua vài thế hệ. Sự phát triển vượt bậc này được ví như là kỳ tích sông Hàn[20] khi nó đã đưa Hàn Quốc sánh ngang với các quốc gia trong OECDG-20. Cho đến nay Hàn Quốc vẫn là một trong những quốc gia phát triển có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới kể từ sau cuộc Đại suy thoái.

Nhờ có một hệ thống giáo dục nghiêm ngặt giúp Hàn Quốc sở hữu một nhóm dân cư có học thức và năng động là nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy sự bùng nổ của các ngành công nghệ cao đồng thời phát triển kinh tế nhanh chóng.[21] Hàn Quốc là nước hầu như không có tài nguyên thiên nhiên cùng với mật độ dân số cao đã cản trở sự gia tăng dân số liên tục cũng như sự hình thành một thị trường nội địa lớn. Để giải quyết được những hạn chế này, Hàn Quốc đã điều chỉnh chiến lược kinh tế hướng tới xuất khẩu. Năm 2019, Hàn Quốc là nước xuất khẩu lớn thứ tám và cũng là nước nhập khẩu lớn thứ tám trên thế giới. Ngân hàng Hàn QuốcViện Nghiên cứu Phát triển Hàn Quốc chịu trách nhiệm công bố định kỳ các chỉ số quan trọng và xu hướng của nền kinh tế nước này.[22][23]

Các tổ chức tài chính nổi tiếng như Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã khen ngợi khả năng phục hồi của nền kinh tế Hàn Quốc trước các cuộc khủng hoảng kinh tế khác nhau. Họ viện dẫn những lợi thế kinh tế của nước này chính là lý do cho khả năng phục hồi bao gồm nợ công thấp và nguồn dự trữ tài khóa cao có thể nhanh chóng được huy động để giải quyết bất kỳ trường hợp khẩn cấp tài chính nào đã được dự đoán.[24] Các tổ chức tài chính khác như Ngân hàng Thế giới đã mô tả Hàn Quốc là một trong những nền kinh tế lớn phát triển nhanh nhất trong thế hệ tiếp theo cùng với BRIC và Indonesia.[25] Hàn Quốc là một trong số ít các quốc gia phát triển có thể tránh được sự suy thoái trong thời kỳ Đại suy thoái.[26] Tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này từng đạt 6,2% trong năm 2010, đây là một sự phục hồi mạnh mẽ so với năm 2008 và 2009 khi mà tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ lần lượt là 2,3% và 0,2% trong suốt thời kỳ Đại suy thoái. Nền kinh tế Hàn Quốc dần phục hồi trở lại với mức thặng dư tài khoản vãng lai kỷ lục 70,7 tỷ USD vào cuối năm 2013, tăng 47% so với năm 2012. Mức tăng trưởng này trái ngược hoàn toàn với những bất ổn kinh tế đang diễn ra trên toàn cầu. Điều này chủ yếu có được là nhờ việc quốc gia này đã tăng cường xuất khẩu các sản phẩm công nghệ.[27]

Bất chấp tiềm năng tăng trưởng cao của nền kinh tế Hàn Quốc với sự ổn định về mặt cấu trúc một cách rõ ràng, nước này vẫn gặp phải những thiệt hại liên tiếp về xếp hạng tín nhiệm trên thị trường chứng khoán do sự hiếu chiến của Triều Tiên trong thời kỳ mâu thuẫn quân sự sâu sắc. Sự hiếu chiến tái diễn có tác động tiêu cực đến thị trường tài chính Hàn Quốc.[28][29] Ngoài ra, sự thống trị của các chaebol khiến nhiều người Hàn Quốc sợ rằng các tập đoàn này sẽ không ngừng tham nhũng và nâng tầm ảnh hưởng của mình đến hệ thống chính trị. Sự thống trị này khó có thể kéo dài và gây ra nguy cơ làm chậm quá trình chuyển đổi của nền kinh tế Hàn Quốc vì lợi ích của các thế hệ tương lai.[30][31][32]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử tăng trưởng kinh tế Hàn Quốc từ năm 1961 đến năm 2015

Sau khi Chiến tranh Triều Tiên kết thúc, Hàn Quốc vẫn là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới trong hơn một thập kỷ. Năm 1960, tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người của nước này chỉ là 79 đô la.[33] Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp chính là động lực chính để thúc đẩy nền kinh tế nước nhà đi lên. Năm 1986, ngành sản xuất chiếm khoảng 30% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và sử dụng 25% lực lượng lao động. Hưởng lợi từ sự khuyến khích mạnh mẽ của nhà nước và viện trợ nước ngoài, các công ty công nghiệp ở Seoul đã nhanh chóng đưa công nghệ hiện đại vào các cơ sở sản xuất cũ và mới giúp tăng cường sản xuất hàng hóa - đặc biệt là hàng hóa để bán ở thị trường nước ngoài - và thu lại số tiền thu được để mở rộng ngành công nghiệp hơn nữa. Kết quả là ngành công nghiệp đã hoàn toàn làm thay đổi bộ mặt của đất nước, thu hút hàng triệu lao động đến các trung tâm sản xuất đô thị.

Nền kinh tế Hàn Quốc suy thoái vào năm 1989 do đơn đặt hàng từ nước ngoài giảm mạnh dẫn đến xuất khẩu đình trệ, điều này đã gây ra mối lo ngại sâu sắc cho ngành công nghiệp. Các nhà phân tích thuộc Bộ Thương mại và Công nghiệp cho rằng hoạt động xuất khẩu kém là do các vấn đề cơ cấu trong nền kinh tế quốc gia, bao gồm việc đồng won quá mạnh khiến chi phí nhân công tăng cao khiến các cuộc đình công diễn ra thường xuyên và lãi suất cao. Kết quả là sự gia tăng của hàng tồn kho cũng như việc một số nhà sản xuất điện tử, ô tô, dệt may và một số công ty sản xuất phụ tùng quan trọng phải cắt giảm quy mô một cách nghiêm trọng. Các hệ thống tự động hóa của nhà máy được giới thiệu để giảm sự phụ thuộc vào lao động, giúp tăng năng suất mà không cần sử dụng nhiều lao động và nâng cao khả năng cạnh tranh. Người ta ước tính rằng hơn hai phần ba các nhà sản xuất của Hàn Quốc đã chi hơn một nửa số tiền có sẵn để đầu tư vào cơ sở vật chất và hệ thống tự động hóa.

Những năm 1960 và 1980[sửa | sửa mã nguồn]

Tăng trưởng GDP (PPP) của Hàn Quốc từ năm 1911-2008
Nền kinh tế Hàn Quốc so với Bắc Triều Tiên theo thước đo GDP bình quân đầu người. Bắc Triều Tiên bắt đầu mất đi tính cạnh tranh về kinh tế so với Hàn Quốc sau khi nước này áp dụng Tư tưởng Chủ thể vào năm 1974.

Với cuộc đảo chính của Tướng Park Chung-hee vào năm 1961, một chính sách kinh tế bảo hộ đã được đưa ra nhằm thúc đẩy một giai cấp tư sản phát triển dưới cái bóng của Nhà nước để kích hoạt lại thị trường nội địa. Để thúc đẩy sự phát triển, chính sách công nghiệp hóa theo hướng xuất khẩu đã được áp dụng, chính sách chú trọng việc ngừng nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài trừ nguyên liệu thô. Một cuộc cải cách nông nghiệp đã được thực hiện với việc trưng thu mà không bồi thường các điền trang lớn của Nhật Bản. Tướng Park đã quốc hữu hóa hệ thống tài chính để mở rộng cánh tay quyền lực của nhà nước nhằm can thiệp vào nền kinh tế thông qua các kế hoạch 5 năm.[34]

Mũi nhọn là các chaebols, những tập đoàn gia đình hoạt động trong những lĩnh vực đa dạng như Hyundai, SamsungLG Corporation nhận được các ưu đãi của nhà nước như miễn giảm thuế, tính hợp pháp cho một hệ thống khai thác lớn và được tiếp cận nguồn tài chính rẻ gần như miễn phí: ngân hàng nhà nước đã tạo điều kiện cho việc lập kế hoạch cho vay tập trung theo từng mục theo từng kế hoạch 5 năm và theo tập đoàn kinh tế được lựa chọn để chủ trì.

Cho đến năm 1961, Hàn Quốc đã nhận được khoản tài trợ trị giá 3,1 tỷ đô la từ Hoa Kỳ, một con số rất cao vào thời điểm đó, đây là một đặc ân của việc nước này nằm ở khu vực nóng nhất của thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Chính sách hỗ trợ kinh tế và quân sự đối ngoại này được tiếp tục duy trì trong nhiều thập kỷ. Các chaebol bắt đầu thống trị nền kinh tế trong nước và sau đó đã trở nên đủ mạnh mẽ để cạnh tranh quốc tế. Tiền lương và điều kiện làm việc của người lao động được cải thiện một cách ổn định đã giúp tăng tiêu dùng trong nước. Qua đó Hàn Quốc dần dần từ vị thế là nước thu nhập thấp đã tiến lên dần để trở thành nước thu nhập trung bình vào những năm 1980.[35]

Tổng sản phẩm quốc nội thực tế của Hàn Quốc trung bình tăng hơn 8% mỗi năm, từ 2,7 tỷ đô la Mỹ năm 1962[36] lên 230 tỷ đô la Mỹ năm 1989[37] và chính thức vượt mốc nghìn tỷ đô la vào năm 2006. GDP danh nghĩa bình quân đầu người tăng từ 103,88 USD năm 1962[38] lên 5.438,24 USD năm 1989[39] và đạt mốc 20.000 USD vào năm 2006. Tỷ trọng ngành sản xuất tăng từ 14,3% GNP năm 1962 lên 30,3% năm 1987. Tổng kim ngạch thương mại hàng hóa tăng từ 480 triệu USD vào năm 1962 lên 127,9 tỷ đô la Mỹ dự kiến ​​vào năm 1990. Tỷ lệ tiết kiệm trong nước trên GNP tăng từ 3,3 phần trăm năm 1962 lên 35,8 phần trăm năm 1989. Năm 1965, tốc độ tăng trưởng của Hàn Quốc lần đầu tiên vượt qua tốc độ tăng trưởng của Triều Tiên trong hầu hết các lĩnh vực công nghiệp, mặc dù GNP bình quân đầu người của Hàn Quốc vẫn thấp hơn.[40]

Yếu tố quan trọng nhất trong quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng là việc áp dụng chiến lược hướng ngoại vào đầu những năm 1960.[41] Chiến lược này đặc biệt phù hợp vào thời điểm đó vì Hàn Quốc là nước nghèo tài nguyên thiên nhiên, có tỷ lệ tiết kiệm thấp và thị trường nội địa nhỏ. Chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua xuất khẩu sản xuất sử dụng nhiều lao động, lĩnh vực mà Hàn Quốc có thể phát triển lợi thế cạnh tranh. Các sáng kiến ​​của chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong quá trình này. Thông qua mô hình công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, chính phủ Hàn Quốc khuyến khích các tập đoàn phát triển công nghệ mới và nâng cao hiệu quả sản xuất nhằm cạnh tranh trên thị trường toàn cầu vốn có tính cạnh tranh cao.[42] Bằng cách tuân thủ các quy định và yêu cầu của nhà nước, các công ty đã được trợ cấp và hỗ trợ đầu tư để nhanh chóng phát triển thị trường xuất khẩu của họ trên trường quốc tế vốn đang phát triển nhanh chóng.[42] Ngoài ra, dòng vốn nước ngoài được khuyến khích rất nhiều để bổ sung cho sự thiếu hụt tiết kiệm trong nước. Những nỗ lực này đã giúp Hàn Quốc đạt được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhanh chóng và thu nhập tăng sau đó.

Bằng cách chú trọng phát triển lĩnh vực công nghiệp, chiến lược phát triển theo định hướng xuất khẩu ở Seoul khiến khu vực nông thôn trở lên tương đối kém phát triển. Ngành công nghiệp thép và đóng tàu nói riêng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế Hàn Quốc trong thời gian này.[43] Ngoại trừ ngành khai thác mỏ, hầu hết các ngành công nghiệp đều tập trung ở các đô thị phía tây bắc và đông nam. Các ngành công nghiệp nặng thường tập trung tại phía nam của đất nước. Các nhà máy ở Seoul đóng góp hơn 25% tổng giá trị gia tăng của ngành sản xuất vào năm 1978; Cùng với các nhà máy xung quanh tỉnh Gyeonggi, các nhà máy ở khu vực Seoul đã tạo ra 46% tổng sản lượng trong năm đó. Các nhà máy ở Seoul và tỉnh Gyeonggi sử dụng 48% trong tổng số 2,1 triệu công nhân nhà máy của cả nước. Sự chênh lệch thu nhập ngày càng tăng giữa khu vực công nghiệp và nông nghiệp đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng vào những năm 1970 và cho đến nay vẫn là một vấn đề nan giải bất chấp những nỗ lực của chính phủ nhằm nâng cao mức thu nhập của nông dân và cải thiện mức tại khu vực sống nông thôn.

Đầu những năm 1980, để kiểm soát lạm phát, một chính sách tiền tệ thận trọng đi kèm với các biện pháp tài khóa thắt chặt đã được áp dụng. Tăng cung tiền đã giảm từ mức 30% của những năm 1970 xuống còn 15%. Seoul thậm chí đã đóng băng ngân sách của mình trong một khoảng thời gian ngắn. Sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế đã giảm đáng kể và các chính sách về nhập khẩu và đầu tư nước ngoài được tự do hóa để thúc đẩy cạnh tranh. Để giảm bớt sự mất cân bằng giữa khu vực nông thôn và thành thị, Seoul đã mở rộng đầu tư vào các dự án công cộng, chẳng hạn như đường xá và cơ sở thông tin liên lạc, đồng thời thúc đẩy hơn nữa cơ giới hóa nông nghiệp.

Các biện pháp được thực hiện vào đầu thập kỷ cùng với những cải thiện đáng kể của nền kinh tế thế giới đã giúp nền kinh tế Hàn Quốc lấy lại động lực phát triển đã mất vào cuối những năm 1980. Hàn Quốc đạt mức tăng trưởng thực tế trung bình 9,2% trong giai đoạn 1982-1987 và 12,5% trong giai đoạn 1986-1988. Lạm phát hai con số trong những năm 1970 đã được kiểm soát. Lạm phát giá bán buôn trung bình là 2,1% mỗi năm từ 1980 đến 1988; giá tiêu dùng tăng trung bình 4,7% hàng năm. Seoul đạt được mức thặng dư cán cân thanh toán lần đầu tiên vào năm 1986 ghi lần lượt ghi nhận mức thặng dư 7,7 tỷ USD và 11,4 tỷ USD vào năm 1987 và 1988. Sự phát triển này cho phép Hàn Quốc bắt đầu giảm mức nợ nước ngoài. Tuy nhiên, mức thặng dư thương mại trong năm 1989 chỉ là 4,6 tỷ đô la Mỹ, một mức thặng dư nhỏ hướng tới năm 1990.

Những năm 1990[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nửa đầu những năm 1990, nền kinh tế Hàn Quốc tiếp tục tăng trưởng ổn định và mạnh mẽ về cả tiêu dùng cá nhân và GDP. Trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, sau khi một số đồng tiền châu Á khác bị giới đầu cơ tấn công, đồng won của Hàn Quốc bắt đầu giảm giá mạnh vào tháng 10 năm 1997.[44] Vấn đề càng trở nên trầm trọng hơn bởi các khoản nợ xấu tại nhiều ngân hàng thương mại của Hàn Quốc. Đến tháng 12 năm 1997, IMF đã phê duyệt khoản vay trị giá 21 tỷ đô la Mỹ, đây sẽ là một phần của kế hoạch cứu trợ 58,4 tỷ đô la Mỹ.[44] Đến tháng 1 năm 1998, chính phủ đã đóng cửa một phần ba ngân hàng thương mại ở Hàn Quốc.[44] Trong suốt năm 1998, nền kinh tế Hàn Quốc tiếp tục suy giảm hàng quý với tốc độ trung bình là -6,65%.[44] Chaebol Daewoo của Hàn Quốc đã trở thành nạn nhân của cuộc khủng hoảng khi nó bị chính phủ xóa sổ vào năm 1999 do các vấn đề nợ nần. Công ty General Motors của Mỹ đã tiếp quản khi mua lại bộ phận sản xuất động cơ của Tập đoàn này. Trong khi Tập đoàn Tata Group của Ấn Độ đã mua lại bộ phận sản xuất xe tải và xe hạng nặng của Daewoo.[44]

Các hành động của chính phủ Hàn Quốc và các thỏa thuận hoán đổi nợ của các tổ chức cho vay quốc tế đã gây ra các vấn đề tài chính cho đất nước. Phần lớn sự phục hồi của Hàn Quốc sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 là nhờ vào những điều chỉnh về lao động (một thị trường lao động năng động và hiệu quả với mức lương linh hoạt) và các nguồn tài trợ thay thế.[44] Vào quý một năm 1999, tăng trưởng GDP đã tăng lên mức 5,4%, và sự tăng trưởng mạnh mẽ sau đó kết hợp với áp lực giảm phát đối với đồng won đã dẫn đến mức tăng trưởng hàng năm là 10,5%. Vào tháng 12 năm 1999, tổng thống Kim Dae-jung tuyên bố cuộc khủng hoảng tiền tệ đã chấm dứt.[44]

Những năm 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye tại một bữa ăn sáng gặp gỡ các ông trùm kinh doanh Lee Kun-heeChung Mong-koo

Nền kinh tế Hàn Quốc đã chuyển từ mô hình đầu tư theo kế hoạch tập trung do chính phủ định hướng sang mô hình đầu tư theo định hướng thị trường hơn. Những cải cách kinh tế này, do Tổng thống Kim Dae-jung thúc đẩy, đã giúp Hàn Quốc là một trong số ít nền kinh tế đang phát triển nhanh của châu Á[cần dẫn nguồn] duy trì được tốc độ tăng trưởng 10,8% vào năm 1999 và 9,2% vào năm 2000. Tăng trưởng giảm trở lại mức 3,3% vào năm 2001 do nền kinh tế toàn cầu chậm lại, xuất khẩu giảm đi kèm những nhận thức về việc cải cách tài chính và doanh nghiệp đã bị đình trệ.

Sau khi phục hồi từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng mạnh vào năm 2000 với mức tăng trưởng GDP là 9,08%.[44] Tuy nhiên, nền kinh tế Hàn Quốc đã bị ảnh hưởng bởi sự kiện 11 tháng 9. Nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, xuất khẩu giảm và nhận thức rằng cải cách doanh nghiệp và tài chính đang bị đình trệ đã khiến tăng trưởng giảm trở lại mức 3,8% vào năm 2001.[45] Nhờ công nghiệp hóa mà GDP mỗi giờ làm việc (sản lượng lao động) đã tăng hơn gấp ba lần từ 2,80 đô la Mỹ vào năm 1963 lên 10 đô la Mỹ vào năm 1989. Ngày nay nền kinh tế Hàn Quốc đã dần ổn định và duy trì tốc độ tăng trưởng từ 4-5% từ năm 2003 trở đi.

Dẫn đầu bởi ngành công nghiệp và xây dựng, tăng trưởng năm 2002 là 5,8%[46] mặc cho sự chậm lại của tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Việc tái cơ cấu các tập đoàn (chaebol) của Hàn Quốc, tư nhân hóa ngân hàng và tạo ra một nền kinh tế tự do hóa hơn - với cơ chế cho các công ty phá sản thoát khỏi thị trường - vẫn là những nhiệm vụ cải cách quan trọng nhất chưa được hoàn thành của Hàn Quốc. Tăng trưởng chậm lại vào năm 2003, nhưng sản xuất đã tăng lên 5% trong năm 2006 do nhu cầu phổ biến đối với các sản phẩm xuất khẩu chủ lực như HDTV và điện thoại di động.[cần dẫn nguồn]

Giống như hầu hết các nền kinh tế công nghiệp hóa, Hàn Quốc đã phải chịu những tổn thất đáng kể gây ra bởi Đại suy thoái. Tăng trưởng giảm đi 3,4% trong quý 4 năm 2008 so với quý trước, đây là quý đầu tiên Hàn Quốc có mức tăng trưởng âm trong 10 năm, mức tăng trưởng hàng quý tiếp tục âm vào năm 2009.[47] Hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế đều suy giảm, trong đó ngành sản xuất giảm 25,6% tính đến tháng 1 năm 2009 và doanh số bán hàng tiêu dùng giảm 3,1%.[47] Xuất khẩu ô tô và chất bán dẫn là hai trụ cột quan trọng của nền kinh tế đều giảm lần lượt 55,9% và 46,9%, trong khi xuất khẩu nói chung giảm kỷ lục 33,8% trong tháng Giêng và 18,3% vào tháng Hai năm 2009 cùng năm.[48] Như trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, đồng won Hàn Quốc cũng trải qua những biến động lớn khi giảm tới 34% so với đồng đô la.[48] Tăng trưởng hàng năm của nền kinh tế chậm lại còn 2,3% vào năm 2008 và được Goldman Sachs dự đoán sẽ giảm xuống mức thấp nhất là -4,5%,[49] nhưng Hàn Quốc đã hạn chế được mức độ trầm trọng của suy thoái khi đạt mức tăng trưởng 0,2% vào năm 2009.[50]

Bất chấp cuộc Đại suy thoái, nền kinh tế Hàn Quốc nhờ có những sự trợ giúp đến từ các biện pháp kích thích kịp thời và mức độ tiêu thụ sản phẩm nội địa mạnh mẽ bù đắp cho sự sụt giảm xuất khẩu[51] đã tránh được một cuộc suy thoái với mức độ tồi tệ giống như hầu hết các nền kinh tế công nghiệp hóa khi đạt được mức tăng trưởng khả quan trong hai năm khủng hoảng liên tiếp. Năm 2010, Hàn Quốc đã có sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng 6,1% - báo hiệu sự trở lại của nền kinh tế. Xuất khẩu của Hàn Quốc đạt 424 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm 2010, cao hơn mức xuất khẩu của cả năm 2008. Nền kinh tế Hàn Quốc của thế kỷ 21, với tư cách là nền kinh tế thuộc nhóm Next Eleven, dự kiến ​​sẽ tăng trưởng từ 3,9 % đến 4,2% hàng năm trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2030,[52] tương tự như tỷ lệ tăng trưởng của các nước đang phát triển như Brazil hay Nga.[53]

Chính phủ Hàn Quốc đã ký Hiệp định Thương mại Tự do Hàn Quốc-Australia (KAFTA) vào ngày 5 tháng 12 năm 2013, với việc chính phủ Australia đang tìm cách mang lại lợi ích cho nhiều ngành công nghiệp của mình, bao gồm ô tô, dịch vụ, tài nguyên và năng lượng và định vị bản thân bên cạnh các đối thủ cạnh tranh chẳng hạn như Hoa Kỳ và ASEAN.[54] Hàn Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của Australia và là đối tác thương mại lớn thứ tư với giá trị thương mại năm 2012 là 32 tỷ đô la Úc. Thỏa thuận có điều khoản Giải quyết Tranh chấp giữa khu vực Nhà nước với các Nhà đầu tư (ISDS) cho phép các tập đoàn Hàn Quốc khởi kiện chính phủ Úc nếu quyền thương mại của họ bị vi phạm.[55]

Chính phủ đã cắt giảm tuần làm việc từ sáu ngày xuống còn năm ngày trong các giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2011 tùy thuộc vào quy mô của công ty.[56] Số ngày nghỉ lễ được mở rộng lên thành 16 ngày vào năm 2013.[57]

Nền kinh tế Hàn Quốc giảm trong quý đầu tiên của năm 2019, đây là hoạt động tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái. GDP điều chỉnh theo mùa so với quý trước đã giảm đi 0,3%.[58]

Những năm 2000 - nay[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1990, các nhà sản xuất Hàn Quốc đã lên kế hoạch thay đổi đáng kể kế hoạch sản xuất trong tương lai sang các ngành công nghệ cao. Vào tháng 6 năm 1989, các hội đồng gồm các quan chức chính phủ, học giả và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã tổ chức các buổi họp để lên kế hoạch sản xuất các loại hàng hóa như vật liệu mới, cơ điện tử — bao gồm cả robot công nghiệp — kỹ thuật sinh học, vi điện tử, hóa học tinh chế và hàng không vũ trụ. Tuy nhiên, cuộc họp nhấn mạnh rằng sự thay đổi không có nghĩa là cắt giảm ngay lập tức hoạt động của các ngành công nghiệp nặng như sản xuất ô tô và tàu thủy, vốn đã thống trị nền kinh tế trong những năm 1980.[cần dẫn nguồn]

Hàn Quốc chủ yếu dựa vào xuất khẩu để thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, với các thành phẩm như đồ điện tử, hàng dệt may, tàu thủy, ô tô và thép là các mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của nước này. Mặc dù thị trường nhập khẩu đã được tự do hóa trong những năm gần đây, nhưng thị trường nông sản chủ yếu vẫn mang tính bảo hộ do giá nông sản trong nước như gạo so với thị trường quốc tế vẫn có sự chênh lệch lớn. Tính đến năm 2005, giá gạo ở Hàn Quốc cao gấp khoảng 4 lần giá gạo trung bình trên thị trường quốc tế, do đó người ta thường lo ngại rằng việc mở cửa thị trường nông sản sẽ có những tác động tai hại đối với ngành nông nghiệp Hàn Quốc. Tuy nhiên, vào cuối năm 2004, một thỏa thuận đã đạt được với WTO, trong đó sản lượng gạo nhập khẩu của Hàn Quốc sẽ tăng dần từ 4% lên 8% vào năm 2014. Ngoài ra, tới 30% lượng gạo nhập khẩu sẽ được cung cấp trực tiếp cho người tiêu dùng vào năm 2010, thời kỳ trước đó gạo nhập khẩu chỉ được sử dụng làm thực phẩm chế biến. Sau năm 2014, thị trường gạo Hàn Quốc sẽ mở cửa hoàn toàn.[cần dẫn nguồn]

Ngoài ra, Hàn Quốc ngày nay được biết đến như một Bệ phóng của thị trường di động vốn đã trưởng thành, nơi mà các nhà phát triển có thể thu được lợi ích từ một thị trường có rất ít hạn chế để công nghệ có thể tồn tại. Ngày càng có nhiều xu hướng phát minh ra các loại phương tiện hoặc ứng dụng mới, sử dụng cơ sở hạ tầng internet 4G và 5G ở Hàn Quốc. Hàn Quốc ngày nay có cơ sở hạ tầng đáp ứng mật độ dân số và văn hóa có khả năng tạo ra sự đặc thù địa phương một cách mạnh mẽ.[59]

Dữ liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng sau đây cho thấy các chỉ tiêu kinh tế chính trong năm 1980–2018. Lạm phát dưới 2% có màu xanh lục.[60]

Year GDP
(tỷ USD PPP)
GDP bình quân
(USD PPP)
Tốc độ tăng trưởng GDP
(thực tế)
Tỷ lệ lạm phát
(%)
Tỷ lệ thất nghiệp
(%)
Nợ chính phủ
(% GDP)
1980 85,4 2.240 Giảm−1,7% Tăng theo hướng tiêu cực28,7% 5,2% n/a
1981 Tăng100,2 Tăng2.587 Tăng7,2% Tăng theo hướng tiêu cực21,4% Giảm theo hướng tích cực4,5% n/a
1982 Tăng115,2 Tăng2.929 Tăng8,3% Tăng theo hướng tiêu cực7,2% Giảm theo hướng tích cực4,1% n/a
1983 Tăng135,6 Tăng3.396 Tăng13,2% Tăng theo hướng tiêu cực3,4% Giữ nguyên4,1% n/a
1984 Tăng155,1 Tăng3.839 Tăng10,4% Tăng theo hướng tiêu cực2,3% Giảm theo hướng tích cực3,9% n/a
1985 Tăng172,4 Tăng4.225 Tăng7,8% Tăng theo hướng tiêu cực2,5% Tăng theo hướng tiêu cực4,0% n/a
1986 Tăng195,6 Tăng4.747 Tăng11,2% Tăng theo hướng tiêu cực2,8% Giảm theo hướng tích cực3,8% n/a
1987 Tăng225,4 Tăng5.417 Tăng12,5% Tăng theo hướng tiêu cực3,0% Giảm theo hướng tích cực3,1% n/a
1988 Tăng261,2 Tăng6.214 Tăng11,9% Tăng theo hướng tiêu cực7,1% Giảm theo hướng tích cực2,5% n/a
1989 Tăng290,5 Tăng6.844 Tăng7,0% Tăng theo hướng tiêu cực5,7% Tăng theo hướng tiêu cực2,6% n/a
1990 Tăng331,0 Tăng7.720 Tăng9,8% Tăng theo hướng tiêu cực8,6% Giảm theo hướng tích cực2,5% 12,9%
1991 Tăng377,5 Tăng8.721 Tăng10,3% Tăng theo hướng tiêu cực9,3% Giữ nguyên2,5% Giảm theo hướng tích cực12,1%
1992 Tăng410,0 Tăng9.373 Tăng6,2% Tăng theo hướng tiêu cực6,2% Giữ nguyên2,5% Giảm theo hướng tích cực11,8%
1993 Tăng448,5 Tăng10.148 Tăng6,8% Tăng theo hướng tiêu cực4,8% Tăng theo hướng tiêu cực2,9% Giảm theo hướng tích cực11,0%
1994 Tăng500,2 Tăng11.206 Tăng9,2% Tăng theo hướng tiêu cực6,3% Giảm theo hướng tích cực2,5% Giảm theo hướng tích cực9,8%
1995 Tăng559,6 Tăng12.410 Tăng9,6% Tăng theo hướng tiêu cực4,5% Giảm theo hướng tích cực2,1% Giảm theo hướng tích cực8,7%
1996 Tăng613,1 Tăng13.468 Tăng7,6% Tăng theo hướng tiêu cực4,9% Giữ nguyên2,1% Giảm theo hướng tích cực8,0%
1997 Tăng660,7 Tăng14.376 Tăng5,9% Tăng theo hướng tiêu cực4,4% Tăng theo hướng tiêu cực2,6% Tăng theo hướng tiêu cực9,9%
1998 Giảm631,5 Giảm13.644 Giảm−5,5% Tăng theo hướng tiêu cực7,5% Tăng theo hướng tiêu cực7,0% Tăng theo hướng tiêu cực14,2%
1999 Tăng713,1 Tăng15.297 Tăng11,3% Tăng0,8% Giảm theo hướng tích cực6,6% Tăng theo hướng tiêu cực16,2%
2000 Tăng790,0 Tăng16.805 Tăng8,4% Tăng theo hướng tiêu cực2,3% Giảm theo hướng tích cực4,4% Tăng theo hướng tiêu cực16,6%
2001 Tăng846,5 Tăng17.870 Tăng4,9% Tăng theo hướng tiêu cực4,1% Giảm theo hướng tích cực4,0% Tăng theo hướng tiêu cực17,2%
2002 Tăng926,3 Tăng19.442 Tăng7,4% Tăng theo hướng tiêu cực2,8% Giảm theo hướng tích cực3,3% Giảm theo hướng tích cực17,0%
2003 Tăng973,2 Tăng20.321 Tăng3,1% Tăng theo hướng tiêu cực3,5% Tăng theo hướng tiêu cực3,6% Tăng theo hướng tiêu cực19,8%
2004 Tăng1.051,4 Tăng21.866 Tăng5,2% Tăng theo hướng tiêu cực3,6% Tăng theo hướng tiêu cực3,7% Tăng theo hướng tiêu cực22,4%
2005 Tăng1.130,8 Tăng23.469 Tăng4,3% Tăng theo hướng tiêu cực2,8% Tăng theo hướng tiêu cực3,8% Tăng theo hướng tiêu cực25,9%
2006 Tăng1.226,4 Tăng25.318 Tăng5,3% Tăng theo hướng tiêu cực2,3% Giảm theo hướng tích cực3,5% Tăng theo hướng tiêu cực28,1%
2007 Tăng1.332,3 Tăng27.368 Tăng5,8% Tăng theo hướng tiêu cực2,5% Giảm theo hướng tích cực3,3% Giảm theo hướng tích cực27,4%
2008 Tăng1.399,2 Tăng28.523 Tăng3,0% Tăng theo hướng tiêu cực4,7% Giảm theo hướng tích cực3,2% Giảm theo hướng tích cực26,9%
2009 Tăng1.421,0 Tăng28.820 Tăng0,8% Tăng theo hướng tiêu cực2,8% Tăng theo hướng tiêu cực3,6% Tăng theo hướng tiêu cực30,0%
2010 Tăng1.535,4 Tăng30.985 Tăng6,8% Tăng theo hướng tiêu cực2,9% Tăng theo hướng tiêu cực3,7% Giảm theo hướng tích cực29,5%
2011 Tăng1.625,3 Tăng32.547 Tăng3,7% Tăng theo hướng tiêu cực4,0% Giảm theo hướng tích cực3,4% Tăng theo hướng tiêu cực30,2%
2012 Tăng1.696,2 Tăng33.790 Tăng2,4% Tăng theo hướng tiêu cực2,2% Giảm theo hướng tích cực3,2% Tăng theo hướng tiêu cực30,8%
2013 Tăng1.780,6 Tăng35.310 Tăng3,2% Tăng1,3% Giảm theo hướng tích cực3,1% Tăng theo hướng tiêu cực33,7%
2014 Tăng1.871,6 Tăng36.882 Tăng3,2% Tăng1,3% Tăng theo hướng tiêu cực3,5% Tăng theo hướng tiêu cực35,5%
2015 Tăng1.944,3 Tăng38.112 Tăng2,8% Tăng0,7% Tăng theo hướng tiêu cực3,6% Tăng theo hướng tiêu cực37,3%
2016 Tăng2.022,2 Tăng39.484 Tăng2,9% Tăng1,0% Tăng theo hướng tiêu cực3,7% Tăng theo hướng tiêu cực37,6%
2017 Tăng2.125,5 Tăng41.331 Tăng3,2% Tăng1,9% Giữ nguyên3.7% Tăng theo hướng tiêu cực37,7%
2018 Tăng2.235,3 Tăng43.290 Tăng2,7% Tăng1,5% Tăng theo hướng tiêu cực3,8% Tăng theo hướng tiêu cực37,9%

Các lĩnh vực kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Đóng tàu[sửa | sửa mã nguồn]

Đóng tàu là một trong những ngành công nghiệp chủ lực của Hàn Quốc và đã phát triển mạnh mẽ từ những năm 1960.

Trong những năm 1970 và 1980, Hàn Quốc đã trở thành nhà sản xuất tàu thủy hàng đầu trong đó có cả các loại tàu thủy chở dầu và dàn khoan dầu cực lớn. Hyundai là công ty đóng tàu lớn của Hàn Quốc khi đã xây dựng nên các ụ đóng tàu công suất 1 triệu tấn tại Ulsan vào giữa những năm 1970. Daewoo gia nhập ngành đóng tàu vào năm 1980 và hoàn thành cơ sở đóng tàu có trọng tải 1,2 triệu tấn tại Okpo trên đảo Geoje ở phía nam Busan vào giữa năm 1981. Ngành công nghiệp này đã suy giảm vào giữa những năm 1980 do dầu mỏ dư thừa và sự suy thoái kinh tế trên toàn thế giới. Số lượng đơn đặt hàng mới đã giảm mạnh vào cuối những năm 1980; các đơn đặt hàng mới cho năm 1988 đạt với tổng trọng tải là 3 triệu tấn với trị giá 1,9 tỷ USD, con số này giảm so với các năm trước lần lượt là 17,8% và 4,4%. Những sự sụt giảm này là do tình trạng bất ổn lao động, Seoul không sẵn sàng cung cấp hỗ trợ tài chính và các khoản tài trợ xuất khẩu lãi suất thấp mới của Tokyo để hỗ trợ các công ty đóng tàu Nhật Bản đã cạnh tranh mạnh mẽ với Hàn Quốc. Tuy nhiên, ngành vận tải biển của Hàn Quốc dự kiến ​​sẽ phát triển vào đầu những năm 1990 vì các con tàu cũ trong các hạm đội quân sự của các nước trên thế giới cần được thay thế.[61] Hàn Quốc cuối cùng đã trở thành nhà đóng tàu số một thế giới khi chiếm tới 50,6% thị phần đóng tàu toàn cầu tính đến năm 2008. Các nhà đóng tàu nổi tiếng của Hàn Quốc gồm có Hyundai Heavy Industries, Samsung Heavy Industries, Tập đoàn Cơ khí hàng hải và Đóng tàu DaewooSTX Offshore & Shipbuilding hiện đã phá sản.

Điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Điện tử là một trong những ngành công nghiệp chính của Hàn Quốc. Trong suốt những năm 1980 đến những năm 2000, các công ty Hàn Quốc như Samsung, LGSK đã dẫn đầu cho sự phát triển ngành công nghiệp điện tử của Hàn Quốc. Năm 2017, 17,1% kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc là chất bán dẫn do Samsung ElectronicsSK Hynix sản xuất. Samsung và LG cũng là những nhà sản xuất lớn các thiết bị điện tử như Ti vi, Điện thoại thông minh, Màn hìnhmáy tính.

Ô tô[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiếc ô tô của Hyundai. Công nghiệp ô tô là lĩnh vực then chốt trong nền công nghiệp Hàn Quốc.

Công nghiệp ô tô là một trong những ngành xuất khẩu và tăng trưởng chính của Hàn Quốc trong những năm 1980. Vào cuối những năm 1980, công suất của ngành công nghiệp động cơ Hàn Quốc đã tăng hơn 5 lần kể từ năm 1984; nó đã vượt quá 1 triệu chiếc vào năm 1988. Tổng đầu tư vào sản xuất ô tô và linh kiện ô tô là hơn 3 tỷ đô la Mỹ vào năm 1989. Tổng sản lượng (bao gồm cả xe buýt và xe tải) trong năm 1988 đạt 1,1 triệu chiếc, tăng 10,6% so với năm 1987, và tăng lên ước tính khoảng 1,3 triệu xe (chủ yếu là ô tô chở khách) vào năm 1989. Gần 263.000 xe du lịch được sản xuất vào năm 1985 - con số này đã tăng lên khoảng 846.000 chiếc vào năm 1989. Năm 1988, xuất khẩu ô tô đạt tổng cộng 576.134 chiếc, trong đó 480.119 chiếc (83,3%) được gửi đến Hoa Kỳ. Trong suốt gần cuối những năm 1980, phần lớn sự tăng trưởng của ngành công nghiệp ô tô của Hàn Quốc là kết quả của sự gia tăng xuất khẩu; Tuy nhiên, xuất khẩu năm 1989 đã giảm 28,5% so với năm 1988. Sự sụt giảm này phản ánh doanh số bán xe hơi chậm chạp cho Hoa Kỳ, đặc biệt là ở thị trường cuối cùng rẻ hơn và xung đột lao động trong nước.[62] Hàn Quốc ngày nay đã phát triển thành một trong những nước sản xuất ô tô lớn nhất thế giới. Tập đoàn ô tô Hyundai Kia là nhà sản xuất ô tô lớn nhất Hàn Quốc về doanh thu, đơn vị sản xuất và sự hiện diện trên toàn thế giới.

Khai khoáng[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết các mỏ khoáng sản ở Bán đảo Triều Tiên đều nằm ở Triều Tiên, trong đó miền Nam chỉ có nhiều vonfram và than chì. Than, quặng sắt và molypden được tìm thấy ở Hàn Quốc, nhưng không phải với số lượng lớn và hoạt động khai thác các khoáng sản này chỉ ở quy mô nhỏ. Phần lớn khoáng sản và quặng của Hàn Quốc được nhập khẩu từ các nước khác. Hầu hết than của Hàn Quốc là than antraxit chỉ được sử dụng để sưởi ấm trong nhà và lò hơi.

Năm 2019, Hàn Quốc là nhà sản xuất bismuth lớn thứ 3 thế giới,[63] nhà sản xuất rheni lớn thứ 4 thế giới[64] và nhà sản xuất lưu huỳnh lớn thứ 10 trên thế giới.[65]

Xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Burj Khalifa - tòa nhà cao nhất trên thế giới hiện nay với Samsung C&T là nhà thầu xây dựng chính.

Xây dựng đã trở thành một ngành xuất khẩu quan trọng của Hàn Quốc kể từ đầu những năm 1960 và vẫn là nguồn cung cấp ngoại tệ quan trọng và thu nhập từ xuất khẩu vô hình. Đến năm 1981, các dự án xây dựng ở nước ngoài, hầu hết ở Trung Đông, chiếm 60% công việc do các công ty xây dựng của Hàn Quốc đảm nhận. Các hợp đồng vào thời điểm đó trị giá 13,7 tỷ đô la Mỹ. Tuy nhiên, vào năm 1988, các hợp đồng xây dựng ở nước ngoài chỉ đạt tổng trị giá 2,6 tỷ USD (đơn đặt hàng từ Trung Đông là 1,2 tỷ USD), tăng 1% so với năm trước, trong khi các đơn đặt hàng mới cho các dự án xây dựng trong nước đạt 13,8 tỷ USD, tăng 8,8% trong năm 1987.

Do đó, các công ty xây dựng của Hàn Quốc tập trung vào thị trường nội địa đang phát triển nhanh chóng vào cuối những năm 1980. Đến năm 1989, có những dấu hiệu về sự hồi sinh của thị trường xây dựng ở nước ngoài: Công ty Xây dựng Dong Ah đã ký hợp đồng trị giá 5,3 tỷ USD với Libya để xây dựng giai đoạn hai (và các giai đoạn tiếp theo khác) của Dự án Sông Nhân Tạo với chi phí dự kiến vào khoảng 27 tỷ USD khi hoàn thành cả 5 giai đoạn. Các công ty xây dựng của Hàn Quốc đã ký các hợp đồng ở nước ngoài có tổng trị giá hơn 7 tỷ đô la Mỹ vào năm 1989.[66] Các công ty xây dựng lớn nhất của Hàn Quốc bao gồm Samsung C&T Corporation, công ty này đã xây dựng lên một số tòa nhà chọc trời cao và đáng chú ý nhất như ba tòa nhà cao nhất thế giới: Tháp đôi Petronas, Taipei 101Burj Khalifa.[67][68]

Quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực công nghệ và công nghiệp của Hàn Quốc cho phép nước này có thể sản xuất các thiết bị quân sự ngày càng tiên tiến.

Trong suốt những năm 1960, Hàn Quốc chủ yếu phụ thuộc vào Hoa Kỳ để cung cấp vũ khí cho các lực lượng vũ trang của mình, nhưng sau khi thực hiện chính sách Việt Nam hóa chiến tranh của Tổng thống Nixon vào đầu những năm 1970, Hàn Quốc đã bắt đầu tự sản xuất nhiều loại vũ khí cho riêng mình.[69]

Kể từ những năm 1980, Hàn Quốc hiện sở hữu công nghệ quân sự hiện đại hơn nhiều so với các thế hệ trước, nước này đã tích cực bắt đầu chuyển đổi các lĩnh vực công nghiệp quốc phòng với sự quan tâm đặc biệt đến những nỗ lực quân sự hóa theo định hướng phòng thủ quê hương trước đây sang việc thúc đẩy các thiết bị và công nghệ quân sự như các sản phẩm xuất khẩu chủ đạo để thúc đẩy thương mại quốc tế. Một số dự án xuất khẩu quân sự quan trọng của nước này bao gồm pháo tự hành T-155 Firtina cho Thổ Nhĩ Kỳ; súng trường tấn công K11 cho UAE; tàu chiến tên lửa mục tiêu BNS Bangabandhu cho Bangladesh; hạm đội tàu chở dầu HMAS Sirius cho hải quân Úc, New ZealandVenezuela; Tàu tấn công đổ bộ Makassar class cho Indonesia; và máy bay huấn luyện siêu thanh hạng nhẹ KT-1 cho Thổ Nhĩ Kỳ, IndonesiaPeru.

Hàn Quốc cũng đã cho thuê ngoài ngành công nghiệp quốc phòng của mình để sản xuất các thành phần cốt lõi cho phần cứng của các khí tài quân sự tiên tiến cho các nước khác. Những phần cứng đó bao gồm dùng trong các máy bay hiện đại như phần khung của máy bay chiến đấu F-15K và trực thăng tấn công AH-64 do Korea Aerospace Industres hợp tác sản xuất với Boeing,[70] các máy bay này sẽ được Singapore sử dụng. Trong các hợp đồng gia công và hợp tác sản xuất lớn khác, Hàn Quốc đã cùng sản xuất hệ thống phòng không S-300 của Nga thông qua tập đoàn Samsung và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Tổng công ty STX bán các tàu tấn công đổ bộ lớp Mistral cho Nga.[71] Thỏa thuận đã bị hủy bỏ vào năm 2014 do các hành động của Nga ở Ukraine và thay vào đó, các tàu này đã được bán cho Ai Cập.[72] Xuất khẩu quốc phòng của Hàn Quốc đạt 1,03 tỷ đô la trong năm 2008 và 1,17 tỷ đô la vào năm 2009.[72] South Korea's defense exports were $1.03 billion in 2008 and $1.17 billion in 2009.[73]

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2012, 11.1 triệu khách du lịch nước ngoài đã đến thăm Hàn Quốc, giúp nước này trở thành quốc gia được du khách đến thăm nhiều thứ 20 trên thế giới,[74] tăng so với con số 8,5 triệu du khách vào năm 2010.[75] Gần đây, lượng khách du lịch tăng đột biến, đặc biệt là lượt khách từ các quốc gia Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và các nước thuộc khu vực Đông Nam Á tăng mạnh do làn sóng Hàn Quốc (Hallyu) ngày càng phổ biến.

Seoul là điểm đến du lịch chính của du khách; Các điểm du lịch nổi tiếng khác bên ngoài Seoul có công viên quốc gia Seorak-san, thành phố lịch sử Gyeongju và đảo bán nhiệt đới Jeju. Vào năm 2014, Hàn Quốc đã đăng cai tổ chức chức giải vô địch Liên Minh Huyền Thoại mùa thứ 4 và sau đó vào năm 2018 là giải vô địch mùa thứ 8.

Thống kê thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Top 10 đối tác xuất khẩu 2018[76][77]
Quốc gia/Vùng lãnh thổ Xuất khẩu (triệu USD) Tỷ trọng
 Trung Quốc 162.125 26,8%
 Hoa Kỳ 72.720 12,0%
 Việt Nam 48.622 8,0%
 Hồng Kông 45.996 7,6%
 Nhật Bản 30.529 5,1%
 Đài Loan 20.784 3,4%
 Ấn Độ 15.606 2,6%
 Philippines 12.037 2,0%
 Singapore 11.782 2,0%
 Mexico 11.458 1,9%
Khác 173.201 28,6%
Tổng 604.860 100,0%
Top 10 đối tác nhập khẩu 2018[76][77]
Quốc gia/Vùng lãnh thổ Nhập khẩu (triệu USD) Tỷ trọng
 Trung Quốc 106.489 19,9%
 Hoa Kỳ 58.868 11,0%
 Nhật Bản 54.604 10,2%
 Ả Rập Xê Út 26.336 4,9%
 Đức 20.854 3,9%
 Úc 20.719 3,9%
 Việt Nam 19.643 3,7%
 Nga 17.504 3,3%
 Đài Loan 16.738 3,1%
 Qatar 16.294 3,0%
Khác 177.153 33,1%
Tổng 535.202 100,0%
10 quốc gia có cán cân dương (thặng dư) hàng đầu năm 2018 đối với Hàn Quốc[76][77]
Quốc gia/Vùng lãnh thổ Thặng dư (triệu USD)
 Trung Quốc 55.636
 Hồng Kông 43.999
 Việt Nam 28.979
 Hoa Kỳ 13.852
 Ấn Độ 9.722
 Philippines 8.468
 Mexico 6.368
 Thổ Nhĩ Kỳ 4.791
 Đài Loan 4.045
 Singapore 3.808
Khác −110.011
Tổng 69.657
10 quốc gia có cán cân âm (thâm hụt) hàng đầu năm 2018 đối với Hàn Quốc[76][77]
Quốc gia Thâm hụt (triệu USD)
 Nhật Bản −24.075
 Ả Rập Xê Út −22.384
 Qatar −15.768
 Kuwait −11.541
 Đức −11.481
 Úc −11.108
 Nga −10.183
 Iraq −7.658
 Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất −4.699
 Chile −2.667
Khác 191.221
Tổng 69.657

Mua bán và sát nhập[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ năm 1991, các hoạt động mua bán và sát nhập (M&A) công ty ở Hàn Quốc đã có xu hướng tăng đều đặn cho đến năm 2018 chỉ trong một thời gian ngắn vào khoảng năm 2004. Kể từ năm 1991, khoảng 18.300 M&A ở Hàn Quốc đã được công bố với tổng giá trị lên tới hơn 941 tỷ USD. Năm 2016 là năm có giá trị thương vụ lớn nhất (có giá trị 1.818 tỷ USD) và nhiều thương vụ xảy ra nhất (82,3).[78]

Các ngành công nghiệp mục tiêu được phân bổ rất đồng đều và không có ngành nào chiếm tỷ trọng lớn hơn 10%. Ba ngành mục tiêu hàng đầu là Điện tử (9,7%), Chất bán dẫn (9,1%) và Kim loại và Khai khoáng (7,7%). Tuy nhiên, hơn 51% các công ty mua lại có nguồn gốc từ lĩnh vực tài chính và môi giới.[cần dẫn nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “World Economic Outlook Database, April 2019”. IMF.org. International Monetary Fund. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2019.
  2. ^ “World Bank Country and Lending Groups”. datahelpdesk.worldbank.org. World Bank. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2019.
  3. ^ a b c d e f g “EAST ASIA/SOUTHEAST ASIA :: KOREA, SOUTH”. CIA.gov. Central Intelligence Agency. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2021.
  4. ^ a b c d “World Economic Outlook Database, October 2020”. IMF.org. International Monetary Fund. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  5. ^ a b c d “2021 Economic Policies”. english.moef.go.kr. Ministry of Economy and Finance (South Korea). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2021.
  6. ^ “Income inequality”. data.oecd.org. OECD. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2019.
  7. ^ “Human Development Index (HDI)”. hdr.undp.org. HDRO (Human Development Report Office) United Nations Development Programme. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2019.
  8. ^ “Inequality-adjusted HDI (IHDI)”. hdr.undp.org. UNDP. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020.
  9. ^ “Labor force, total – Korea, Rep”. data.worldbank.org. World Bank & ILO. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020.
  10. ^ “Unemployment rate”. data.oecd.org. OECD. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020.
  11. ^ “Unemployment rate by age group”. data.oecd.org. OECD. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020.
  12. ^ “Ease of Doing Business in Korea, Rep”. Doingbusiness.org. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2017.
  13. ^ a b c d “Trade Statistics”. Korea Customs Service. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2021.
  14. ^ a b “South Korea Exports and Imports OEC - The Observatory of Economic Complexity”. oec.world/en. The Observatory of Economic Complexity. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2021.
  15. ^ “2020 External Debt”. english.moef.go.kr. Ministry of Economy and Finance (South Korea). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2021.
  16. ^ a b c “2021 Budget Proposal”. english.moef.go.kr. Ministry of Economy and Finance (South Korea). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2021.
  17. ^ “South Korea: Introduction >> globalEDGE: Your source for Global Business Knowledge”. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016.
  18. ^ “Archived copy” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016.Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  19. ^ Kerr, Anne; Wright, Edmund (1 tháng 1 năm 2015). A Dictionary of World History. Oxford University Press. ISBN 9780199685691 – qua Google Books.
  20. ^ Kleiner, JüRgen (2001). Korea, A Century of Change. ISBN 978-981-02-4657-0.
  21. ^ “High performance, high pressure in South Korea's education system”. ICEF. 23 tháng 1 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2015.
  22. ^ “Economic Statistics System”. bok.or.kr. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2012.
  23. ^ “KDI Korea Development Institute > Publications”. kdi.re.kr. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2012.
  24. ^ “S Korea stands among world's highest-level fiscal reserve holders: IMF”. Xinhua. 7 tháng 9 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  25. ^ “Six Emerging Economies Will Account For Over Half Of Economic Growth By 2025, World Bank Says”. The Huffington Post. 18 tháng 5 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2012.
  26. ^ “South Korea Survived Recession With CEO Tactics”. Newsweek. 10 tháng 5 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2016.
  27. ^ “Economy ended 2013 on a high”. joins.com. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2015.
  28. ^ “Moody's Raises Korea's Credit Range”. Chosun Ilbo. 2 tháng 8 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010.
  29. ^ “Financial markets unstable in S.Korea following Cheonan sinking”. Hankyeoreh. 26 tháng 5 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010.
  30. ^ “BTI 2016 South Korea Country Report” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2016.
  31. ^ “Development of Competition Laws in Korea” (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2016.
  32. ^ “Korea's Competition Law and Policies in Perspective Symposium on Competition Law and Policy in Developing Countries”. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2016.
  33. ^ Seung-Hun Chun (19 tháng 4 năm 2010). “Strategy for Industrial Development and Growth of Major Industries in Korea” (PDF). Korea Institute for Development Strategy. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2012.
  34. ^ “Corea del Sur no es un milagro | Un Estado muy fuerte, industrialización, extrema flexibilización laboral y conglomerados familiares. El papel de EE.UU”. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2019.
  35. ^ “Archived copy” (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 10 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2019.Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  36. ^ “Countries Compared by Economy > GDP. International Statistics at NationMaster.com”. nationmaster.com. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2021.
  37. ^ “Countries Compared by Economy > GDP. International Statistics at NationMaster.com”. nationmaster.com. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2021.
  38. ^ “Countries Compared by Economy > GDP > Per capita. International Statistics at NationMaster.com”. nationmaster.com. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2021.
  39. ^ “Countries Compared by Economy > GDP > Per capita. International Statistics at NationMaster.com”. nationmaster.com. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2021.
  40. ^ North Korean Intentions and Capabilities With Respect to South Korea (PDF) (Bản báo cáo). CIA. 21 tháng 9 năm 1967. tr. 4. SNIE 14.2–67. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2017.
  41. ^ Koh, Jae Myong (2018) Green Infrastructure Financing: Institutional Investors, PPPs and Bankable Projects, Palgrave Macmillan, pp.37–39.
  42. ^ a b Chibber, Vivek (2014). Williams, Michelle (biên tập). The Developmental State in Retrospect and Prospect: Lessons from India and South Korea. The End of the Developmental State?. Routledge. tr. 30–53.
  43. ^ Kyoung-ho Shin, Paul S. Ciccantell, "The Steel and Shipbuilding Industries of South Korea: Rising East Asia and Globalization", in: Journal of World-Systems Research, Volume 15, Issue 2, (2009) page 16 Lưu trữ 30 tháng 7 2020 tại Wayback Machine
  44. ^ a b c d e f g h Koo, Jahyeong; Kiser, Sherry L. (2001). “Recovery from a financial crisis: the case of South Korea”. Economic & Financial Review. Bản gốc (w) lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2009.
  45. ^ “Total Economy Database”. 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2009.
  46. ^ “South Korea's GDP up 5.8% for year”. CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2017.
  47. ^ a b Chang, Jaechul. “The Contours of Korea's Economic Slowdown and Outlook for 2009”. SERI Quarterly. 2 (2): 87–90.
  48. ^ a b Kim Kyeong-Won; Kim Hwa-Nyeon. “Global Financial Crisis Overview”. SERI Quarterly. 2 (2): 13–21.
  49. ^ Vivian Wai-yin Kwok (12 tháng 3 năm 2009). “Korea's Choice: Currency Or Economy?”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2017.
  50. ^ US Department of State. "Background Note: South Korea" Lưu trữ 4 tháng 6 2019 tại Wayback Machine
  51. ^ “(News Focus) Rate hike heralds start of Korea's stimulus exit”. yonhapnews.co.kr. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2010.
  52. ^ “The Future of Growth In Asia” (PDF).[liên kết hỏng]
  53. ^ “Report for Selected Countries and Subjects”. imf.org. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2010.
  54. ^ “Korea-Australia Free Trade Agreement (KAFTA) – Key outcomes”. Department of Foreign Affairs and Trade. Australian Government. 5 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2013.
  55. ^ Nattavud Pimpa (6 tháng 12 năm 2013). “Lessons from South Korea's Chaebol economy”. The Conversation Australia. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2013.
  56. ^ 주5일근무제 : 지식백과 (bằng tiếng Hàn). 100.naver.com. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2014.
  57. ^ “[시사이슈 찬반토론] 대체휴일제 부활 옳을까요”. Hankyung.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2014.
  58. ^ “South Korea economy unexpectedly contracts in first-quarter, worst since global financial crisis”. Euronews. 25 tháng 4 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2019.
  59. ^ Tesla, Agence (22 tháng 6 năm 2016). “Can South Korean Startups (and the government) Save its Flailing Giant Tech Conglomerates? – Innovation is Everywhere” (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
  60. ^ “Report for Selected Countries and Subjects”. www.imf.org. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2019.
  61. ^ “South Korea: Shipbuilding”. Library of Congress. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010.
  62. ^ “South Korea: Automobiles and Automotive Parts”. Library of Congress. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010.
  63. ^ USGS Bismuth Production Statistics
  64. ^ USGS Rhenium Production Statistics
  65. ^ USGS Sulfur Production Statistics
  66. ^ “South Korea: Construction”. Library of Congress. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010.
  67. ^ Hansen, Karen; Zenobia, Kent (31 tháng 3 năm 2011). Civil Engineer's Handbook of Professional Practice. ISBN 9780470901649. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2020.
  68. ^ “Building -- Samsung C&T”. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2016.
  69. ^ “South Korea: Armaments”. Library of Congress. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010.
  70. ^ “KAI Major Programs: Airframe”. Korea Aerospace Industries. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010.
  71. ^ “France to sell two Mistral-class warships to Russia”. BBC. 23 tháng 7 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2018.
  72. ^ a b Los Angeles Times
  73. ^ “Korea emerges as arms development powerhouse”. Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2015.
  74. ^ UNTWO (tháng 6 năm 2008). “UNTWO World Tourism Barometer, Vol.5 No.2” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2008.
  75. ^ “South Korea Sets Its Sights on Foreign Tourists”. nytimes.com. 11 tháng 11 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2017.
  76. ^ a b c d “English > Information_Plaza > Trade statistics > Import/export By Country”. Korea Customs Service. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2017.
  77. ^ a b c d “국가별 수출입실적” [Import/Export by country] (bằng tiếng Hàn). Korea Customs Service. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2017.
  78. ^ “M&A Statistics by Countries – Institute for Mergers, Acquisitions and Alliances (IMAA)”. Institute for Mergers, Acquisitions and Alliances (IMAA) (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2018.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]