Goldman Sachs

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
The Goldman Sachs Group, Inc.
Loại hình
Đại chúng (NYSEGS)
Ngành nghề Dịch vụ tài chính
Thành lập 1869
Người sáng lập Marcus Goldman,
Samuel Sachs
Trụ sở chính 200 West Street, Thành phố New York
Hoa Kỳ
Khu vực hoạt động Khắp thế giới
Nhân viên chủ chốt
Lloyd C. Blankfein
(Chủ tịch) kiêm (CEO)
Sản phẩm Ngân hàng đầu tư
Ngân hàng thương mại
Quản lý đầu tư
Quản lý tài sản
Môi giới trọn gói
Hàng hóa
Quỹ tương hỗ
Doanh thu giảm 34,21 tỷ USD (2013)[1]
tăng 11,737 tỷ USD(2013)[1]
tăng 8,04 tỷ USD(2013)[1]
Tổng tài sản giảm 911,5 tỷ USD (2013)[1]
Tổng vốn chủ sở hữu tăng 75,716 tỷ USD(2013)[1]
Số nhân viên
32.900 (2013)[1]
Website GoldmanSachs.com

The Goldman Sachs Group, Inc. là một ngân hàng đầu tư đa quốc gia, tham gia vào các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, chứng khoán, quản lý đầu tư, và các dịch vụ tài chính khác với khách hàng chủ yếu là các tổ chức.

Goldman Sachs được thành lập năm 1869 và đặt trụ sở chính tại 200 West Street tại khu vực Hạ Manhattan của Thành phố New York. Công ty này có văn phòng tại các trung tâm tài chính quốc tế lớn và cung cấp dịch vụ hợp nhất và tư vấn mua bán, dịch vụ bảo lãnh phát hành, quản lý tài sản và môi giới cho các khách hàng, trong đó bao gồm các tập đoàn, các chính phủ và cá nhân. Công ty cũng tham gia vào kinh doanh độc quyền và các giao dịch vốn tư nhân và là một nhà môi giới sơ cấp trên thị trường trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ. Năm 2010, Văn phòng Bộ Tư pháp Mỹ ở quận Manhattan tiến hành đang ở giai đoạn sơ bộ và sẽ tập trung tìm hiểu liệu thể chế tài chính khổng lồ này hay các nhân viên của nó có gian lận chứng khoán liên quan đến giao dịch cầm cố của ngân hàng hay không.

Cuộc điều tra hình sự này được tiến hành theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Hoa Kỳ (SEC).

Trước đó, đầu tháng 4, Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Hoa Kỳ đã đệ đơn cáo buộc Goldman Sachs gian lận dân sự khi cùng một quỹ đầu tư mạo hiểm có tiếng là Paulson & Co. phát hành Chứng khoán liên quan đến tài sản cầm cố dưới chuẩn.

Từ khi mới thành lập, Goldman Sachs đã được biết đến như một thế lực nhiều ảnh hưởng. Họ thuê những cựu chính trị gia và công chức về làm nhân viên, trong khi đội ngũ "cựu binh" của họ là nguồn nhân lực luôn sẵn sàng cho các nhà chính trị và bộ máy công quyền.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Được người Đức nhập cư Marcus Goldman thành lập vào năm 1869, công ty chính thức mang tên Goldman Sachs & Co từ năm 1885, là tên ghép từ họ của Marcus Goldman và con rể Samuel Sachs. Trong những năm đầu tiên, Goldman chủ yếu kinh doanh giấy ghi nợ cho các nhà buôn kim cương ở New York. Năm 1986, công ty được mời tham gia Sàn giao dịch chứng khoán New York. Tuy nhiên, mãi đến năm 1999, Goldman Sachs mới thực hiện IPO nhưng chỉ với 12% cổ phần. Cho đến nay, tập đoàn này hoạt động trong 3 lĩnh vực chính: ngân hàng đầu tư, quản lý tài sản, dịch vụ chứng khoán. Ngoài ra, Goldman Sachs còn cung cấp một số dịch vụ tài chính khác như tư vấn IPO, mua lại và sáp nhập...

Goldman Sachs đặt trọng tâm vào ngành ngân hàng đầu tư kể từ năm 1930, sau khi Sydney Weinberg tiếp quản quyền đại cổ đông. Dưới sự "triều đại" của Weinberg, Goldman thành lập thêm bộ phận nghiên cứu đầu tư và phòng trái phiếu địa phương. Nhưng Weinberg cũng chính là người đưa Goldman Sachs tiến những bước đầu tiên vào thị trường đầu tư mạo hiểm. Đến năm 1969, Gus Levy nhận quyền đại cổ đông từ tay Weinberg và dẫn dắt tập đoàn này mở rộng hoạt động giao dịch chứng khoán. Văn phòng quốc tế đầu tiên của Goldman được mở năm 1970 tại London, nhưng phải đến thời Robert Rubin và Stephen Friedman cùng làm đồng đại cổ đông, Goldman mới thức sự chú trọng việc vươn ra toàn cầu.

Chơi trội từ đầu

Ngay từ khi mới thành lập, Goldman đã thu hút sự chú ý vì những kiểu làm "chưa có tiền lệ". Chẳng hạn, Marcus Goldman được biết đến như người đi đầu trong việc cổ súy sử dụng thương phiếu trong doanh nghiệp. Việc hình thành nên thị trường IPO ở Hoa Kỳ cũng có công sức không nhỏ của Goldman Sachs. Đặc biệt, Goldman Sachs nổi tiếng là công ty đi đầu trong việc tuyển dụng các Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh (MBA) từ những trường đại học kinh tế, tài chính danh giá, một tiêu chí được giữ tới tận ngày nay.

Một khảo sát của Bloomberg News thực hiện vào năm 2004 cho biết Goldman là đại gia Phố Wall dẫn đầu trong việc thu hút các MBA từ các trường như Wharton School của ĐH Pennsylvania, Columbia Business School và những trường đào tạo MBA hàng đầu khác. Chỉ riêng trong năm 2004, Goldman tuyển 30% nhân sự là MBA. Chính sách tuyển dụng này của Goldman về sau được nhiều đại gia Phố Wall chú ý và làm theo, thậm chí hình thành nên một sự cạnh tranh gay gắt. Trong những năm thăng hoa của kinh tế thế giới trước cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua, Goldman Sachs đã dùng nhiều sách lược để thu hút nhân tài MBA, trong đó có các chương trình cấp học bổng cho sinh viên MBA ngay từ năm thứ nhất hoặc năm 2 để họ ra làm việc cho ngân hàng ngay sau khi tốt nghiệp.

Chính thể Sachs[sửa | sửa mã nguồn]

Nhờ chiến lược tuyển dụng khôn khéo, Goldman Sachs luôn là nơi tập trung của những bộ não hàng đầu về kinh tế, tài chính. Không chỉ tuyển dụng khéo, Goldman còn tỏ rất khôn khéo trong việc "cho về vườn" những nhân sự xuất sắc ở tuổi "chắc chắn sẽ kiếm việc thứ 2". Bằng cách đó, Goldman dần dần có đội ngũ "cựu binh" xâm nhập vào hệ thống đầu não của tất cả các công ty toàn cầu, ngân hàng đối thủ và chính phủ các nước, đặc biệt tại Hoa Kỳ - nơi được xem là hệ qui chiếu của cả thế giới.

Hiện tượng trên quá phổ biến đến nỗi vào tháng 10-2008, nhà báo Ambrose Evans-Pritchard của New York Times gọi ví von Goldman Sachs là "Government Sachs" (government = chính phủ). Bài báo nêu nhiều lo ngại khi hầu hết các cơ quan đầu não về kinh tế và tài chính của Hoa Kỳ đều có sự hiện diện của các "cựu binh Goldman". Evans-Pritchard chỉ ra một số gương mặt "cựu binh Goldman" nổi trội như Bộ trưởng Ngân khố Hank Paulson (từng là CEO của Goldman), Neel Kashkari – phụ trách chương trình ứng cứu ngân hàng của chính phủ, chuyên viên đầu tư của Bộ Ngân khố Reuben Jeffrey, cùng các nhân vật chủ chốt khác của Bộ Ngân khố như Dan Jester, Steve Shafran, Edward C. Forst, và Robert K. Steel. Ngoài ra, còn có Stephen Friedman – chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang tại New York (khi nhậm chức ông Friedman vẫn còn ngồi ở ghế hội đồng của Goldman và có cổ phần ở tập đoàn này), William C. Dudley – giám đốc bộ phận mua bán các loại chứng khoán chính phủ của New York FED, và E. Gerald Corrigan (người đứng đầu cơ quan phân tích rủi ro Phố Wall). Lúc đó, Evans-Pritchard chưa biết rằng về sau còn có thêm rất nhiều "cựu binh Goldman" về đầu quân cho tổng thống kế nhiệm ông Bush. Chẳng hạn, tổng thống Obama bổ nhiệm Gary Gensler làm người đứng đầu Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai, hay Bộ trưởng Ngân khố Geithner chọn Mark Patterson (người đứng đầu hoạt động lobby - vận động hành lang – của Goldman) là cố vấn trưởng tại Bộ Ngân khố. Sau khi Patterson rời Goldman, người thay thế ông nay lại là cố vấn trưởng của Barney Frank – chủ tịch Ủy ban Dịch vụ Chứng khoán Hạ viện.

Một người giữ cột khác của New York Times, nhà báo David Brooks lưu ý rằng trong chiến dịch tranh cử của ông Obama, các nhân viên của Goldman Sachs đã chi nhiều tiền hơn nhân viên của bất kỳ công ty, ngân hàng hay định chế nào khác. "Trong vài năm qua, người của Goldman Sachs đã kiểm soát một phần lớn chính quyền liên bang", Brooks viết. "Trong vài năm nữa, có thể họ sẽ nắm toàn bộ các vị trí trọng yếu".

Goldman Sachs là trái tim của Phố Wall, và Phố Wall là trái tim của kinh tế Hoa Kỳ. Khi cuộc khủng hoảng nặng nề nhất 60 năm diễn ra, nhiều người cho rằng Goldman có lẽ phải "co vòi". Tuy nhiên, chính trong cuộc khủng hoảng, Goldman đâm rễ sâu hơn vào bộ máy công quyền ở Hoa Kỳ và cả thế giới.

TARP[sửa | sửa mã nguồn]

TARP là tên viết tắt của chương trình ứng cứu Phố Wall 700 tỷ USD nổi tiếng của chính phủ Bush. Chương trình này không chỉ ảnh hưởng lớn tại Hoa Kỳ, mà tác động sâu sắc đến cục diện tài chính toàn cầu trong và hậu khủng hoảng. Vào tháng 3-2009, Bộ trưởng Ngân khố Geithner bị quốc hội chất vấn về xung đột lợi ích giữa Goldman và Hoa Kỳ, vì đa số những người đưa ra quyết định liên quan đến việc giải quyết khủng hoảng đều từng là người của Goldman Sachs. Trả lời chất vấn, ông Geithner không phủ nhận việc các "cựu binh Goldman" là trung tâm các quyết sách tài chính của chính phủ, nhưng cho rằng sẽ "không công bằng" nếu nghi ngờ họ đưa ra quyết định không vì quyền lợi chung của người Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, liệu các quyết sách của những "cựu binh Goldman" có chí công vô tư như mong đợi? Sau đây là trích lược từ một bài viết của tạp chí TIME: Trong vụ ứng cứu đại gia bảo hiểm AIG vào năm 2008, Goldman là định chế tài chính ngoài AIG nhận được nhiều tiền từ quỹ TARP của chính phủ nhất, với 12,9 tỷ USD. Trong khi đó, nhiều người cho rằng chính việc mua 62,1 tỷ USD khế ước ghi nợ (CDO) do AIG phát hành của Goldman và một số định chế khác đã góp phần quan trọng trong việc đẩy AIG đến bờ vực phá sản. Thực tế, người khởi xướng việc ứng cứu AIG là cựu CEO Goldman, Bộ trưởng Ngân khố Hank Paulson. Trong cuộc họp cuối cùng với FED để định đoạt số phận AIG, Goldman là công ty duy nhất ở Phố Wall được mời tham gia. Tóm lại, những nhân vật quyết định số phận AIG đều đã hoặc đang là người của Goldman (lúc đó). Ngoài CEO Goldman Lloyd C. Blankfein và Bộ trưởng Paulson, còn có CEO AIG Liddy - cựu giám đốc Goldman, Mark Patterson – cố vấn trưởng của Bộ Ngân khố, cựu vận động hành lang Goldman, Neel Kashkari – cựu phó chủ tịch Goldman, người điều hành quỹ TARP.

Người giữ cột của Marketwatch, nhà báo Paul Farrell đã cay đắng viết: "Dù là Cộng Hòa hay Dân Chủ, Bảo Thủ hay Tự Do. Tất cả chúng ta đều bị kiểm soát bởi "Âm mưu Goldman". Tại sao bạn chưa đầu hàng? Hãy để họ nắm hết quyền lực. Sự thật là, thông qua các nhà vận động hành lang và những người đại diện ở Washington, họ đã cai trị cả Hoa Kỳ".

Sự ảnh hưởng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Dấu chấm hỏi về quyền lực Goldman không chỉ là bận tâm của người Hoa Kỳ. Tháng 5-2007, tờ Independent (Anh) có bài viết cho biết người Italy ca thán rằng Goldman Sachs đang điều hành cả đất nước họ. Người đứng đầu Chính phủ Italy lúc đó, Thủ tướng Romano Prodi từng ăn lương của Goldman Sachs từ năm1990 đến 1993, và lãnh lương trở lại vào năm 1997, khi đã làm Thủ tướng Italy lần thứ nhất (1996-1998). Ông Prodi còn là Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) từ năm 1999-2004. Ngoài ra, còn 2 nhân vật chủ chốt khác của nền kinh tế Italy là "cựu binh Goldman". Thống đốc Ngân hàng Trung ương Mario Draghi (nay là Thống đốc bang Banca) từng là một giám đốc điều hành của Goldman, trong khi Thứ trưởng Bộ Ngân khố Massimo Tononi cũng từng là nhân sự cấp cao của Goldman.

Ngoài Italy, trong danh sách "cựu binh Goldman" còn có Mark J. Carney, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Canada. Ông này từng ăn lương của Goldman suốt 30 năm ở các vị trí chủ chốt tại các chi nhánh ở London, Tokyo, từng là giám đốc điều hành của Goldman tại Toronto. Michael Cohrs, đồng giám đốc lĩnh vực ngân hàng đầu tư và là giám đốc Global Banking của ngân hàng Deutsche Bank, cũng từng là nhân sự cấp cao của Goldman Sachs tại New York và London trong giai đoạn 1981-1989. Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB) hiện nay, ông Robert B. Zoellick từng là Phó Chủ tịch Goldman Sachs.

Ngoài việc nắm giữ những vị trí cốt cán trong các chính phủ nước ngoài, định chế quốc tế, các "cựu binh Goldman" còn là CEO hoặc nhân sự cấp cao của nhiều công ty, ngân hàng toàn cầu khác. Chẳng hạn, John Thain – CEO cuối cùng của NH Merrill Lynch trước khi sáp nhập với Bank of America – là giám đốc cho vay thế chấp của Goldman Sachs từ năm 1985-1990 và là chủ tịch kiêm đồng CEO từ năm 1999-2004. Robert Steel – Thứ trưởng Bộ Ngân khố Hoa Kỳ từ 2006-2008 và là chủ tịch và CEO của Wachovia Corporation – từng là Phó Chủ tịch Goldman Sachs. Gavyn Davies – cựu Giám đốc Kinh tế của Goldman Sachs – nay là Chủ tịch British Boadcasting Corp (BBC) và là chồng bà Sue Nye, cố vấn đặc biệt của Thủ tướng Anh Gordon Brown. Cựu đồng chủ tịch Goldman Sachs Robert E. Rubin nay là một giám đốc cao cấp của Citigroup...

Nhiều người còn cho rằng chính Goldman Sachs đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo nên cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua, thông qua các hoạt động ngân hàng đầu tư của họ. Chính vì lý do này, chính phủ Hoa Kỳ đã buộc Goldman và một số ngân hàng đầu tư khác chuyển thành ngân hàng thương mại sau sự sụp đổ của ngân hàng thương mại Lehman Brothers.

Trong cuộc khủng hoảng nợ đang ngày một trầm trọng của Hy Lạp hiện nay, Goldman Sachs cũng bị cáo buộc có nhúng tay vào (xem thêm ĐTTC số 295, trang 20). Năm 2000 và 2001, Goldman từng giúp Athens bí mật vay hàng tỷ USD để che giấu tình hình tài chính tệ hại của họ bằng cách tạo ra các sản phẩm phái sinh có thể chuyển các khoản vay thành giao dịch tiền tệ mà Hy Lạp không phải công bố theo luật của EU. Chính hoạt động này khiến tình hình tài chính Hy Lạp trông có vẻ "khỏe mạnh" hơn thực chất, một điều kiện để dẫn đến "cái chết bất ngờ".

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d “2012 annual results”. The Goldman Sachs Group, Inc. and subsidiaries.