Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Trang khóa di chuyển

Hàn Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Đại Hàn Dân Quốc
Seal of South Korea.svg
국가 인감(tiếng Hàn Quốc)
國家印鑑

Tiêu ngữ"홍익인간"(tiếng Hàn Quốc)
"弘益人間" (de facto)
Hongik Ingan
"Hoằng Ích Nhân Gian"
Cống hiến hạnh phúc cho nhân loại
[1]

Quốc ca"애국가"(tiếng Hàn Quốc)
"愛國歌"
(de facto)
Aegukga[a]
"Ái quốc ca"
Tổng quan
Vị trí của Hàn Quốc trên thế giới (xanh). .mw-parser-output .legend{page-break-inside:avoid;break-inside:avoid-column}.mw-parser-output .legend-color{display:inline-block;min-width:1.25em;height:1.25em;line-height:1.25;margin:1px 0;text-align:center;border:1px solid black;background-color:transparent;color:black}.mw-parser-output .legend-text{}   Lãnh thổ Hàn Quốc tuyên bố chủ quyền và kiểm soát trên thực tế. .mw-parser-output .legend{page-break-inside:avoid;break-inside:avoid-column}.mw-parser-output .legend-color{display:inline-block;min-width:1.25em;height:1.25em;line-height:1.25;margin:1px 0;text-align:center;border:1px solid black;background-color:transparent;color:black}.mw-parser-output .legend-text{}   Tuyên bố chủ quyền lãnh thổ nhưng không kiểm soát trên thực tế.
Vị trí của Hàn Quốc trên thế giới (xanh).
  Lãnh thổ Hàn Quốc tuyên bố chủ quyền và kiểm soát trên thực tế.
  Tuyên bố chủ quyền lãnh thổ nhưng không kiểm soát trên thực tế.
Thủ đôFlag of Seoul.svg Seoul
37°33′B 126°58′Đ / 37,55°B 126,967°Đ / 37.550; 126.967
Thành phố lớn nhấtSeoul
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Hàn Quốc (Pyojun-eo)
Ngôn ngữ ký hiệu Hàn Quốc
Văn tự chính thứcHangul
Sắc tộc
Không có số liệu thống kê chính thức
Tôn giáo chính
Tên dân cư
Chính trị
Chính phủNhà nước đơn nhất
Cộng hòa lập hiến
Tổng thống chế
Moon Jae-in
Chung Sye-kyun
Moon Hee-sang
Kim Myeong-soo
Yoo Nam-seok
Lập phápQuốc hội Hàn Quốc
Lịch sử
Thành lập
13 tháng 10 năm 1897
1 tháng 3 năm 1919
11 tháng 4 năm 1919
• Độc lập từ Nhật Bản, chia cắt Bắc-Nam
2 tháng 9 năm 1945
8 tháng 9 năm 1945
• Thành lập Dân Quốc
(Đệ Nhất Cộng hòa)
15 tháng 8 năm 1948
• Hiến pháp hiện hành, thành lập Đệ Lục Cộng hòa
25 tháng 2 năm 1988
• Gia nhập Liên Hiệp Quốc
17 tháng 9 năm 1991
27 tháng 4 năm 2018
Địa lý
Diện tích  
• Tổng cộng
100.363 km2 (hạng 108)
38,750 mi2
• Mặt nước (%)
0,3 (301 km2 / 116 mi2)
Dân số 
• Ước lượng 2019
51.709.098 (hạng 23)
507/km2 (hạng 23)
1,313/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2020
• Tổng số
2.293.4 nghìn tỷ USD (hạng 14)
44,292 USD (hạng 24)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2020
• Tổng số
1.586.8 nghìn tỷ USD (hạng 10)
• Bình quân đầu người
30,644 USD (hạng 26)
Đơn vị tiền tệWon (₩) / Won 대한민국 원 (KRW)
Thông tin khác
Gini? (2016)Giảm theo hướng tích cực 35.7[4]
trung bình
HDI? (2020)Tăng 0,916[5]
rất cao · hạng 23
Múi giờUTC+09:00 (Giờ chuẩn Hàn Quốc)
• Mùa hè (DST)
UTC+09:00 (Không áp dụng)
Cách ghi ngày tháng
  • yyyy-mm-dd (năm-tháng-ngày)
Giao thông bênPhải
Mã điện thoại+82
Mã ISO 3166KR
Tên miền Internet.kr
Trang web
www.korea.net

Hàn Quốc (tiếng Triều Tiên한국韓國Hanguk), tên gọi chính thức là Đại Hàn Dân Quốc (tiếng Triều Tiên대한민국大韓民國Daehan Minguk, tiếng Anh: Republic of Korea, Korea Republic, hay thường còn được gọi bằng các tên gọi cũ như Đại Hàn, Nam Hàn, Nam Triều Tiên hoặc Cộng hòa Triều Tiên), là một quốc gia cộng hòa lập hiến có chủ quyền thuộc khu vực Đông Á, nằm trên nửa phía nam của bán đảo Triều Tiên.[6] Phía bắc giáp với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, phía đông tiếp giáp biển Nhật Bản, phía nam giáp với đảo Kyushu của Nhật Bản thông qua eo biển Triều Tiênphía tâybiển Hoàng Hải. Thủ đô kiêm thành phố lớn nhất là Seoul - trung tâm đô thị lớn thứ 5 trên thế giới với dân số ước tính đạt tới hơn 30 triệu người và là một thành phố toàn cầu quan trọng[7]. Ngoài ra, vùng thủ đô Seoul với mật độ và quy mô dân số chỉ đứng sau vùng thủ đô Tokyo của Nhật Bản[8] cũng là một trong những đại đô thị có nền kinh tế đô thị hóa cao nhất hiện nay với hạng 5 châu Á, 17 thế giới về GDP (2020)[9][10]. Hàn Quốc có khí hậu ôn đớiđịa hình chủ yếu là đồi núi. Lãnh thổ trải rộng 100.363 km², đường bờ biển trải dài 8,460 km. Với dân số vào khoảng hơn 51 triệu người[11] cùng 99% là người Triều Tiên[12], Hàn Quốc là một quốc gia dân tộc và có mật độ dân số cao thứ 3 (sau BangladeshĐài Loan) trong số các quốc gia có diện tích đáng kể.[13]

Những nghiên cứu, bằng chứng khoa học và chứng cứ khai quật khảo cổ học cho thấy rằng bán đảo Triều Tiên đã có xuất hiện con người sinh sống ngay từ thời đại đồ đá cũ.[14][15] Lịch sử Triều Tiên cổ đại bắt đầu kể từ khi nhà nước Cổ Triều Tiên được thành lập vào năm 2333 TCN bởi Đàn Quân. Thời kỳ quân chủ của quốc gia này có nhiều điểm tương đồng với lịch sử Trung QuốcViệt Nam - khi mà quyền cai trị thuộc về các triều đại phong kiến kế tập, Phật giáo Trung Hoa cùng Đạo giáo của Lão Tử có sức ảnh hưởng lớn và Nho giáo của Khổng Tử được lấy làm nền tảng tư tưởng gốc rễ cho toàn xã hội. Trong thời đại Tam Quốc (từ năm 18 TCN - năm 660 Sau CN), dưới triều đại Quảng Khai Thổ Thái Vương (vua Gwanggaeto, 391-413) của Cao Câu Ly (37 TCN - 668 Sau CN), lãnh thổ Triều Tiên được mở rộng sau một loạt các chiến dịch quân sự nhằm chinh phục các tiểu quốc của ông thành công, hình thành nên một trong những Đế quốc rộng lớn nhất Đông Bắc Á đương thời[16] - chiếm khoảng một nửa diện tích của khu vực Mãn Châu (thuộc Đông Bắc Trung Quốc và một phần vùng Siberia của Liên bang Nga ngày nay)[17]. Sau Tam Quốc, Triều Tiên tiếp tục trải qua các triều đại Cao Ly (Goryeo, 918-1392), giai đoạn Cao Ly thuộc Mông Cổ (1231-1356, sau thất bại trong chiến tranh với Đế quốc Mông Cổ) và nhà Triều Tiên (Joseon, 1392-1897) trong một đất nước thống nhất cho đến cuối thời kỳ của Đế quốc Đại Hàn (1897-1910) vào năm 1910. Bước sang thời kỳ cận đại, Hoàng tộc Triều Tiên dưới quyền chi phối và lãnh đạo chuyên chính của Hưng Tuyên Đại Viện Quân rồi tiếp theo đó là Hoàng hậu Minh Thành đã thực thi chính sách "Bế quan tỏa cảng", tự cô lập đất nước với thế giới bên ngoài cũng như thẳng tay đàn áp Thiên Chúa giáo trước các cường quốc châu Âu. Trong khi đó, quốc gia láng giềng Nhật Bản, sau sự kết thúc của chế độ Mạc Phủ Tokugawa (Shōgun), thành công của công cuộc Minh Trị Duy tân (1866-1869), chấm dứt chủ nghĩa 'Tỏa Quốc' và chiến thắng trong các cuộc Chiến tranh Thanh–Nhật (1894-1895), Chiến tranh Nga–Nhật (1904-1905) cùng Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) - đã trở thành một thế lực mới, dần thay thế phương Bắc, mở rộng sức mạnh và tầm ảnh hưởng của mình lên Triều Tiên, Hải quân Nhật Bản sử dụng "Ngoại giao pháo hạm" gây áp lực để buộc Triều Tiên phải mở cửa các hải cảng cho thương nhân Nhật vào buôn bán đồng thời nhanh tay nắm quyền chủ động kiểm soát vùng lãnh thổ này trước các Đế quốc phương Tây - khởi đầu bằng Điều ước bất bình đẳng Nhật–Triều (1876). Cuối cùng, toàn bộ bán đảo bị Đế quốc Nhật Bản sử dụng vũ lực để sáp nhập lãnh thổ ngay sau khi xảy ra sự kiện Thống sứ Nhật Bản tại Triều Tiên - Itō Hirobumi bị An Jung-geun – một nhà hoạt động cách mạng, ám sát tại nhà ga Cáp Nhĩ Tân vào ngày 26 tháng 10 năm 1909[18]. Nhật Bản buộc nhà Thanh (Trung Quốc) từ bỏ hoàn toàn quyền lực chi phối cùng sự ảnh hưởng lâu đời, sâu rộng nối tiếp nhau của Đại Thanh nói riêng và các triều đại phong kiến Trung Hoa nói chung lên đất nước cũng như Hoàng tộc Triều Tiên trong suốt chiều dài lịch sử. Người Nhật ép vua Thuần Tông ký vào bản Nhật-Triều Tịnh Hợp điều ước (1910) (Điều ước Sáp nhập hay 'Hiệp ước quốc sỉ' - theo cách gọi của người Triều Tiên), trực tiếp kiểm soát bán đảo trong vòng 35 năm (từ 1910-1945), giai đoạn này được gọi là Triều Tiên thuộc Nhật.

Sau khi Đế quốc Nhật Bản bại trậnđầu hàng, bán đảo Triều Tiên được quân đội Đồng Minh giải phóng và bị chia cắt bởi các lực lượng quân sự của Liên Xô cùng Hoa Kỳ vào giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai, quốc gia này trở thành hai nhà nước không chính thống với hai hệ tư tưởngquan điểm chính trị đối lập nhauBắc Triều TiênNam Triều Tiên - lấy ranh giới tạm thời là vĩ tuyến 38. Nhà nước Đại Hàn Dân Quốc được thành lập trên vùng lãnh thổ của miền Nam sau một cuộc tổng tuyển cử vào năm 1948 do Lý Thừa Vãn đứng đầu, ngay sau đó, đáp lại, miền Bắc cũng tiến hành tổ chức bầu cử, chính phủ và nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ra đời, do Kim Nhật Thành lãnh đạo. Trong khi Bắc Triều Tiên chịu sự ảnh hưởng của ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa và được hậu thuẫn từ phía Liên bang Xô viết, Trung QuốcKhối các quốc gia xã hội chủ nghĩa thì ngược lại, Nam Triều Tiên lại chịu sự ảnh hưởng về ý thức hệ, đồng thời được sự hậu thuẫn, ủng hộ và viện trợ mạnh mẽ của Hoa Kỳ, điều này khiến cho những mâu thuẫn chính trị - xã hội giữa hai miền đất nước vốn đã trong tình trạng căng thẳng, nay ngày càng trở nên nghiêm trọng và gay gắt. Các mâu thuẫn và xung đột này sau đó dẫn đến kết cục là một giải pháp quân sự nội bộ tàn khốc – Chiến tranh Triều Tiên (25 tháng 6 năm 195027 tháng 7 năm 1953) - hậu quả khiến cho hơn 3 triệu người thiệt mạng và hàng chục triệu người khác bị ảnh hưởng, rất nhiều người dân, binh lính, quân nhân bị thương tật, một số khác thì bị mất nhà cửa hoặc chia lìa vĩnh viễn những người thân trong gia đình. Chiến tranh Triều Tiên tạm dừng bằng một hiệp định ngừng bắn được ký kết trước sự chứng kiến của đại diện các bên tham chiến tại làng đình chiến Bàn Môn Điếm thuộc Khu phi quân sự Triều Tiên. Sau chiến tranh, trong các thập niên từ 1960 đến những năm 2000, cùng với sự kiện 'Kỳ tích sông Hán', kinh tế Hàn Quốc đã được khôi phục hoàn toàn, phát triển vượt bậc và trở thành một nền kinh tế lớn, hiện đại và bền vững trên thế giới, sang tới năm 1996, Hàn Quốc chính thức bước vào hàng ngũ các quốc gia phát triển khi gia nhập OECD đồng thời giữ vững tư cách đó cho đến tận ngày nay.[19] Đến ngày 27 tháng 4 năm 2018, cả 2 miền dù vẫn chưa ký hiệp định hòa bình nhưng đã ra bản Tuyên bố Bàn Môn Điếm, qua đó chấm dứt nội chiến, kết thúc trạng thái xung đột cùng thái độ thù địch để tiến tới kỷ nguyên hòa bình lâu dài, thịnh vượng và tái thống nhất. Hàn Quốc là quốc gia viện trợ nhân đạo nhiều nhất cho Bắc Triều Tiên trong năm 2019.[20]

Thể chế chính trị của Hàn Quốc là dân chủ đại nghịdân chủ trực tiếp, Quốc hội là cơ quan lập pháp cao nhất, Chính phủ quốc gia hoạt động, vận hành theo hệ thống Tổng thống chế toàn phần, trong đó, Tổng thốngnhà lãnh đạo đất nước, người đứng đầu Chính phủ kiêm Tổng tư lệnh của các Lực lượng Vũ trang, lãnh thổ được sắp xếp thành 17 đơn vị hành chính, bao gồm cả nhóm đảo tranh chấp Liancourt (Dokdo) và bãi đá ngầm Socotra mà nước này tuyên bố chủ quyền và hiện đang quản lý. Hàn Quốc ngày nay tuy chỉ có diện tích đi kèm dân số khiêm tốn, song, vị thế cùng tầm ảnh hưởng của họ trên thế giới lại không hề nhỏ[21][22][23], quốc gia này là một trong số ít các nước phát triển[24][25], là quốc gia công nghiệp hóa thứ 2 trong lịch sử châu Á (chỉ sau Nhật Bản), là 1 trong 4 'con Rồng kinh tế châu Á' cùng với Đài Loan, Hồng KôngSingapore, thành viên của hầu hết các tổ chức toàn cầu lớn trong số đó nổi bật như: Liên Hiệp Quốc, G-20, Câu lạc bộ Paris, IAEA, OECD, WTO, APEC,... Có bình quân mức tiêu chuẩn sinh hoạt, mức sống cùng chỉ số phát triển con người (HDI) đạt vào loại rất cao[26], xếp thứ 4 châu Á, hạng 23 thế giới[27], giữ hạng 9 toàn cầu về tuổi thọ trung bình của người dân[28][29], là quốc gia có quy mô nền kinh tế (GDP danh nghĩa) lớn thứ 9 (theo OECD)[30][31][32] hoặc 10 trên thế giới (theo IMF)[33][34], đứng thứ 4 châu Á (2020)[35][36], xếp hạng 10 thế giới về tổng giá trị thương hiệu quốc gia (2020)[37], có chỉ số dân chủ cao nhất châu Á[38][39], có tốc độ đường truyền kết nối Internet nhanh nhất thế giới[40]. Mặc dù đã ký cam kết không phát triển, mua bán hoặc phổ biến các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt, quốc gia này vẫn sở hữu và duy trì một lực lượng quân đội hiện đại - đứng hạng 6 toàn cầu về sức mạnh quân sự tổng hợp (2020)[41] và xếp thứ 8 trên thế giới về tổng mức đầu tư, chi tiêu ngân sách dành cho quốc phòng (2021)[42]. Người dân Hàn Quốc sở hữu cuốn hộ chiếu quyền lực nhất châu Á nói riêng cũng như thế giới nói chung trong nhiều năm liên tục[43][44] - cùng với Nhật Bản[43][45]Singapore[43][46], hiện đang xếp hạng 3 thế giới (2021)[43][47] - thậm chí còn có những thời điểm vươn lên để đứng số 1 toàn cầu[44], đứng thứ 2 châu Á (sau Nhật Bản) và hạng 17 thế giới về chỉ số tiến bộ xã hội[48][49][50], có nền kinh tế công nghiệp phát triển theo phân loại của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Liên Hiệp QuốcCơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA), được công nhận là một cường quốc khu vực tại Đông Á[51], cường quốc bậc trung trên thế giới[51], cũng như là một trong những đồng minh không thuộc khối NATO quan trọng hàng đầu của Hoa Kỳ.[52]

Trong những năm gần đây, Hàn Quốc đã không chỉ sáng tạo ra mà còn đồng thời liên tục tăng cường mạnh mẽ sự phổ biến của văn hóa Hàn Quốc trên phạm vi toàn cầu - đặc biệt là ở khu vực châu Á, hay còn được biết đến với tên gọi 'Làn sóng Hàn Quốc'.[23][53][54][55][56]

Mặc dù là một quốc gia phát triển, tuy nhiên; xã hội Hàn Quốc hiện đại cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề, thách thức lớn như tình trạng lão hóa dân số do tỷ lệ sinhkết hôn giảm[57][58], các định kiến xã hội vẫn còn tồn tại[59][60], thất nghiệp[61], áp lực cuộc sống cao và nạn tự sát - đặc biệt là trong tầng lớp những người trẻ tuổi[62][63], bất bình đẳng xã hội và khoảng cách của sự phân hóa giàu nghèo đang ngày một gia tăng.[64][65]

Quốc hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Quốc
South Korea (Hangul and Hanja).svg
"Hàn Quốc" trong văn tự Hangul (trên) và Hanja (dưới).
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữHan(-)guk
McCune–ReischauerHan’guk
Đại Hàn Dân Quốc
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữDaehan Min(-)guk
McCune–ReischauerTaehan Min’guk
Nam Hàn
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữNamhan
McCune–ReischauerNamhan

Hai tên gọi "Đại Hàn" và "Triều Tiên" tuy khác nhau trong tiếng Việt - nhưng khi dịch sang các ngôn ngữ phương Tây thì đều được dịch giống nhau. Ví dụ như trong tiếng Anh, "Đại Hàn" và "Triều Tiên" đều dịch là "Korea", trong tiếng Pháp dịch là "Corée", trong tiếng Nga dịch là "Корея" (chuyển tự Latin: Koreya),... vì chúng đều bắt nguồn từ tên gọi của vương quốc Cao Ly, là quốc gia từng tồn tại trên bán đảo Triều Tiên từ năm 918 đến năm 1392. Thời kỳ này, tên gọi Cao Ly đã được thông qua các thương nhân người Ả-rập mà lan rộng, truyền bá đến các quốc gia phương Tây.

Từ năm 1392, toàn bộ bán đảo nằm dưới sự cai trị của nhà Triều Tiên (Joseon). Kể từ đó, cái tên "Triều Tiên" được dùng làm quốc hiệu để chỉ chung cho toàn bộ dân tộc sinh sống trên bán đảo. Sau khi hai miền đất nước bị chia cắt, vùng lãnh thổ phía bắc tiếp tục kế thừa quốc hiệu này, gọi chính thể của mình là "Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên", trong khi đó vùng lãnh thổ phía nam chọn quốc hiệu "Đại Hàn Dân Quốc", kế thừa từ quốc hiệu "Đế quốc Đại Hàn" (Daehan Jegug) - xưng danh mà lãnh thổ này đã mang trong giai đoạn 1897-1910 (dưới sự đô hộ của Đế quốc Nhật Bản). Trong đó, chữ "Dân Quốc" (chữ Hán: 民國) trong Đại Hàn Dân Quốc (大韓民國) được vay mượn từ tiếng Trung Quốc, khi dịch sang các ngôn ngữ phương Tây thì được dịch tương đương như Cộng hoà Quốc (共和國, nước Cộng hoà). Trong tiếng Anh, "Dân Quốc" và "Cộng hoà Quốc" đều được dịch là "Republic", trong tiếng Pháp dịch là "République", còn trong tiếng Nga là "республика" (chuyển tự Latin: Respublika).

Trong thời kỳ chia cắt Việt Nam (1954-1976), báo chí và truyền thông của Việt Nam Cộng hòa thường gọi chính thể này là "Đại Hàn" hoặc "Nam Hàn". Sau năm 1975, khi Việt Nam hoàn thành công cuộc tái thống nhất, những tên gọi cũ trên thì dần được chuyển dịch qua các ngôn ngữ phương Tây rồi tiếp tục dịch sang tiếng Việt mà trở thành "Cộng hoà Triều Tiên" hoặc "Nam Triều Tiên" giống như cách gọi của Bắc Triều Tiên. Bằng công hàm số KEV-398 ngày 23 tháng 3 năm 1994 gửi Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đại sứ quán nước này đã đề nghị phía Việt Nam gọi chính thể của mình là "Đại Hàn Dân Quốc", gọi tắt là "Hàn Quốc" (từ "Hàn" ở đây không phải là "Lạnh", đó là ký âm tự của từ "Han" trong tiếng Hàn Quốc, có nghĩa là "Lớn"), không sử dụng các tên gọi cũ như "Cộng hoà Triều Tiên" hoặc "Nam Triều Tiên" nữa, vì "Triều Tiên" gợi nhắc đến danh xưng của miền Bắc (tức Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên). Đáp lại, Bộ Ngoại giao Việt Nam sau đó đã ra công văn số 733/ĐBA-NG ngày 21 tháng 4 năm 1994 gửi tất cả các cơ quan bộ, ngành, tổng cục, các cơ quan thông tin, truyền thông, tuyên truyềnủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam yêu cầu "Từ nay gọi chính thể Nam Triều Tiên là "Đại Hàn Dân Quốc", gọi tắt là "Hàn Quốc", không dùng các tên gọi cũ như Cộng hoà Triều Tiên, Nam Triều Tiên hay Nam Hàn nữa".[66]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử Hàn Quốc
Flag-kr.svg

USAMGIK (1945–1948)
Đệ Nhất Cộng hòa (1948–1960)
Đệ Nhị Cộng hòa (1960–1963)
Hội đồng Tối cao Tái thiết Quốc gia (1961–1963)
Đệ Tam Cộng hòa (1963–1972)
Đệ Tứ Cộng hòa (1972–1981)
Đệ Ngũ Cộng hòa (1981–1987)
Đệ Lục Cộng hòa (1987–nay)
sửa

Phần lịch sử Hàn Quốc trước năm 1945 được trình bày chi tiết trong bài Lịch sử Triều Tiên.

Khái quát[sửa | sửa mã nguồn]

Giải phóng, chia cắt Bắc-Nam và thành lập Dân Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Đế quốc Nhật Bản chiếm đóng Triều Tiên từ năm 1910 đến 1945 chấm dứt cùng với sự thất bạiđầu hàng vô điều kiện của Chính phủ quân phiệt. Năm 1945, theo những thoả thuận đã được ký kết, thông qua trước đó tại Hội nghị Yalta, Triều Tiên bị chia cắt thành hai miền. Liên bang Xô viết chiếm đóng miền bắc cho đến vĩ tuyến 38 trong khi Hoa Kỳ chiếm đóng từ vĩ tuyến 38 về phía nam. Hoa Kỳ và Liên Xô sau đó đã không thể đồng thuận về việc áp dụng Đồng uỷ trị ở Triều Tiên.

Vào tháng 11 năm 1947, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã đề ra một giải pháp tiến hành tổng bầu cử tại Triều Tiên dưới sự hỗ trợ của Ủy ban Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, các chính phủ lâm thời tại 2 miền Triều Tiên đã khước từ việc tuân theo giải pháp này. Hội đồng Liên Hiệp Quốc sau đó đã đưa ra một giải pháp khác kêu gọi bầu cử tại các địa phương với sự giúp đỡ của Ủy ban Liên Hiệp Quốc. Những cuộc bầu cử đầu tiên được tiến hành riêng rẽ vào ngày 10 tháng 5 năm 1948, tại những tỉnh nằm ở phía nam vĩ tuyến 38. Vĩ tuyến này đã trở thành đường chia cắt bán đảo Triều Tiên thành hai miền nam và bắc Triều Tiên.

Điều này dẫn tới việc thành lập 2 chính phủ riêng biệt, trung thành với hệ tư tưởng của 2 siêu cường ở miền bắc và miền nam, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ở phía bắc và Đại Hàn Dân Quốc ở phía nam, mỗi bên đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn bộ lãnh thổ Triều Tiên.

Căng thẳng tăng lên giữa hai chính phủ ở miền bắc và miền nam cuối cùng dẫn tới cuộc chiến tranh Triều Tiên, khi ngày 25 tháng 6 năm 1950, Quân đội Nhân dân Triều Tiên vượt vĩ tuyến 38, cáo buộc quân đội miền nam đã vượt qua trước, và tấn công – Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc hậu thuẫn Đại Hàn Dân Quốc, còn đứng đằng sau Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là Liên Xô, Trung Quốc và Khối Xã hội chủ nghĩa. Cuộc chiến kéo dài tới ngày 27 tháng 7 năm 1953, khi lực lượng Liên Hiệp Quốc và Quân đội Nhân dân Triều Tiên cùng Chí nguyện quân Trung Quốc ký kết Thoả thuận đình chiến. Vùng phi quân sự Triều Tiên phân chia hai nước, và bán đảo Triều Tiên bị chia cắt vĩnh viễn cho đến ngày nay.

Hơn 3 triệu người đã thiệt mạng hoặc bị thương và hàng chục triệu người khác bị mất nhà cửa hoặc vĩnh viễn chia lìa những người thân trong gia đình trong cuộc chiến tranh tàn khốc này.

Sau đó, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên tiếp tục theo đuổi sự nghiệp thống nhất đất nước trên cơ sở lập luận "một Triều Tiên", không công nhận chính phủ Hàn Quốc và chọn con đường thống nhất đất nước bằng 'cách mạng' xã hội chủ nghĩa. Hàn Quốc cũng coi chính phủ của mình là chính thể có chủ quyền hợp pháp duy nhất trên toàn bộ bán đảo Triều Tiên và không công nhận chính phủ Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Những quan điểm cứng nhắc, không nhân nhượng này khiến cho quá trình hòa giải giữa hai bên không thể thực hiện được cho đến tận thập niên 1960. Đến thập niên 1970 quan hệ hai bên dần được cải thiện. Hai bên Triều Tiên đã chính thức công nhận chính phủ của nhau. Năm 1991, cả hai nước được công nhận để chính thức gia nhập Liên Hiệp Quốc cùng một lúc. Hàn Quốc đã đầu tư kinh tế và là nước chủ yếu viện trợ lương thực giúp Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên vượt qua nạn đói thập niên 1990 thông qua chương trình lương thực Thế giới WEP của Liên hiệp quốc.

Park Geun-hye - con gái của Tổng thống Park Chung-hee và là nữ tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc.

Năm 1948, được sự hậu thuẫn từ phía chính phủ Hoa Kỳ, Lý Thừa Vãn (Syngman Rhee) - một chính trị gia từng du học Mỹ đã giành thắng lợi trong cuộc bầu cử ở khu vực phía nam bán đảo Triều Tiên và trở thành vị tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc. Lý Thừa Vãn sau khi lên nắm quyền lực đã cho thực thi một chính sách cai trị độc tài, đàn áp quyết liệt, thẳng tay đối với những người cánh tả, thậm chí còn sát hại không ít nhân vật, chính khách bất đồng chính kiến. Đồng thời, bộ máy quản lý đất nước do ông xây dựng cũng bị nạn tham nhũng đục khoét, tàn phá nặng nề, kinh tế đất nước phát triển chậm chạp. Chính vì thế nên sang đến năm 1960, Lý Thừa Vãn phải đối mặt với làn sóng bất bình cực lớn của người dân. Cuối cùng, ông phải rời bỏ nhiệm sở, lên máy bay chạy sang bang Honolulu (Hoa Kỳ) và sống tị nạn tại đây cho tới cuối đời. Cho tới hiện nay, dư luận và giới chuyên gia ở Hàn Quốc vẫn đánh giá về Lý Thừa Vãn rất tiêu cực.

Thời kỳ độc tài quân sự và các phong trào dân chủ (1961-1988)[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ kế nhiệm của Chang Myon bị lật đổ sau cuộc đảo chính của tướng Park Chung-hee vào ngày 16 tháng 5 năm 1961. Năm 1963, Park Chung-hee chính thức trở thành tổng thống và sau đó trở thành nhà độc tài thứ 2 tại Hàn Quốc.

Thông qua hoạt động của “Hiệp hội kêu gọi tái thiết quốc gia”, Park Chung-hee đã giải tán Quốc hội và các đảng phái chính trị đối lập hoạt động, đồng thời thẳng tay đàn áp các phong trào chống đối. Park Chung-hee ban hành các sắc lệnh cấm công nhân mít tinh, biểu tình, diễu hành. Ông còn cài cắm nhân viên thân chính phủ bên trong các tổ chức công đoàn của công nhân để giám sát và kìm hãm phong trào đấu tranh của họ. Quân đội Hàn Quốc được sử dụng như đạo quân lê dương đánh thuê cho Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam, và cũng là lực lượng chính tiến hành các vụ đàn áp, bắt bớ và do thám trong nước theo mệnh lệnh của Park Chung Hee.[67]

Trong suốt thập niên 1960, chính phủ của Park Chung-hee có xu hướng đàn áp thô bạo ngày càng gia tăng. Năm 1971, Park Chung-hee đã ban bố tình trạng khẩn cấp quốc gia “dựa trên thực tế nguy hiểm của tình hình quốc tế”. Tới tháng 10 năm 1972, ông lại khởi xướng một cuộc đảo chính để tự giải thể quốc hội và đình chỉ hiến pháp, dọn đường để bản thân lên nắm quyền lực thông qua bản hiến pháp Duy Tân vào tháng 11 và sau đó là một cuộc trưng cầu dân ý bị đánh giá, chỉ trích là gian lận nặng nề, theo đó chấm dứt bầu cử trực tiếp và chính thức suy tôn Park Chung-hee làm ‟Tổng thống trọn đời”. Park bị chỉ trích là một nhà độc tài quân sự tàn nhẫn, thế nhưng nền kinh tế Hàn Quốc đã được cải thiện rất đáng kể dưới nhiệm kỳ của Park. Chính phủ của ông đã phát triển một hệ thống đường cao tốc trên toàn quốc, hệ thống tàu điện ngầm Seoul và đặt nền tảng to lớn, vững chắc cho sự chuyển biến thần kỳ, mạnh mẽ của đất nước Hàn Quốc trong những thập niên sau đó.

Ngày 16 tháng 10 năm 1979, tại trường Đại học Busan, một nhóm sinh viên đã xuống đường kêu gọi chấm dứt chế độ độc tài. Làn sóng biểu tình nhanh chóng lan rộng, buổi tối hôm đó đã có tới 50.000 người tụ tập ở phía trước của hội trường thành phố Pusan. Trong hai ngày tiếp theo, một số văn phòng công cộng đã bị tấn công và khoảng 400 người biểu tình đã bị bắt giữ. Vào ngày 18 tháng 10, chính phủ Park Chung Hee tuyên bố thiết quân luật tại Pusan. Thế nhưng các cuộc biểu tình đã lan tới thành phố Masan, đặc biệt là ở Trường Đại học Tổng hợp Kyungnam. Bạo lực leo thang với các cuộc tấn công vào các đồn cảnh sát và trụ sở các cơ quan của đảng cầm quyền trong thành phố. Khủng hoảng xã hội đã khiến nội bộ lực lượng cầm quyền bị rạn nứt. Ngày 26 tháng 10 năm 1979, Park Chung-hee bị bắn chết bởi Kim Jae-gyu, đương kim Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc (NIS). Ngay sau đó Kim Jae-gyu bị tử hình bằng hình thức 'treo cổ', nhưng cho đến tận ngày nay, một Uỷ ban đặc biệt của chính phủ vẫn phải tiếp tục thảo luận về việc có nên coi Kim Jae-gyu là người có công cho quá trình dân chủ hoá của Hàn Quốc hay không.

Thời đại Park Chung-hee kết thúc trong bạo lực và bất ổn xã hội. Một chính phủ tạm thời được thành lập, đất nước bị đặt trong tình trạng thiết quân luật. Bản thân Park Chung-hee chết do bị ám sát bởi một quan chức thân tín phản bội. Sự nghiệp chính trị của ông cũng bị hoen ố vì độc tài và ngày nay, nhiều người Hàn Quốc căm ghét Park Chung Hee dù ông có công rất lớn trong việc xây dựng và tái thiết lại đất nước. Khi Roh Moo-hyun lên làm Tổng thống vào năm 2003, chính phủ vẫn phải tiếp tục ban hành các đạo luật mới và thành lập các uỷ ban điều tra về tình trạng bạo lực dưới thời Park Chung-hee. Tuy vậy, trong một cuộc khảo sát của Viện nghiên cứu và phân tích thông tin Gallup vào năm 2015 tại Hàn Quốc, Park Chung-hee đã được bình chọn là 'Tổng thống vĩ đại nhất trong lịch sử nước này' (với tỷ lệ bình chọn là 44%).[68]

Nghĩa trang Mangwol-dong ở Gwangju, thi thể các nạn nhân của vụ thảm sát Gwangju được chôn cất ở đây.

Năm 1980, Chun Doo-hwan được một hội đồng bầu cử bầu lên làm tổng thống. Ngày 18 tháng 5 năm 1980, tại thành phố Gwangju - thủ phủ của tỉnh Jeolla Nam khi đó - đã xảy ra Phong trào dân chủ Gwangju - khi người dân địa phương đánh cướp kho vũ khí của các trạm cảnh sát địa phương để chống lại cảnh sát chính phủ của Chun Doo-hwan sau khi lực lượng này đàn áp một cuộc biểu tình ôn hòa đòi cải cách nền dân chủ của sinh viên địa phương[69]. Quân đội Hàn Quốc với cả vũ khí sát thương hạng nặng, vòi rồng, xe tăng, xe bọc thép đã được điều động đến. 4 giờ sáng ngày 27 tháng 5 năm 1980, quân đội từ 5 hướng tiến vào trung tâm thành phố và đánh bại hoàn toàn lực lượng dân quân chỉ trong vòng 90 phút. Trong sự kiện này, quân đội Hàn Quốc được cho là đã nổ súng bắn chết khoảng 1.000 tới 2.000 thường dân.[70][71]

Sau khi đàn áp hoàn toàn cuộc nổi dậy của người dân trong cuộc Thảm sát Gwangju, Chun Doo-hwan bắt đầu tiến hành kiểm soát đất nước một cách chặt chẽ hơn, ông ta loại bỏ hoàn toàn các chính trị gia đối lập khỏi chính trường và thanh lọc xã hội theo quy mô lớn. Đồng thời, chính phủ Chun Doo-hwan thiết lập một cơ sở đào tạo quân sự đặc biệt mang tên gọi "Samcheong Education Troops", để tiến hành chương trình “giáo dục thanh lọc”. Khoảng hơn 40 nghìn người đã bị bắt đưa đến các cơ sở của Samcheong Education Troops. Số liệu thống kê về sau cho thấy có khoảng 54 người đã bị giết trong quá trình giam giữ và 397 người bị chết sau đó. Vào năm 1986, Chun Doo-hwan ra lệnh bắt giữ và tra tấn nhiều nhà hoạt động, và rất nhiều tổ chức bị đàn áp như Liên minh Dân chủ Thống nhất và Phong trào Nhân dân.

Vào tháng 1 năm 1987, một vụ tra tấn của đã dẫn tới cái chết của Park Jong-cheol, sinh viên của trường Đại học Quốc gia Seoul. Đầu năm 1987, người dân Hàn Quốc lại bắt đầu nổi dậy sau cái chết của sinh viên họ Park. Họ tổ chức hàng loạt các cuộc bạo động lớn để phản đối chính sách bắt bớ, thủ tiêu và tra tấn tàn bạo của chế độ Chung và đồng thời tiếp tục yêu cầu tiến hành sửa đổi Hiến pháp. Đây cũng chính là sự khởi đầu cho "Cuộc Nổi dậy Dân chủ Tháng Sáu", từ ngày 26 đến ngày 29, có đến hơn 1,4 triệu người đã tham gia cuộc "Tuần hành Hòa bình Vĩ đại của Nhân dân", được tổ chức tại 34 thành phố và 4 tỉnh, họ hô to khẩu hiệu “Bãi bỏ hiến pháp xấu xa”“Xóa bỏ chế độ độc tài”. Dưới áp lực ấy, chính quyền Chun Doo-hwan đã buộc phải sửa đổi Hiến pháp, ban hành bản Hiến pháp mới vào ngày 29 tháng 10 năm 1987. Mặc cho tội ác thảm sát của mình, Chun Doo-hwan vẫn nắm vị trí cao nhất trong bộ máy quyền lực ở Hàn Quốc cho tới tận năm 1988. Năm 1996, ông bị chính phủ mới kết tội tham nhũng, hối lộ, ra lệnh thảm sát và bị kết án tử hình (sau đó được giảm xuống còn chung thân, tuy vậy ông ta nhanh chóng được Tổng thống Kim Young-sam ân xá vào ngày 22 tháng 12 năm 1997).

Chính phủ dân sự (1992-nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Các cuộc nổi dậy đã để lại dấu ấn to lớn cho sự ra đời của chính phủ dân sự vào năm 1992 với đường lối cầm quyền cùng chính sách đối ngoại mềm mỏng hơn rất nhiều. Trước đó, vào năm 1987, hiến pháp Hàn Quốc đã được sửa đổi, theo đó, người dân lại được quyền trực tiếp bầu ra tổng thống. Sự kiện này đánh dấu quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ của quốc gia này. Thủ đô Seoul được chọn làm nơi tổ chức Thế vận hội Olympic năm 1988, một kỳ Thế vận hội vô cùng thành công và đã thúc đẩy đáng kể vị thế quốc tế của Hàn Quốc.[72] Hàn Quốc chính thức được mời trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc vào năm 1991.

Tổng thống Kim Dae-jung, chủ nhân của giải Nobel Hòa bình năm 2000 vì đã thúc đẩy nền dân chủ, nhân quyền ở Hàn Quốc, Đông Á và các chính sách hòa giải với Bắc Triều Tiên, ông đôi khi được gọi là 'Nelson Mandela của châu Á'.

Tuy đạt được nhiều tiến bộ trong quá trình dân chủ hóa, chính trường Hàn Quốc vẫn chưa bao giờ hết khốc liệt hay có dấu hiệu 'hạ nhiệt', các đời tổng thống tiếp theo là tướng Roh Tae-woo (1987) Kim Young-sam (1992) và Kim Dae-jung (1998), vị tổng thống thứ sáu - Roh Tae-woo bị kết án vì tội hối lộ, tham nhũng. Năm 2000, Tổng thống Kim Dae-jung được trao giải Nobel Hoà Bình vì những nỗ lực của ông trong việc bình thường hoá quan hệ với CHDCND Triều Tiên[73]. Vào tháng 6 năm 2000, một hội nghị thượng đỉnh Liên Triều đã diễn ra tại Bình Nhưỡng, thủ đô của CHDCND Triều Tiên, hội nghị là thành quả tích cực sau nhiều năm Hàn Quốc thực thi "Chính sách Ánh dương" với CHDCND Triều Tiên do tổng thống Kim Dae-jung đề xướng. Cuối năm đó, ông Kim đã được nhận giải thưởng Nobel Hòa bình do Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển trao tặng, giải thưởng nhằm vinh danh cho những nỗ lực to lớn, thiết thực của ông vì nền hòa bình lâu dài trên bán đảo Triều Tiên. Năm 2003, học trò của ông, Roh Moo-hyun kế nhiệm. Thế nhưng sau đó, đến lượt Roh Moo-hyun cũng phải đối mặt với lời buộc tội tham nhũng, ông Roh tự sát vào ngày 23 tháng 5 năm 2009 bằng cách nhảy xuống từ một mỏm núi trong khi các cuộc điều tra vẫn đang tiếp diễn, do vậy, nhiều người nghi ngờ vụ tự sát của ông là do sức ép từ các thế lực khác.

Sau đó là ông Lee Myung-bak làm tổng thống trong giai đoạn 2008-2013. Năm 2018, ông Lee bị bắt giam do bị tòa án cáo buộc ít nhất 12 tội danh, trong đó có việc nhận hối lộ 11 tỷ Won (tương đương 10,2 triệu USD) của Cơ quan Tình báo Quốc gia (NIS) và các doanh nghiệp khác. Bên cạnh đó, còn là những cáo buộc về tội danh trốn thuế và chiếm đoạt 35 tỷ Won từ một công ty mà ông Lee bí mật sở hữu.[74] Vào tháng 3.2019, ông Lee được tại ngoại vì những lo ngại về sức khỏe. Tuy nhiên, vào ngày 19 tháng 2 năm 2020, tòa án quận trung tâm Seoul đã tuyên án ông Lee Myung-bak 17 năm tù và phạt tiền 13 tỷ Won (tương đương 11 triệu USD).[75]

Tiếp đến là Park Geun-hye (con gái của cố Tổng thống - nhà độc tài Park Chung-hee), bà là nữ Tổng thống đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc hiện đại đồng thời là vị nữ tổng thống dân cử đầu tiên tại châu Á. Tuy nhiên, tới đầu năm 2017, đến lượt Park Geun-hye cũng bị Quốc hội nước này phế truất và bắt giam với các cáo buộc rằng bà Park đã tiết lộ bí mật quốc gia, nhận hối lộ, để người không có bất kỳ chức vụ, thẩm quyền gì là bà Choi Soon-sil (bạn thân) can thiệp bất hợp pháp vào các tài liệu mật cũng như các công việc nội bộ của chính phủ, lạm quyền và tham nhũng.

Như vậy, tính đến năm 2018, trong số 11 đời Tổng thống Hàn Quốc (không tính các quyền Tổng thống chỉ tạm đảm nhiệm chức vụ trong mấy tháng do khủng hoảng chính trị), đã có một người bị ám sát, 1 người tự sát do bị điều tra, 1 người bị đảo chính và phải chạy ra nước ngoài tị nạn, 4 người khác bị bắt giam do các tội danh liên quan đến tham nhũng, nhận hối lộ[76]. Những vụ bê bối liên quan đến giới chính trị gia hay lãnh đạo của các doanh nghiệp kinh tế lớn luôn là một vấn nạn gây ám ảnh, nhức nhối tại quốc gia này.[77]

Tái thống nhất với CHDCND Triều Tiên là một chủ đề chính trị đang được bàn luận sôi nổi, rộng rãi ở Hàn Quốc hiện nay, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một hiệp định hoà bình nào được ký kết. Luật an ninh quốc gia Hàn Quốc hiện vẫn không cho phép người dân tiếp nhận bất cứ thông tin nào từ phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, những ai tỏ thái độ ủng hộ hoặc phát biểu ca ngợi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có thể bị kết án lên tới 10 năm tù giam[78][79][80]. Tổng thống Roh Moo-hyun đã từng nghĩ tới việc dỡ bỏ luật này, nhưng hiện tại điều đó vẫn chưa được thực thi.

Quá trình khôi phục và phát triển nền kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1962 đến 1994, kinh tế Hàn Quốc đã tăng trưởng ở mức 'gần như không có gì' lên mức nghìn tỷ USD - với tốc độ trung bình trên 10% mỗi năm, giai đoạn này được gọi là 'Kỳ tích trên dòng sông Hán'.

Chính sách độc tài khắc khổ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến tranh Triều Tiên, vào giai đoạn lịch sử trước khi Tướng Park Chung-hee lên nắm quyền vào năm 1961, kinh tế Hàn Quốc khá nghèo nàn với thu nhập bình quân đầu người ít hơn 100 USD mỗi năm. Hàn Quốc thời điểm đó là một quốc gia thuộc "Thế giới thứ 4" được xếp hạng là 'một trong những nước nghèo nhất trên thế giới'. Ở giai đoạn này, kinh tế Hàn Quốc cơ bản phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, chủ yếu là từ Mỹ. Khi đó, viện trợ của chính phủ Mỹ chiếm tới gần 80% tổng ngân sách của chính phủ và chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tổng sản phẩm quốc gia (GNP) của Hàn Quốc. Mặc dù cho một số khu vực của đất nước đã trải qua quá trình công nghiệp hóa từ thời kỳ chiếm đóng của Nhật Bản, nhưng phần lớn chủ yếu tập trung tại miền Bắc và nhìn chung, vào đầu thập niên 60, Hàn Quốc vẫn là một nước thuần nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển hơn về mọi mặt so với nền kinh tế của CHDCND Triều Tiên - vốn rất giàu có về tài nguyên thiên nhiên[81][82][83] cũng như được Trung Quốc, Liên Xô và khối các quốc gia Xã hội chủ nghĩa giúp đỡ.

Để xóa bỏ đói nghèo và tái tạo động lực phát triển kinh tế, Park Chung-hee đã thành lập Hội đồng Tối cao phụ trách Tái thiết Quốc gia, mang "kỷ luật quân đội" và chính sách cải cách kinh tế - xã hội kiểu "độc tài" - áp dụng trên toàn quốc. Một trong những mục tiêu, tham vọng chính của tướng Park là chấm dứt tình trạng lạc hậu, nghèo đói ở Hàn Quốc và biến đất nước này từ một nền kinh tế thuộc 'Thế giới thứ tư' trở thành một cường quốc kinh tế hàng đầu của thế giới, ông phát biểu cũng như đặt câu hỏi với các tướng lĩnh cấp dưới; rằng:[84]

Ngay sau khi thực hiện thành công cuộc đảo chính để lên nắm chính quyền vào tháng 7 năm 1961, tướng Park Chung-hee tuyên bố rằng ông sẽ tiến hành “dọn rác” để làm sạch, thanh lọc xã hội.[87] Ông đã trực tiếp chỉ đạo các lực lượng cảnh sát, quân đội thực hiện hàng ngàn vụ đàn áp, bắt bớ và tái khẳng định quyết tâm của mình khi diễn thuyết trước hơn 20.000 sinh viên của Đại học Seoul rằng:

Một trong những việc đầu tiên ông làm là đem tử hình 24 quan chức và doanh nhân vì tội tham nhũng. Toàn xã hội "thắt lưng buộc bụng", trong các công ty, mọi người đều phải làm việc hết sức mình, ai làm không chăm sẽ bị phê bình, mắng nhiếc trước mặt mọi người, thậm chí, trong văn hóa, nội quy của các công ty, doanh nghiệp Hàn Quốc thời bấy giờ có quy định "nếu như nhân viên mắc lỗi, làm sai hoặc lười biếng thì cấp trên có quyền tát bạt tai để làm gương mà người đó không được phép tỏ thái độ hay phản đối". Một số ngành do quân đội xây dựng, khi người lính làm việc không chăm, cấp trên có quyền trừng phạt bằng đòn roi. Những du học sinh trước khi ra nước ngoài học tập phải cam kết không ở lại nước ngoài mà phải về nước phục vụ dù muốn hay không, những ai đã học xong mà không quay về nước thì gia đình họ sẽ phải chịu những hình phạt nặng.

Tổng thống Park Chung-hee đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển nhanh chóng nền kinh tế Hàn Quốc thông qua công nghiệp hóa theo hướng xuất khẩu.

Park chuyển chiến lược của nền kinh tế đất nước từ công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu. Park thành lập một Ủy ban Kế hoạch Kinh tế (EPB) để điều hành nền kinh tế đất nước. Lấy những "Kế hoạch kinh tế 5 năm" - vốn đã từng rất thành công của Liên Xô trước đây - làm kiểu mẫu, Park đã đề ra 'Kế hoạch 5 năm' lần đầu tiên vào năm 1962, nhiệm vụ chủ chốt của kế hoạch này là tập trung phát triển các ngành công nghiệp nhẹ nhằm mục đích xuất khẩu. Ông tuyên bố thành phố Ulsan sẽ là một "khu vực phát triển công nghiệp đặc biệt" của đất nước. Ngay sau đó, Hyundai - một trong những tài phiệt lớn đầu tiên của Hàn Quốc đã nhanh chân tận dụng vị thế đặc biệt của Ulsan để biến thành phố này thành nơi đặt các nhà máy chính của mình.

Hầu hết các nhà sử học đều coi 'Kế hoạch 5 năm đầu tiên' là điểm cất cánh của nền kinh tế Hàn Quốc. Từ năm 1962 đến năm 1966, tốc độ tăng trưởng của kinh tế Hàn Quốc đạt tới 7,6%. Sản lượng xuất khẩu tăng trên 30% mỗi năm, sản lượng sản xuất tăng trên 15% mỗi năm. Vì các chính sách phát triển kinh tế của Park được thúc đẩy bởi chủ nghĩa dân tộc và mong muốn giành quyền tự chủ cho đất nước của mình, do đó Park chủ trương tự lực, không để cho nền kinh tế của Hàn Quốc bị phụ thuộc và chi phối bởi nước ngoài. Do đó, ban đầu ông đã ra sức hạn chế đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Hàn Quốc. Tuy nhiên, theo lời khuyên của các chuyên gia kinh tế, ông bắt đầu dần dần nới lỏng những hạn chế này, tuy nhiên, các công ty nước ngoài khi đó muốn đầu tư vào thị trường Hàn Quốc thì phải tiến hành chuyển giao công nghệ ở một mức độ nhất định cho nước này. Năm 1966, 'Đạo luật kích thích vốn đầu tư nước ngoài' được chính phủ Park thông qua đã cung cấp những ưu đãi về thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài và hợp lý hóa quy trình đầu tư vào Hàn Quốc. Kế hoạch năm năm lần thứ hai (1967-1971) tiếp tục nhấn mạnh hơn vào việc thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, khuyến khích chuyển giao công nghệ và cải thiện cơ sở hạ tầng trong nước.[89]

Vào năm 1972, Park tuyên bố thiết quân luật và ban hành một hiến pháp mới mang lại cho ông ta quyền lực tuyệt đối tới mức gần như trở thành một nhà độc tài. Sử dụng quyền lực của mình, Park đã chuyển hướng nền kinh tế của đất nước sang tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp nặnghóa chất. Từ năm 1973, nền kinh tế Hàn Quốc đặt trọng tâm chủ yếu vào 6 ngành: thép, hóa chất, luyện kim, chế tạo máy, đóng tàuđiện tử. Giai đoạn phát triển công nghiệp này tập trung tại các thành phố nhỏ nằm ở phía đông nam của đất nước.[90]

Kế hoạch phát triển kinh tế của Park Chung-hee là dựa vào xuất khẩu nhờ giá thành thấp. Chi phí sản xuất được cố tình hạ thấp đến mức tối thiểu bằng cách toàn dân phải cam chịu gian khổ, tiêu dùng hết sức tiết kiệm. Để người lao động có thể sống với mức lương rất thấp, chính quyền đã áp dụng biện pháp bảo hộ, giữ giá những sản phẩm nông nghiệp luôn ở mức rất thấp. Cuối thập niên 70, các tập đoàn công nghiệp của Hàn Quốc đã sản xuất được máy thu hình màu, nhưng chỉ để xuất khẩu, trong nước chỉ dùng TV trắng đen. Các sản phẩm xa xỉ như mỹ phẩm, xe hơi cao cấp, quần áo thời trang,... đều bị hạn chế nhập khẩu ở mức tối đa để nguồn vốn quý giá không bị chảy ra nước ngoài.

Quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng của Hàn Quốc cũng phải trả giá bằng sự hy sinh rất lớn của tầng lớp lao động. Quyền của người lao động bị hạn chế tối đa vì từ năm 1962, chính sách toàn quốc thắt lưng buộc bụng được áp dụng triệt để, không có ngoại lệ, từ Tổng thống, quan chức đến dân chúng. Người dân, người lao động Hàn Quốc thời kỳ đó phải làm việc cật lực, nặng nhọc và triền miên, nhưng sống rất kham khổ. Hàng tuần mỗi người dân đều phải nhịn ăn một bữa, không hút thuốc lá ngoại nhập, không uống cà phê, không mặc quần áo thời trang đắt tiền. Thời gian lao động kéo dài đến 12-14 tiếng mỗi ngày. Điều kiện lao động kém, tiền lương rất thấp. Những phản kháng tự phát của công nhân, nông dân hoặc của dân nghèo thành thị đòi hỏi cải thiện điều kiện sống đều bị chính quyền Park Chung Hee thẳng tay đàn áp không thương tiếc. Michael Schuman, một nhà báo nổi tiếng chuyên về kinh tế học của thời báo Time (Mỹ) nhận định:

Một phụ nữ Việt Nam 21 tuổi bị lính Hàn Quốc cắt vú trong cuộc thảm sát tại làng Phong Nhị, tỉnh Quảng Nam, ngày 12 tháng 2 năm 1968.

Tham chiến tại Việt Nam (1964-1973)[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt khác, theo yêu cầu hỗ trợ của Mỹ và từ các chính quyền Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Park Chung-hee đã cử khoảng 320.000 quân nhân sang tham chiến cùng với Mỹ và các đồng minh chống cộng (Úc, New Zealand, Philippines, Thái Lan,...) trong cuộc chiến tranh Việt Nam - vừa để nhằm mục đích "nâng cao vị thế quốc gia" sau nội chiến, cũng như đổi lấy những khoản viện trợ từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Ước tính có hơn 5.000 binh lính Hàn Quốc đã tử trận và khoảng gần 11.000 người khác bị thương tật nặng hoặc mất tích trong cuộc chiến này.[92][93] Đội quân này cũng gây ra một danh sách dài những tội ác chiến tranh, những vụ đàn áp, thảm sát thường dân Việt Nam bị nghi ngờ là du kích, hỗ trợ cho hoặc là cán bộ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam khi tham chiến, đồng thời bỏ lại nơi đây hàng ngàn đứa con lai sau khi rời đi (phía Hàn Quốc thống kê lính của họ đã giết tổng cộng khoảng 41.000 người Việt Nam, phần lớn là thường dân).[94]

Đổi lại, chính phủ Hoa Kỳ tài trợ mọi khoản chiến phí và trả tiền lương cho binh lính Hàn Quốc. Tổng cộng Mỹ đã viện trợ hoặc cho Hàn Quốc vay ưu đãi khoảng 10 tỷ USD (tương đương 70 tỷ USD theo thời giá năm 2017) từ năm 1946 tới năm 1978. Trong đó nhiều nhất là trong giai đoạn 1965-1972, khi Hàn Quốc cử lính sang Việt Nam để đánh thuê cho Mỹ: chỉ riêng trong 8 năm này, Hàn Quốc nhận được 5 tỷ USD viện trợ của Mỹ (tương đương 35 tỷ USD theo thời giá 2017), nhiều gấp 3 lần mức viện trợ trong giai đoạn trước. Trong hai năm đầu (1965-1966), thu nhập từ việc đánh thuê cho Mỹ chiếm 40% thu nhập ngoại hối của Hàn Quốc. Một số học giả cho rằng số tiền có được từ cuộc chiến chiếm từ 7-8% GDP của Hàn Quốc trong những năm 1966-1969.[95] Số tiền được chính phủ Mỹ chuyển thẳng cho chính phủ Hàn Quốc dưới hình thức "bán công khai" như trợ cấp phát triển quốc phòng, hợp đồng dân sự, chuyển giao công nghệ và ưu đãi thị trường bởi các đời Tổng thống Lyndon B. JohnsonRichard Nixon.[96]

Theo chân quân đội Hàn Quốc sang Việt Nam, các công ty công nghiệp lớn của nước này thời ấy; như Hyundai, đã tranh thủ tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu khi tham gia vào việc hoàn thành các dự án xây dựng, vận tải, hậu cầngiao thông cho quân đội Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam, điều mà họ đã áp dụng về sau này để giành được những hợp đồng béo bở ở Trung Đông và nhiều nơi khác trên khắp thế giới.

Nhờ viện trợ và tiền lương của Mỹ trả cho binh lính Hàn Quốc tham chiến ở Việt Nam, kinh tế Hàn Quốc phát triển nhanh chóng. Chỉ trong 10 năm từ 1964 tới 1974, GNP bình quân của Hàn Quốc đã tăng hơn 5 lần (từ 103 USD lên 541 USD). Rất nhiều 'máu' đã đổ khi lính Hàn Quốc tham chiến ở Việt Nam và nhiều ý kiến cho rằng những tổn thất sinh mạng đó đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc sau này.[94] Trong bài phát biểu nhân ‟Ngày tưởng niệm” (6/6/2017), Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in đã tái khẳng định rằng:[97]

Hỗ trợ từ phía Nhật Bản và Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhật Bản và Hoa Kỳ cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế thần kỳ của Hàn Quốc. Tướng Park đã quyết định bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Nhật Bản vào năm 1965, một động thái gặp phải sự phản đối gay gắt của người dân Hàn Quốc. Lao động giá rẻ ở trong nước kết hợp với vốn và công nghệ của Nhật Bản đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa của Hàn Quốc. Sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Nhật Bản đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ hai ở Hàn Quốc, chỉ đứng sau Hoa Kỳ. Trong vòng mười năm sau đó, thương mại giữa hai nước đã mở rộng hơn mười lần - từ năm 1962 đến 1979, 60% công nghệ từ nước ngoài của Hàn Quốc là do Nhật Bản cung cấp.[98]

Thị trường Hoa Kỳ cùng với các khoản đầu tư và chuyển giao công nghệ của Nhật Bản đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự chuyển biến thần kỳ của nền kinh tế Hàn Quốc. Kinh tế Nhật Bản cũng là một mô hình hoàn hảo để Hàn Quốc noi theo trong công cuộc phát triển kinh tế. Trong thời kỳ thuộc địa và kể cả sau khi giành được độc lập, người Hàn Quốc đã học hỏi được rất nhiều điều từ người Nhật về những gì mà một quốc gia không thuộc phương Tây có thể làm để công nghiệp hóa và hiện đại hóa thành công. Một nhà kinh tế học người Hàn Quốc đã mô tả chính sách của cộng đồng doanh nghiệp nước này là: “Làm hệt như những gì người Nhật đã làm, nhưng cố gắng tìm cách làm sao để đạt được điều đó một cách nhanh hơn, hiệu quả và ít tốn kém hơn”.[99]

Chính sách văn hóa - xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Park Chung-hee cho rằng, Hàn Quốc trước tiên cần phải phát triển kinh tế vững mạnh rồi sau đó mới có thể có được dân chủ:

Bằng lý lẽ này, Park Chung-hee sử dụng hệ thống cảnh sát mật để theo dõi và dẹp tan mọi hành vi chống lại ông. Tất cả mọi cá nhân có phát ngôn hoặc hành động chống lại chính phủ, mọi cuộc biểu tình đòi tăng lương đều bị đáp lại bằng sự trừng phạt, bắt bớ, trấn áp thẳng tay. Park Chung-hee sử dụng luật an ninh chống cộng để bỏ tù và tra tấn bất cứ ai bất đồng chính kiến. Các cuộc biểu tình, hệ thống báo chí và phát ngôn nói chung đều bị kiểm duyệt hà khắc. Các sĩ quan cảnh sát mang thước và chặn thanh niên trên phố để đo tóc và váy của họ. Chính quyền sẽ can thiệp rất thô bạo nếu thanh niên để tóc dài, phụ nữ mặc váy ngắn. Gián điệp, chỉ điểm có mặt khắp mọi nơi, giám sát đến cả trường học. Những người bất đồng chính kiến khó thoát khỏi bị bắt và kết cục là cuộc sống mòn mỏi ở trong tù. Ở Hàn Quốc thời điểm này, nếu một người bị quy là người cộng sản, người đó sẽ mất hết mọi quyền tồn tại trong xã hội. Quy kết và phê phán nhằm vào một chính sách nào đó của chính phủ, chính khách đối lập là mang tư tưởng “Cộng sản chủ nghĩa” là phương cách được chính quyền Park ưa thích và tận dụng rất hiệu quả. Khi một nhà hoạt động xã hội bị bắt, người đó sẽ bị tra tấn dã man để phải thú nhận mình là người cộng sản[100]. Cho đến nay, không một chính trị gia Hàn Quốc nào có thể tạo được một sự uy quyền bao trùm tuyệt đối lên đất nước cũng như khiến cả một thế hệ người dân Hàn Quốc sợ hãi như Park Chung-hee.

Chế độ độc tài quân sự của Park Chung-hee mang tính chất chuyên chế độc đoán, phản dân chủ mạnh mẽ, nhưng cũng không thể phủ nhận những mặt tích cực của chế độ chính trị này đối với việc định hướng diện mạo nền kinh tế và xã hội Hàn Quốc ngày nay[67]. Bên cạnh các biện pháp chính trị, Park Chung-hee sử dụng các yếu tố văn hóa Nho giáo để thúc đẩy phát triển đất nước. Vào đầu những năm 1970, Park Chung-hee dự định dẹp bỏ tất cả những gì gọi là truyền thống để nhanh chóng đạt được hiện đại hóa. ‟Phong trào xây dựng nông thôn mới” (Saemaul Undong) đã đập phá nhiều di sản văn hóa, những truyền thống đều bị coi là “cổ hủ”, "lạc hậu" và "lỗi thời", cần phải gạt bỏ nhanh chóng để tiến lên hiện đại hóa:

Nhưng về tư tưởng, Park Chung-hee nhận thấy rằng ông không thể đưa ra một học thuyết chính trị mới nào đủ hoàn thiện để có thể thay thế được vị trí của Nho giáo mà nhận ra rằng, không thể không sử dụng, duy trì những yếu tố tích cực của tôn giáo này, trong đó, Trung (trung thành) và Hiếu (hiếu thảo) là hai giá trị quan xuyên suốt nhiều thế kỷ ở Hàn Quốc. Trong thời gian sau đó, xã hội Hàn Quốc đã xảy ra nhiều cuộc tranh luận nóng bỏng giữa các học giả về tính hữu dụng của những yếu tố tích cực trong Nho giáo truyền thống. Cuối cùng, kết quả là Park Chung-hee đã đi đến quyết định: "Giá trị quan của Nho giáo về 'Trung' và 'Hiếu' là nền tảng của xã hội" - những chính sách giáo dục đề cao đạo Khổng được ông ra chỉ thị tiếp tục dạy trong nhà trường và truyền bá sâu rộng trong đời sống nhân dân.[102]

Thành quả[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Quốc là nước chủ nhà của nhóm G-20 trong Hội nghị Thượng đỉnh Seoul 2010.

Sự tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này đã cải thiện đáng kể mức sống cho người dân Hàn Quốc. Cuối năm 1965, khoảng 58,7% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, nhưng tỷ lệ này đã giảm xuống còn 50,4% vào năm 1970 và 38,4% vào năm 1978. Công nghiệp hóa dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng dân số đô thị của Hàn Quốc, tăng từ 28,3% tổng số năm 1960 lên 54,9% vào năm 1979. Năm 1960, khoảng một phần ba trẻ em từ 12 đến 14 tuổi theo học tại các trường trung học; tỷ lệ đó tăng lên 53,3% vào năm 1970 và 74,0% vào năm 1975. Năm 1960, chỉ có khoảng 19,9% dân số từ 15 đến 17 tuổi đi học; tỷ lệ đó tăng lên 29,3% vào năm 1970 và 40,5% vào năm 1975[103]. Năm 1970, quá trình xây dựng tuyến đường cao tốc Gyeongbu đã được hoàn thành, liên kết Seoul với khu vực phía đông nam của quốc gia và các thành phố cảng lớn như Incheon và Busan[104]. Vào năm 1969, cả nước chỉ có 200.000 máy truyền hình, đến năm 1979 đã có sáu triệu máy truyền hình [105]. Nếu như vào năm 1969, chỉ có 6% hộ gia đình ở Hàn Quốc sở hữu một chiếc TV, thì đến năm 1979, đã có 4/5 hộ gia đình Hàn Quốc sở hữu TV.[105]

Nhờ những biện pháp cứng rắn về chính trị, khắc khổ về kinh tế cũng như sử dụng yếu tố văn hóa, từ thập niên 1960, kinh tế Hàn Quốc phát triển với tốc độ rất nhanh. Tuy nhiên, vào ngày 26 tháng 10 năm 1979, tổng thống Park Chung-hee bất ngờ bị ám sát, sự tăng trưởng thịnh vượng đều đặn của đất nước cũng đột ngột dừng lại, kéo theo đó là một thời kỳ hỗn loạn liên tiếp về chính trị, cộng với sự tăng vọt của giá dầu mỏ trong năm 1979, một vụ mùa thu hoạch lúa gạo thất bát và tỷ lệ lạm phát đáng báo động, lên tới 44%, khiến cho nền kinh tế Hàn Quốc phải chịu mức suy thoái lên tới 6% trong năm 1980. Nhưng sau đó, nền kinh tế đã nhanh chóng phục hồi và quay trở lại quỹ đạo tăng trưởng. Thập niên 1980 tiếp tục chứng kiến tốc độ tăng trưởng GDP cao, đạt đỉnh điểm vào những năm 1986-1988 ở mức 12% mỗi năm, khiến cho kinh tế Hàn Quốc trở thành nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao nhất thế giới tại thời điểm đó[106], Hàn Quốc khi đó được xếp vào một trong những nước công nghiệp hóa mới (NICs) của thế giới. Những năm kế tiếp, tốc độ tăng trưởng tuy chậm lại, nhưng nền kinh tế Hàn Quốc tiếp tục tăng trưởng nhanh cho đến năm 1996 với tốc độ tăng trưởng trung bình là hơn 10% mỗi năm[106]. Năm 2004, GDP của Hàn Quốc là 680 tỷ USD, vươn lên đứng thứ 12 trên thế giới. Ngày nay, quốc gia này không chỉ tiếp tục phát triển kinh tế mà còn xây dựng thành công một hệ thống chính trị dân chủ tự do hoàn chỉnh với việc người dân được tiếp cận ở mức độ cao các quyền tự do đầy đủ như tự do kinh tế, tự do dân sự, tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo,... các đối tượng đặc biệt như người cao tuổitrẻ em được hưởng quyền chăm sóc sức khỏe, giáo dục công miễn phí và phát triển nhân văn[107] - trở thành hình mẫu chính trị dân chủ cho các quốc gia châu Á khác, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, học tập, áp dụng theo[108]. Giai thoại về sự thành công trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc được gọi là 'Kỳ tích trên dòng sông Hán' (한강의 기적).

Sự hình thành Chaebol[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa nhà trụ sở chính của tập đoàn Samsung - Chaebol lớn mạnh nhất Hàn Quốc, biểu tượng cho sự phát triển của quốc gia này.

Trong bối cảnh chính trị như vậy, nền kinh tế Hàn Quốc cũng phát triển theo mô hình "Độc tài". Các Chaebol - tức Tài phiệt (재벌, 財閥)[109], là tên gọi của các đại tập đoàn gia đình lớn của Hàn Quốc. Thông thường tài phiệt là các tập đoàn đa quốc gia, với thành viên bao gồm rất nhiều các doanh nghiệp quốc tế[109] nhưng đều nằm dưới sự điều khiển của một ông chủ nắm quyền hành trên tất cả các cơ sở này.[109][110] Hiện nay, ở Hàn Quốc có đến hàng chục nhóm tài phiệt như vậy, hầu hết nằm dưới sự điều khiển tuyệt đối của một vài gia tộc. Đến năm 2008, khoảng 80% GDP của Hàn Quốc có nguồn gốc từ các tài phiệt[111], chỉ riêng Samsung đã chiếm tới 1/5 giá trị xuất khẩu của nước này. Các tài phiệt đóng một vai trò quan trọng trong việc chi phối nền chính trị Hàn Quốc. Ví dụ, vào năm 1988, chủ tịch của tập đoàn Hyundai là ông Jeong Mong-jun đã trúng cử vào Quốc hội Hàn Quốc. Một số lãnh đạo tài phiệt khác cũng trúng cử đại biểu quốc hội thông qua cơ chế đại biểu tỷ lệ.

Các tài phiệt chỉ nắm giữ một phần nhỏ cổ phần nhưng lại có rất nhiều quyền lực và có khả năng kiểm soát tất cả các công ty con. Ví dụ Samsung chỉ sở hữu 0,5% tài sản của các hãng thuộc quyền, nhưng thực tế thì một tổ chức mẹ có quyền chi phối mọi mặt tất cả các công ty con này. Điều này cho thấy mức độ tuân thủ pháp luật ở các tài phiệt Hàn Quốc là rất thấp.[110] Các tài phiệt duy trì quyền lực của mình thông qua việc sở hữu chéo (cross-holding).[112] Các tài phiệt lũng đoạn nền kinh tế Hàn Quốc, trở nên quá lớn để có thể bị khống chế hay sụp đổ (too big to fall), một số công ty như Hyundai và SK thậm chí còn có dính líu đến những vụ bê bối liên quan tới các tổng thống Kim Dae-jung, Roh Moo-hyun.[113]

Từ 1998 đến 2007, Hàn Quốc đã có những tiến bộ trong tiến trình dân chủ hoá, song đôi khi vẫn trượt theo hướng độc tài. Đã có rất nhiều tổ chức phi chính phủ giả hiệu (pseudo-NGOs) hoạt động theo mệnh lệnh của chính quyền, nhiều nhóm cánh hữu, nhiều tổ chức hiện “vẫn tìm cách bảo vệ những quyền ưu tiên mà họ có được từ thời của chế độ độc tài”. Ở Hàn Quốc, quá trình dân chủ hoá diễn ra trong bối cảnh của tăng trưởng kinh tế nhưng không phải là sự phát triển kinh tế trực tiếp thúc đẩy dân chủ hoá. Các phương thức phát triển kinh tế trở nên phản nhân văn và mang nặng tính bóc lột. Người Hàn Quốc hiện nay phải gánh chịu rất nhiều áp lực trong cuộc sống, nhất là về sự thành công, công việc và học tập.[114]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bờ biển trên đảo Jeju.
Bản đồ mô phỏng địa hình của Hàn Quốc.

Khái quát[sửa | sửa mã nguồn]

Về vị trí địa lý, lãnh thổ Hàn Quốc nằm ở phần phía nam của bán đảo Triều Tiên, thuộc khu vực Đông Á, vậy nên quốc gia này cũng được coi là 1 bán đảo. Nước này có đường biên giới trên bộ duy nhất với CHDCND Triều Tiên, nằm ở phía bắc với đường biên giới dài 238 km dọc theo Khu phi quân sự Triều Tiên. Hàn Quốc chủ yếu được bao bọc bởi biển, với 2.413 km đường bờ biển trải dài cả ba mặt tây, nam và đông. Phía tây là Hoàng Hải, phía nam là biển Hoa Đông, và phía đông là đảo Ulleungdođảo Liancourt trên biển Nhật Bản (biển này còn được gọi là 'biển Đông' theo cách gọi của người Hàn Quốc). Lãnh thổ Hàn Quốc trải dài từ vĩ độ 33° đến 38° B và kinh độ từ 124° đến 130° Đ. Tổng diện tích phần đất liền (chưa tính các hòn đảo) của Hàn Quốc là khoảng 100.032 km² (38.623 sq mi)[115]. Địa hình phân hoá thành hai vùng rõ rệt: vùng rừng núi chiếm khoảng 70% diện tích nằm ở phía đông, vùng đồng bằng duyên hải ở phía tây và nam. Bãi bồi ven biển Saemangeumbãi nổi ven biển lớn thứ hai trên thế giới và bức tường chắn sóng biển bao quanh Saemangeum là bờ đê nhân tạo dài nhất thế giới.[116]

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Không giống như Nhật Bản hay các tỉnh phía bắc của Trung Quốc, địa chất Bán đảo Triều Tiên tương đối ổn định. Không có núi lửa hoạt động (ngoại trừ núi Bạch Đầu ở biên giới giữa Bắc Triều Tiên và Trung Quốc, hoạt động gần đây nhất năm 1903), và không có những trận động đất mạnh.

Hàn Quốc không có các vùng đồng bằng rộng, các vùng đất thấp là sản phẩm của hoạt động xói mòn núi. Khoảng 30% lãnh thổ Hàn Quốc là các vùng đất thấp, phần còn lại bao gồm vùng cao và những ngọn núi. Phần lớn các vùng đất thấp nằm dọc theo bờ biển, đặc biệt là bờ biển phía tây, và dọc theo con sông lớn. Đồng bằng quan trọng nhất là đồng bằng sông Hán nằm xung quanh Seoul, ven biển phía tây nam của Pyeongtaek, các lưu vực sông Geum, sông Nakdong, và YeongsanHonam ở phía tây nam. Một dải đồng bằng hẹp ven biển chạy dọc theo bờ biển phía đông.

Khoảng ba ngàn hòn đảo, chủ yếu là nhỏ và không có người ở, nằm ngoài bờ biển phía tây và phía nam của Hàn Quốc. Jeju nằm cách bờ biển phía nam của Hàn Quốc khoảng 100 km, đây là hòn đảo lớn nhất của đất nước, với diện tích 1.845 km². Jeju cũng là địa điểm có ngọn núi cao nhất của Hàn Quốc: Hallasan, một ngọn núi lửa đã ngưng hoạt động, với độ cao 1.950 mét so với mực nước biển. Các hòn đảo phía đông của Hàn Quốc bao gồm UlleungdoLiancourt (Dokdo/Takeshima), trong khi MaradoSocotra những hòn đảo cực nam của Hàn Quốc.

Ảnh vệ tinh của Hàn Quốc vào ngày 3/5/2010, trước khi tuyết rơi kỷ lục kể từ năm 1937 tại khu vực Seoul.

Thành phố lớn nhất của Hàn Quốc là Seoul (Hán Thành), có dân số chính thức khoảng trên 10 triệu người (tính riêng vùng nội thành), nằm ở phía tây bắc đất nước. Những thành phố lớn khác là Incheon (Nhân Xuyên) ở phía tây Seoul, Daejeon (Đại Điền) ở miền trung, Gwangju (Quang Châu) ở phía tây nam, Daegu (Đại Khâu) và Busan (Phủ Sơn) ở phía đông nam.

Hàn Quốc có 20 công viên quốc gia và những địa điểm thiên nhiên nổi tiếng như Cánh đồng trà Boseong, Công viên sinh thái vịnh Suncheon và Công viên Quốc gia đầu tiên mang tên Jirisan.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Seoul
Biểu đồ khí hậu (giải thích)
123456789101112
 
 
22
 
 
2
−6
 
 
24
 
 
4
−4
 
 
46
 
 
10
1
 
 
77
 
 
18
7
 
 
102
 
 
23
13
 
 
133
 
 
27
18
 
 
328
 
 
29
22
 
 
348
 
 
30
22
 
 
138
 
 
26
17
 
 
49
 
 
20
10
 
 
53
 
 
12
3
 
 
25
 
 
4
−3
Trung bình tối đa và tối thiểu. Nhiệt độ tính theo °C
Tổng lượng giáng thủy tính theo mm
Nguồn: [117]

Hàn Quốc có sự xen kẽ giữa khí hậu lục địa ẩm ướtkhí hậu cận nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Á, có bốn mùa rõ rệt: xuân, hạ, thuđông. Mùa xuân thường kéo dài từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 5, mùa hè từ giữa tháng 5 đến đầu tháng 9, mùa thu từ giữa tháng 9 đến đầu tháng 11 và mùa đông từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 3. Mùa đông có thể rất lạnh với nhiệt độ thường xuyên dưới 0°C và tối thiểu xuống dưới −20 °C (−4°F) ở những vùng nội địa của đất nước do gió mùa mang không khí lạnh từ Siberia thổi tới. Ở Seoul, nhiệt độ trung bình tháng 1 là −7 đến 1 °C (19 đến 34 °F) và phạm vi nhiệt độ trung bình tháng 8 là 22 đến 30 °C (72 đến 86 °F). Nhiệt độ mùa đông cao hơn dọc theo bờ biển phía nam và thấp hơn đáng kể ở các vùng núi. Mùa hè có thể nóng và ẩm khá khó chịu, với nhiệt độ vượt quá 30 °C (86 °F) ở hầu hết các vùng của đất nước. Vào mùa hè năm 2018, Hàn Quốc đã trải qua đợt nắng nóng kỷ lục khiến ít nhất 42 người thiệt mạng, khi ấy nhiệt độ tại Seoul có thể lên tới 39,6 °C, nóng nhất trong vòng 111 năm qua.[118]

Do ở phía nam và bị biển bao bọc chung quanh, đảo Jejuthời tiết ấm hơn và dễ chịu hơn so với các vùng khác của Hàn Quốc. Nhiệt độ trung bình trên đảo vào khoảng từ 2,5 °C (36,5 °F) trong tháng Giêng đến 25 °C (77 °F) trong tháng Bảy.

Những cơn mưa nặng hạt tập trung vào một quãng thời gian ngắn ngủi trong mùa hè. Mùa mưa được gọi là Jangma (장마), bắt đầu từ cuối tháng 6 đến cuối tháng 7. Lượng mưa trung bình hàng năm thay đổi từ 1.370 mm (54 in) ở Seoul đến 1.470 mm (58 in) ở Busan. Hiếm khi nào mưa ít hơn 750 milimét (29,5 in)in) trong năm, phần lớn các năm đều có lượng mưa trên 1.000 milimét (39,4 in) in). Thế nên, đất nước này có đủ mưa để duy trì sản xuất nông nghiệp của mình.

Hàn Quốc ít bị bão hơn so với Nhật Bản, Đài Loan, bờ biển phía đông của Trung Quốc, Philippines. Có khoảng từ 1-3 cơn bão mỗi năm. Bão thường đổ bộ vào Hàn Quốc vào cuối mùa hè, đặc biệt là trong tháng Tám, và mang lại những cơn mưa xối xả. Lũ lụt thỉnh thoảng gây ra thiệt hại đáng kể, như làm sạt lở đất, do địa hình chủ yếu là đồi núi của đất nước.

Môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Suối Cheonggyecheon là một khu vực giải trí hiện đại ở trung tâm Seoul.

Trong 20 năm đầu giai đoạn tăng trưởng kinh tế thần kỳ của Hàn Quốc, nước này có rất ít nỗ lực để bảo vệ môi trường. Công nghiệp hóa và phát triển đô thị không được kiểm soát đã dẫn đến nạn phá rừng và phá hủy các vùng đất ngập nước đang diễn ra như Songdo Tidal Flat. Tuy nhiên, gần đây đã có những nỗ lực để khắc phục những vấn đề này, bao gồm cả một dự án năng lượng xanh năm năm do chính phủ điều hành trị giá 84 tỷ USD nhằm mục đích thúc đẩy hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh.

Chiến lược kinh tế dựa trên nền tảng xanh là sự đại tu toàn diện nền kinh tế của Hàn Quốc, tốn gần hai phần trăm GDP quốc gia. Sáng kiến ​​phủ xanh bao gồm những nỗ lực như xây dựng mạng lưới xe đạp trên toàn quốc, tăng cường sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời và năng lượng gió, giảm các phương tiện phụ thuộc vào dầu, hỗ trợ thời gian tiết kiệm ánh sáng ban ngày và sử dụng rộng rãi các công nghệ thân thiện với môi trường như đèn LED trong điện tử và chiếu sáng. Hàn Quốc là nước có kết nối mạng dày đặc nhất thế giới và đang có kế hoạch xây dựng một hệ thống mạng tiếp theo trên toàn quốc, sẽ nhanh hơn 10 lần so với hiện tại, nhằm giảm mức độ sử dụng năng lượng.

Chương trình tiêu chuẩn danh mục tái tạo với các chứng chỉ năng lượng tái tạo có từ năm 2012 đến 2022. Các hệ thống hạn ngạch ủng hộ các máy phát lớn, tích hợp theo chiều dọc và các tiện ích điện đa quốc gia, nếu chỉ vì các chứng chỉ thường được quy định theo đơn vị một Megawatt/giờ. Chúng cũng khó thiết kế và thực hiện hơn so với biểu giá Feed-in. Khoảng 350 đơn vị nhiệt điện kết hợp vi mô dân cư đã được lắp đặt vào năm 2012.

Nước máy của Seoul gần đây đã trở nên an toàn để uống, các quan chức thành phố gắn nhãn hiệu "Arisu" để thuyết phục công chúng. Những nỗ lực cũng đã được thực hiện với các dự án trồng rừng. Một dự án trị giá hàng tỷ đô la khác là sự phục hồi suối Cheonggyecheon, một con suối chảy qua trung tâm thành phố Seoul mà trước đó đã bị lấp lại khi xây đường cao tốc. Một thách thức lớn nữa là chất lượng không khí, với mưa axit, oxit lưu huỳnh và bão bụi vàng hàng năm là những vấn đề đặc biệt. Người ta thừa nhận rằng tình trạng này xày ra một phần là do ảnh hưởng từ các khu vực Nội MôngHoa Bắc của Trung Quốc lân cận, những nơi đang bị ô nhiễm không khí trầm trọng.

Hàn Quốc là thành viên của Hệ thống Hiệp ước châu Nam Cực, Công ước về Đa dạng sinh học, Nghị định thư Kyoto (hình thành Nhóm toàn vẹn môi trường (EIG), liên quan đến UNFCCC, với MexicoThụy Sĩ), CITES, UNCLOS, Hiệp ước Cấm thử Hạt nhân Toàn diện, Nghị định thư MontrealCông ước Ramsar.

Phân cấp hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh thổ Hàn Quốc bao gồm 1 thủ đô (đặc biệt thị), 8 tỉnh (đạo), 6 thành phố trực thuộc trung ương (quảng vực thị), 1 tỉnh tự trị (đặc biệt tự trị đạo) và 1 thành phố tự trị (đặc biệt tự trị thị).

Bản đồ Tên Hangul Hanja Hán-Việt Dân số
Thủ đô (đặc biệt thị) (Teukbyeolsi)
Seoul 서울특별시 首爾特別市 Hán Thành/Thủ Nhĩ đặc biệt thị 9.794.304
Thành phố trực thuộc trung ương (quảng vực thị) (Gwangyeoksi)
Busan 부산광역시 釜山廣域市 Phủ Sơn quảng vực thị 3.635.389
Daegu 대구광역시 大邱廣域市 Đại Khâu quảng vực thị 2.512.604
Incheon 인천광역시 仁川廣域市 Nhân Xuyên quảng vực thị 2.628.000
Daejeon 대전광역시 大田廣域市 Đại Điền quảng vực thị 1.442.857
Gwangju 광주광역시 光州廣域市 Quang Châu quảng vực thị 1.456.308
Ulsan 울산광역시 蔚山廣域市 Uất Sơn quảng vực thị 1.087.958
Tỉnh (đạo) (Do)
Gyeonggi 경기도 京畿道 Kinh Kỳ đạo 10.415.399
Gangwon 강원도 江原道 Giang Nguyên đạo 1.592.000
Chungcheong Bắc 충청북도 忠淸北道 Trung Thanh Bắc đạo 1.462.621
Chungcheong Nam 충청남도 忠淸南道 Trung Thanh Nam đạo 1 840.410
Jeolla Bắc 전라북도 全羅北道 Toàn La Bắc đạo 1.890.669
Jeolla Nam 전라남도 全羅南道 Toàn La Nam đạo 1.994.287
Gyeongsang Bắc 경상북도 慶尙北道 Khánh Thượng Bắc đạo 2.775.890
Gyeongsang Nam 경상남도 慶尙南道 Khánh Thượng Nam đạo 2.970.929
Tỉnh tự trị (đặc biệt tự trị đạo) (Teukbyeoljachi-do)
Jeju 제주특별자치도 濟州特別自治道 Tế Châu đặc biệt tự trị đạo 560.000
Thành phố tự trị (đặc biệt tự trị thị) (Teukbyeol-jachisi)
Sejong 세종특별자치시 世宗特別自治市 Thế Tông đặc biệt tự trị thị 122.263

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống thứ 12 và đương nhiệm Moon Jae-in.[119][120]

Cấu trúc của chính phủ Hàn Quốc được xác định bởi Hiến pháp Hàn Quốc. Giống như nhiều quốc gia dân chủ khác, Hàn Quốc có một chính phủ được chia thành ba nhánh tách biệt: hành pháp, tư pháplập pháp. Các cơ quan hành pháp và lập pháp hoạt động chủ yếu ở cấp quốc gia, mặc dù các bộ khác nhau trong ngành hành pháp cũng thực hiện các chức năng địa phương. Chính quyền địa phương là bán tự trị, và có các cơ quan hành pháp và lập pháp của riêng họ. Ngành tư pháp hoạt động ở cả cấp quốc gia và địa phương. Hàn Quốc là một nền dân chủ lập hiến.

Hiến pháp Hàn Quốc đã được chú trọng sửa đổi nhiều lần kể từ khi ban hành lần đầu tiên vào năm 1948 sau khi độc lập. Tuy nhiên, văn bản này vẫn giữ được nhiều đặc điểm rộng rãi và ngoại trừ Đệ Nhị Đại Hàn Dân Quốc tồn tại trong thời gian ngắn, Hàn Quốc luôn có một hệ thống tổng thống với một uỷ ban điều hành độc lập. Theo hiến pháp hiện hành, nhà nước đôi khi được gọi là Đệ Lục Đại Hàn Dân Quốc. Cuộc bầu cử trực tiếp lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1948.

Mặc dù Hàn Quốc đã trải qua một loạt các chế độ độc tài quân sự từ những năm 1960 cho đến những năm 1980, nhưng quốc gia này đã chuyển mình, phát triển thành một nền dân chủ tự do thành công. Ngày nay, The World FactbookCơ quan Tình báo Kinh tế (Economist Intelligence Unit) đã công nhận và mô tả nền dân chủ của Hàn Quốc là một 'nền dân chủ hiện đại, hoàn chỉnh với đầy đủ chức năng'[121]. Hàn Quốc được xếp hạng thứ 39 về chỉ số nhận thức tham nhũng (thứ 8 ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương), với số điểm 59 trên 100.

Theo Điều luật 70 của Hiến pháp, người đứng đầu chính phủ Đại Hàn Dân Quốc là Tổng thống do mỗi công dân mang quốc tịch Hàn Quốc từ đủ 18 tuổi trở lên trực tiếp bỏ phiếu bầu ra, thời hạn nhiệm kỳ kéo dài trong 5 năm và không được phép tái ứng cử. Tổng thống là đại diện cao nhất của quốc gia và có toàn quyền chỉ huy quân đội (tương đương với chức vụ: Tổng Tư lệnh). Ngoài ra, Tổng lý Quốc vụ (국무총리/國務總理/Gungmuchongni) - tức chức vụ Thủ tướng cũng do Tổng thống chỉ định nhưng Tổng thống mới thực sự là người lãnh đạo Chính phủ. Chính phủ có tối thiểu 15 và tối đa là 30 thành viên. Thành viên chính phủ do Thủ tướng chỉ định. Chức vụ Thủ tướng cũng như Bộ trưởng phải được sự thông qua của Quốc hội.

Nơi ở và làm việc chính thức của các đời Tổng thống Hàn Quốc hiện nay là một Cung điện cổ được xây dựng từ thời kỳ của nhà Triều Tiên, được gọi với danh xưng là Nhà Xanh (Thanh Ngõa Đài).

Quốc hội Hàn Quốc chỉ có một viện và được gọi là 국회 (國會, Gukhoe, Quốc hội). Đại biểu Quốc hội được bầu mỗi bốn năm một lần. Quốc hội có tất cả 299 đại biểu và tổng cộng 300 ghế.

Cơ quan quan trọng thứ ba trong hệ thống chính trị của Hàn Quốc là Toà án Tối cao. Cơ quan này theo dõi hoạt động của chính phủ và ra các phán quyết cuối cùng. Toà án gồm có chín thẩm phán tối cao. Tổng thống trực tiếp chỉ định ba người trong số này, ba người được quốc hội bầu ra, tuy nhiên vẫn phải được sự chấp thuận của Tổng thống. Chánh án toà án tối cao là người chỉ định ba thẩm phán còn lại.

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Không quân Hàn Quốc

Lực lượng vũ trang chính quy của Hàn Quốc là một trong những lực lượng quân sự mạnh, mặc dù không phát triển hay sở hữu vũ khí hạt nhân, quân đội Hàn Quốc vẫn được xếp hạng là lực lượng quân sự với sức mạnh tổng hợp đứng hạng 3 châu Á (chỉ sau quân đội Trung QuốcNhật Bản), đứng thứ 6 toàn cầu trong năm 2020[41] và xếp thứ 8 trên thế giới về mức chi tiêu ngân sách cho quốc phòng (2021)[42]. Nếu tính đến cả những lực lượng gián tiếp phục vụ cho quân đội, tổng số quân của Hàn Quốc năm 2019 là 6.708.000 (~600.000 phục vụ trực tiếp và hơn 3.100.000 dự bị).[122]

Năm 2019, chi tiêu quốc phòng của Hàn Quốc đạt mức xấp xỉ 44 tỷ USD, chiếm 2,7% trong tổng GDP - xếp hạng 5 châu Á và đồng thời đứng thứ 10 trên thế giới[123][124], sang đến năm 2021, con số này đã tăng thêm 2 bậc, với 48 tỷ đô la Mỹ - tuy vẫn giữ hạng 5 châu Á nhưng đã vươn lên hạng 8 toàn cầu.[42]

Cơ cấu tổ chức của quân đội Hàn Quốc hiện nay bao gồm có 4 quân chủng chính là Lục quân (ROKA), Hải quân (ROKN), Không quân (ROKAF) và Thủy quân lục chiến (ROKMC), ngoài ra còn có các 'Lực lượng Triển khai Chiến tranh Đặc biệt' (SFBRKRKNSWF) trực thuộc Bộ Tư lệnh Chiến tranh Đặc biệt, cùng với một số lượng rất lớn quân nhân dự bị.[125] Theo hiến pháp, công dân mang quốc tịch Hàn Quốcnam giới từ 18 đến 28 tuổi đều phải có ít nhất một lần thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc, bất kể người đó là ai, xuất thân từ đâu, có địa vị xã hội, tầm ảnh hưởng hoặc học vấn ra sao hay đang làm công việc gì, thường là trong vòng 21 tháng đối với lục quân và thủy quân lục chiến, 23 tháng đối với hải quân và 24 tháng đối với không quân. Năm 2010, đã có nhiều ý kiến kêu gọi chính phủ Hàn Quốc nên rút ngắn thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc chuyển sang chế độ nghĩa vụ quân sự tự nguyện nhưng cho đến nay vẫn chưa có thay đổi gì.[126]

Theo Hiệp ước Phòng thủ chung Hàn-Mỹ được ký kết vào năm 1953, trong trường hợp xảy ra xung đột quân sự với bên ngoài, quân đội Hàn Quốc không được tự đưa ra quyết định mà họ phải nằm dưới sự chỉ huy của một Tướng bốn sao trực thuộc quân đội Mỹ, và, một bộ phận người dân Hàn Quốc tin rằng quân đội của họ sẽ không thể trụ vững trước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên nếu không dựa vào Mỹ[127], còn phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thì luôn luôn tuyên truyền, coi quân đội Hàn Quốc chỉ là "quân đội tay sai" của "ngoại quốc" để nhằm ngăn cản "sự nghiệp thống nhất đất nước" của "dân tộc Triều Tiên".[128] Trong một cuộc khảo sát vào năm 2019, có 74% người Hàn Quốc tham gia khảo sát ủng hộ việc lính Mỹ tiếp tục đóng quân lâu dài ở Hàn Quốc và gần chín phần mười (87%) cho rằng sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ góp phần quan trọng giúp đảm bảo an ninh quốc gia của Hàn Quốc trước mối đe dọa tên lửa và hạt nhân của Bắc Triều Tiên.[129]

Xe tăng nội địa K2 Báo Đen được thiết kế, lắp ráp và chế tạo bởi Công ty công nghiệp vũ khí Hyundai Rotem.
ROKAF FA-50, máy bay chiến đấu siêu thanh thế hệ mới được phát triển bởi Công ty Hàng không Vũ trụ Samsung.

Căng thẳng chưa được giải quyết với Triều Tiên đã khiến Hàn Quốc phân bổ 2,6% GDP và 15% tổng chi tiêu của chính phủ cho quân đội - tương đương với tỷ lệ GDP của chính phủ là 14,967%, trong khi vẫn duy trì nghĩa vụ quân sự bắt buộc cho nam giới. Do đó, Hàn Quốc có số lượng binh sĩ hoạt động thường trực lớn thứ 7 trên thế giới (khoảng ~600.000 binh sĩ vào năm 2018), số lượng binh sĩ dự bị cao nhất thế giới (~3.100.000 binh sĩ trong năm 2018) và ngân sách quốc phòng lớn thứ 10 trên thế giới. Tính đến năm 2019, Hàn Quốc có ngân sách quốc phòng đạt xấp xỉ 44 tỷ USD.[123][124]

1.800 nam giới Hàn Quốc được chọn mỗi năm để phục vụ 21 tháng trong Chương trình KATUSA nhằm tăng cường hơn nữa cho Lực lượng Liên quân Hoa Kỳ-Hàn Quốc (USFK). Năm 2010, Hàn Quốc đã chi ra 1,68 nghìn tỷ Won trong thỏa thuận chia sẻ chi phí với Mỹ để hỗ trợ ngân sách cho các lực lượng Mỹ đang đóng quân ở Hàn Quốc, trong tổng chi ngân sách là gần 30 nghìn tỷ Won dành cho lực lượng quân đội của chính họ.

ROKS Dokdo, thiết giáp hạm dẫn đầu của nhóm tàu tấn công đổ bộ lớp Dokdo - do Tập đoàn công nghiệp nặng Hanjin chế tạo.

Quân đội Hàn Quốc ước tính hiện có 2.500 xe tăng các loại đang hoạt động, bao gồm cả những mẫu được thiết kế, lắp ráp và sản xuất nội địa như K1 88K2 Báo Đen, tạo thành 'xương sống' của lực lượng tăng thiết giápbộ binh cơ giới. Một kho vũ khí lớn gồm nhiều hệ thống pháo, bao gồm 1.700 pháo tự hành với K55 và K9 Thunder cùng 680 máy bay trực thăngUAV thế hệ mới thuộc nhiều loại.

Hải quân Hàn Quốc đã thực hiện cuộc chuyển đổi lớn đầu tiên để trở thành lực lượng hải quân có khả năng tác chiến ở các vùng biển sâu thông qua việc thành lập Hạm đội di động chiến lược, bao gồm các nhóm chiến hạm chiến đấu trực thuộc tàu khu trục lớp Chungmugong Yi Sun-sin, tàu tấn công đổ bộ lớp Dokdo, tàu tấn công lớp AIP, tàu ngầm và tàu khu trục King Sejong the Great, được trang bị hệ thống tên lửa phòng thủ hạm đội Aegis mới nhất cho phép theo dõi và tiêu diệt đồng thời nhiều tên lửa hành trìnhtên lửa đạn đạo, tạo thành một phần không thể thiếu của "Chiếc ô phòng thủ tên lửa bản địa" Hàn Quốc - chống lại mối đe dọa tên lửa từ phía quân đội Bắc Triều Tiên.

Không quân Hàn Quốc vận hành 840 máy bay, biến lực lượng này thành lực lượng không quân lớn thứ 9 của thế giới, bao gồm một số loại máy bay chiến đấu tiên tiến như F-15K, KF-16C/D (đã được nâng cấp, sửa đổi nhiều), và KAI T-50 Golden Eagle bản địa, được hỗ trợ bởi các đội máy bay chiến đấu cũ được bảo trì tốt như F-4EKF-5E/F - vẫn phục vụ hiệu quả cho không quân bên cạnh các máy bay hiện đại hơn. Trong nỗ lực để đạt được sức mạnh không chỉ về số lượng mà cả tính hiện đại, việc đưa bốn máy bay Boeing 737 AEW & C vào hoạt động thu thập thông tin và phân tích tình báo tập trung trên chiến trường hiện đại, sẽ tăng cường khả năng của máy bay chiến đấu và các máy bay hỗ trợ khác để thực hiện nhiệm vụ của họ với độ chính xác cao nhất.

Vào tháng 5 năm 2011, công ty Hàng không Vũ trụ Samsung, nhà sản xuất thiết bị hàng không vũ trụ, máy bay chiến đấuđộng cơ máy bay lớn nhất của nước này, đã ký một hợp đồng trị giá 400 triệu đô la để bán 16 máy bay huấn luyện T-50 Golden Eagle cho quân đội Indonesia, biến Hàn Quốc trở thành quốc gia đầu tiên ở châu Á xuất khẩu máy bay phản lực siêu âm.[130][131]

Tháng 12 năm 2019, Hàn Quốc tiếp nhận máy bay không người lái Northrop Grumman RQ-4 Global Hawk trị giá 123 triệu USD của Mỹ, qua đó trở thành nước châu Á đầu tiên sở hữu loại UAV này.[132]

Tháng 7 năm 2020, vệ tinh liên lạc quân sự đầu tiên của Hàn Quốc đã được phóng thành công vào không gian, đưa nước này trở thành quốc gia thứ 10 trong danh sách số ít các quốc gia trên thế giới hiện nay đang sở hữu vệ tinh liên lạc dành riêng cho các mục đích quân sự hoạt động trong vũ trụ.[133] Quân đội Hàn Quốc cũng đang chú trọng vào phát triển và hoàn thiện các loại Robot quân sự, trong đó đặc biệt có 'pháo binh Robot' - với công nghệ tự động hóa và quá trình điều khiển cùng sự hỗ trợ tác chiến điện tử, chiến đấu tiêu diệt mục tiêu hoàn toàn bằng trí tuệ nhân tạo.[134][135][136][137]

Tháng 4 năm 2021, tập đoàn Công nghiệp Hàng không Hàn Quốc (KAI) giới thiệu nguyên mẫu đầu tiên trong dự án mang tên 'KF-X', chương trình phát triển máy bay tiêm kích chiến đấu thế hệ mới trị giá 8 tỷ USD - hợp tác cùng với chính phủquân đội Indonesia, đây là chương trình phát triển tiêm kích lớn và đắt đỏ nhất trong lịch sử nước này, đặt tham vọng xuất khẩu, cạnh tranh trên thị trường vũ khí với chiến đấu cơ tàng hình F-35 do Mỹ sản xuất.[138]

Trong khoảng thời gian gần đây, Hàn Quốc cũng gửi quân đội ra nước ngoài để hỗ trợ cho các lực lượng quân đội Mỹ. Quân đội Hàn Quốc đã tham gia vào hầu hết các cuộc xung đột lớn mà quân đội Hoa Kỳ khởi xướng trong vòng hơn 50 năm qua, kể từ khi thành lập. Trong quá khứ, Hàn Quốc đã điều động 325.517 binh sĩ tham gia chiến đấu bên cạnh các lực lượng của Mỹ, Úc, Philippines, New Zealand, Thái LanViệt Nam Cộng hòa trong Chiến tranh Việt Nam, với số lượng tối đa lên tới khoảng 50.000 quân mỗi năm. Năm 2004, Hàn Quốc đã gửi 3.300 binh sĩ của Sư đoàn Zaytun tới miền bắc Iraq, và là đội quân có đóng góp lớn thứ ba trong lực lượng liên minh này chỉ sau Mỹ và Anh. Bắt đầu từ năm 2001, đến nay, Hàn Quốc đã triển khai 24.000 binh sĩ tới khu vực Trung Đông để hỗ trợ cuộc chiến chống khủng bố của các lực lượng quốc tế dẫn đầu bởi Mỹ. Hơn 1.800 binh lính khác cũng đã được triển khai từ năm 2007 để củng cố cho Lực lượng gìn giữ Hòa bình của Liên Hiệp Quốc tại Lebanon.

Ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

CHDCND Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un và Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in đang bắt tay nhau.
Khu vực An ninh chung ở khu phi quân sự Triều Tiên.

Trong những năm gần đây, tình hình chính trị - quân sự trên bán đảo Triều Tiên luôn bị đặt trong trạng thái căng thẳng cao độ do xung đột chính trị liên Triều cùng Chương trình vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Tuy vậy, tái thống nhất với CHDCND Triều Tiên lại đang là một chủ đề chính trị đang được bàn luận rất sôi nổi ở Hàn Quốc hiện nay, thậm chí, người ta còn đã đề cập đến khả năng áp dụng thể chế chính trị "một quốc gia, hai chế độ" để tái thống nhất bán đảo, nhưng hiện vẫn chưa có hiệp định hoà bình nào được ký kết, khiến cho đề xuất trên hay các ý kiến khác mới chỉ dừng lại ở mức ý tưởng. Luật an ninh quốc gia Hàn Quốc hiện vẫn không cho phép người dân tiếp nhận bất cứ thông tin nào từ phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, những ai tỏ thái độ ủng hộ, tuyên truyền hoặc phát biểu, diễn thuyết ca ngợi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có thể bị kết án lên tới 10 năm tù giam[78][79][80]. Tổng thống Roh Moo-hyun đã từng nghĩ tới việc dỡ bỏ luật này, nhưng hiện tại nó vẫn chưa được thực thi.

Tháng 6 năm 2000, hai chính phủ đã chính thức gặp gỡ với nhau. Với tư cách là một phần của "Chính sách Ánh Dương" của tổng thống Kim Dae-jung, một hội nghị thượng đỉnh Liên Triều đã diễn ra tại Bình Nhưỡng, thủ đô của Bắc Triều Tiên. Cuộc gặp gỡ này được xem như là sự thắng lợi của chính sách ánh dương trong việc bình thường hoá quan hệ giữa hai miền Triều Tiên. Cuối năm đó, tổng thống Kim đã nhận được giải Nobel Hòa bình "cho những nỗ lực của ông vì nền dân chủ và nhân quyền ở Hàn Quốc và ở Đông Á nói chung, và vì hòa bình và hòa giải với Bắc Triều Tiên nói riêng". Tuy nhiên, do sự bất bình trong dân chúng đối với các cách tiếp cận không có kết quả với Triều Tiên dưới các chính quyền trước đó và, trong bối cảnh các vụ khiêu khích của Bắc Triều Tiên liên tiếp diễn ra, một chính phủ bảo thủ đã được bầu vào năm 2007 do Lee Myung-bak, cựu thị trưởng Seoul làm tổng thống.

Cả Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đều tuyên bố chủ quyền của mình đối với toàn bộ bán đảo và các hòn đảo xa bờ, cả hai cũng đồng thời coi chính quyền của họ là chính quyền hợp pháp duy nhất trên bán đảo Triều Tiên. Những nỗ lực hòa giải giữa hai miền vẫn tiếp tục tiếp diễn kể từ khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc. Tuy nhiên tiến trình hòa giải này hứa hẹn vẫn sẽ còn phức tạp sau các vụ thử tên lửa đạn đạo của CHDCND Triều Tiên thời gian gần đây, khiến cho mối quan hệ giữa hai miền trở nên căng thẳng. Năm 2017, tân Tổng thống Moon Jae-in lên nắm quyền, hứa hẹn sẽ đem lại những thay đổi lớn nhằm cải thiện mối quan hệ giữa hai nhà nước. Trong một cuộc khảo sát vào năm 2014, số người Hàn Quốc được hỏi có cái nhìn tích cực về CHDCND Triều Tiên chỉ chiếm 3%, tuy nhiên, theo một cuộc khảo sát khác vào năm 2017 của chính phủ, có tới 56% người Hàn Quốc ủng hộ việc tái thống nhất với miền Bắc.[139][140]

Vào năm 2018, Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đã tổ chức 3 hội nghị thượng đỉnh liên Triều vào tháng 4, tháng 5, và tháng 9.

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù là hai quốc gia láng giềng và đều là đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ ở khu vực Đông Bắc Á, người dân Hàn Quốc (đặc biệt là các thế hệ trung niên và cao tuổi) đa phần đều có cái nhìn tiêu cực đối với Nhật Bản, nguyên nhân chủ yếu do nước này phải chịu sự cai trị của Nhật Bản trong vòng 35 năm (1910-1945) kể từ khi Nhật chiếm bán đảo Triều Tiên vào năm 1910. Dù Nhật Bản đã trao trả độc lập cho toàn bộ bán đảo Triều Tiên vào năm 1945 nhưng phải chờ đến tận năm 1965 thì hai quốc gia mới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Nhật Bản hiện đang là đối tác thương mại lớn thứ hai của Hàn Quốc.[141]

Hàn Quốc và Nhật Bản hiện nay vẫn đang tranh chấp nhóm đảo Liancourt.

Trong giai đoạn bán đảo Triều Tiên bị Đế quốc Nhật Bản xâm lược và đô hộ (1910-1945), hàng trăm nghìn người Triều Tiên đã cộng tác với phát xít Nhật để đàn áp những đồng bào đấu tranh đòi độc lập. Ngày nay, sử sách Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc gọi những người Triều Tiên cộng tác với quân Nhật là "Ngụy quân". Tại Hàn Quốc thì luật pháp có hẳn 1 quy định về đối tượng này, Trung tâm Sự thật và Công lý Lịch sử (CHTJ) đã lập ra cả 1 danh sách 4.389 người từng cộng tác với Nhật để xét lý lịch với con cháu của họ, đến năm 2019, Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in nói rằng: “xóa sạch những dấu tích của việc cộng tác với Nhật Bản là điều nên được thực hiện từ lâu”.[142]

Hàn Quốc và Nhật Bản đã từng đồng tổ chức World Cup 2002. Tuy nhiên, quan hệ của Hàn Quốc và Nhật Bản sau đó trở nên căng thẳng vì những tuyên bố chủ quyền mâu thuẫn đối với đảo Liancourt - nhóm đảo mà Hàn Quốc đã kiểm soát từ tháng 7 năm 1954. Cả Nhật Bản và Hàn Quốc đều coi hòn đảo này là một phần lãnh thổ không thể tách rời của họ[143][144][145][146], dẫn đến những tranh cãi gay gắt và hiện nay vẫn chưa tìm được biện pháp giải quyết.

Chiến tranh thương mại Nhật Bản – Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ra, giữa 2 nước gần đây cũng bắt đầu xảy ra những mâu thuẫn liên quan đến vấn đề thương mại song phương, bắt nguồn từ việc Toà án Tối cao Hàn Quốc ra bản án buộc các doanh nghiệp lớn của Nhật Bản như Mitsubishi, Toyota, Sumitomo, Nissan, Nippon Steel,... phải bồi thường thiệt hại cho những người Hàn Quốc bị ép buộc lao động khổ sai và "mua vui" cho binh lính Nhật trong thời kỳ Phát xít Nhật chiếm đóng Triều Tiên, Nhật Bản không đồng ý vì cho rằng vấn đề đó đã được giải quyết từ hiệp ước năm 1965 khi nước này tiến hành bình thường hóa mối quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc, đồng thời áp đặt lệnh hạn chế xuất khẩu các nguyên vật liệu dùng trong công nghệ cao sang Hàn Quốc và gạch tên nước này khỏi danh sách các quốc gia được hưởng ưu đãi thương mại từ chính phủ Nhật Bản, Hàn Quốc đáp trả bằng các biện pháp tương tự[147], trong đó bao gồm việc tẩy chay hàng hóa Nhật Bản[148], chấm dứt hiệp định chia sẻ thông tin tình báo chung đã được ký kết với Nhật Bản từ trước đó - hay còn được biết đến với tên gọi Thỏa thuận An ninh chung về Thông tin Quân sự (GSOMIA)[149], dẫn đến nguy cơ bùng phát một cuộc "Chiến tranh thương mại" mới với tính chất và mức độ rủi ro tương tự như Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, đáng lo ngại hơn, cuộc chiến này sẽ nổ ra giữa 2 nền kinh tế hàng đầu tại châu Á[150], gây gián đoạn chuỗi cung ứng cho các sản phẩm công nghệ cao trên toàn cầu[151] đồng thời đẩy giá thành của các sản phẩm công nghệ đó lên cao[152][153], mặc dù đã có một số cuộc gặp cấp cao được tổ chức, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một cuộc đàm phán song phương chính thức nào để giải quyết dứt điểm các vấn đề phức tạp trên.

Kiểm duyệt văn hóa, truyền thông Nhật Bản tại Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Do tâm lý bài Nhật mạnh mẽ kể từ sau khi giành được độc lập, chính phủ Hàn Quốc ban hành và duy trì các đạo luật nhằm kiểm duyệt chặt chẽ, khắt khe đối với tất cả những chương trình truyền hình, sản phẩm truyền thông của Nhật Bản như phim ảnh, trò chơi, âm nhạc, sách báo (Manga),... nếu những sản phẩm này muốn được thâm nhập vào thị trường Hàn Quốc. Năm 2003, phim truyền hìnhâm nhạc Nhật Bản (J-pop) vẫn bị cấm phát sóng trên truyền hình mặt đất tại Hàn Quốc.[154] Ngày 23 tháng 2 năm 2011, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc Chung Byoung-guk thông báo rằng nước này "có thể xem xét xóa bỏ các lệnh cấm trong tương lai".[155] Tuy nhiên, đến năm 2014, bài hát tiếng Hàn Uh-ee của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc Crayon Pop đã bị đài KBS cấm phát sóng vì có từ tiếng Nhật pikapika trong lời bài hát.[156] Năm 2018, nhóm nhạc nữ Hàn-Nhật IZ*ONE cho phát hành các bài hát có chứa tiếng Nhật và đã không được phép phát sóng trên truyền hình Hàn Quốc vì nội dung "mang đậm màu sắc Nhật Bản", đài Fuji News Network của Nhật Bản nhận xét: "sự ghê tởm đối với văn hóa Nhật Bản tại Hàn Quốc vẫn còn tàn tích rất mạnh mẽ".[157]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Đại sứ quán Hàn Quốc tại thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc.

Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Hàn Quốc nhìn chung là rất thù địch vào khoảng thời gian trước những năm 1980, khi ấy Trung Quốc chỉ công nhận chính quyền Bắc Triều Tiên trong khi Hàn Quốc cũng chỉ công nhận chính quyền Trung Hoa Dân Quốc trên đảo Đài Loan. Hàn Quốc trở thành quốc gia châu Á cuối cùng thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào ngày 24 tháng 8 năm 1992. Trong những năm gần đây, Trung Quốc và Hàn Quốc đã nỗ lực thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược và hợp tác trong nhiều lĩnh vực, trong đó: đầu tư, chuyển giao công nghệ, thương mại, du lịch và giao lưu văn hóa là những yếu tố quan trọng nhất để tăng cường quan hệ hợp tác giữa hai nhà nước.

Mối quan hệ giữa hai nước đã xấu đi đáng kể vào cuối năm 2016 sau khi quân đội Hàn Quốc tuyên bố ý định sẽ cùng quân đội Mỹ tiến hành triển khai THAAD (Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối) trên lãnh thổ nước này, một động thái mà chính phủ Trung Quốc phản đối gay gắt[158]. Chính phủ Hàn Quốc và Hoa Kỳ tuyên bố rằng việc triển khai THAAD hoàn toàn là một biện pháp phòng thủ, chỉ nhắm vào Bắc Triều Tiên và không có ý định đe dọa lợi ích an ninh của Trung Quốc, song, chính phủ Trung Quốc lại coi đây là một động thái gây thù địch, đe dọa an ninh cũng như chống lại họ.[159] Chính phủ Trung Quốc ngầm áp đặt một chiến dịch tẩy chay không chính thức đối với hàng hóa Hàn Quốc trong nỗ lực ngăn chặn họ triển khai hệ thống tên lửa. Truyền thông Trung Quốc liên tục đưa tin về việc công dân nước này tẩy chay các sản phẩm có xuất xứ từ từ Hàn Quốc chẳng hạn như xe hơi của Hyundai, Kia, điện thoại di động và các thiết bị, sản phẩm công nghệ của Samsung, LG,... Hàng hóa của Hàn Quốc sau đó bị loại bỏ khỏi kệ hàng siêu thị tại Trung Quốc, nhiều thương hiệu bán lẻ lớn như Lotte, CJ, Shinsegae,... buộc phải đóng cửa hàng loạt các cơ sở kinh doanh hoặc thậm chí rút lui hoàn toàn khỏi thị trường tỷ dân này[160], trong khi khách du lịch và nhiều công ty du lịch Trung Quốc đồng loạt hủy bỏ các chuyến bay đi, đến Hàn Quốc[161][162]. Tuy nhiên, vào cuối tháng 10 năm 2017, hai nước đã kết thúc cuộc tranh chấp ngoại giao kéo dài gần 1 năm và nhanh chóng nỗ lực để đưa mối quan hệ giữa hai chính phủ trở lại đúng hướng, kể từ đó, tất cả các lệnh hạn chế về thương mại và văn hóa của Trung Quốc đối với Hàn Quốc cũng được dỡ bỏ, cùng với đó là sự hợp tác về chính trị, an ninh, kinh tế và trao đổi văn hóa giữa hai nước đã dần trở lại trạng thái bình thường.[163]

Vào ngày 29 tháng 11 năm 2010, tài liệu mật của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bị rò rỉ bởi Wikileaks đã đề cập đến nội dung của một cuộc trò chuyện giữa hai quan chức Trung Quốc ẩn danh với Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Quốc Chun Yung-woo. Trong cuộc trò chuyện này, hai quan chức đã tuyên bố rằng chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẵn sàng ủng hộ một bán đảo Triều Tiên thống nhất dưới quyền chính phủ miền Nam, miễn là chính quyền này không thù địch với Trung Quốc.[164]

Một cuộc khảo sát được công bố vào năm 2019 bởi Trung tâm nghiên cứu PewHội đồng các vấn đề toàn cầu Chicago (Mỹ) cho thấy rằng có tới 63% người dân Hàn Quốc giữ quan điểm tiêu cực về Trung Quốc.[165] Sang đến năm 2020, tình hình tiếp tục diễn biến theo hướng tiêu cực, với gần 60% người dân Hàn Quốc xem Trung Quốc (một trong những đối tác thương mại lớn nhất) là 'đối thủ', 75% cho biết họ có 'ác cảm' đối với người Trung Quốc, 83% không có niềm tin vào Chủ tịch Tập Cận Bình trong việc xử lý các vấn đề quốc tế, tỷ lệ người Hàn có thiện chí với Trung Quốc chỉ ở mức 24%, đồng thời liên tục giảm mạnh qua từng năm - tập trung vào giới trẻ.[166] Cũng trong một cuộc khảo sát khác được báo Dong-a Ilbo thực hiện cùng năm, gần 53% người Hàn Quốc nói họ ủng hộ quốc gia tham gia vào nỗ lực chống lại Bắc Kinh của chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden, đặc biệt với nhóm ở độ tuổi 20, tỷ lệ này tăng lên 66%.[166] Hai quốc gia hiện nay cũng đang tranh chấp chủ quyền của bãi đá ngầm Socotra trên biển Hoàng Hải và xảy ra nhiều tranh cãi xung quanh nguồn gốc của các món ăn nổi tiếng như kim chi, canh Samgyetangbánh gạo (Tteokbokki) - vốn từ lâu đã được coi là một biểu tượng của đất nước, văn hóa cũng như nền ẩm thực Hàn Quốc.[167][168][169][170]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tương tự như Trung Quốc, mối quan hệ giữa Hàn Quốc và Việt Nam trước năm 1975 là cực kỳ thù địch, khi đó, Việt Nam đang trong nội chiến - với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một chính thể có chung tư tưởng, ý thức hệ, duy trì quan hệ ngoại giao, là đối tác thương mại, kinh tế, quân sự của Bắc Triều Tiên trong khi Hàn Quốc thì cùng với Quân lực Thế giới Tự do - đưa quân đội trực tiếp can thiệp vào chiến tranh Việt Nam, đồng thời là một đồng minh thân cận của chính thể Việt Nam Cộng hòa. Sau năm 1975, cùng với những sự khác biệt về quan điểm chính trị kết hợp với hàng loạt chính sách bao vây, cấm vận kinh tế Việt Nam từ phía Mỹ, quan hệ giữa nhà nước Việt Nam thống nhất và Hàn Quốc tiếp tục bế tắc và ngày càng trở nên khó khăn. Vào đầu những năm 1980, khi Mỹ bắt đầu nới lỏng các chính sách cấm vận vì lý do thiếu lương thực phục vụ cho quân đội trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, mối quan hệ này đã dần được cải thiện đáng kể, hàng hoá của Việt Nam vào thị trường Hàn Quốc thời bấy giờ chủ yếu là gạolúa. Cho đến năm 1990, khi Việt Nam đã thực hiện chính sách mở cửa thì mối quan hệ này đã dần tốt hơn, đồng thời, sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Hàn Quốc thì chính phủ Hàn Quốc ngay sau đó đã cùng với các doanh nghiệp nước này ào ạt tiến hành đầu tư vào Việt Nam, xuất phát từ cơ sở hạ tầng, giáo dục, thành lập các công ty liên doanh Việt - Hàn, cho đến hợp tác phát hành, xuất khẩu và truyền bá rộng rãi các thể loại phim ảnh, chương trình truyền hình, âm nhạc, văn hóa... vào thị trường Việt Nam và ngược lại, nhiều người Việt Nam - đặc biệt là lớp trẻ - cũng chọn Hàn Quốc là điểm đến để du lịch, nghiên cứu, khám phá, học tập, định cư, làm việc,...[171] Sang tới đầu năm 1996, ngôi trường được Hàn Quốc đầu tư 100% vốn tại Việt Nam đầu tiên đã được khánh thành nhằm tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ hữu nghị Việt - Hàn.

Việt Nam còn được biết đến là một quốc gia Đông Nam Á có nhiều nét văn hóa đặc trưng tương đồng nhất với Hàn Quốc, phong tục tập quán, ngày lễ cũng như các hoạt động dân dã vì cùng nằm trong vùng văn hóa Đông Á ảnh hưởng bởi Nho giáoPhật giáo. Người Việt cũng có tính cách quyết tâm, cố gắng phấn đấu, chịu khó và ham học hỏi - điều mà mỗi dân tộc Á Đông đều quý trọng đặc biệt là Hàn Quốc - quốc gia luôn có quan niệm cứng rắn trong việc xây dựng chính sách kinh tế theo đường lối khắc khổ, đề cao sự tự cường, tự lực, tận tâm và cống hiến.

Ngoài ra, ban đầu; hình ảnh, văn hóa, thời trang, lối sống kiểu Hàn Quốc còn thâm nhập, truyền bá nét đặc trưng của mình vào cuộc sống của người Việt (đặc biệt là thế hệ trẻ) một cách mạnh mẽ và sâu rộng, nhưng sau đó; chính phía Hàn Quốc lại có chiều hướng bị hình ảnh Việt Nam chinh phục, ví dụ, nhiều người Hàn như sinh viên, doanh nhân, nghệ sĩ (đặc biệt là tầng lớp những người trẻ tuổi) đều chọn Việt Nam làm điểm đến để du lịch, sinh sống và khởi nghiệp lâu dài[172], ngoài ra, các giá trị lịch sử, văn hóa nghìn năm của người Việt, nét đặc trưng lâu đời cũng là một khía cạnh quan trọng mà phía Hàn Quốc còn phải học hỏi thêm từ phía Việt Nam để cải thiện văn hóa của chính mình ngày càng tốt hơn nữa.

Tính đến năm 2018, Việt Nam đã đón tổng cộng 3.485.406 lượt khách Hàn Quốc sang du lịch, con số này chỉ đứng sau khách Trung Quốc (4.966.468). Các chuyến bay từ Việt Nam đến Hàn Quốc chiếm 44,5% lưu lượng xuất cảnh ra nước ngoài trong năm 2018. Ngược lại, bên phía Hàn Quốc, thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đà LạtHội An là những điểm đến hàng đầu mà khách du lịch nước này lựa chọn muốn ghé thăm khi đến Việt Nam. Từ năm 2011 đến nay, Hàn Quốc luôn giữ vững ngôi vị là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Năm 2017, tổng kim ngạch thương mại hai nước đạt 64 tỷ USD, nhờ đó, phía Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ tư của Hàn Quốc. Ngược lại, Hàn Quốc cũng là bạn hàng thương mại lớn thứ hai của Việt Nam. Hàn Quốc đứng thứ 2 về lượng vốn hỗ trợ ODA cho Việt Nam chỉ sau Nhật Bản. Quy mô trao đổi thương mại giữa Việt Nam - Hàn Quốc chiếm hơn 40% tổng quy mô trao đổi thương mại giữa Hàn Quốc và các nước ASEAN. Theo những số liệu thống kê từ các cơ quan truyền thông và chuyên gia kinh tế thì hiện nay, Samsung của Hàn Quốc là tập đoàn có mức đóng góp nhiều nhất vào tổng giá trị GDP của Việt Nam trong năm 2018 với 28% và đồng thời cũng liên tục giữ vững danh hiệu là doanh nghiệp FDI có quy mô lớn nhất tại quốc gia này, có nhiều đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu hàng năm cũng như thị trường lao động[173][174][175]. Ngoài ra, trong những năm gần đây, văn hóangôn ngữ Hàn Quốc (Hàn Quốc học) đang nổi lên như một ngành học, nghề "hot" tại Việt Nam - không chỉ được Bộ Giáo dục Việt Nam đưa vào giảng dạy ở tất cả các cấp bậc trong hệ thống giáo dục, từ tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông (theo hình thức 'ngôn ngữ tự chọn' và 'ngoại ngữ phụ bắt buộc')[176][177][178] cho đến đại học, mà còn có mức tiêu chuẩn đầu vào khắt khe, cạnh tranh nhất[179] đồng thời là một trong những chuyên ngành học thuật bậc đại học được sinh viên Việt Nam lựa chọn theo đuổi nhiều nhất hiện nay.[180]

Bên cạnh những thành tựu to lớn cũng như mặt tích cực, quan hệ ngoại giao Việt-Hàn hiện nay cũng phải đối mặt với nhiều thách thức mới, trong đó đặc biệt là tỷ lệ tội phạm đang gia tăng "chéo" một cách nhanh chóng, phức tạp ở cả 2 quốc gia,[181] đồng thời, sự can thiệp của quân đội Hàn Quốc trong chiến tranh Việt Nam vẫn luôn là một quá khứ đau thương, chủ đề nhạy cảm trong quan hệ ngoại giao giữa 2 đất nước.

Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống Moon Jae-in cùng Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tại Nhà Trắng vào ngày 30 tháng 6 năm 2017.

Mối quan hệ chặt chẽ giữa hai nước được bắt đầu từ ngay khi kết thúc Thế Chiến II, sau khi Nhật đầu hàng và trao trả độc lập cho toàn bộ bán đảo Triều Tiên. Theo quyết định của Hội nghị Yalta, Hoa Kỳ tạm thời tiếp quản miền nam bán đảo Triều Tiên trong vòng ba năm, trong khi đó Liên Xô tiếp quản miền Bắc. Năm 1948, với sự ủng hộ của Mỹ, Lý Thừa Vãn đã thành lập nên nhà nước Đại Hàn Dân Quốc (Hàn Quốc). Khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ vào năm 1950, quân đội Hoa Kỳ cùng đồng minh đã được gửi đến để giúp đỡ nhà nước cùng quân đội Hàn Quốc non trẻ chống lại các cuộc tấn công từ phía Bắc Triều Tiên. Sự tham chiến của Hoa Kỳ đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ngăn chặn thất bại gần như chắc chắn của Hàn Quốc trước sức tấn công từ phía quân đội Bắc Triều Tiên. Sau chiến tranh, Hoa Kỳ và Hàn Quốc thành lập Liên minh quân sự chung, ký kết Hiệp ước Phòng thủ chung. Ngày nay, Lầu Năm Góc vẫn tiếp tục duy trì một số lượng rất lớn binh sĩ, quân nhân, nhân viên, chuyên gia,... cùng các căn cứ quân sự trên khắp lãnh thổ Hàn Quốc, đồng thời, Hạm đội 7 trực thuộc Hải quân Hoa Kỳ cũng sẽ phụ trách việc bảo đảm an ninh quân sự, an toàn hàng hải cho các vùng biển xung quanh Hàn Quốc, ngoài ra, lực lượng này cũng sẵn sàng hành động - nếu như trong trường hợp có xảy ra xung đột vũ trang hoặc đồng minh Hàn Quốc bị tấn công phủ đầu. Tại hội nghị thượng đỉnh G-20 năm 2009 tại thủ đô Luân Đôn, Vương quốc Anh, Tổng thống Barack Obama trong tuyên bố của mình đã nhấn mạnh rằng:[52]

Hàn Quốc là một trong những nước đồng minh không thuộc khối NATO quan trọng của Hoa Kỳ cùng với các quốc gia: Argentina, Australia, Bahrain, Israel, Nhật Bản, Jordan, Kuwait, Maroc, New Zealand, Philippines, và Thái Lan. Lãnh thổ Hàn Quốc hiện nay cũng đang nằm dưới "Ô bảo vệ Hạt Nhân" của Hoa Kỳ cùng với khối NATO, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ và Úc.

Mặc dù 2 nước duy trì mối quan hệ đồng minh thân cận trong phần lớn các đời Tổng thống Mỹ, tuy nhiên, dưới thời Tổng thống Donald Trump, mối quan hệ này đứng trước nguy cơ rạn nứt do Hàn Quốc và Mỹ xảy ra nhiều bất đồng, tranh cãi xung quanh việc chi trả chi phí hoạt động cho các lực lượng quân đội Mỹ đồn trú tại Hàn Quốc (United States Forces Korea - USFK), hay còn được gọi là "phí bảo vệ". Nhiều cuộc đàm phán song phương cấp cao đã được tiến hành, một số thỏa thuận đã được thông qua[182][183], tuy nhiên; giữa 2 đồng minh vẫn không thể tìm được tiếng nói chung.[184][185][186] Hiện nay, sau thời kỳ cầm quyền của ông Trump, tân Tổng thống Joe Biden và chính quyền Seoul đã xử lý thành công vấn đề trên, qua đó, Hàn Quốc đồng ý đóng góp 1,03 tỷ USD - tăng 13,9% so với năm 2020 (nhưng vẫn thấp hơn rất nhiều so với con số 5 tỷ USD mà cựu Tổng thống Trump yêu cầu trước đó), cho các lực lượng Mỹ đồn trú tại nước này trong năm 2021.[187]

Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Hoa Kỳ tại Hàn Quốc hiện nay là ông Harry B. Harris Jr. - người được cựu Tổng thống Donald Trump bổ nhiệm và nhậm chức vào năm 2018.[188]

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Những người phụ nữ Hàn Quốc trong trang phục truyền thống Hanbok.

Dân cư, nhân khẩu và sắc tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 4 năm 2016, dân số Hàn Quốc được Văn phòng Thống kê Quốc gia ước tính là khoảng 50,8 triệu người, với dân số ở trong độ tuổi lao động và tổng tỷ suất sinh tiếp tục có xu hướng suy giảm.[189] Hàn Quốc là nước có mật độ dân số rất cao, ước tính lên tới 505 người trên mỗi km² vào năm 2015, nhiều hơn 10 lần so với mức trung bình toàn cầu. Hầu hết người Hàn Quốc sống ở khu vực thành thị, do quá trình di cư ồ ạt khỏi các vùng nông thôn trong quá trình mở rộng kinh tế nhanh chóng của đất nước trong những năm 1970, 1980 và 1990[190]. Thành phố thủ đô là Seoul cũng là thành phố lớn nhất và là trung tâm công nghiệp chính của đất nước. Theo điều tra dân số năm 2005, khu vực nội thành Seoul có dân số hơn 10 triệu người. Khu vực đô thị Seoul có hơn 30 triệu dân (khoảng hơn một nửa dân số Hàn Quốc), trở thành khu vực đô thị lớn thứ hai trên thế giới, chỉ xếp sau vùng thủ đô Tokyo của Nhật Bản. Các thành phố lớn khác bao gồm Busan (3,5 triệu), Incheon (3,0 triệu), Daegu (2,5 triệu), Daejeon (1,4 triệu), Gwangju (1,4 triệu) và Ulsan (1,1 triệu).[191]

Trong thành phần dân cư của Hàn Quốc thì người Triều Tiên chiếm đại đa số với gần 99%[12], đây là một quốc gia dân tộc đồng nhất, nhóm dân tộc thiểu số duy nhất là một bộ phận nhỏ người gốc Hoagốc Nhật. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á năm 1997, Hàn Quốc cùng với Nhật Bản là hai quốc gia sớm khắc phục được khủng hoảng, vì vậy mà một số lượng lớn lao động từ các nước châu Á khác (như Trung Quốc, Philippines, Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia, Myanmar, Lào, Campuchia, Đông Timor,...) cũng như từ các nước thuộc khu vực châu Phi đã đổ về đây để tìm kiếm việc làm trong các bộ phận tại những nhà máy công nghiệp nặng lớn. Một bộ phận không nhỏ người Mỹ, Pháp, Ý, Nhật, Tây Ban Nha, Anh, Ả-rập, Trung Đông, da màu,... cũng đang sống, học tập và làm việc tại Hàn Quốc, họ tập trung tại một khu vực của thành phố Seoul, ví dụ như một khu phố kinh doanh trung tâm rất nổi tiếng có tên là 'Itaewon' (Lê Thái Viện), ở đây, người ta cũng có thể tìm thấy một khu "Làng Liên Hiệp Quốc" bên cạnh rất nhiều đại sứ quán và các công ty nước ngoài.

Tình trạng lão hóa dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Tỷ lệ sinh của Hàn Quốc là thấp nhất thế giới trong năm 2009[192]. Nếu tỷ lệ này tiếp tục được duy trì, dân số của Hàn Quốc dự kiến sẽ giảm 13% xuống còn 42,3 triệu người vào năm 2050[193]. Tỷ lệ sinh trung bình hàng năm của Hàn Quốc là khoảng 9 ca sinh trên 1000 người[194][195]. Tuy nhiên, tỷ lệ sinh đã tăng 5,7% kể từ năm 2010 và Hàn Quốc không còn là quốc gia có tỷ lệ sinh thấp nhất thế giới nữa[196]. Theo báo cáo năm 2011 từ The Chosun Ilbo, tổng tỷ suất sinh của Hàn Quốc (1,23 trẻ em sinh ra trên mỗi phụ nữ) cao hơn so với Đài Loan (1,15) và Nhật Bản (1,21)[197]. Tuổi thọ trung bình của người dân Hàn Quốc trong năm 2008 là 79,10 tuổi (đứng thứ 34 trên thế giới)[198] nhưng đến năm 2015 đã tăng lên 81 tuổi[199]. Hàn Quốc là nước có sự sụt giảm mạnh nhất về dân số ở độ tuổi lao động trong số các quốc gia thuộc OECD.[200][201][202] Năm 2015, Cục Thống kê Quốc gia ước tính rằng dân số của đất nước sẽ đạt đến đỉnh điểm vào năm 2035.[189]

Vấn nạn "hôn nhân mua bán"[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm gần đây, với tỷ lệ chênh lệch giới tính, sự bất bình đẳng giai cấp trong xã hội, chi phí sinh hoạt, nuôi dạy con cái ngày một tăng cao kết hợp cùng xu hướng muốn theo đuổi lối sống độc thân, tự chủ, tự do của nữ giới đã dẫn đến hệ quả là một số lượng lớn nam giới Hàn Quốc (phần lớn sống ở khu vực nông thôn hoặc có thu nhập ở mức thấp[64]) gặp khó khăn, không muốn hoặc không thể tìm kiếm được bạn đời cho riêng mình[58], tình trạng này sau đó trở nên nghiêm trọng đến nỗi; chính phủ Hàn Quốc đã phải vào cuộc để nghiên cứu, đề xuất giải pháp "giải cứu" cho những nam giới này, qua đó, các "nam nhân quá tuổi" sẽ được chính quyền địa phương hỗ trợ một khoản chi phí để sang "mua vợ" tại các nước đang phát triển, những khu vực, quốc gia có con người, văn hóa, phong tục tập quán gần gũi với Hàn Quốc như Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Uzbekistan và Philippines,... thường được họ ưu tiên chọn lựa để tiến hành các cuộc "hôn nhân mua bán". Mặc dù bước đầu cơ bản giải quyết được các vấn đề xã hội và ổn định dân số, thế nhưng, những cuộc hôn nhân trên thường đem lại nhiều hệ lụy đáng tiếc do sự khác biệt về văn hóa, lối sống, sự bất đồng trong ngôn ngữ cùng thái độ coi thường, kỳ thị "con lai" và tư tưởng "trọng nam" của nam giới, những người bảo thủ theo Chủ nghĩa thuần huyết Triều Tiên; xã hội cũng như văn hóa gia đình Hàn Quốc, đồng thời góp phần khiến cho tỷ lệ dân nhập cư và số lượng các gia đình đa chủng tộc tại đất nước này đang ngày một tăng cao.[203][204][205]

Quá trình di dân[sửa | sửa mã nguồn]

Ngược lại cũng có rất nhiều người Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên hiện đang sinh sống, học tập, làm việc tại nước ngoài, ví dụ như tại Trung Quốc và nhiều nước thuộc vùng Trung Á (nguyên nhân bắt nguồn từ việc nhà độc tài Liên Xô cũ Stalin đã đưa hàng ngàn người Triều Tiên tới đó trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai và đặc biệt, Trung Quốc đại lục và chính tại Hàn Quốc là nơi có đông đảo cộng đồng người đào tẩu Bắc Triều Tiên đang lao động). Trong thời kỳ bị Nhật đô hộ, một số lượng rất lớn người Hàn/Triều Tiên cũng đã bị đưa sang Nhật Bản. Sau Thế Chiến 2, sự bất ổn về chính trị, xã hội và kinh tế trong nước đã dẫn tới việc nhiều người Hàn Quốc đã di cư sang châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản, Canada, Nga và Hoa Kỳ. Từ khi tình hình trong nước trở lại ổn định, một số đã trở về lại quê hương và mang cho mình hai quốc tịch, thị thực. Những người gốc Hàn (Hàn Kiều) nổi tiếng trên thế giới có thể kể đến như: Son Masayoshi - tỷ phú, doanh nhân, lập trình viên, nhà phát minh, nhà đầu tư, nhà kinh tế học, nhà sáng lập và đồng thời là tổng giám đốc điều hành (CEO) của tập đoàn viễn thông đa quốc gia Nhật Bản SoftBank, chủ tịch đương nhiệm của Sprint CorporationSoftBank Mobile, nhà từ thiện nổi tiếng - người giàu nhất Nhật Bản[206][207] và bản thân ông cũng là một trong những Hàn Kiều, nhà đầu tư nổi tiếng và quyền lực nhất trên thế giới nói chung cũng như trong giới công nghệ nói riêng theo đánh giá và xếp loại của tạp chí Forbes danh tiếng[208], Taizo Son - tỷ phú, doanh nhân, nhà đầu tư người Nhật gốc Hàn, CEO của Mistletoe Inc., chủ tịch của công ty game di động GungHo Inc. - em trai của Masayoshi Son[209], giáo sư Jim Yong Kim - Giáo sư y khoa, trưởng khoa Y tế toàn cầu và Y khoa xã hội tại trường Đại học Y trực thuộc Viện Đại học HarvardWHO, hiệu trưởng thứ 17 và gốc Á đầu tiên của trường Đại học Dartmouth, cựu Chủ tịch của World Bank[210]nhóm Ivy League, Margaret Cho, Ken Jeong - các diễn viên hài kịch nổi tiếng, Herbert Choy - cựu thẩm phán Tòa án Tối cao Liên bang Hoa Kỳ, Steven Choi - chính trị gia hàng đầu về chính sách thuộc Đảng Cộng hòa Hoa Kỳ, Paull Shin - chính trị gia, thành viên, cựu Chủ tịch của Thượng viện tiểu bang Washington, người Mỹ gốc Hàn đầu tiên từng được bầu vào cơ quan lập pháp của bang Washington, Han Hyun-min - người mẫu da màu đầu tiên của Hàn Quốc[211] có vinh dự được xuất hiện trong danh sách '30 thanh thiếu niên có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2017'[212][213][214], Lee Isaac Chung - đạo diễn điện ảnh nổi tiếng, Jonny Kim - bác sĩ, nhà tâm lý học, Trung úy phục vụ trong lực lượng đặc biệt của Hải quân Hoa Kỳ, cựu lính đặc nhiệm SEAL, nhà du hành vũ trụ trực thuộc Cơ quan Hàng không Vũ trụ và Không gian Quốc gia Hoa Kỳ (NASA), các nam tài tử Steven Yeun, John ChoRandall Park - diễn viên nổi tiếng,...

Áp lực cuộc sống và nạn tự sát[sửa | sửa mã nguồn]

Xã hội Hàn Quốc hiện đại tạo nên những áp lực rất lớn trong cuộc sống, từ học tập, thi cử, cho tới kiếm việc làm, kết hôn và sinh, nuôi dạy con cái...[215][216][217] Do các áp lực này, tỷ lệ tự sát tại Hàn Quốc cũng luôn thuộc mức rất cao trên thế giới. Năm 2012, tỷ lệ tự sát tại Hàn Quốc là 28,9 vụ/100.000 dân, cao hơn nhiều so với mức 12,1 vụ của Mỹ, 7,8 vụ của Trung Quốc và cao hơn 2,5 lần so với mức trung bình trên toàn cầu. Tự sát là nguyên nhân số một trong những ca tử vong của thanh thiếu niên (từ 15 tới 30 tuổi).[218][219][220] Ngoài ra, một bộ phận giới trẻ Hàn Quốc ngày nay đang có xu hướng gia tăng bạo lực trong tính cách và hành vi, nguyên nhân chính cũng xoay quanh sự bế tắc, bất lực do áp lực cuộc sống, xuất phát từ khủng hoảng việc làm.[221]

Hiện nay, ngày càng có nhiều người già, người cao tuổi Hàn Quốc đang phải sống, làm các công việc chân tay nặng nhọc, thậm chí nhạy cảm[222][223] và cuối cùng là vào tù do phạm pháp[224][225][226] hoặc qua đời trong cô độc[227], đây là một trong những tồn tại nhức nhối của xã hội mà chính phủ Hàn Quốc vẫn đang loay hoay tìm cách giải quyết. Những biến động ở Hàn Quốc vốn đã nhen nhóm từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối những năm 1997 làm nhiều người mất việc và điều này khiến cho họ bị tụt lại trong sự cạnh tranh gay gắt của xã hội. Nhiều người cao tuổi không có tiền tiết kiệm khi về hưu, họ gặp khó khăn nghiêm trọng về tài chính trong khi con cái lại không đủ khả năng chu cấp cho cha mẹ, kết hợp với tâm lý, văn hóa "không muốn trở thành gánh nặng cho con cháu" đã khiến cho vấn đề trên ngày càng trầm trọng. Trợ cấp xã hội dành cho những người ngoài độ tuổi 50 chỉ ở mức tương đối thấp. Chỉ số Hưu trí toàn cầu Mercer Melbourne 2015 xếp hạng Hàn Quốc đứng thứ 24 trong 25 quốc gia có nền kinh tế lớn, chỉ cao hơn Ấn Độ. Năm 2014, chỉ 45% người Hàn Quốc trong độ tuổi từ 55 đến 79 có lương hưu và chi tiêu trung bình hàng tháng của họ là 431 USD, bằng 82% mức chi phí sinh hoạt tối thiểu cho một người. Khoảng 30% người cao tuổi có thu nhập hàng tháng dưới mức 'nghèo tuyệt đối' - theo quy chuẩn của chính phủ Hàn Quốc. Cứ 4 người cao tuổi Hàn Quốc lại có một người mắc chứng trầm cảm, tỷ lệ tự sát của nhóm người cao tuổi cao gấp đôi so với mức trung bình cả nước.

Hàn Quốc là nước xếp cao nhất trong các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và liên tục có số vụ tự sát thuộc hàng đầu trong các nước phát triển. Nhà ga tàu điện ngầm ở Seoul đã phải dựng hàng rào chắn để ngăn chặn những người mắc bệnh trầm cảm có thể nhảy xuống bất kỳ lúc nào khi tàu đến và toàn bộ 8 cây cầu trong thành phố đều được lắp đặt dày đặc các hệ thống camera CCTV nhằm phát hiện nhanh người có ý định tự sát. Quốc gia này là nơi thường xuyên diễn ra các vụ tự tử của sinh viên, ca sĩ, người mẫu, diễn viên, vận động viên thể thao, các chính trị gia và những người nổi tiếng, trong đó bao gồm cả vụ tự sát nổi tiếng của cựu tổng thống Roh Moo-hyun vào năm 2009.[228]

Trong chưa đầy 4 tháng đầu năm 2011, bốn sinh viên và một giáo sư của Viện Đại học Kaist - ngôi trường danh tiếng bậc nhất Hàn quốc - đã lần lượt tự sát.[229] Vào ngày 18 tháng 12 năm 2017, Kim Jong-hyun, giọng ca chính của nhóm nhạc Shinee, đã tự tử ở tuổi 27, anh được các nhân viên y tế phát hiện trong tình trạng bất tỉnh sau khi gửi thư tuyệt mệnh cho em gái và sau đó được tuyên bố là đã qua đời trên đường đi đến bệnh viện. Vào ngày 21 tháng 1 năm 2018, nam diễn viên Jun Tae-soo đã tự tử ở tuổi 33, sau một thời gian chiến đấu với căn bệnh trầm cảm nghiêm trọng. Vào ngày 29 tháng 6 năm 2019, nữ diễn viên gạo cội Jeon Mi-seon tự tử không rõ nguyên nhân ở tuổi 48. Vào ngày 14 tháng 10 năm 2019, Sulli Choi, một nữ diễn viên và cựu thành viên của ban nhạc F(x), đã tự tử ở tuổi 25, nguyên nhân được xác định cũng là do trầm cảm. Vào ngày 24 tháng 11 năm 2019, Goo Hara, một nữ diễn viên và cựu thành viên của ban nhạc Kara, đã tự tử ở tuổi 28, trước đó, cô đã cố gắng tự kết liễu cuộc đời mình một lần - vào ngày 26 tháng 5 năm 2019, nhưng được người quản lý phát hiện kịp thời và đưa đến bệnh viện. Ngày 9 tháng 7 năm 2020, thị trưởng thành phố Seoul đương nhiệm Park Won-soon bất ngờ tự tử ở tuổi 64[230], trước đó, ông để lại di thư nhưng không nói rõ lý do tại sao bản thân lại tự tìm đến cái chết[231], ngay sau khi cảnh sát đưa ra thông báo kết luận rằng ông tự sát[232], đã bắt đầu xuất hiện rất nhiều giả thuyết, lời đồn đoán cũng như tranh cãi về nguyên nhân đứng đằng sau sự ra đi của thị trưởng Park, theo đó, ông có thể lựa chọn tự tử vì không thể chịu được những áp lực cũng như sức ép khi phải đối mặt với hàng loạt các cáo buộc liên quan đến quấy rối tình dụcgian lận tài chính[233].

Theo một chuyên gia về tâm thần học tại Đại học Quốc gia Seoul và cũng là thành viên trong Hiệp hội ngăn chặn tự sát ở Hàn Quốc, tự sát tập thể khá phổ biến ở nước này và có xu hướng tăng cao[234]. Tỷ lệ này tăng mạnh sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và tiếp tục tăng sau đó.[235] Trong vòng 5 năm trước 2007, tỷ lệ tự sát ở Hàn Quốc tăng gấp đôi.[236] Năm 2011, trước tình hình này, một số người đứng ra tổ chức những khoá học chết thử, với lý do "trải nghiệm cảm giác sắp chết sẽ mang lại ý nghĩa về sự sống cho tất cả mọi người, bất kể họ già hay trẻ". Mục đích của chương trình này là muốn người tham gia "nghĩ về cuộc sống và tận hưởng nó một cách có ý nghĩa hơn" thay vì tìm đến cái chết.[235]

Ở các gia đình có 2 vợ chồng cùng đi làm, đàn ông chỉ dành khoảng 40 phút làm việc nhà hoặc trông con, ít hơn so với phụ nữ là trung bình 3 giờ một ngày. Theo thống kê, số giờ làm việc trung bình của người Hàn Quốc là 2.113 giờ một năm, đứng thứ hai trong số các quốc gia thành viên Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và chỉ xếp sau México[237]. Tuy nhiên, nhiều cuộc khảo sát gần đây đã cho thấy thực tế còn tệ hơn và có xu hướng giống Nhật Bản, nơi thường xuyên có người lao động chết hoặc tự kết liễu bản thân do lao lực, căng thẳng tâm lý và kiệt sức. Đã xuất hiện cụm từ mới phản ánh tình trạng này ở Hàn Quốc là "Kawarosa" (có nghĩa là chết vì làm việc quá sức trong tiếng Hàn).[238][239][240]

Hàn Quốc đã thực hiện Chiến lược ngăn ngừa tự tử (STOPS) nhằm tăng cường nhận thức của cộng đồng và sự hỗ trợ của chính phủ trong vấn đề phòng chống nạn tự sát[241]. Những biện pháp này đã đem lại hiệu quả rất tích cực, kể từ năm 2010, tỷ lệ tự tử ở Hàn Quốc đã giảm mạnh, cả hai thành phố lớn nhất của Hàn Quốc là Busan và Incheon đã thực hiện tích cực các chương trình ngăn ngừa tự tử. Việc cấm lưu hành một loại thuốc diệt cỏ mang nhiều thành phần chất chứa độc tính cao có tên gọi là Paraquat được coi là chìa khóa trong việc giảm mạnh tỷ lệ tự sát ở nơi đây. Từ khoảng năm 2011 đến 2015, tỷ lệ tử vong do tự tử ở Hàn Quốc đã giảm gần 15%, theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2017 cho biết. Ông Moon Jae-in - Tổng thống Hàn Quốc nhậm chức trong năm 2018, đã cam kết sẽ hạ thấp tỷ lệ tự tử xuống còn 20 vụ trên 100.000 người vào năm 2020.[242]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn giáo tại Hàn Quốc (2015)[2]

  Không tôn giáo (56.1%)
  Tin Lành (19.7%)
  Phật giáo (15.5%)
  Công giáo Rôma (7.9%)
  Khác (0.8%)

Theo số liệu thống kê đến năm 2015 do chính phủ Hàn Quốc cung cấp, có khoảng 56,1% công dân cho biết họ theo Chủ nghĩa vô thần - tức không đặt niềm tin hay tuân theo bất kỳ một tín ngưỡng, tôn giáo nào. Người theo đạo Cơ đốc (Kitô giáo) chiếm 27,6% dân số (trong số đó là đạo Tin Lành 19,7%, Công giáo 7,9%) và 15,5% là Phật tử[243]. 0,8% còn lại theo các tôn giáo thiểu số khác như Đạo giáo, Vu giáo hay Shaman giáo.

Tại Hàn Quốc có khoảng 40.000 người bản địa theo Hồi giáo (khoảng 0,09% dân số), bổ sung vào con số hơn 100.000 lao động nước ngoài từ các quốc gia Hồi giáo[244]. Hàn Quốc cũng là quốc gia có dân số theo đạo Công giáo đông thứ năm ở châu Á (sau Philippines, Ấn Độ, Trung Quốc và Indonesia).

Nhiều người dân Hàn Quốc không đặt nặng vấn đề tôn giáo, họ tổ chức ngày lễ của nhiều tôn giáo khác nhau. Việc pha trộn tôn giáo này vấp phải sự phản đối kịch liệt của hơn 100.000 tín đồ Nhân chứng Giê-hô-va. Những nghi lễ cổ truyền vẫn còn được duy trì. Các giá trị của đạo Khổng hiện nay vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống thường ngày của người dân xứ Hàn.

Người dân Hàn Quốc được hưởng tự do tôn giáo ở mức độ cao, tuy nhiên, những vấn nạn, bê bối liên quan đến các giáo phái cuồng giáo luôn luôn là một trong những vấn đề gây nhức nhối, ám ảnh trong xã hội nước này.[245]

Thành tựu[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù còn nhiều tồn tại, góc khuất cũng như hạn chế, tuy nhiên; xã hội Hàn Quốc vẫn có những mặt tích cực đáng ghi nhận. Hàn Quốc là một trong những quốc gia có tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh thấp nhất trên thế giới, với chỉ 3,03%[246][247]. Quốc gia này cũng đứng thứ 4 châu Á sau Singapore, Nhật Bản và Hồng Kông, giữ hạng 9 toàn cầu về tuổi thọ trung bình của người dân (đồng hạng với Israel).[28][29] Tỷ lệ tội phạm giết người có chủ đích tính riêng trong phạm vi lãnh thổ Hàn Quốc năm 2018 là 0.60% - mức 'rất thấp' theo nghiên cứu và công bố của Văn phòng Liên Hiệp Quốc về chống Ma túy và Tội phạm (UNODC).[248][249] Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức rất cao[26], đồng thời gần như không có người mù chữ - với tỷ lệ biết chữ đạt 99% dân số trong năm 2020.[250]

Theo một loạt các cuộc khảo sát được tiến hành bởi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn QuốcViện nghiên cứu Gallup (Mỹ) vào năm 2019 cho kết quả: 82% người Hàn Quốc được hỏi đã trả lời rằng Hàn Quốc là một nơi đáng để sinh sống, 63.6% số người được hỏi trả lời rằng họ cảm thấy ổn và tương đối hài lòng với cuộc sống hiện tại. Cũng theo Báo cáo Hạnh phúc toàn cầu năm 2019 của Liên Hợp Quốc, Hàn Quốc là quốc gia hạnh phúc thứ 54 trên thế giới[251]. Năm 2020, đất nước này đứng thứ 2 châu Á (sau Nhật Bản) và hạng 17 thế giới về Chỉ số tiến bộ xã hội (Social Progress Index).[48][49][50]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Đại học Quốc gia Seoul được xem là trường đại học danh giá nhất tại Hàn Quốc.

Hệ thống trường học hiện đại ở Hàn Quốc bao gồm có sáu năm tiểu học, ba năm trung học cơ sở và ba năm trung học phổ thông. Học sinh bắt buộc phải học tiểu học và trung học cơ sở nhưng không phải trả chi phí giáo dục, ngoại trừ một khoản phí nhỏ gọi là "phí hỗ trợ các hoạt động của nhà trường". Khoản phí này khác nhau tùy theo từng trường học. Chương trình đánh giá học sinh quốc tế - do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thế giới (OECD) khởi xướng và chỉ đạo - hiện đang xếp hạng giáo dục khoa học của Hàn Quốc tốt thứ ba trên thế giới và cao hơn mức trung bình của OECD.[252][253]

Trong năm 2015, quốc gia này đã chi 5,1% GDP cho tất cả các cấp cũng như hoạt động giáo dục - cao hơn khoảng 0,8 điểm phần trăm so với mức trung bình của OECD (4,3%). Giáo dục là chìa khóa giúp cho đất nước vốn nghèo tài nguyên thiên nhiên này[254], từ một vùng đất hoang tàn do chiến tranh, nhanh chóng phát triển thịnh vượng trong suốt hơn 60 năm qua nhưng đồng thời cũng tồn tại nhiều mặt tối.[255] Sang đến năm 2019, con số này đã tăng lên mức 6,3%[256] - vượt xa so với các nước cùng khu vực[257] và 2020 tiếp tục tăng thêm 2,6% - lên mức 8,9%.[258]

Cũng trong năm 2020, chính phủ Hàn Quốc chi ra tổng cộng 4,81% GDP cho nghiên cứuphát triển - con số này cao thứ 2 châu Á cũng như toàn cầu chỉ sau Israel (với 4,95%).[259]

Một chính quyền tập trung ở Hàn Quốc sẽ giám sát quá trình giáo dục trẻ em từ mẫu giáo đến năm thứ ba và năm cuối của trường trung học. Năm học được chia thành hai học kỳ, lần đầu tiên bắt đầu vào đầu tháng ba và kết thúc vào giữa tháng bảy, lần thứ hai bắt đầu vào cuối tháng tám và kết thúc vào giữa tháng hai. Lịch trình không được chuẩn hóa thống nhất và thay đổi từ trường này sang trường khác. Hầu hết các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông của Hàn Quốc đều có đồng phục học sinh, được mô phỏng theo đồng phục kiểu phương Tây. Đồng phục nam thường bao gồm quần dài và áo sơ mi trắng, còn nữ mặc váy và áo sơ mi trắng (điều này chỉ áp dụng ở trường trung học cơ sở và trung học phổ thông).

Năm 2017, thống kê có khoảng 123 nghìn sinh viên quốc tế đang theo học tại các trường Đại học của Hàn Quốc, trong số đó, hơn một nửa đến từ Trung Quốc. Cũng theo Bộ Giáo dục, Khoa học và Công nghệ nước này, số lượng học bổng cho sinh viên nước ngoài tại Hàn Quốc sẽ tăng gấp đôi (tuỳ theo chương trình) theo từng năm và số lượng dự kiến sẽ tăng lên tới hơn 200.000 sinh viên vào năm 2023.[260]

Hàn Quốc là một trong những quốc gia hàng đầu trong OECD về đọc viết, toán học và khoa học với số học sinh trung bình đạt 519, so với mức trung bình 492 của OECD, đứng thứ chín trên thế giới và là một trong những lực lượng lao động có trình độ học vấn cao nhất thế giới trong số các nước OECD[261]. Hàn Quốc cũng rất nổi tiếng với quan điểm "chạy đua" về giáo dục, nơi nỗi ám ảnh quốc gia về vấn đề dạy và học được gọi là "cơn sốt giáo dục"[262]. Tuy vậy, "nỗi ám ảnh" về học tập này về một khía cạnh khác; cũng đem lại thành quả tích cực - đã giúp cho quốc gia nghèo tài nguyên liên tục đứng đầu bảng xếp hạng giáo dục toàn cầu, trong đó, năm 2014, trong bảng xếp hạng Toán họcKhoa học của sinh viên do Tổ chức Hợp tác và Kinh tế và Phát triển (OECD) công bố, Hàn Quốc xếp thứ hai trên toàn thế giới, sau Singapore.[263]

Hàn Quốc cũng xếp thứ hai về toán học và văn học, đứng thứ nhất về giải quyết vấn đề. Mặc dù học sinhsinh viên Hàn Quốc thường được xếp hạng cao trong các bài kiểm tra, cuộc thi kiến thức và so sánh quốc tế, tuy nhiên hệ thống giáo dục đôi khi bị lên án vì tập trung nhấn mạnh vào việc học thụ động và học thuộc lòng. Cũng giống như hệ thống giáo dục tại những quốc gia Đông Á láng giềng khác như Trung Quốc, Việt Nam và Nhật Bản, hệ thống giáo dục, thi cử và tuyển sinh Đại học của Hàn Quốc khắt khe, khắc nghiệt, cạnh tranh và rập khuôn hơn hệ thống giáo dục ở hầu hết các nước phương Tây[264]. Đặc điểm nổi bật nhất của giáo dục Hàn Quốc là sự cạnh tranh khốc liệt. Cuộc đua đến với các trường đại học hàng đầu sớm khởi tranh từ lớp mẫu giáo, trường tiểu học và trung học giống như đấu trường để giành điểm số, nhưng chỉ điểm cao hay vừa đủ đậu là không đủ, điều quan trọng là điểm của mỗi học sinh này phải tốt hơn những người khác. Điểm mấu chốt của nền giáo dục Hàn Quốc là lấy thi cử làm trung tâm. Su-neung (Tu năng), tức kỳ thi tuyển sinh đại học - là cánh cửa duy nhất dẫn học sinh/thanh niên đến với sự nghiệp, tiền tài, thành công, địa vị xã hội và khả năng kết hôn trong cuộc sống. Khi Su-neung diễn ra, học sinh/thí sinh tự do thi liên tục 8 tiếng trong một ngày, cùng vào khoảng thời gian đó, phương tiện giao thông bị cấm bấm còi, hạn chế di chuyển vào những tuyến đường xung quanh địa điểm thi, các văn phòng, công sở bắt đầu vào làm muộn hơn thường nhật, lực lượng cảnh sát, y tế, cứu hỏa, bảo vệ,... túc trực toàn thời gian, sẵn sàng trợ giúp thí sinh khi xảy ra sự cố, máy bay tạm dừng cất/hạ cánh trong thời gian diễn ra phần thi nghe của môn tiếng Anh, các địa điểm tôn giáo như chùa, nhà thờ,... mở cửa nhiều ngày liền để phục vụ nhu cầu tâm linh; như cầu nguyện, cầu may mắn, bình an, thuận lợi,... cho con em mình trong kỳ thi của các bậc phụ huynh. Ngoài ra, việc thành lập các trường tư thục độc lập với học phí cao (Hagwon (학원)) cũng bị các bậc cha mẹ Hàn Quốc lên án như là một vấn đề lớn, nhức nhối của xã hội.[255]

Giáo dục đại học là một vấn đề nghiêm trọng trong xã hội Hàn Quốc, nơi nó được xem là một trong những nền tảng cơ bản của cuộc sống Hàn Quốc. Giáo dục được coi là ưu tiên hàng đầu của các gia đình Hàn Quốc vì thành công trong giáo dục thường là niềm tự hào cho các gia đình và trong xã hội Hàn Quốc nói chung, và là một điều cần thiết để cải thiện vị thế kinh tế xã hội của một người trong xã hội Hàn Quốc. Người Hàn Quốc coi giáo dục là động lực chính cho sự di chuyển xã hội cho bản thân và gia đình như một cửa ngõ cho tầng lớp trung lưu. Tốt nghiệp một trường đại học hàng đầu là điểm đánh dấu cuối cùng của uy tín, tình trạng kinh tế xã hội cao, triển vọng hôn nhân đầy hứa hẹn và con đường sự nghiệp đáng nể. Lối vào một tổ chức giáo dục đại học hàng đầu dẫn đến một công việc uy tín, an toàn và được trả lương cao từ chính phủ, ngân hàng hoặc một tập đoàn lớn của Hàn Quốc như Samsung, Hyundai hoặc LG. Một cuộc sống trung bình của trẻ em Hàn Quốc xoay quanh giáo dục vì áp lực phải thành công trong học tập đã ăn sâu vào tiềm thức chúng từ khi còn nhỏ. Với áp lực lớn đối với học sinh trung học để đảm bảo vị trí tại các trường đại học tốt nhất của quốc gia, danh tiếng tổ chức và mạng lưới cựu sinh viên của trường đó là những dự đoán mạnh mẽ về triển vọng nghề nghiệp trong tương lai. Ba trường đại học hàng đầu ở Hàn Quốc, thường được gọi là "SKY", là Đại học Quốc gia Seoul, Đại học Cao LyĐại học Yonsei. Cạnh tranh khốc liệt để đạt điểm thi cao nhất và áp lực học tập để trở thành sinh viên hàng đầu đã ăn sâu vào tâm lý của các sinh viên Hàn Quốc khi còn trẻ. Có một điều cấm kỵ văn hóa lớn trong xã hội Hàn Quốc gắn liền với những người không đạt được giáo dục đại học chính quy, nơi những người không có bằng đại học phải đối mặt với định kiến ​​xã hội và thường bị người khác coi là công dân hạng hai dẫn đến ít cơ hội việc làm hơn, cũng như khó cải thiện vị trí kinh tế xã hội và triển vọng cho hôn nhân.[265]

Ý kiến ​​quốc tế về hệ thống giáo dục Hàn Quốc hiện đang gây nhiều tranh cãi. Hệ thống này đã được ca ngợi vì nhiều lý do, bao gồm kết quả kiểm tra tương đối cao và vai trò chính của nó trong việc mở ra sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc đồng thời tạo ra một trong những lực lượng lao động có tay nghề, kỹ năng làm việc và khả năng sáng tạo cao nhất trên thế giới theo các nghiên cứu và công bố của Bloomberg L.P. cùng International Innovation Index (chỉ số đổi mới toàn cầu)[266]. Thành tích học tập đáng gờm của Hàn Quốc thậm chí còn đã thuyết phục cả các quan chức trong ngành giáo dục Anh Quốc như Bộ trưởng Bộ giáo dục - tích cực nâng cấp, sửa đổi lại chương trình giảng dạy và các kỳ thi sát hạch của mình để cố gắng bắt kịp với tốc độ phát triển giáo dục của Hàn Quốc[266]. Cựu Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama cũng ca ngợi hệ thống giáo dục nghiêm ngặt của đất nước này, nơi có hơn 80% học sinh tốt nghiệp trung học Hàn Quốc vào đại học[267]. Tỷ lệ tuyển sinh đại học cao của quốc gia này đã tạo ra một lực lượng lao động có tay nghề cao khiến Hàn Quốc trở thành một trong những quốc gia có trình độ học vấn cũng như sáng tạo cao nhất thế giới[268] với tỷ lệ cao nhất trong số các công dân có bằng giáo dục đại học. Trong năm 2017, quốc gia này đứng thứ năm về tỷ lệ phần trăm từ 25 đến 64 tuổi đã đạt được giáo dục đại học với 47,7 phần trăm. Ngoài ra, 69,8% người Hàn Quốc ở độ tuổi 25-34 đã hoàn thành một số hình thức trình độ giáo dục đại học và bằng cử nhân được nắm giữ bởi 34,2% người Hàn Quốc ở độ tuổi 25-64 - tỷ lệ nhiều nhất, cao nhất trong OECD.[269][270]

Những học sinh tiểu học ở Seoul.

Hàn Quốc thường tự hào vì nền công nghiệp giáo dục của mình. Nhưng rồi đất nước này lại đi hơi quá trớn với nó - với 407 trường cao đẳng và đại học được thành lập, kết quả là sinh viên tốt nghiệp quá nhiều khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Giáo dục đã trở thành một cổng tài chính làm tê liệt nền kinh tế lớn thứ 4 châu Á. Việc học thêm và luyện thi đại học gây nợ nần cho các gia đình nhiều hơn 3 phần trăm của tổng sản phẩm trong nước và tất cả chỉ để tạo ra những "thanh niên thất nghiệp tuổi 20".[61] Chính phủ đã đưa mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp cao vào danh sách các ưu tiên hàng đầu bằng cách đầu tư vào các công trình công cộng, nhưng chương trình này lại không quan tâm đến những người được đào tạo trẻ. OECD cũng kêu gọi ngành công nghiệp tham gia đóng một vai trò xây dựng, thiết thực và hiệu quả hơn trong việc đào tạo trình độ nghề vì việc quá tập trung vào nhóm sinh viên, cử nhân tốt nghiệp từ các trường đại học đang khiến cho tỷ lệ cạnh tranh việc làm tại khu vực đô thị tăng cao nhưng lại xảy ra tình trạng người lao động bỏ nghề, rời bỏ vùng nông thôn và thiếu hụt lao động trong lĩnh vực thủ công, gây ra một làn sóng công nhân nhập cư có tay nghề, kỹ năng thấp.[271]

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bảo hiểm y tế và chăm sóc sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Quốc thực hiện một hệ thống bảo hiểm sức khỏe trong đó một người thanh toán một số tiền phí bảo hiểm hàng tháng nhất định tùy theo mức thu nhập và tài sản của họ. Nếu tham gia bảo hiểm y tế thì khi ốm đau hoặc thai sản sẽ tiết kiệm được một khoản tiền không nhỏ (chi phí y tế, khám chữa bệnh, dịch vụ kèm theo,...), mặt khác; còn được kiểm tra sức khỏe định kỳ. Tất cả moi người đều phải tham gia bảo hiểm y tế, ngoại trừ những người hưởng trợ cấp y tế. Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế được chia làm 2 nhóm là đối tượng tham gia bảo hiểm theo doanh nghiệp và đối tượng tham gia bảo hiểm theo khu vực. Tất cả công dân, người lao động, công nhân, nhân viên, công chức của doanh nghiệp và giáo viên đều được gọi là đối tượng tham gia bảo hiểm theo doanh nghiệp. Theo quy định gia nhập bảo hiểm doanh nghiệp, trong trường hợp là người duy trì đời sống chính trong gia đình và có đầy đủ điều kiện thu nhập và diều kiện phụng dưỡng phù hợp với quy định được ghi trong quy tắc thi hành luật bảo hiểm sức khỏe thì sẽ có thể đăng ký vào bảo hiểm doanh nghiệp bảo trợ người thân. Trong trường hợp có thu nhập riêng ngoài phần tiền lương hơn 34.000.000 Won trên 1 năm, thì sau khi trừ 34 triệu từ tổng thu nhập ra thì bản thân phải chi trả toàn bộ 100% tỉ lệ phí bảo hiểm được áp dụng.

Người tham gia bảo hiểm sức khỏe khi nhận sự trị liệu tại bệnh viện, thì một phần trong lệ phí trị liệu sẽ do Công đoàn bảo hiểm sức khỏe quốc dân chi trả, nên có thể nhận trị liệu hoặc khám bệnh với chi phí thấp tại bệnh viện, phòng khám đông y. Nhưng, cá nhân sẽ phải chi trả một phần lệ phí của việc khám, trị liệu đó. Ngoài ra còn nhận được sự ưu đãi của việc khám kiểm tra sức khỏe. Tùy theo độ tuổi mà có sự khác nhau trong việc khám kiểm tra sức khỏe, nhưng bình thường thì cứ mỗi 2 năm là sẽ được nhận một lần.

KDCA[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Quốc gia Hàn Quốc (viết tắt: KDCA hoặc KCDC), được biết đến với sự thành công trong việc dẫn dắt Hàn Quốc vượt qua các đợt bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm như SARS (2002), MERS (2012) và COVID-19 (2019-2020) là cơ quan y tế nổi tiếng nhất tại đất nước này, lãnh đạo đương nhiệm của KCDC hiện nay là tiến sĩ y khoa Jung Eun-kyeong[272][273][274], người vinh dự được tạp chí TIME (Mỹ) vinh danh trong "Danh sách 100 người có sức ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu năm 2020" vào tháng 9 năm 2020 vừa qua.[275]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Hyundai, một trong bốn tập đoàn đa ngành lớn (Big Four) của Hàn Quốc cùng với Samsung, LGSK.
Hàn Quốc hiện đang dẫn đầu thế giới về ngành công nghiệp bán dẫn.
Trụ sở chính của tập đoàn Samsung - Samsung Town, tọa lạc tại trung tâm thủ đô Seoul.

Khái quát[sửa | sửa mã nguồn]

Tương tự phần lớn các quốc gia trên thế giới ngày nay, chính phủ Hàn Quốc định hướng, xây dựng một nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, nền kinh tế của quốc gia này bao gồm một loạt các đặc điểm nổi bật như: hỗn hợp, cạnh tranh, tự do cao, ít có sự can thiệp của chính phủphát triển cao bậc nhất châu Á. Hiện nay, Hàn Quốc đã được xếp vào nhóm những quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới. Cùng với các nền kinh tế của Hoa Kỳ, Anh Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài LoanSingapore,... Nền kinh tế Hàn Quốc thường được các nhà kinh tế học như Milton FriedmanViện Cato (Hoa Kỳ) xem như là một ví dụ tiêu biểu về lợi ích của chủ nghĩa tư bản tự vận hành.

Đầu những năm 1950, tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc chỉ đứng ngang với các nước nghèo ở châu Phi và châu Á thì tới năm 2018, con số này đã xếp thứ 11 trên toàn cầu. Năm 2005, GDP danh nghĩa của Hàn Quốc được ước tính đạt khoảng ~ 800 tỷ USD, GDP tính theo sức mua tương đương (PPP) đạt khoảng 1.100 tỷ USD. Thu nhập bình quân đầu người tính theo GDP danh nghĩa và theo sức mua tương đương lần lượt là 16.270 USD và 22.620 USD (lần lượt xếp hạng 33 và 34 thế giới khi ấy).

Kinh tế Hàn Quốc là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới từ đầu những năm 1960 cho đến cuối những năm 1990, và vẫn tiếp tục tăng trưởng đều đặn trong thập niên 2000. Với quy mô, chỉ số kinh tế liên tục thăng hạng kết hợp các ngành công nghiệp nặng - chế tạo tiên tiến, Hàn Quốc cùng với các quốc gia Singapore, Đài Loan và Đặc khu hành chính Hồng Kông được gọi với biệt danh '4 con Rồng kinh tế châu Á'.[277]

Năm 1997, như nhiều nước châu Á khác, Hàn Quốc bị khủng hoảng kinh tế nặng nề. Để tháo gỡ khó khăn, chính phủ Hàn Quốc đã phải chấp nhận vay khẩn cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) 57 tỷ USD với những điều kiện ngặt nghèo như: tiến hành cải cách mạnh mẽ, xây dựng nền kinh tế thị trường, giảm bớt quyền lực của các nhà tài phiệt nắm giữ các tập đoàn lớn, coi trọng các công ty vừa và nhỏ, giảm sự can thiệp của nhà nước, chống câu kết chính trị - kinh doanh. Mặt khác, chính phủ đã áp dụng chính sách "thắt lưng buộc bụng", huy động quốc dân quyên góp tiền vàng ủng hộ chính phủ. Kết quả là Hàn Quốc đã thành công trong việc khắc phục khủng hoảng trong thời gian 3 năm (1998-2000), trả xong nợ của IMF. Dự trữ ngoại tệ đạt 133 tỷ USD (tháng 7/2003).

Hàn Quốc tiếp tục duy trì được mức độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong khoảng thời gian sau đó, đạt mức 8% trong năm 2010[278], tuy vậy đến năm 2016 đã tụt xuống chỉ còn hơn 2,6%. Năm 2019, Hàn Quốc là quốc gia đứng thứ 7 thế giới về kim ngạch xuất khẩu[279], hạng 9 về nhập khẩu[280]. Cùng năm 2019, Hàn Quốc đứng thứ 20 toàn cầu trong bảng xếp hạng về Chỉ số thương hiệu quốc gia công bố bởi Future Brand[281]. Cũng trong năm đó, theo công bố, đánh giá và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới (World Economic Forum), Hàn Quốc xếp hạng 4 châu Á sau Singapore, Hồng Kông và Nhật Bản, đứng thứ 13 thế giới trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu[282]. Năm 2020, Brand Finance - đơn vị chuyên định giá thương hiệu và tư vấn chiến lược độc lập hàng đầu Vương quốc Anh công bố báo cáo về thương hiệu quốc gia, theo đó, tổng giá trị của các thương hiệu Hàn Quốc xếp thứ 4 châu Á sau Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, đồng thời đứng thứ 10 toàn cầu.[37] Về chỉ số tự do kinh tế, Hàn Quốc xếp thứ 6 châu Á, hạng 25 thế giới.[283]

Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc, nơi in ấn và xuất hành tiền Won.

Từ những năm 1970, nhiều công ty, tập đoàn lớn của Hàn Quốc bắt đầu xâm nhập và tạo dựng được chỗ đứng vững chắc trên thị trường thế giới, biến quốc gia này trở thành một thực thể thương mại quốc tế quan trọng. Những tập đoàn Tài phiệt khổng lồ (Chaebol - 재벌), do các gia tộc kỹ nghệ đại tư bản (kế thừa và phát triển trực tiếp theo mô hình từ Zaibatsu (財閥) hay Keiretsu (系列 - Hệ Liệt) - các tài phiệt Nhật Bản) điều hành, kiểm soát, nắm trong tay quyền lực và khả năng chi phối nền kinh tế Hàn Quốc qua nhiều thế hệ có thể kể tới như Samsung, Hyundai, Kia, LG, Lotte, CJ, SK, Shinsegae hay Daewoo. Những quốc gia đang phát triển như Việt Nam mặc dù được đầu tư lớn nhưng trên thực tế mới chỉ được làm quen, tiếp cận với một vài lĩnh vực của các tập đoàn này. Ví dụ như ở Hàn Quốc, ngoài lĩnh vực chính là công nghệ, Samsung cũng rất năng động trong các lĩnh vực bảo hiểm, chế tạo máy, thương mại điện tửbất động sản. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á, nhiều chi nhánh của các tập đoàn này ở nước ngoài đã bị đóng cửa. Một ví dụ điển hình là Daewoo - Chaebol từng một thời có quy mô và tầm ảnh hưởng lớn mạnh bậc nhất đối với nền kinh tế xứ Hàn đã sụp đổ, phải tái cơ cấu và buộc phải bán bộ phận sản xuất xe hơi cho tập đoàn General Motors của Mỹ (tạo nên hãng xe hơi nội địa GM Daewoo như hiện nay)[284]. Ngoài những cái tên quen thuộc, phổ biến kể trên, Hàn Quốc còn là quê hương của một số thương hiệu nổi tiếng trên thế giới khác, có thể kể đến như: KT (viễn thông), Pantech (điện tử tiêu dùng), SsangYong, Renault-Samsung Motors, Genesis (xe hơi), Hanwha (bảo hiểm - tài chính), Posco (thép), Doosan, Kumho Asiana, Hyosung (công nghiệp), Hanjin (vận tải), Tous les Jours (thực phẩm), Shinhan, Woori (ngân hàng), Coupang[285] (thương mại điện tử), CGV (điện ảnh, kinh doanh cụm rạp chiếu phim và các dịch vụ giải trí),...

Năm 2020, Hàn Quốc với hơn 51 triệu dân[11]xấp xỉ 1,6 nghìn tỷ USD (danh nghĩa) hoặc 2,3 nghìn tỷ USD (sức mua) hiện đang là nền kinh tế có quy mô lớn thứ 4châu Á (nếu tính ngang giá trị theo đô la Mỹ), xếp sau nền kinh tế của các quốc gia Trung Quốc, Nhật BảnẤn Độ hoặc thứ 5 (nếu tính theo dân số đi kèm sức mua), sau Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Indonesia[34]. Lớn thứ 10 trên thế giới (trên Nga và dưới Canada)[33] (hoặc hạng 9 tuỳ theo phương pháp, cách tính[286]) tính theo GDP danh nghĩa thực tế[32][34], xếp hạng 14 toàn cầu nếu xét theo sức mua tương đương[287], hạng 13 trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu năm 2019[288]. Thu nhập bình quân đầu người đạt mức 30,644 nghìn USD/người theo danh nghĩa[289] hoặc 44,292 nghìn USD/người theo sức mua[290], lần lượt xếp hạng 26[289] và 24 thế giới[290]. Nền kinh tế quốc dân chủ yếu dựa vào xuất khẩu, tập trung vào các ngành mũi nhọn như: công nghiệp nặng, điện tử tiêu dùng, xe hơi, tàu biển (đóng tàu), vận tải, máy móc (tự động hóa), hóa dầu, Robot, viễn thông, dược phẩm, thiết bị quân sự, năng lượng, luyện kim,... Ngoài ra, Hàn Quốc cũng là quốc gia phát triển, đi tiên phong trong các ngành dịch vụ, du lịch, nghệ thuật, thời tranggiải trí. Cùng với Làn sóng Hàn Lưu (Hallyu), Hàn Quốc là một trong những thị trường luôn dẫn đầu trong việc sáng tạo ra xu hướng mới cho các ngành ẩm thực, điện ảnh, thời trang, làm đẹp, mỹ phẩm,...[291]

Hiện nay, Hàn Quốc là nước thành viên của hầu hết các tổ chức toàn cầu lớn, trong đó nổi bật như: Liên hiệp quốc, WTO, OECD, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) cùng Nhóm Ngân hàng Thế giới (WBG), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khối APEC, FAO, UNIDO, IAEA, ITU, UNESCAP, ICAO, IEA, Interpol, Câu lạc bộ Paris, MIKTA, Ủy ban Đặc biệt phụ trách Hỗ trợ Phát triển và Hợp tác Kinh tế trực thuộc OECD (DAC)[292]Nhóm các nền kinh tế lớn G-20,... Quốc gia này cũng đồng thời là thành viên tham gia sáng lập của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị cấp cao Đông Á, Cộng đồng Đông Á, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB),... Và là một đồng minh không thuộc khối NATO quan trọng hàng đầu của Hoa Kỳ.[293]

Năng lượng hạt nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Quốc là nhà sản xuất năng lượng hạt nhân lớn thứ 5 trên thế giới và lớn thứ 2 ở châu Á (chỉ sau Nhật Bản) tính đến năm 2010. Năng lượng hạt nhân ở Hàn Quốc cung cấp 45% sản lượng điện, và rất tích cực trong việc nghiên cứu, nâng cấp nhiều loại lò phản ứng tiên tiến, bao gồm các lò phản ứng mô-đun nhỏ, lò phản ứng nhanh/biến đổi kim loại lỏng và thiết kế sản xuất Hydro ở nhiệt độ cao. Sản xuất nhiên liệu và công nghệ xử lý chất thải hạt nhân cũng được phát triển kèm theo. Quốc gia này là một thành viên của dự án ITER.[294]

Hàn Quốc là nhà xuất khẩu lò phản ứng hạt nhân mới nổi, đã ký kết thỏa thuận với UAE để xây dựng và duy trì bốn lò phản ứng hạt nhân tiên tiến[295], với Jordan cho một lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu[296][297], và với Argentina để xây dựng và sửa chữa lò phản ứng hạt nhân nước nặng. Kể từ năm 2010, Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ đang đàm phán về việc xây dựng hai lò phản ứng hạt nhân[298][299][300]. Hàn Quốc cũng đang chuẩn bị đấu thầu xây dựng lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ cho Argentina.[300]

Hàn Quốc không được phép tự mình làm giàu Uranium hoặc tự mình phát triển công nghệ làm giàu Uranium truyền thống, vì các quy định của luật pháp quốc tế cũng như áp lực chính trị từ phía đồng minh Hoa Kỳ[301], không giống như hầu hết các cường quốc hạt nhân lớn như Nhật Bản, ĐứcPháp, đối thủ của Hàn Quốc trên thị trường hạt nhân quốc tế. Sự cản trở này đối với sự cam kết về nền công nghiệp hạt nhân bản địa của Hàn Quốc đã gây ra các mâu thuẫn ngoại giao thường xuyên giữa hai đồng minh. Mặc dù Hàn Quốc đã thành công trong việc xuất khẩu công nghệ hạt nhân và lò phản ứng hạt nhân sản xuất điện, nhưng lại không thể tận dụng thị trường cho các cơ sở và nhà máy lọc dầu để làm giàu hạt nhân, những hạn chế đó đã ngăn cản không cho nước này mở rộng thị trường xuất khẩu, tuy vậy, Hàn Quốc đã tìm kiếm các công nghệ độc đáo như xử lý Pyrotin để vượt qua những trở ngại này và đồng thời tìm kiếm một cuộc cạnh tranh có lợi hơn[302]. Hoa Kỳ gần đây cũng đã bắt đầu cảnh giác với chương trình hạt nhân đang âm thầm phát triển của Hàn Quốc, hành động mà Hàn Quốc khẳng định sẽ chỉ dành cho các mục đích thương mại và dân sự.

Tòa án Tối cao Hàn Quốc đã tiến hành bắt giữ và truy tố hơn 100 người, trong đó có một cựu quan chức nhà nước hàng đầu trong vụ tham nhũng trong một vụ bê bối trên xác nhận an toàn giả mạo cho các bộ phận trong lò phản ứng hạt nhân của mình. Nền kinh tế lớn thứ tư của châu Á đã phải từng phải ngừng hoạt động một loạt các lò phản ứng hạt nhân do các tài liệu giả mạo vào cuối năm 2012. Ngành công nghiệp hạt nhân của Hàn Quốc đã bị chỉ trích vì hoạt động của nó diễn ra rất bí ẩn, dẫn đến nạn tham nhũng của các quan chức liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận an toàn. Do các nhà máy hạt nhân này sản xuất một phần ba lượng điện năng của Hàn Quốc nên các quan chức cho biết họ sẽ chỉ kiểm tra và thay thế các bộ phận, chứ không phải là loại bỏ dần chúng[303]. Tuy nhiên, Hàn Quốc vẫn là quốc gia sản xuất điện hạt nhân đứng thứ năm trên thế giới tính đến năm 2010.[304]

Hàn Quốc là một trong số ít các quốc gia trên thế giới đã nghiên cứu, tiến hành xây dựng và vận hành thành công lò phản ứng nhiệt hạch - hay còn được giới khoa học gọi với biệt danh 'Mặt Trời nhân tạo'[305][306]. Ngoài ra, công trình này còn xác lập kỷ lục thế giới mới khi thành công trong việc duy trì Plasma ở nhiệt độ cao trong hơn 20 giây với nhiệt độ ion lên tới trên 100 triệu độ C.[305][306]

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Quốc là nơi có nhiều khu du lịch với cảnh đẹp và văn hóa đặc sắc, giao thoa giữa truyền thống và hiện đại. Thủ đô Seoul có nhiều cung điện hoàng gia lộng lẫy thời triều đại Joseon. Ngoài ra các trung tâm thương mại lớn như Lotte World, chợ Dongdaemun, Sungnyemun luôn nhộn nhịp, dễ dàng mua nhân sâm, mỹ phẩm và các mặt hàng thời trang. Ngoài Seoul, Hàn Quốc có các điểm du lịch nổi tiếng như đảo Namiseom, đảo Jeju, khu phi quân sự Triều Tiên, công viên Everland, Incheon, Busan, Gyeongju, Gangwon, Yongin, Jeonju.

Trong năm 2016, Hàn Quốc đã đón tổng cộng trên 17 triệu lượt khách du lịch tới từ nước ngoài[307], trong đó có 167.143 tới từ Việt Nam, xếp thứ 9 trong số tất cả các quốc gia. Với triển vọng du lịch đang gia tăng, đặc biệt là từ các nước ngoài ngoài châu Á, chính phủ Hàn Quốc đã đặt mục tiêu thu hút 20 triệu khách du lịch nước ngoài mỗi năm vào năm 2017. Trong số các nước Đông Á, Trung Quốc là quốc gia đem lại nguồn thu lợi nhuận tốt nhất, Hàn Quốc đã đầu tư 1,4 tỷ USD vào thị trường nước láng giềng - với phần số vốn được rót vào lĩnh vực dịch vụ, tăng gấp 7 lần so với năm 2001 - nhằm mục tiêu đón tiếp nhiều du khách Trung Quốc ghé thăm hơn nữa trong tương lai.

Viện nghiên cứu Hyundai (Hyundai Research Institute) cũng báo cáo rằng làn sóng Hàn Quốc có tác động trực tiếp trong việc khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ngược trở lại nước này thông qua nhu cầu lớn về sản phẩm và chất lượng dịch vụ du lịch, đặc biệt là từ Trung Quốc và Nhật Bản.

Ngành du lịch Hàn Quốc được phát triển, quảng bá và thúc đẩy bởi nhiều yếu tố, bao gồm sự phổ biến của nhạc K-popphim truyền hình - đặc biệt là tại các khu vực Đông Á và Đông Nam Á, văn hóa truyền thống, ẩm thựccảnh quan môi trường tự nhiên.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Quốc đã phát triển thành công tàu cao tốc HEMU 430X, có thể di chuyển với tốc độ hơn 430 km/giờ (267 dặm/giờ), qua đó đã đưa Hàn Quốc trở thành quốc gia thứ tư trên thế giới sau Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc phát triển được loại tàu cao tốc có thể chạy với vận tốc lên tới hơn 420 km/giờ trên đường ray thông thường.

Chính phủ và người dân Hàn Quốc qua nhiều năm đã xây dựng và hoàn thiện thành công một mạng lưới giao thông tiên tiến, quy củ, tinh vi và hiện đại bao gồm có các tuyến đường sắt cao tốc, đường bộ cao tốc, xe buýt, dịch vụ phà và các tuyến đường hàng không trải dài khắp đất nước, 91% tuyến đường bộ tại Hàn Quốc được trải nhựa, trong khi tỷ lệ này của Bắc Triều Tiên chỉ là 6%[308].

Hệ thống tàu điện cao tốc tại Hàn Quốc là một trong những mạng lưới đường sắt cao tốc nhanh, đúng giờ và có mật độ phân bố dày đặc nhất trên thế giới[309][310]. Korea Expressway Corporation là tập đoàn vận hành hệ thống đường cao tốc thu phí và các tiện nghi dịch vụ trên đường. Korail điều hành hệ thống đường sắt tại tất cả các thành phố lớn của Hàn Quốc. Hai tuyến đường sắt là Tuyến Gyeong-ui và Tuyến DongHae-Bukbu đi Bắc Triều Tiên hiện đang được kết nối lại. Hệ thống đường sắt cao tốc của Hàn Quốc - KTX, cung cấp dịch vụ đường sắt tốc độ cao dọc theo các tuyến GyeongbuHonam. Cả sáu thành phố lớn nhất của Hàn Quốc - Seoul, Busan, Daegu, Gwangju, DaejeonIncheon,... đều có hệ thống tàu điện ngầm. Hệ thống xe buýt tốc độ cao cũng có mặt ở hầu hết các thành phố trên cả nước.[311]

Tàu cao tốc KTX tại Hàn Quốc.

Sân bay lớn nhất của Hàn Quốc là Sân bay quốc tế Incheon, phục vụ trên 60 triệu hành khách trong năm 2016[312]. Các sân bay quốc tế khác bao gồm có: Gimpo, GimhaeJeju. Ngoài ra còn có nhiều sân bay khác được hình thành như một phần của sự bùng nổ xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng chưa được tận dụng hết mức. Ở Hàn Quốc, phần lớn trên nóc các tòa nhà cao tầng đều có bãi đậu trực thăng. Hãng hàng không quốc gia, Korean Airlines đã phục vụ tổng cộng hơn 30 triệu hành khách, trong đó bao gồm gần 20 triệu hành khách quốc tế trong năm 2016[313]. Hãng hàng không lớn thứ hai, Asiana Airlines cũng phục vụ các chuyến bay trong nước và quốc tế. Kết hợp lại, các hãng hàng không Hàn Quốc phục vụ gần 300 tuyến quốc tế. Các hãng hàng không có quy mô nhỏ hơn, chẳng hạn như Jeju Air, thì cung cấp dịch vụ bay nội địa với giá vé thấp hơn.[314]

Incheon International AirportKorean Airlines là hai đơn vị đầu tàu của ngành hàng không Hàn Quốc, thường xuyên được vinh danh, xếp hạng cao cũng như lọt top những sân bayhãng hàng không tốt nhất trên thế giới.[315][316][317][318]

Khoa học và công nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Trực chỉ, quyển sách cổ xưa nhất được tìm thấy được sử dụng phương pháp in thủ công dùng kim loại vào năm 1377 – hiện trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia Bibliothèque, Paris, Pháp.

Thời kỳ cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những hiện vật nổi tiếng trong lịch sử của Hàn Quốc về khoa họccông nghệChiêm tinh đài (첨성대, - một đài quan sát cao 9,4 mét được xây dựng vào năm 634).

Mẫu bản in khắc gỗ Hàn Quốc xưa nhất còn sót lại là Kinh Đại bi tâm Đà la ni Mô cấu tinh quang đại[319], bản mẫu này được tin rằng đã được in tại Hàn Quốc vào khoảng những năm 750-751, nếu đúng như vậy thì bản in này còn nhiều tuổi hơn cả Kim Cương kinh. Cao Ly được người phương Tây đánh giá rất cao và đồ gốm Hàn Quốc cũng được săn đón, sưu tầm, gốm Cao Ly, đặc biệt là loại làm bằng gốm men ngọc, có màu xanh dương hoặc xanh lá là những loại gốm có chất lượng cao nhất và luôn được các thương gia Ả Rập săn lùng. Cao Ly đã có một nền kinh tế tấp nập với thủ đô Kaesong thường xuyên được các thương gia từ khắp nơi trên thế giới ghé qua.

Trong thời kỳ của Nhà Triều Tiên, những Quy bối thuyền (tàu con rùa - sử dụng sàn gỗ và bọc gai sắt) đã được phát minh, cùng các loại vũ khí độc đáo khác như Phi kích thần thiên lôi (비격진천뢰, ) và Hỏa xa (Hwacha).[320][321][322] Những vũ khí này về sau được vị danh tướng huyền thoại Lý Thuấn Thần sử dụng trong các cuộc kháng chiến của quân dân Triều Tiên chống lại quân xâm lược nhà Kim (Trung Quốc) và Nhật Bản.

Bảng chữ cái Hangul của Hàn Quốc cũng được vua Triều Tiên Thế Tông phát minh trong thời gian này.

Thời kỳ hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Quốc hiện nay đang là một trong những quốc gia dẫn đầu thế giới trong nhiều ngành khoa học ứng dụngcông nghệ[323][324][325][326][327][328]. Kể từ sau khi nền kinh tế của đất nước này được công nghiệp hóa, nhiều tập đoàn công nghệ cao đã ra đời, giữ vị trí quan trọng, không thể thay thế trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân. Samsung, LG, SK Hynix là những công ty sản xuất hàng điện tử, máy tính, điện thoại di động, chất bán dẫn, chip nhớ, hóa chất, vi mạch, CPU,... hàng đầu thế giới trong nhiều năm[329][330][331], liên minh Hyundai - Kia lần lượt là các nhà sản xuất xe hơi có giá trị thương hiệu lớn thứ 5 và 13 toàn cầu trong năm 2020[332] - là hạt nhân chính biến Hàn Quốc trở thành một trong những cường quốc về sản xuấtxuất khẩu ô tô trên thế giới[333][334]. Samsung C&T là công ty xây dựng đa quốc gia hàng đầu trên thế giới - đơn vị đã xây dựng nên các công trình nhân tạo cao nhất hiện nay như tháp đôi Petronas Twin TowersMerdeka 118 ở thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia (các tòa tháp cao nhất hiện nay và trong tương lai gần của Malaysia), Đài Bắc 101 ở thủ đô Đài Bắc, Đài Loan (tòa nhà cao nhất tại Đài Loan nói riêng và trên thế giới nói chung trong khoảng thời gian từ năm 2004 đến 2010) và đặc biệt là Burj KhalifaDubai, thành phố lớn nhất của UAE - công trình nhân tạo cao nhất trong lịch sử thế giới từng được xây dựng, cùng nhiều công trình tiêu biểu, quan trọng khác trên toàn cầu.

Năm 2010, khoảng trên 90% người Hàn Quốc sở hữu ít nhất một chiếc điện thoại di động [335]. Hàn Quốc là nước có tốc độ đường truyền Internet nhanh nhất trên thế giới, với tốc độ tải xuống trung bình là 25,3 Mbit/s.[336] Năm 2018, Hàn Quốc đã chính thức trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới thành công trong việc phổ cập và thương mại hóa thế hệ mạng di động thứ 5 (5G)[337][338][339] thông qua các nhà mạng viễn thông lớn như SK Telecom, KT Corporation, LG Uplus, SOFTBANK Korea Co., Ltd., Samsung Telecommunications,... Ngoài ra, không chỉ tiến hành thương mại hóa sớm nhất[340][341], Hàn Quốc còn dẫn đầu thế giới về công nghệ 5G.[342][343][344]

Ngoài công nghệ viễn thông, Hàn Quốc còn là một quốc gia mạnh về lập trình, thiết kế trò chơi điện tử trực tuyến, độc lập cũng như game di động. Một số tựa game nổi tiếng được phát triển bởi người Hàn có thể kể đến như PUBG, Sudden Attack, CrossFire, FIFA Online hay Counter-Strike,...

Hàn Quốc là quốc gia thứ 22 trong lịch sử thế giớivệ tinh được phóng thành công vào quỹ đạo không gian vũ trụ, với KITSAT-1 trong năm 1992.

Năm 2020, Hàn Quốc là quốc gia được xếp hạng 14 thế giới, thứ 2 châu Á (chỉ sau Singapore) trong chỉ số sẵn sàng kết nối mạng (NRI - một chỉ số để xác định mức độ phát triển công nghệ thông tin và truyền thông của một quốc gia) công bố bởi Diễn đàn kinh tế thế giới.[345] Đất nước này cũng đồng thời đứng hạng 2 châu Á cũng như 'á quân' trên thế giới chỉ sau Israel trong "Top 5 quốc gia chi nhiều phần trăm ngân sách trên tổng GDP nhất cho các hoạt động nghiên cứu & phát triển" cùng với Nhật Bản, Thụy SĩThụy Điển.[259]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Một nữ nhạc sĩ đang chơi Già Da Cầm (đàn tranh).

Khái quát[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ phong kiến chuyên chế, đặc biệt là nhà Triều Tiên, văn hóa Triều Tiên đạt đến đỉnh cao trong thời gian trị vì của Triều Tiên Thế Tông (vua Sejong). Dưới sự cai trị của Đế quốc Nhật Bản, văn hóa Hàn Quốc chịu ảnh hưởng lớn từ nước láng giềng. Bước sang thời kỳ hiện đại, Hàn Quốc chia sẻ văn hóa truyền thống của mình với Bắc Triều Tiên, thế nhưng, hai miền đã phát triển các hình thức văn hóa đương đại khác biệt kể từ khi bán đảo bị chia cắt vào năm 1945. Trong lịch sử, mặc dù văn hóa của Hàn Quốc từng có khoảng thời gian dài chịu ảnh hưởng lớn và sâu sắc từ nước láng giềng Trung Quốc, tuy nhiên họ vẫn có thể tự phát triển một bản sắc văn hóa độc đáo khác biệt so với người hàng xóm. Nền văn hóa phong phú và rực rỡ của Hàn Quốc đã để lại 19 di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, đứng thứ ba trên thế giới, cùng với đó là 12 Di sản thế giới. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc tích cực khuyến khích nghệ thuật truyền thống, cũng như các hình thức nghệ thuật đương đại, thông qua các chương trình tài trợ và giáo dục.

Sự công nghiệp hóa và đô thị hóa của Hàn Quốc đã mang lại nhiều thay đổi cho cách sống của người Hàn Quốc hiện đại. Kinh tế phát triển và lối sống thay đổi đã dẫn đến sự tập trung dân số tại các thành phố lớn, đặc biệt là thủ đô Seoul.

Hàn Quốc cũng từng là một trong những quốc gia mà người dân tiêu thụ đồ uống có cồn (rượu, bia,...) với mức trung bình nhiều nhất trên thế giới trong năm 2018[346], tuy nhiên, sang đến năm 2021, con số này đã giảm xuống đáng kể.[347]

Ngôn ngữ và chữ viết[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ Hangul ban đầu có tên gọi là Hunmin jeong-eum (Huấn dân chính âm).

Ở Hàn Quốc, ngôn ngữ chính thức là tiếng Hàn Quốc (tiếng Hàn hay Hàn ngữ). Một số nhà ngôn ngữ học xếp ngôn ngữ này vào ngữ hệ Altai, một số khác thì cho rằng tiếng Hàn Quốc là một ngôn ngữ biệt lập (Language Isolate). Kể từ bậc tiểu học, ngoài tiếng mẹ đẻ, các giáo viên bắt đầu dạy tiếng Anh cho học sinh. Sau này, tiếng Trung Quốc và tiếng Nhật cũng trở thành các ngoại ngữ chính. Các ngôn ngữ châu Âu khác như tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Ý, tiếng Nga và tiếng Tây Ban Nha thì ít phổ biến hơn và thường được giảng dạy trong các trường đại học.

Khác với chữ viết của các nước vùng Đông Á, Hangul - chữ viết chính của người Hàn Quốc – sử dụng một bảng chữ cái gồm 51 ký tự, 24 ký tự đơn và 27 ký tự kép. Những ký tự này được kết hợp theo âm tiết thành các chữ. Đối với những người không biết thì chữ Triều Tiên cũng phức tạp y như chữ Hán vậy. Nhưng thực ra người học có thể nắm được căn bản của loại chữ viết này chỉ sau 4 đến 5 tiếng đồng hồ. Vì lẽ đó mà chữ Hangeul được gọi là Atsim-Gul (chữ viết buổi sáng – trong một buổi sáng là có thể học xong).

Hanja, bộ chữ Hán của người Triều Tiên, có ý nghĩa tương tự như chữ Latinh ở các nước châu Âu. Giống như các ngôn ngữ ở Đông Á và Đông Nam Á, rất nhiều từ trong tiếng Hàn Quốc có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tuy nhiên việc loại bỏ đi các thanh âm trong tiếng Hán dẫn đến việc trong tiếng Hàn Quốc có rất nhiều từ đồng âm. Các từ này được phát âm giống nhau nhưng mang ý nghĩa khác nhau và chỉ phân biệt được ý nghĩa dựa vào ngữ cảnh. Vì vậy, để cho rõ nghĩa, trong các văn bản khoa học người ta thường ghi chú thích bằng chữ Hanja ở đằng sau những cụm từ quan trọng. Trên các tấm danh thiếp người ta cũng thường sử dụng chữ Hanja để giải thích ý nghĩa tên của họ.

Trong thập niên 2000 của thế kỉ 21, những tín đồ Hồi giáo tại Hàn Quốc đã tiếp nhận thêm bảng chữ cái Ả rập và biến đổi lại để ghi âm tiếng Hàn gọi là Kuryan (tương tự như chữ Jawi (Jawi alphabet) của người Mã Lai). Hệ chữ này sử dụng văn tự Ả Rập để ghi âm tiếng Hàn, phục vụ trong hoạt động giao tiếp và truyền bá trong cộng đồng người Hồi giáo tại Hàn Quốc.

Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Nước nhỏ giọt màu xanh và trắng sứ đào từ triều đại Joseon vào thế kỷ 18.

Nghệ thuật Hàn Quốc đã chịu ảnh hưởng rất lớn từ Phật giáo và Nho giáo, có thể thấy trong nhiều bức tranh truyền thống, tác phẩm điêu khắc, gốm sứ và nghệ thuật biểu diễn. Đồ gốmsứ Hàn Quốc, chẳng hạn như BaekjaBuncheon của nhà Triều Tiên, Celadon của Cao Câu Ly - nổi tiếng khắp thế giới. Trà đạo Hàn Quốc, Pansori, Talchum và Buchaechum cũng là những nét văn hóa nghệ thuật đặc sắc của quốc gia này.

Nghệ thuật hiện đại của Hàn Quốc sau chiến tranh bắt đầu phát triển vào những năm 1960 và 1970, khi các nghệ sĩ Hàn Quốc bắt đầu quan tâm đến hình dạng hình học và các chủ đề phi vật thể. Thiết lập sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên cũng là một chủ đề được yêu thích trong giai đoạn này. Vì sự bất ổn xã hội, các vấn đề xã hội bắt đầu xuất hiện như một chủ đề chính trong suốt những năm 1980. Ngày nay, Nghệ thuật Hàn Quốc truyền thống được quảng bá chủ yếu qua phim ảnh, du lịch cùng các sự kiện cũng như triển lãm quốc tế khác nhau.

Kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Do lịch sử đầy biến động của Hàn Quốc, việc xây dựng và phá hủy các công trình kiến trúc đã được lặp đi lặp lại nhiều lần, dẫn đến một sự pha trộn thú vị trong phong cách và thiết kế.

Kiến trúc truyền thống Hàn Quốc được đặc trưng bởi sự hài hòa với thiên nhiên. Các kiến ​​trúc sư cổ đại đã thông qua hệ thống khung đặc trưng bởi mái tranh và sàn sưởi ấm được gọi là Ondol. Người dân thuộc tầng lớp thượng lưu xây dựng những ngôi nhà lớn hơn với mái ngói cong thanh lịch với mái hiên nâng. Kiến trúc truyền thống có thể được nhìn thấy trong các cung điện và đền thờ, những ngôi nhà cổ được bảo tồn gọi là Hàn ốc, và các địa điểm đặc biệt như Làng dân gian Hahoe, Làng Yangdong của làng Gyeong-ju và Làng dân gian Hàn Quốc. Kiến trúc truyền thống cũng có thể được nhìn thấy tại 9 di sản Thế giới của UNESCO ở Hàn Quốc.

Kiến trúc phương Tây lần đầu tiên được giới thiệu đến Hàn Quốc vào cuối thế kỷ 19. Nhà thờ, văn phòng cho người nước ngoài, trường học và các tòa nhà đại học được xây dựng theo phong cách mới. Với sự sáp nhập của bán đào Triều Tiên vào Nhật Bản năm 1910, chế độ thuộc địa đã can thiệp vào di sản kiến ​​trúc của Hàn Quốc và kiến ​​trúc hiện đại theo phong cách Nhật Bản đã được áp đặt. Tâm lý chống Nhật và chiến tranh Triều Tiên đã dẫn đến sự phá hủy của hầu hết các tòa nhà được xây dựng trong thời gian đó.

Kiến trúc Hàn Quốc bước vào một giai đoạn phát triển mới trong quá trình tái thiết sau Chiến tranh Triều Tiên, kết hợp các xu hướng và phong cách kiến ​​trúc hiện đại. Được kích thích bởi sự tăng trưởng kinh tế trong những năm 1970 và 1980, việc tái phát triển tích cực đã chứng kiến ​​những chân trời mới trong thiết kế kiến ​​trúc. Sau sự kiện Thế vận hội Mùa hè 1988, Hàn Quốc đã chứng kiến ​​sự thay đổi lớn về phong cách trong cảnh quan kiến ​​trúc của mình, phần lớn là do việc mở cửa thị trường cho các kiến ​​trúc sư nước ngoài. Những nỗ lực kiến ​​trúc đương đại đã không ngừng cố gắng để cân bằng triết lý truyền thống "hòa hợp với thiên nhiên" và quá trình đô thị hóa nhanh chóng mà đất nước đã trải qua trong những năm gần đây.

Văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Văn học Hàn Quốc thu hút một số lượng lớn độc giả. Những buổi đọc sách thậm chí còn được tổ chức tại các sân vận động.

Hwang Sok-Yong (sinh năm 1943) là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất xứ Hàn. Ông đã trải qua cuộc chiến tranh Triều Tiên và từng tham chiến trong chiến tranh Việt Nam. Đề tài chính trong các tác phẩm của ông là những mâu thuẫn giữa hai thái cực truyền thống và hiện đại.

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Bibimbap - Cơm trộn
Phương pháp lên men từ đậu tương.

Ẩm thực Hàn Quốc nổi tiếng nhất với món Kim chi (dưa muối kiểu Hàn), đây là một món ăn sử dụng quá trình lên men đặc biệt để bảo quản một số loại rau, trong đó phổ biến nhất là cải thảobắp cải. Kim chi là một loại thực phẩm lành mạnh vì nó cung cấp các vitaminchất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Khổ tiêu tương (một loại nước xốt truyền thống Hàn Quốc làm từ ớt đỏ) rất thông dụng, cũng như tương tiêu (hoặc ớt), là những món điển hình của nền ẩm thực nổi tiếng với vị cay.

Bul-gogi (thịt nướng tẩm gia vị, thường là thịt bò), Galbi (xương sườn cắt khúc tẩm gia vị nướng, thường là thịt gà) và món Samgyeopsal (thịt lợn ở phần bụng) đều là những đặc sản từ thịt phổ biến. cũng là một thực phẩm phổ biến, vì nó là loại thịt truyền thống mà người Hàn Quốc hay dùng. Bữa ăn thường đi kèm với xúp hoặc món hầm, chẳng hạn như Galbi-tang (canh xương sườn bò hầm ăn kèm với cơm) và Doen-jang jji-gae (canh xúp đậu phụ lên men). Giữa bàn ăn là đủ loại món ăn phụ gọi là Banchan.

Đũa của người Hàn Quốc thường được làm bằng thép không gỉ (inox), hoặc bằng bạc, vàng (loại này thường hay phổ biến hơn ở các gia đình giàu có).

Các món ăn phổ biến khác gồm Bibimbap - có nghĩa là 'cơm trộn' (cơm trộn với thịt, rautương ớt đỏ) và Naengmyeon (mì lạnh). Ngoài ra, mì ăn liền cũng là một loại thức ăn nhanh rất phổ biến. Người Hàn Quốc cũng thích dùng các loại thức ăn từ Pojangmachas (Quán lều bán dạo trên đường phố - một hình thức cơ sở thương mại dựa trên một căn lều nhỏ hoặc quầy hàng ven đường), ở đây người ta có thể mua Tteokbokki (bánh gạo và bánh cá với nước xốt Go-chujang cay), khoai tây chiên mựckhoai lang tẩm. Soondae là loại một xúc xích làm bằng mì sợi trong suốt và huyết lợn cũng được rất nhiều người ưa thích.

Ngoài ra, một số món ăn nhẹ phổ biến khác bao gồm Chocopie, bánh tôm, Bungtigi (bánh gạo giòn) và Nu rung ji (cơm cháy nhẹ). Có thể ăn sống Nu rung ji hoặc đun sôi với nước để tạo ra một món canh. Nu rung ji cũng có thể được dùng như một món ăn nhanh hay món tráng miệng.

Các loại đồ uống có cồn phổ biến của Hàn Quốc bao gồm Soju (rượu nếp), Makgeolli (rượu gạo) và Bokbunja-ju (rượu trái cây), đặc biệt, người Hàn còn hay pha rượu Soju với bia tươi hoặc sữa chua để tăng độ mạnh cho loại thức uống truyền thống này.

Không giống như phần lớn người dân ở các nước châu Á khác, người Hàn Quốc khi ăn thường sử dụng đũa kim loại thay vì đũa gỗ truyền thống.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

K-Pop[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm nhạc Super Junior đang biểu diễn.

K-Pop (viết tắt của Korean Pop hay nhạc Pop Hàn Quốc) là dòng nhạc Pop ở Hàn Quốc, ban đầu chịu sự ảnh hưởng của J-Pop (Pop Nhật). Nhờ sự đầu tư, phát triển bài bản và quảng bá mạnh mẽ của truyền thông mà K-Pop đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, thu hút hàng chục triệu người hâm mộ cuồng nhiệt cũng như lực lượng hùng hậu các fan trung thành không chỉ ở riêng khu vực Đông Á hoặc Đông Nam Á, mà còn cả ở Nam Á, Mỹ Latinh, Bắc Phi, Nam Phi, Trung Đông và khắp thế giới phương Tây, trở thành một "hiện tượng giải trí toàn cầu".[348] Năm 2012, người Hàn tiếp tục gây sốt khắp thế giới với điệu nhảy ngựa trong ca khúc Gangnam Style của ca sĩ PSY, đạt hơn 3 tỷ lượt xem trên Youtube. Năm 2020, Baby Shark vượt qua Despacito để trở thành video có nhiều lượt xem "nhất mọi thời đại" trên nền tảng này với hơn 7 tỷ[349][350], không chỉ dừng lại ở đó, bài hát thiếu nhi này còn tiếp nối thành công của Gangnam Style, trở thành một "hiện tượng văn hóa toàn cầu mới".[351][352][353][354][355]

Vào ngày 21 tháng 8 năm 2020, MV cho bài hát "Dynamite" của nhóm nhạc BTS đã xác lập kỷ lục Guinness mới khi chính thức trở thành MV ca nhạc đạt số lượng người xem trực tiếp cũng như view cao nhất trên Youtube sau 24 giờ phát hành, với hơn 3 triệu và 101,1 triệu lượt xem chỉ trong vòng một ngày, vượt qua con số 1,66 và 86,3 triệu - kỷ lục mà trước đó nhóm nhạc BLACKPINK đã từng thiết lập với MV "How You Like That"[356][357]. Cũng với ca khúc này, BTS đã đạt hạng #1 Billboard Hot 100 trong hai tuần liên tiếp, đây là điều mà trước đó chưa có nhóm nhạc hay ca sĩ người châu Á nào làm được, là niềm tự hào của nền âm nhạc Hàn Quốc hiện đại nói riêng cũng như châu Á nói chung. Cùng với điện ảnh, K-Pop gây nên một cơn sốt đặc biệt lớn đối với giới trẻ Việt Nam, đi kèm theo đó là một số hệ lụy không đáng có.

SM Entertainment, YG EntertainmentJYP Entertainment là ba công ty lớn, truyền thống và có tầm ảnh hưởng nhất trong ngành công nghiệp giải trí tại Hàn Quốc, thường được gọi chung là "Tam Đại" hay Big Three/Big3, ngoài ra còn có Big Hit Entertainment (nay là HYBE Corporation), Cube Entertainment, Pledis Entertainment, FNC Entertainment, Stone Music Entertainment, Starship Entertainment, FantagioWoollim Entertainment,...[358] Các hãng thu âm này chịu trách nhiệm tìm kiếm, phát hiện tài năng, tuyển dụng, tài trợ, đào tạo và lăng xê cho những nghệ sĩ trực thuộc, ngoài ra họ còn quản lý mọi hoạt động liên quan đến âm nhạc, đảm nhận, phụ trách thương hiệu và quan hệ công chúng của các nghệ sĩ. Hệ thống quản lý nghệ sĩ mặc dù rất chuyên nghiệp, chi tiết nhưng lại quá nghiêm ngặt, khắt khe và áp lực của nhiều công ty giải trí tại Hàn Quốc đã bị một số tờ báo phương Tây đánh giá là "cực đoan"[359], thậm chí đài BBC của Anh đã sử dụng cụm từ "hợp đồng nô lệ" để nói về hệ thống này.[360]

Hầu hết các sáng kiến ​​của chính phủ nhằm mở rộng sự phổ biến của K-pop trên toàn thế giới được thực hiện bởi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đây là cơ quan chịu trách nhiệm chính cho việc thành lập các Trung tâm Văn hóa Hàn Quốc trên toàn thế giới. Các đại sứ quán và lãnh sự quán Hàn Quốc cũng đứng ra tổ chức các buổi hòa nhạc K-pop ở nước ngoài, và Bộ Ngoại giao thường xuyên mời fan hâm mộ Kpop ở nước ngoài tham dự Liên hoan Thế giới K-Pop được tổ chức thường niên tại Hàn Quốc [361]. Ngoài việc gặt hái được những lợi ích kinh tế từ sự phổ biến của K-pop, chính phủ Hàn Quốc đã và đang tận dụng ảnh hưởng của K-pop trong vấn đề ngoại giao. Trong thời đại truyền thông đại chúng phát triển vũ bão như ngày nay, quyền lực mềm (Soft Power) được coi là một chiến lược ngoại giao hiệu quả, tiềm năng và thực dụng hơn tương đối nhiều so với việc chỉ dựa vào quyền lực cứng (Hard Power) truyền thống. Ngoại giao văn hóa thông qua K-pop là một hình thức của quyền lực mềm đang được chính phủ Hàn Quốc thực hiện rất thành công.[362]

Năm 2020, Hàn Quốc là thị trường âm nhạc lớn thứ 2 tại khu vực châu Á (sau Nhật Bản), xếp hạng 6 toàn cầu (sau các thị trường Pháp, Đức, Anh, Nhật Bản và Mỹ), mặc dù vẫn giữ nguyên thứ hạng nhưng mức tăng trưởng so với năm 2019 đã tăng thêm 8.2%.[363]

Noraebang - Karaoke của Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tiếng Triều Tiên không có từ nghĩa tương đương với Karaoke. Thay vào đó, họ gọi loại hình giải trí này là Norae (노래, tiếng hát). Các quán Karaoke (노래방, Noraebang) được tìm thấy ở khắp các ngóc ngách trên những con phố. Cả thanh niên lẫn người lớn tuổi đều say mê loại hình giải trí này.

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Nam diễn viên Song Joong-ki

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ thành công của Shiri (1999), ngành công nghiệp điện ảnh ở Hàn Quốc có sự thăng tiến không ngừng[364]. Đây là một trong số ít những thị trường mà phim nội địa luôn được ưu tiên trước các sản phẩm của Hollywood, thể hiện qua việc tỷ lệ khán giả đến rạp xem phim trong nước thường cao hơn so với các tác phẩm nước ngoài.

Năm 2000, bộ phim Vùng an ninh chung, kể về sự kiện chia cắt bán đảo Triều Tiên là tác phẩm tiêu biểu. Friend tiếp tục là bộ phim thành công của năm 2001. Cô nàng ngổ ngáo thậm chí còn được khán giả Hàn yêu thích hơn cả Chúa tể của những chiếc nhẫn hay Harry Potter. Năm 2004, bộ phim Old Boy giành giải thưởng lớn tại Liên hoan phim Cannes và được bán bản quyền cho nhiều thị trường khác. Sau khi dự liên hoan phim, đạo diễn nổi tiếng Quentin Tarantino đã phát biểu: "Những bộ phim hay, hấp dẫn nhất thế giới hiện đến từ Hàn Quốc và Nhật Bản" đồng thời bản thân ông cũng có cảm tình đặc biệt với tác phẩm điện ảnh "gai góc" và đầy "bạo lực" này.[365][366]

Miramax đã mua lại bản quyền của phim Vợ tôi là Gangster. Những bộ phim nổi tiếng khác như My Sassy Girl, Old Boy hay A Tale of Two Sisters cũng được các nhà làm phim người Mỹ mua bản quyền và làm lại.

Bộ phim The Host - Quái Vật Sông Hàn (2006) và sau đó là bộ phim tiếng Anh Snowpiercer (2013) của đạo diễn điện ảnh Bong Joon-ho kết hợp với nam tài tử Chris Evans, hay Đại thủy chiến (2014) của Kim Han-min và tài tử Choi Min-sik đều là những tác phẩm điện ảnh có doanh thu cao nhất mọi thời đại ở Hàn Quốc và được các nhà phê bình phim nước ngoài đánh giá cao ('Đại thủy chiến' là bộ phim Hàn Quốc đầu tiên đạt mức doanh thu hơn 100 triệu USD)[367][368]. Bộ phim về đề tài tận thế - xác sống Train to Busan (2016) của đạo diễn Yeon Sang-ho cũng là một trong những bộ phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại ở quốc gia này và trở thành bộ phim có doanh thu cao thứ hai tại thị trường Hồng Kông trong năm 2016.[369] Năm 2019, Bong Joon-ho đã cùng với Song Kang-ho[370] tiếp tục giúp cho nền điện ảnh xứ Kim Chi gây được tiếng vang với bộ phim điện ảnh tâm lý xã hội - hài kịch đen mang tựa đề Parasite (Ký sinh trùng), tác phẩm sau đó đã đoạt giải thưởng Cành cọ vàng (Palme d'Or) tại Liên hoan phim Cannes 2019 (Pháp)[371], và đặc biệt nhất là Oscar - giải thưởng danh giá của Viện Hàn Lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ, tại Lễ trao giải Oscar lần thứ 92, Ký sinh trùng đã chiến thắng 4 trên 6 đề cử, cùng với giải thưởng quan trọng nhất - Best Picture, danh sách 4 hạng mục đoạt giải, bao gồm: Phim xuất sắc nhất, Phim Quốc tế xuất sắc nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất cho cá nhân Bong Joon-ho và Kịch bản Gốc xuất sắc nhất, đồng thời, Ký Sinh Trùng cũng trở thành bộ phim giành được nhiều giải thưởng nhất Oscar 2020, đây là bộ phim Hàn Quốc đầu tiên trong lịch sử chiến thắng giải Oscar[372], đặc biệt hơn, thành công của Ký sinh trùng đến vào đúng dịp kỷ niệm 100 năm nền điện ảnh xứ Hàn ra đời và phát triển,[371] qua đó tiếp tục khẳng định vị thế của điện ảnh Hàn Quốc trong làng điện ảnh châu Á nói riêng và thế giới nói chung.

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như ở nhiều nước châu Á khác, tại Việt Nam, phim truyền hình Hàn Quốc hay còn được biết đến với tên gọi K-drama - cũng giành được sự ưu ái đặc biệt. Ngoài những tác phẩm điện ảnh được chiếu ngoài rạp, những bộ phim truyền hình dài tập của Hàn Quốc cũng thu hút một số lượng rất lớn khán giả. Một số Series nổi tiếng của Hàn Quốc có thể kể đến như: Những nàng công chúa nổi tiếng, Thợ săn thành phố, Vì sao đưa anh tới, Ngôi nhà hạnh phúc, Vườn sao băng, Gia đình là số một (phần 2), Tầng lớp Itaewon, Hạ cánh nơi anh hay Hậu duệ mặt trời,...

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển bóng đá quốc gia Hàn Quốc trong một trận đấu tại World Cup 2010.

Khái quát[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Quốc là một nền thể thao mạnh ở châu Á và trên thế giới. Những môn thể thao thế mạnh, sở trường có thể kể đến như là:

  • - đặc biệt là Taekwondo (Đài Quyền đạo hay Thái Cực Đạo) - Quốc võ kiêm môn thể thao mang tính biểu tượng quốc gia của đất nước này.
  • Bóng đá - Đội tuyển bóng đá quốc gia Hàn Quốc thường xuyên giành quyền tham dự tại các kỳ World Cup (với tổng cộng 10 lần tính cho đến hết World Cup 2018, trong đó có tới 9 lần tham dự liên tiếp, nhiều hơn bất kỳ quốc gia châu Á nào khác)[373], từng xếp hạng tư chung cuộc tại World Cup 2002, giải đấu mà Hàn Quốc là đồng chủ nhà cùng với Nhật Bản, lọt vào đến vòng 16 đội tại World Cup 2010 được tổ chức lần đầu tiên ở châu Phi (Cộng hòa Nam Phi là nước chủ nhà), 2 lần vô địch Cúp bóng đá châu Á vào các năm 19561960 bên cạnh 4 lần á quân (vào các năm 1972, 1980, 1988, 2015) cùng với 4 lần hạng 3 (vào các năm 1964, 2000, 2007, 2011). Ngoài ra, đội tuyển Olympic Hàn Quốc cũng đã từng giành huy chương đồng tại Thế vận hội mùa hè 2012 và 2 lần vô địch Á vận hội, Hàn Quốc cùng với Nhật Bản là 2 quốc gia châu Á đầu tiên trong lịch sử giành quyền đăng cai tổ chức World Cup. Nền bóng đá Hàn Quốc hiện nay vẫn đang tiếp tục đi lên, phát triển mạnh mẽ, bài bản như là một trong những nền bóng đá hàng đầu châu Á bên cạnh những đối thủ cạnh tranh truyền thống như Ả Rập Xê Út, Nhật Bản, ÚcIran.

Một số các cầu thủ, cựu cầu thủ, danh thủ bóng đá nổi tiếng: Cha Bum-kun, Ahn Jung-hwan, Park Ji-sung, Lee Chun-soo, Cha Doo-ri, Son Heung-min, Ki Sung-yueng, Koo Ja-cheol, Lee Chung-yong, Lee Jung-Soo, Park Chu-young, Lee Seung-woo, Hong Myeong-bo, Shin Tae-yong, Jo Hyeon-woo, Lee Kang-in, Hwang Hee-chan, Paik Seung-ho,...

Bóng chày được du nhập vào từ khoảng năm 1905 và sau đó đã trở thành một môn thể thao được nhiều người yêu thích và thường xuyên theo dõi ở Hàn Quốc.[374] Liên đoàn Bóng chày Hàn Quốc được thành lập năm 1982, là liên đoàn thể thao chuyên nghiệp đầu tiên ở Hàn Quốc. Đội tuyển bóng chày Hàn Quốc đoạt giải 3 trong Giải Bóng chày Thế giới năm 2006, giải nhì trong năm 2009 và huy chương vàng tại Olympic Bắc Kinh 2008.[375]

Năm 1988, Hàn Quốc đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1988 ở Seoul, quốc gia này được xếp hạng 4, với 12 huy chương vàng, 10 bạc và 11 đồng.[375] và cũng xuất sắc trong các môn như bắn cung, bóng bàn, cầu lông, trượt băng, bóng ném, Hockey trên băng, đấu vật, bóng chày, Judo, Taekwondo, Hapkido, Jiu jitsu, Patincử tạ,... Hàn Quốc cũng đoạt nhiều huy chương ở Thế vận hội Mùa đông so với các quốc gia châu Á khác. Tại Thế vận hội Mùa đông 2010Vancouver, các đội tuyển Hàn Quốc giành tổng cộng 14 huy chương (gồm 6 vàng, 6 bạc và 2 đồng) trên tổng số 45 huy chương (23 vàng, 14 đồng và 8 bạc)[375]. Năm 2018, Hàn Quốc đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa đông 2018Pyeongchang và cũng là lần đầu tiên thế vận hội được tổ chức tại một vùng ngoại ô, đoàn thể thao Hàn Quốc đã đạt tổng số 17 huy chương (gồm 5 vàng, 8 bạc và 4 đồng).

Hàn Quốc đã đăng cai tổ chức các kỳ Đại hội thể thao châu Á trong các năm 1986 (Seoul), 2002 (Busan) và 2014 (Incheon),[376] Đại hội thể thao Mùa đông châu Á năm 1999, sự kiện thể thao liên minh các trường đại học thế giới Universiade mùa đông vào năm 1997 và mùa hè năm 2003. Đồng đăng cai tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới 2002 cùng với Nhật Bản. Kể từ giải đấu năm 2002 cho tới nay, đội tuyển bóng đá quốc gia Hàn Quốc là cái tên 'đầu tiên' và duy nhất thuộc Đông Á nói riêng cũng như Liên đoàn bóng đá châu Á nói chung lọt vào đến vòng bán kết của 1 kỳ World Cup.[377]

Thể thao điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Thể thao điện tử, hay còn được gọi là E-Sports hoặc eSports, dần trở nên rất phổ biến qua những năm gần đây - đặc biệt là trong giới trẻ, không những trở thành một 'nét văn hóa' riêng biệt ở Hàn Quốc[378] mà còn được chính phủ nước này công nhận là 1 "ngành nghề" hợp pháp[379]. Quốc gia này cùng với Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, châu Âu và Bắc Mỹ hiện đang được coi là những khu vực trọng điểm mà E-Sport phát triển mạnh mẽ, được đầu tư lớn, quy tụ nhiều tuyển thủ tài năng và có hệ thống tổ chức các giải đấu chuyên nghiệp nhất trên thế giới[380]. Hai trò chơi được tranh tài thường xuyên là League of Legends (Liên Minh Huyền Thoại) - người Hàn có tổng cộng 6 lần vô địch thế giới ở bộ môn này tính cho đến năm 2020 cùng với StarCraft và gần đây nhất là cái tên PUBG (với 3 lần vô địch thế giới các năm 2017[381], 2018[382], 2019[383][384] và 1 lần Á quân cùng năm 2019[385]). Các giải đấu E-Sport tại Hàn Quốc được quản lý bởi Hiệp hội Thể thao điện tử Hàn Quốc (KeSPA). Một số danh thủ E-Sport nổi tiếng của Hàn Quốc có thể kể tới như: Lim Yo-Hwan, Lee Sang-hyeok (còn được biết đến với nghệ danh 'Faker') - tuyển thủ Liên Minh Huyền Thoại chuyên nghiệp từng 3 lần vô địch thế giới, Choi Yeon-Sung, Park Sung-JoonLee Jae-Dong,...[386]

Hàn Quốc còn là quốc gia rất mạnh về bộ môn Cờ Vây, với một loạt các danh thủ nổi tiếng thế giới như: Lee Sedol, Cho Nam-chul, Kim In, Cho Hun-hyun, Seo Bong-soo, Yoo Chang-hyuk, Lee Chang-ho, hay Park Yeong-hun,...

Một số ngày lễ lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Tên tiếng Việt Hangul Romaja Ghi chú
1 tháng 1 Tết Dương lịch 양력설 Yanglyeogseol
1 tới 3 tháng 1 (âm lịch) Tết Nguyên Đán 설날 Seollal
1 tháng 3 Phong trào 1 tháng 3 3.1절 Samil Jeol Kỷ niệm ngày đòi độc lập của nhân dân Hàn Quốc (1/3/1919)
5 tháng 4 Tết cây xanh 식목일 Singmogil
5 tháng 5 Tết thiếu nhi 어린이날 Eorininal
8 tháng 4 (âm lịch) Lễ Phật Đản 부처님 오신날 Bucheonim Osinnal Ngày sinh Đức Phật
6 tháng 6 Ngày tưởng niệm 현충일 Hyeonchung-il
17 tháng 7 Ngày lập hiến (Chế Hiến tiết) 제헌절 Jehyeonjeol 17/7/1948
15 tháng 8 Ngày độc lập (Quang Phục tiết) 광복절 Gwangbokjeol Kỉ niệm ngày giành độc lập từ tay phát xít Nhật (15/8/1945)
15 – 18 tháng 8 (âm lịch) Tết Trung Thu 추석 Chuseok
3 tháng 10 Ngày khai sinh dân tộc (Khai Thiên tiết) 개천절 Gaecheonjeol
25 tháng 12 Giáng sinh 크리스마스 Keuliseumaseu

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cũng sử dụng quốc ca này

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “A New Way of Seeing Country Social Responsibility” (PDF). Faculty of Philosophy and Social-Political Sciences. Alexandru Ioan Cuza University: 6. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014.
  2. ^ a ă â South Korea National Statistical Office's 19th Population and Housing Census (2015): "Religion organizations' statistics". Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2016
  3. ^ http://image.kmib.co.kr/online_image/2016/1219/201612191738_61220011145071_1.jpg
  4. ^ “Distribution of income (Gini index)”. e-National Index. Daejeon: Korea National Statistical Office. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2017.
  5. ^ “Human Development Indicators”. United Nations Development Programme. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2020.
  6. ^ U.S. News & World Report. “South Korea: Overview of South Korea - 2020 Overall Best Countries Ranking”. www.usnews.com.
  7. ^ Cox, Wendell (4 tháng 11 năm 2019). “2019 DEMOGRAPHIA WORLD URBAN AREAS: POPULATION, LAND AREA & URBAN DENSITIES”. www.newgeography.com. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  8. ^ “2015년 1월호 통계월보”. Bộ Tư pháp Đại Hàn Dân Quốc. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2015.
  9. ^ PricewaterhouseCoopers. “The 150 richest cities in the world by GDP in 2020: Richest cities and urban areas in 2020”. www.citymayors.com.
  10. ^ Milken Institute. “Worlds Best Cities: Best Performing Cities 2020”. www.bestcities.org.
  11. ^ a ă “South Korea Population 2020”. www.worldometers.info. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  12. ^ a ă Muscato, Christopher. “South Korea Ethnic Groups”. study.com. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2020.
  13. ^ "About Korea". Trang web quảng bá cho Hàn Quốc. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2015.
  14. ^ “News”. Royal Ontario Museum.
  15. ^ http://www.opm.go.kr/warp/webapp/content/view?meta_id=english&id=35
  16. ^ KBS WORLD Radio (29 tháng 10 năm 2012). “Gwanggaeto, nhà chinh phục vĩ đại (Gwanggaeto, The Great Conqueror)”. rki.kbs.co.kr.
  17. ^ Prehistoric Times - Gojoseon & Korean Cultural Center New York. “Korea Information - History: Three Kingdoms And Other State”. www.koreanculture.org.
  18. ^ Franklin Rausch, jckim (24 tháng 8 năm 2009). “Ahn Jung-geun - An ordinary man, an extra-ordinary life: Why Did Ahn Jung-geun Kill Hirobumi Ito?”. www.koreatimes.co.kr. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2020.
  19. ^ “South Korea history - geography: Economic and social developments”. www.britannica.com. Encyclopedia Britannica. 18 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2020.
  20. ^ Vietnam+ (31 tháng 12 năm 2019). “Hàn Quốc là quốc gia viện trợ nhiều nhất cho Triều Tiên trong năm 2019”. www.vietnamplus.vn.
  21. ^ Emmott, Bill (4 tháng 1 năm 2010). “South Korea: Finding its place on the world stage”. www.mckinsey.com. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2020.
  22. ^ Ana Maria Santacreu (20 tháng 3 năm 2018). “How Did South Korea's Economy Develop So Quickly?”. www.stlouisfed.org. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2020.
  23. ^ a ă Christy Choi & Amy Nip (30 tháng 11 năm 2012). “How Korean culture stormed the world”. www.scmp.com. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2020.
  24. ^ Investopedia (21 tháng 11 năm 2019). “Economics: Top 25 Developed and Developing Countries”. www.investopedia.com.
  25. ^ IMF. “World Economic and Financial Surveys World Economic Outlook Database - WEO Groups and Aggregates Information April 2020”. www.imf.org. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2020.
  26. ^ a ă “2019 Human Development Index Ranking”. hdr.undp.org. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2020.
  27. ^ UNDP. “Latest Human Development Index Ranking: Human Development Index (HDI) Ranking - From the 2020 Human Development Report”. hdr.undp.org.
  28. ^ a ă Logan Chamberlain (16 tháng 11 năm 2020). “Life Expectancy for Countries: The places where people live the longest”. www.infoplease.com.
  29. ^ a ă Minh Thu (1 tháng 7 năm 2020). “Tuổi thọ của người dân Triều Tiên hay Hàn Quốc cao hơn?”. infonet.vietnamnet.vn.
  30. ^ Choi Jae-hee (10 tháng 8 năm 2020). “OECD forecasts S. Korea's GDP ranking to take 9th”. www.koreaherald.com. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2020.
  31. ^ Julie Sohn (10 tháng 8 năm 2020). “S. Korea Forecast To Climb Up 3 Notches To 9th In 2020 Global GDP Rankings”. tbs.seoul.kr.
  32. ^ a ă “S. Korea tipped to rank 9th in 2020 global GDP rankings”. en.yna.co.kr. 10 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  33. ^ a ă IMF (20 tháng 11 năm 2020). “Projected GDP Ranking 2020”. statisticstimes.com.
  34. ^ a ă â IMF. “World Economic Outlook Database: Report for Selected Countries and Subjects: October 2020”. www.imf.org. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  35. ^ Jung Suk-yee (11 tháng 8 năm 2020). “South Korea Expected to Rise in GDP Ranking”. www.businesskorea.co.kr. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2020.
  36. ^ “List of Asian countries by GDP”. statisticstimes.com. 24 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  37. ^ a ă Brand Finance. “Nation Brands 2020 Ranking”. brandirectory.com. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  38. ^ The Economist Intelligence Unit. “Democracy Index 2019: A year of democratic setbacks and popular protest” (PDF). www.in.gr.
  39. ^ “Democracy Index 2019”. www.eiu.com.
  40. ^ “Average Internet Speeds By Country”. www.fastmetrics.com.
  41. ^ a ă Global Firepower. “2020 Military Strength Ranking”. www.globalfirepower.com.
  42. ^ a ă â Global Firepower. “Defense Spending by Country (2021)”. www.globalfirepower.com.
  43. ^ a ă â b Anh Minh (Theo CNN) (7 tháng 1 năm 2021). “Ba nước châu Á đứng top đầu hộ chiếu quyền lực nhất 2021”. vnexpress.net.
  44. ^ a ă Phạm Huyền (22 tháng 2 năm 2018). “Hàn Quốc lập kỷ lục khi sở hữu hộ chiếu quyền lực nhất thế giới”. vnexpress.net. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2020.
  45. ^ Bảo Ngọc (10 tháng 1 năm 2020). “Hộ chiếu Nhật Bản quyền lực nhất 2020”. vnexpress.net. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2020.
  46. ^ “Passport Index: Global Passport Power Rank 2020: Passports of the world ranked by their total mobility score”. www.passportindex.org. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2020.
  47. ^ Passport Index. “Passport Index: Global Passport Power Rank 2020: Passports of the world ranked by their total mobility score”. www.passportindex.org. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  48. ^ a ă “SOCIAL PROGRESS SUMMARY: Republic of Korea”. www.socialprogress.org. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  49. ^ a ă “2020 Social Progress Index rankings”. www.socialprogress.org. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  50. ^ a ă “2020 Social Progress Index rankings” (PDF). www.socialprogress.org. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  51. ^ a ă Sheridan, Greg (27 tháng 11 năm 2008). “The plucky country and the lucky country draw closer”. www.theaustralian.news.com.au.
  52. ^ a ă President Obama Vows Strengthened U.S.-South Korea Ties Lưu trữ 2009-07-04 tại Wayback Machine 2 Apr 2009. Embassy of the United States, Seoul.
  53. ^ Aja Romano (26 tháng 2 năm 2018). “How K-pop became a global phenomenon”. www.vox.com.
  54. ^ Asia Exchange (4 tháng 10 năm 2018). “THE KOREAN WAVE IS TAKING THE WORLD BY STORM!”. asiaexchange.org.
  55. ^ Martin Roll. “Korean Wave (Hallyu) – The Rise of Korea's Cultural Economy & Pop Culture”. martinroll.com.
  56. ^ “Japanese fans mob TV star in "Korea fever". Truy cập 18 tháng 2 năm 2015.
  57. ^ Jung Suk-yee (31 tháng 8 năm 2020). “Korean Society Is Aging Rapidly”. www.businesskorea.co.kr.
  58. ^ a ă Mai Lâm (7 tháng 12 năm 2019). “Những cô gái thề 'chết cũng không lấy chồng'. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  59. ^ Claire Lee (8 tháng 11 năm 2018). “Human rights report says Korea has 'serious racism problem'. www.koreaherald.com.
  60. ^ Katrin Park (17 tháng 11 năm 2020). “South Korea Struggles to Confront Its Own Racial Prejudices”. foreignpolicy.com.
  61. ^ a ă Hồng Hạnh (Theo Reuters) (13 tháng 5 năm 2019). “Làn sóng cử nhân thất nghiệp đổ xô ra nước ngoài của Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  62. ^ Julian Ryall (15 tháng 9 năm 2020). “South Korea's soaring suicide, self-harm rates pinned on pandemic”. www.dw.com.
  63. ^ David D. Lee & Park Chan-kyong (13 tháng 12 năm 2020). “Young South Korean women are turning to suicide in ever greater numbers. Covid-19 is just the start of their problems”. www.scmp.com.
  64. ^ a ă SCMP/Reuters (3 tháng 12 năm 2019). “Thanh niên Hàn Quốc chật vật trong phân hóa giàu nghèo”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  65. ^ Vũ Hoàng (27 tháng 11 năm 2019). “Tầng lớp 'thìa đất' tuyệt vọng trong xã hội Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  66. ^ An Chi. Sông Hán và Hàn Quốc. Ngày 10 tháng 12 năm 2012.
  67. ^ a ă http://www.hanquochoc.edu.vn/cps/nghiencuu/kinhtekinhdoanh/2010/9/1.aspx
  68. ^ “[한국갤럽 여론조사] '나라 잘 이끈 대통령'에 국민 44% "박정희". news.kmib.co.kr.
  69. ^ Se Young Jang (17 tháng 7 năm 2017). “The Gwangju Uprising: A Battle over South Korea's History”. www.wilsoncenter.org.
  70. ^ Plunk, Daryl M. "South Korea's Kwangju Incident Revisited." Asian Studies Backgrounder No. 35 (September 16) 1985: p. 5.
  71. ^ “Flashback: The Kwangju massacre”. BBC News. ngày 17 tháng 5 năm 2000.
  72. ^ "Two Decedes After Seoul Olympics". Korea Times. ngày 30 tháng 10 năm 2007.
  73. ^ Gunnar Berge: Chairman of The Norwegian Nobel Committee. “The Nobel Peace Prize 2000: Kim Dae-jung”. www.nobelprize.org.
  74. ^ “Hàn Quốc bắt khẩn cấp cựu Tổng thống Lee Myung-bak”. Truy cập 2 tháng 4 năm 2018.
  75. ^ “Cựu Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak bị kết án 17 năm tù”.
  76. ^ Phan Yến (theo Korea Times) (31 tháng 3 năm 2017). “Các đời Tổng thống Hàn Quốc: Người tự vẫn, người ngồi tù”. www.tienphong.vn.
  77. ^ Thành Đạt (27 tháng 3 năm 2018). “Vòng xoáy lao lý của các cựu tổng thống Hàn Quốc”. dantri.com.vn.
  78. ^ a ă “Hàn Quốc trục xuất một Hàn kiều vì dám ca ngợi Triều Tiên”. Một Thế giới. Truy cập 27 tháng 9 năm 2015.
  79. ^ a ă CHOE SANG-HUN (10 tháng 1 năm 2015). “South Korea Deports American Over Warm Words for Trips to North” (bằng tiếng Anh). The New York Times. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2017.
  80. ^ a ă “South Korea to deport Korean-American accused of praising North”. www.theguardian.com. The Guardian.
  81. ^ Phương Anh (16 tháng 9 năm 2017). “Triều Tiên ngồi trên nguồn tài nguyên khoáng sản trị giá 10.000 tỷ USD”. thanhnien.vn.
  82. ^ Thành Đạt (15 tháng 9 năm 2017). “Tiết lộ về kho tài nguyên 10 nghìn tỷ USD của Triều Tiên”. dantri.com.vn.
  83. ^ Sầm Hoa (11 tháng 10 năm 2018). “Choáng với trữ lượng 'kho báu' của Triều Tiên”. vietnamnet.vn.
  84. ^ Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 230.
  85. ^ “Park Chung-hee Quotes”. BrainyQuote.
  86. ^ “Park Chung-hee Quotes”. BrainyQuote.
  87. ^ Michael Schuman (2009). The Miracle. The Epic Story of Asia’s Quest for Wealth. HarperCollins Publishers. New York. Tr. 36
  88. ^ http://www.vietdc.org/wp-content/uploads/2008/10/park-chung-hee-xay-de1bbb1ng-kinh-te1babf-de1baa1i-han.doc
  89. ^ Lie, Han Unbound, 73.
  90. ^ Woo, Race to the Swift, 132.
  91. ^ Michael Schuman (2009). Sđd. Tr. 31.
  92. ^ Cumings, Bruce. Korea's Place in the Sun: a Modern History. New York: Norton, 2005. Print.
  93. ^ Korea: A Century of Change By Jürgen Kleiner
  94. ^ a ă “[책갈피 속의 오늘]1965년 전투병 베트남 파병 의결”.
  95. ^ “A Perspective on Korea's Participation in the Vietnam War”.
  96. ^ American Studies Association. “The Legacies of Korean Participation in the Vietnam War: The Rise of Formal Dictatorship”. www.allacademic.com. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2012.
  97. ^ “Chuyện người chuyện ta”. 8 tháng 7 năm 2017.
  98. ^ Stewart Peter Lone and Gavan McCormack, Korea since 1850 (Melbourne, Australia: Longman, 1994), 148.
  99. ^ T. W. Kang, Is Korea the Next Japan? Understanding the Structure, Strategy, and Tactics of America’s Next Competitor (New York: The Free Press, 1989), cited in Byoung-lo Philo Kim, Two Koreas in Development: A Comparative Study of Principles and Strategies of Capitalist and Communist Third World Development, (New Brunswick, NJ: Transaction, 1992), 193.
  100. ^ Inglehart, Ronald & Christian Welzel (2009). How Development Leads to Democracy. “Foreign Affairs”, March/ April.
  101. ^ “Park Chung-hee Quotes”. BrainyQuote.
  102. ^ “Ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hoá gia đình Hàn Quốc hiện đại (Phần 1)”. cks.inas.gov.vn. Trung Tâm Nghiên Cứu Hàn Quốc.
  103. ^ “South Korea - Society under Park”. countrystudies.us.
  104. ^ Hà Thu. “Gyeongbu - cao tốc được làm bằng ý chí của người Hàn”. vnexpress.net.
  105. ^ a ă Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 244.
  106. ^ a ă Eichengreen, et al., From Miracle to Maturity, 44–45.
  107. ^ Lê Chung (4 tháng 1 năm 2021). “Hàn Quốc chính thức miễn phí giáo dục 3 cấp từ năm 2021”. tuoitre.vn.
  108. ^ Choi Seong Hyeon (5 tháng 3 năm 2021). “Can Southeast Asia Follow South Korea's Democratization Model?”. thediplomat.com.
  109. ^ a ă â “chaebol”. Merriam-Webster. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2011.
  110. ^ a ă Jung, Dong-Hyeon (ngày 1 tháng 8 năm 2004). “Korean Chaebol in Transition”. Sage. 40 (3): 299–303. doi:10.1177/000944550404000306. S2CID 154720682. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2013.
  111. ^ http://www.ey.com/Publication/vwLUAssets/EY-G20-country-report-2013-South-Korea/$FILE/EY-G20-country-report-2013-South-Korea.pdf
  112. ^ Moskalev, Sviatoslav; Park, Seung Chan (2010). “South Korean Chaebols and Value-Based Management”. Journal of Business Ethics. 92: 49–62. doi:10.1007/s10551-009-0138-5. S2CID 154121368.
  113. ^ Coverage of Roh Moo-hyun campaign financing scandal: Donald Macintyre (1 tháng 12 năm 2003). “Losing Face”. Time.
  114. ^ Hyondok Choi (2011). Sđd. Tr. 104-105.
  115. ^ “Korea's Geography (Land, Territory, Landforms, Climate and Weather, Four Seasons)”. www.asianinfo.org.
  116. ^ Peter Prokosch. “The Tidal Flats of the Yellow Sea within the East Asia Pacific Flyway of Coastal Birds: Saemangeum Seawall, built at the expense of international important tidal flats, South Korea”. www.grida.no.
  117. ^ Climate data in seoul, 1971 ~ 2000(tiếng Triều Tiên), Korea Meteorological Administration.
  118. ^ Vũ Hoàng (10 tháng 8 năm 2018). “Nắng nóng kỷ lục trong hơn 100 năm qua ở Hàn Quốc, 42 người chết”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  119. ^ Trọng Giáp. “Moon Jae-in tuyên bố thắng cử tổng thống Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  120. ^ An Hồng. “Tân tổng thống Hàn Quốc - con của gia đình tị nạn Triều Tiên”. vnexpress.net.
  121. ^ KBS WORLD Radio & YONHAP News (3 tháng 2 năm 2021). “S. Korea Reclassified as "Full Democracy" on EIU's Global Democracy Index 2020”. world.kbs.co.kr.
  122. ^ “South Korea's Armed Forces, CSIS (Page 24)” (PDF). 25 tháng 7 năm 2006.
  123. ^ a ă Nan Tian, Alexandra Kuimova, Diego Lopes da Silva, Pieter D. Wezeman, Siemon T. Wezeman. “TRENDS IN WORLD MILITARY EXPENDITURE, 2019” (PDF). www.sipri.org.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  124. ^ a ă Duffin, Erin (11 tháng 5 năm 2020). “The 15 countries with the highest military spending worldwide in 2019”. www.statista.com. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  125. ^ GlobalSecurity on Military of Republic of Korea, Globalsecurity.org
  126. ^ “Conscription 'Should Be Phased Out Slowly'. Chosun Ilbo. ngày 6 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2017.
  127. ^ Stuart Smallwood (30 tháng 10 năm 2014). “Global Research: South Korea's Armed Forces to Remain Fully under US Military Command”. www.globalresearch.ca.
  128. ^ “Tyranny of the Weak”. Google Books. Truy cập 11 tháng 8 năm 2016.
  129. ^ “Public Opinion on North Korea from the Chicago Council on Global Affairs: No Evidence of Decoupling”. PIIE. 11 tháng 8 năm 2017.
  130. ^ KBS WORLD Radio (26 tháng 5 năm 2011). “Hàn Quốc ký kết xuất khẩu máy bay huấn luyện siêu âm T-50 sang Indonesia”. world.kbs.co.kr.
  131. ^ TTXVN (26 tháng 5 năm 2011). “Indonesia nhập máy bay siêu thanh của Hàn Quốc”. vov.vn.
  132. ^ Vũ Anh (23 tháng 12 năm 2019). “Hàn Quốc nhận UAV hơn 120 triệu USD”. vnexpress.net. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  133. ^ Thế Việt (theo Yonhap) (21 tháng 7 năm 2020). “Hàn Quốc ghi tên vào danh sách 10 quốc gia có vệ tinh liên lạc quân sự”. baoquocte.vn.
  134. ^ David Hambling (Aerospace & Defense) (4 tháng 12 năm 2020). “Why South Korea Is Building Robotic Artillery”. www.forbes.com.
  135. ^ Lê Ngọc (theo Forbes và Defensenews) (8 tháng 12 năm 2020). “Tại sao Hàn Quốc lại phát triển pháo binh robot?”. vov.vn.
  136. ^ Báo Lạng Sơn (theo VOV) (8 tháng 12 năm 2020). “Tại sao Hàn Quốc lại phát triển pháo binh robot?”. baolangson.vn.
  137. ^ Báo điện tử Hà Nội mới (theo BBC). “Robot sát thủ của Hàn Quốc”. www.hanoimoi.com.vn.
  138. ^ Vũ Anh (theo Reuters) (9 tháng 4 năm 2021). “Hàn Quốc ra mắt tiêm kích đắt nhất lịch sử”. vnexpress.net.
  139. ^ “통일연구원”. www.kinu.or.kr. Truy cập 17 Tháng tư 2021.
  140. ^ 2014 World Service Poll Lưu trữ 2015-03-05 tại Wayback Machine BBC
  141. ^ “South Korea Country Profile”. MIT. ngày 10 tháng 3 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2018.
  142. ^ https://news.zing.vn/bong-ma-thuc-dan-nhat-ban-va-su-chia-re-100-nam-chua-nguoi-o-han-quoc-post923600.html
  143. ^ The official Dokdo site by Ministry of Foreign Affairs of Republic of Korea The official video and a few promotional materials in many languages
  144. ^ The official Dokdo site by Gyeonsangbuk-do Province of Republic of Korea Official videos and a few more promotional materials in many languages.
  145. ^ Dokdo in the East Sea Detailed consideration, old maps and other resources on Dokdo Historical Issues by Northeast Asian History Foundation, in 4 languages
  146. ^ The Issue of Takeshima The Ministry of Foreign Affairs of Japan
  147. ^ Bảo Anh (theo SCMP). “Hàn Quốc cảnh báo Nhật Bản không hạn chế xuất khẩu công nghệ cao”. vnexpress.net.
  148. ^ Ánh Ngọc (theo SCMP). “Làn sóng tẩy chay hàng Nhật Bản tại Hàn Quốc giữa căng thẳng thương mại”. vnexpress.net.
  149. ^ Vũ Anh (theo AFP). “Hàn Quốc ngừng chia sẻ tin tình báo với Nhật”. vnexpress.net.
  150. ^ Hà Thu (theo Diplomat/CNN). “Căng thẳng thương mại Nhật – Hàn ngày càng trầm trọng”. vnexpress.net.
  151. ^ Như Phúc (theo CNN). “Mâu thuẫn Nhật - Hàn đe dọa nguồn cung chip nhớ toàn cầu”. vnexpress.net.
  152. ^ Bảo Anh (theo Bloomberg, Reuters). “Các hãng công nghệ có thể rơi vào cuộc chiến thương mại mới”. vnexpress.net.
  153. ^ Bảo Lâm (theo CNBC). “Xung đột Nhật - Hàn có thể đẩy giá smartphone lên cao”. vnexpress.net.
  154. ^ “韓国政府による日本文化開放政策(概要)” [Chính sách mở văn hóa đại chúng Nhật Bản của chính phủ Hàn Quốc (bản thảo)]. Đại sứ quán Nhật Bản tại Hàn Quốc (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2010.
  155. ^ “정병국 "일본 드라마 개방할 때 됐다"(종합)” [Chung Byoung-guk: 'Đã đến lúc mở cửa cho phim truyền hình Nhật Bản']. www.yna.co.kr (bằng tiếng Hàn).
  156. ^ namsh@yna.co.kr. “<芸能>韓国アイドルの新曲 日本語使用で「放送不適合」”. jp.yna.co.kr.
  157. ^ Kenta Kawasaki (Fuji News Network). “今や韓国に完敗!? 日本の大衆文化開放から20年”. www.fnn.jp (bằng tiếng Nhật).
  158. ^ Tselichtchev, Ivan (8 tháng 10 năm 2017). “Beyond THAAD: the real reason why China is angry with South Korea”. www.scmp.com. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2020.
  159. ^ "Background Briefing with a Senior Administration Official on National Security Advisor Susan Rice's Visit to China ngày 26 tháng 7 năm 2016." Beijing/China. Embassy of the United States, n.d. Web.
  160. ^ “Lotte của Hàn Quốc đành rút khỏi Trung Quốc”. www.bbc.com/vietnamese. 15 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  161. ^ Mullen, Jethro; Han, Sol (ngày 7 tháng 3 năm 2017). “One company is bearing the brunt of China's anger over U.S. missile system”. CNN Money. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2017.
  162. ^ Hernandez, Javier; Guo, Owen; McMorrow, Ryan (ngày 9 tháng 3 năm 2017). “South Korean Stores Feel China's Wrath as U.S. Missile System Is Deployed”. The New York Times. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2017.
  163. ^ News Agencies (23 tháng 12 năm 2019). “South Korea and China look to improve ties after THAAD dispute”. www.aljazeera.com. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2020.
  164. ^ Tisdall, Simon. "Wikileaks Cables Reveal China 'ready to Abandon North Korea'" The Guardian, 29 Nov. 2010. Web. 7 Dec. 2010.<https://www.theguardian.com/world/2010/nov/29/wikileaks-cables-china-reunified-korea>
  165. ^ “People around the globe are divided in their opinions of China”. Pew Research Center. ngày 30 tháng 9 năm 2019.
  166. ^ a ă Thanh Tâm (theo SCMP) (15 tháng 4 năm 2021). “Người Hàn ngày càng mất thiện cảm với Trung Quốc”. vnexpress.net.
  167. ^ Hồng Hạnh (theo Guardian) (1 tháng 12 năm 2020). “Dân Trung - Hàn đấu khẩu vì kimchi”. vnexpress.net.
  168. ^ Hồ Thiên (theo Reuters) (1 tháng 12 năm 2020). “Dân mạng Trung Quốc và Hàn Quốc khẩu chiến về kim chi”. cand.com.vn.
  169. ^ Vĩnh Khang (2 tháng 12 năm 2020). “Cư dân mạng Hàn - Trung tranh cãi nảy lửa về kim chi”. plo.vn.
  170. ^ Josephine Tee, Elaine Yau & Jonathan Wong (12 tháng 2 năm 2021). “Chinese niangao vs Korean tteokbokki – which rice cake dish came first, and what's the origin story of the tasty Lunar New Year staple?”. www.scmp.com.
  171. ^ Anh Minh (26 tháng 11 năm 2020). “10 quốc gia du khách muốn tới sống nhất”. vnexpress.net. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2020.
  172. ^ Khánh Lynh (28 tháng 5 năm 2019). “Những người trẻ Hàn Quốc đến Việt Nam theo 'tiếng gọi' K-Move”. vnexpress.net.
  173. ^ Thanh Thủy (26 tháng 11 năm 2019). “Top 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam: Samsung Electronics Thái Nguyên vẫn "giữ chặt" ngôi vương”. baodautu.vn. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  174. ^ Ngọc Hiển (16 tháng 1 năm 2019). “Doanh nghiệp FDI đứng đầu danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất VN”. tuoitre.vn. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  175. ^ Ambitious Man (15 tháng 3 năm 2019). “SAMSUNG ĐÓNG GÓP TỚI 28% TỔNG GDP CỦA VIỆT NAM NĂM 2018”. vnreview.vn. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  176. ^ Hoàng Nam (16 tháng 5 năm 2016). “Hà Nội đưa tiếng Hàn Quốc vào chương trình cấp THCS và THPT”. vov.vn.
  177. ^ Thanh Hùng (4 tháng 3 năm 2021). “Giáo dục: Tiếng Hàn trở thành môn học 'bắt buộc' từ lớp 3”. vietnamnet.vn.
  178. ^ Dương Tâm (4 tháng 3 năm 2021). “Thí điểm dạy tiếng Hàn và Đức hệ 10 năm ở phổ thông”. vnexpress.net.
  179. ^ Ngọc Diệp (5 tháng 10 năm 2020). “Vì sao ngành Hàn Quốc học 'hot' đến mức lấy điểm 30/30?”. tuoitre.vn.
  180. ^ Dương Tâm (4 tháng 10 năm 2020). “Một ngành học lấy điểm chuẩn là 30”. vnexpress.net.
  181. ^ Mạnh Hùng - Hữu Tuyên (9 tháng 7 năm 2019). “Việt Nam - Hàn Quốc đẩy mạnh hợp tác phòng, chống tội phạm”. dangcongsan.vn. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  182. ^ Huyền Lê (10 tháng 2 năm 2019). “Hàn Quốc chấp thuận gánh thêm chi phí quân sự với Mỹ”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  183. ^ Vũ Anh (8 tháng 8 năm 2019). “Trump: Hàn Quốc đồng ý trả thêm 'phí bảo vệ' cho Mỹ”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  184. ^ Vũ Anh (8 tháng 11 năm 2019). “Mỹ muốn Hàn Quốc trả gần 5 tỷ USD 'phí bảo vệ'. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  185. ^ Ánh Ngọc (15 tháng 11 năm 2019). “Mỹ nói Hàn Quốc giàu, cần chi thêm 'phí bảo vệ'. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  186. ^ Phương Vũ (19 tháng 12 năm 2019). “Mỹ - Hàn bất đồng về 'phí bảo vệ'. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  187. ^ Vũ Anh (theo Reuters) (10 tháng 3 năm 2021). “Hàn Quốc trả hơn một tỷ USD 'phí bảo vệ' cho Mỹ”. vnexpress.net.
  188. ^ Lee Yong-soo (6 tháng 7 năm 2018). “New U.S. Ambassador Says Hello to S.Koreans”. english.chosun.com.
  189. ^ a ă “Major Indicators of Korea”. Korean Statistical Information Service. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2016.
  190. ^ “South Korea”. CIA Country Studies. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2006.
  191. ^ Populations for all cities tính đến năm 2005, “Summary of Census Population (by administrative district/sex/age)”. NSO Database. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2009.
  192. ^ Kim Rahn (22 tháng 5 năm 2009). “South Korea's birthrate world's lowest”. The Korea Times. Seoul. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2010.
  193. ^ “South Korea: Lowest Birthrate in the World”. LifeSiteNews. 28 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2010.
  194. ^ “South Korea”. CIA World Factbook. 26 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011.
  195. ^ Anh Ngọc (Theo Bloomberg). “Hàn Quốc đau đầu trước xu hướng phụ nữ quay lưng với hôn nhân”. vnexpress.net.
  196. ^ "Childbirths in S. Korea grow 5.7 pct in 2010" Lưu trữ tháng 5 26, 2012 tại Wayback Machine. Yonhap News Agency. August 24, 2011.
  197. ^ "Korea's Total Fertility Rate Still Near the Bottom of the World" Lưu trữ tháng 11 19, 2011 tại Wayback Machine. The Chosun Ilbo. November 17, 2011.
  198. ^ “The World Factbook”. CIA. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2013.
  199. ^ Life expectancy at birth, total (years) |Data |Table. Data.worldbank.org. Truy cập June 20, 2016.
  200. ^ Leipziger, Danny (6 tháng 2 năm 2014). “South Korea's Japanese Mirror”. The Diplomat. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014.
  201. ^ An Hồng. “Thanh niên Hàn Quốc ngại hẹn hò, sợ kết hôn, không sinh con”. vnexpress.net.
  202. ^ Hồng Hạnh (theo CNN/FT). “Hàn Quốc đối mặt tỷ lệ sinh thấp kỷ lục”. vnexpress.net.
  203. ^ Hồng Hạnh (14 tháng 7 năm 2019). “Chính sách thúc đẩy đàn ông Hàn Quốc 'mua' cô dâu nước ngoài”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  204. ^ Tạ Lư (12 tháng 7 năm 2019). “Thực trạng cô dâu ngoại ở Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  205. ^ Vũ Hoàng (11 tháng 7 năm 2019). “Những cô dâu ngoại bị chối bỏ ở Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  206. ^ Katie Warren. “Meet Masayoshi Son, the billionaire founder of SoftBank and one of the richest men in Japan, who has a $16.3 billion fortune and owns a $117.5 million Silicon Valley estate”. www.businessinsider.in.
  207. ^ Hà Thu. 'Bill Gates' Nhật Bản thành người giàu nhất nước”. vnexpress.net.
  208. ^ Hà Thu (theo Reuters). “Masayoshi Son - nhà đầu tư quyền lực nhất giới công nghệ”. vnexpress.net.
  209. ^ Tùng Hạ. “Em trai tỷ phú SoftBank 'đổ' tiền vào startup Đông Nam Á”. startup.vnexpress.net.
  210. ^ Hà Thu (theo Reuters). “Chủ tịch World Bank từ chức”. vnexpress.net.
  211. ^ VTV8 (19 tháng 7 năm 2017). “Người mẫu da màu đầu tiên ở Hàn Quốc”. vtv.vn. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  212. ^ Kim Min-joo (6 tháng 11 năm 2017). “Nigerian-Korean model makes Time's 'Most Influential Teens of 2017'. www.koreaherald.com. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  213. ^ Haynes, Suyin (2 tháng 11 năm 2017). “The 30 Most Influential Teens of 2017”. time.com. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  214. ^ Koreaboo (8 tháng 11 năm 2017). “Mixed Korean model Han Hyun Min named one of TIME's 30 most influential teens of 2017”. www.koreaboo.com. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  215. ^ An Hồng. “Cuộc chiến tìm việc gian nan của thanh niên Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  216. ^ An Hồng. “Làn sóng người trẻ Hàn Quốc muốn rời khỏi đất nước”. vnexpress.net.
  217. ^ Thùy Linh (theo CNN). “Người Hàn Quốc quay cuồng trong áp lực làm thêm giờ”. vnexpress.net.
  218. ^ “Japan's suicide rate exceeds world average: WHO report The Japan Times”. The Japan Times. Truy cập 27 tháng 9 năm 2015.
  219. ^ “Log In”. Truy cập 27 tháng 9 năm 2015.
  220. ^ “North Korea's suicide rate among worst in world, says WHO report”. the Guardian. Truy cập 27 tháng 9 năm 2015.
  221. ^ Thùy Linh (Theo Koreabiz) (21 tháng 1 năm 2021). “Giới trẻ Hàn Quốc có xu hướng bạo lực vì thiếu việc làm”. vnexpress.net.
  222. ^ Duyên Nguyễn (1 tháng 10 năm 2015). “Bi kịch của gái mại dâm U80 ở Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  223. ^ Hồng Hạnh (30 tháng 3 năm 2017). “Nỗi đau của gái mại dâm U80 ở Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  224. ^ Minh Anh (5 tháng 12 năm 2019). “Giải mã hiện tượng người già phạm tội ở Hàn Quốc”. baophapluat.vn. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  225. ^ Trần Phương (19 tháng 12 năm 2018). “Băng đảng thanh niên Hàn Quốc không đáng lo bằng... 'tội phạm tóc bạc'. tuoitre.vn. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  226. ^ Anh Duy (19 tháng 12 năm 2018). “Làn sóng tội phạm "đầu bạc" phản ánh góc tối xã hội Hàn Quốc”. congan.com.vn. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  227. ^ Hồng Hạnh. “Làm việc đến khi chết - bi kịch của người già Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  228. ^ Hàn Quốc sốc vì tự tử ở đại học quý tộc Đình Ngân, Vietnamnet, 24/05/2011, theo New York Times. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2011.
  229. ^ 5 vụ tự tử chấn động học viện danh tiếng Lơ Nguyễn (Tổng hợp từ Korea Herald/Asia News Network), Vietnamet, 11/04/2011. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2011.
  230. ^ Huyền Lê (10 tháng 7 năm 2020). “Buổi chiều định mệnh của thị trưởng Seoul”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  231. ^ Anh Ngọc (10 tháng 7 năm 2020). “Lời tuyệt mệnh của thị trưởng Seoul”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  232. ^ Anh Ngọc (11 tháng 7 năm 2020). “Cảnh sát kết luận thị trưởng Seoul tự tử”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  233. ^ Phương Vũ (10 tháng 7 năm 2020). “Thị trưởng Seoul chết vì tình hay tiền?”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  234. ^ Đăng Khoa (14 tháng 5 năm 2010). “Nạn tự tử tập thể ở Hàn Quốc”. plo.vn.
  235. ^ a ă Khóa học chết thử ở Hàn Quốc VnExpress. 11/7/2011. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2011.
  236. ^ “Xem trước khi in: Tỉ lệ tự tử ở Hàn Quốc tăng gấp đôi trong vòng 5 năm”. Báo Điện tử Tiền Phong. Truy cập 1 tháng 2 năm 2016.
  237. ^ Thùy Linh (dịch theo Worldatlas) (24 tháng 10 năm 2019). “5 quốc gia người lao động phải làm việc nhiều nhất trên thế giới”. giadinhvietnam.com.
  238. ^ Hồng Hạnh (6 tháng 7 năm 2017). “Làm việc tới chết ở Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  239. ^ Hồng Hạnh. “Nỗi đau sau 'làm việc tới chết' ở Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  240. ^ An Hồng. 'Nền kinh tế độc thân' ở Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  241. ^ Hendin, Herbert, Shuiyuan Xiao, Xianyun Li, Tran Thanh Huong, Hong Wang, and Ulrich Hegerl. "Suicide Prevention in Asia: Future Directions." WHO. Truy cập November 4, 2014. http://www.who.int/mental_health/resources/suicide_prevention_asia_chapter10.pdf
  242. ^ South Korea has the highest rate of deaths by suicide in the developed world — but a 2011 law helped decrease rates by 15% - Business Insider ngày 9 tháng 7 năm 2018
  243. ^ “International Religious Freedom Report 2008 - Korea, Republic of”. State.gov. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009.
  244. ^ “The Korea Times:Islam takes root and blooms”. Islamawareness.net. ngày 22 tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009.
  245. ^ Phương Vũ (Theo SCMP/NYTimes) (5 tháng 3 năm 2020). “Những bê bối giáo phái ám ảnh Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  246. ^ “South Korea Infant Mortality Rate 1950-2020”. www.macrotrends.net.
  247. ^ “Infant Mortality Rate”. www.cia.gov.
  248. ^ “Intentional Homicide Victims”. dataunodc.un.org. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  249. ^ “Victims of intentional homicide, 1990-2018”. dataunodc.un.org. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  250. ^ Macrotrends LLC (Data Source: World Bank). “South Korea Literacy Rate 1990-2021”. www.macrotrends.net.
  251. ^ “World Happiness Report 2019”. worldhappiness.report.
  252. ^ “Range of rank on the PISA 2006 science scale” (PDF).
  253. ^ Thùy Linh. “Quá trình vươn lên top đầu thế giới của nền giáo dục Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  254. ^ Ngọc Lan (4 tháng 1 năm 2011). “Phát triển nền kinh tế không tài nguyên ở Hàn Quốc”. cks.inas.gov.vn.
  255. ^ a ă Thùy Linh. “Mặt tối của nền giáo dục Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  256. ^ “4 Quốc gia đi đầu thế giới trong ngân sách đầu tư vào giáo dục”. eurolinkedu.com. 3 tháng 1 năm 2019.
  257. ^ “4 quốc gia dẫn đầu Thế giới về ngân sách đầu tư cho giáo dục”. megastudy.edu.vn. 1 tháng 3 năm 2019.
  258. ^ Kim Kwang-tae (29 tháng 8 năm 2019). “S. Korea unveils record high budget for 2020”. en.yna.co.kr.
  259. ^ a ă WEF (6 tháng 11 năm 2020). “5 quốc gia chi nhiều nhất cho nghiên cứu và phát triển”. vnexpress.net.
  260. ^ “Destination Guides: Study in South Korea”. www.topuniversities.com. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  261. ^ “Hệ thống giáo dục Hàn Quốc thành công nhất thế giới”. nhandan.com.vn. 1 tháng 11 năm 2005.
  262. ^ Ripley, Amanda (25 tháng 9 năm 2011). “South Korea: Kids, Stop Studying So Hard!”. Time.
  263. ^ Diamond, Anna (17 tháng 11 năm 2016). “Why South Korea Is So Fixated With the College-Entrance Exam”.
  264. ^ Thanh Hằng (14 tháng 1 năm 2020). “Những điểm khác biệt của giáo dục Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  265. ^ “Korea Awash with the Under-Skilled and Overeducated”. The Chosun Ilbo. 8 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2016.
  266. ^ a ă Reeta Chakrabarti (2 tháng 12 năm 2013). “South Korea's schools: Long days, high results”. BBC News. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2016.
  267. ^ “The Pressures of the South Korean Education System”. 20 tháng 4 năm 2013.
  268. ^ “Global Innovation Index 2020” (PDF). www.wipo.int.
  269. ^ “Korea” (PDF). OECD. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2020.
  270. ^ "Korea: Overview of the Education System (EAG 2019)" (2019). GPSEducation.OECD.org. OECD. Retrieved February 21, 2020.
  271. ^ “S Korea faces problem of 'over-education' - FT.com”. Financial Times. Truy cập 14 tháng 8 năm 2016.
  272. ^ “정은경 질병관리본부장…전염병 관리 첫 여성사령탑” [Jeong Director of KCDC... first woman chief] (bằng tiếng Hàn).Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  273. ^ “본부장 악력” [Director profile] (bằng tiếng Hàn).Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  274. ^ “Moon names former doctor as KCDC head – Korea Biomedical Review”. www.koreabiomed.com. ngày 27 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2019.
  275. ^ “The 100 Most Influential People Of 2020: Jung Eun-kyeong”. time.com. 22 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2020.
  276. ^ Khánh Trần (theo Modernmet & Shutterstock) (6 tháng 3 năm 2021). “10 tòa nhà cao nhất thế giới”. vnexpress.net.
  277. ^ Economic Growth Rates of Advanced Economies. International Monetary Fund. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  278. ^ “South Korea GDP grew revised 6.2pc in 2010”. Business Recorder. Karachi. Agence France-Presse. 30 tháng 3 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2011.
  279. ^ “World's Top Export Countries”. www.worldstopexports.com.
  280. ^ “Leading import countries worldwide in 2019”. www.statista.com.
  281. ^ “Discover the strongest country brands” (PDF).
  282. ^ Schwab, Klaus. “Insight Report: The Global Competitiveness Report 2019” (PDF). World Economic Forum.
  283. ^ The Heritage Foundation. “2020 Index of Economic Freedom: Country Rankings”. www.heritage.org.
  284. ^ Xuân Ngọc. “Bí quyết vượt khủng hoảng của các tập đoàn Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  285. ^ Hà Thu (8 tháng 12 năm 2019). “Tạo ra công ty 9 tỷ USD nhờ huỷ IPO phút chót”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  286. ^ Kim Hyo-jin (10 tháng 8 năm 2020). “S. Korea's nominal GDP ranking to rise to 9th this year: OECD”. pulsenews.co.kr.
  287. ^ IMF. “World Economic Outlook Database: Report for Selected Countries and Subjects: October 2020”. www.imf.org. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  288. ^ Schwab, Klaus. “The Global Competitiveness Report 2019” (PDF). World Economic Forum.
  289. ^ a ă IMF. “World Economic Outlook Database: Report for Selected Countries and Subjects: October 2020”. www.imf.org. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  290. ^ a ă IMF. “World Economic Outlook Database: Report for Selected Countries and Subjects: October 2020”. www.imf.org. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  291. ^ Lee Sun-young (8 tháng 11 năm 2019). “[Weekender] How open is Korea to men's makeup?”. www.koreaherald.com. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  292. ^ “Development Assistance Committee (DAC)”. www.oecd.org. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  293. ^ "Quan hệ đồng minh Hàn-Mỹ vẫn đang vững chắc". world.kbs.co.kr. 28 tháng 11 năm 2019.
  294. ^ “ITER Members”. ITER. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2017.
  295. ^ “South Korea wins landmark Gulf nuclear power deal”. Reuters. 29 tháng 12 năm 2009.
  296. ^ “All systems go for Jordan's first nuclear reactor”. UPI. 31 tháng 3 năm 2010.
  297. ^ “South Korea-Jordan sign $130M nuclear deal”. World Nuclear News. 27 tháng 7 năm 2010.
  298. ^ “Korea, Argentina Sign MOU for Nuclear Plant Project”. The Chosun Ilbo. Seoul. 18 tháng 9 năm 2010.
  299. ^ “Argentina eyes nuclear role in S. America”. UPI. 17 tháng 9 năm 2010.
  300. ^ a ă “Korea nearing Turkey nuclear plant contract”. The Korea Times. Seoul. 15 tháng 6 năm 2010.
  301. ^ Choe Sang-Hun (14 tháng 7 năm 2010). “U.S. Wary of South Korea's Plan to Reuse Nuclear Fuel”. The New York Times.
  302. ^ “S. Korean Pyroprocessing Awaits U.S. Decision”. Arms Control Association. 6 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2010.
  303. ^ “South Korea charges 100 with corruption over nuclear scandal”. Truy cập 18 tháng 2 năm 2015.
  304. ^ “Another Korean Nuclear Issue”. The Diplomat. 19 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010.
  305. ^ a ă An Khang (27 tháng 12 năm 2020). 'Mặt Trời nhân tạo' của Hàn Quốc lập kỷ lục vận hành”. vnexpress.net. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2020.
  306. ^ a ă “Bên trong Mặt Trời nhân tạo lập kỷ lục 100 triệu độ”. vnexpress.net. 2 tháng 1 năm 2021.
  307. ^ “Double-digit Growth”. BusinessKorea. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2018.
  308. ^ “Roads Paved(% of Total Roads) by Country”. ChartsBin.
  309. ^ “TGV South Korea High Speed Rail Route Operated by Korail”. www.railway-technology.com.
  310. ^ “Railways in the Republic of Korea”. www.sinfin.net.
  311. ^ Express bus terminal guide Lưu trữ tháng 9 23, 2010 tại Wayback Machine, Korea Express Bus Lines Association.
  312. ^ “Surging Seoul: Traffic at Incheon Airport is booming. But can South Korea's Big Two airlines capitalize?”. Airline Weekly. 23 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018.
  313. ^ “Company Info”. Korean Air. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018.
  314. ^ Lee Eun-joo (July 2, 2010). "If you're looking for a ticket to Jeju, leave late". Joongang Daily (Seoul). Truy cập July 15, 2010.
  315. ^ Miller, Peter (5 tháng 11 năm 2020). “The World's Best Airports in 2020 are announced”. www.worldairportawards.com.
  316. ^ Coffey, Helen (25 tháng 11 năm 2019). “The world's best airline for 2020”. www.independent.co.uk.
  317. ^ Rosen, Eric (27 tháng 11 năm 2019). “The 2020 List Of The World's Best Airlines Is Out Now”. www.forbes.com.
  318. ^ Châu Trần (16 tháng 10 năm 2020). “10 sân bay tốt nhất thế giới 2020”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  319. ^ “Cultural Heritage, the source for Koreans' Strength and Dream”. Cha.go.kr. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009.
  320. ^ Hawley, Samuel: The Imjin War. Japan's Sixteenth-Century Invasion of Korea and Attempt to Conquer China, The Royal Asiatic Society, Korea Branch, Seoul 2005, ISBN 89-954424-2-5, p.195f.
  321. ^ Turnbull, Stephen: Samurai Invasion. Japan’s Korean War 1592-98 (Luân Đôn, 2002), Cassell & Co ISBN 0-304-35948-3, p.244
  322. ^ Roh, Young-koo: "Yi Sun-shin, an Admiral Who Became a Myth", The Review of Korean Studies, Vol. 7, No. 3 (2004), p.13
  323. ^ Radu, Sintia (28 tháng 1 năm 2020). “Top 10 Countries for Technological Expertise, Ranked by Perception”. www.usnews.com.
  324. ^ Marc Getzoff, Phạm Bình (17 tháng 1 năm 2020). “Most Technologically Advanced Countries In The World 2020”. www.gfmag.com.
  325. ^ Damm, Christoph (26 tháng 1 năm 2020). “These are the world's most innovative countries. The US isn't even in the top 5”. www.businessinsider.com.
  326. ^ Florida, Richard (3 tháng 10 năm 2011). “The World's Leading Nations for Innovation and Technology”. www.bloomberg.com.
  327. ^ World Population Review. “Most Technologically Advanced Countries 2020”. worldpopulationreview.com.
  328. ^ Newsroom (3 tháng 6 năm 2016). “12 most technologically advanced nations in the world”. en.protothema.gr.
  329. ^ Samsung number One in the World Lưu trữ tháng 1 15, 2013 tại Wayback Machine, International Data Corporation, January 29, 2010. Truy cập July 7, 2010.
  330. ^ “LG Brand Ranking”. www.rankingthebrands.com.
  331. ^ Interbrand (20 tháng 10 năm 2020). “Samsung Electronics Becomes Top Five in Interbrand's Best Global Brands 2020”. news.samsung.com/us.
  332. ^ Mỹ Anh (22 tháng 10 năm 2020). “Những thương hiệu ôtô đắt giá nhất thế giới 2020”. vnexpress.net. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2020.
  333. ^ Gorton, David (14 tháng 11 năm 2019). “6 Countries That Produce the Most Cars”. www.investopedia.com.
  334. ^ Workman, Daniel (23 tháng 10 năm 2020). “Car Exports by Country”. www.worldstopexports.com.
  335. ^ "Koreans love their mobile phones", Joongang Daily, January 28, 2009. Truy cập July 7, 2010.
  336. ^ “Household Download Index”. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2012.
  337. ^ Thanh Hương (TTXVN). 'Vượt mặt' Mỹ-Trung, Hàn Quốc là nước đầu tiên triển khai mạng 5G toàn quốc”. baotintuc.vn.
  338. ^ CHÍP (theo Trí Thức Trẻ). “Hàn Quốc trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới thương mại hóa mạng 5G, vượt qua Mỹ và Trung Quốc”. genk.vn.
  339. ^ Nam Nguyễn (theo BNews). “Hàn Quốc thương mại hóa mạng 5G đầu tiên trên thế giới”. www.techtimes.vn.
  340. ^ VOV. “Hàn Quốc trở thành nước đầu tiên cung cấp dịch vụ 5G”. vov.vn.
  341. ^ Trung tâm Tin Tức VTV24. “Hàn Quốc là nước đầu tiên triển khai mạng 5G toàn quốc”. vtv.vn.
  342. ^ Phan Văn Hòa (1 tháng 7 năm 2020). “Hàn Quốc dẫn đầu cuộc đua về tốc độ mạng 5G”. vietnamnet.vn. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2020.
  343. ^ Điệp Anh (9 tháng 12 năm 2020). “Khác biệt giữa mạng 5G ở Hàn Quốc và Mỹ”. vnexpress.net. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2020.
  344. ^ Minh Hải. “Hàn Quốc ra mắt mạng 5G đầu tiên trên thế giới”. nguoilambao.vn.
  345. ^ Soumitra Dutta, Bruno Lanvin. “THE NETWORK READINESS INDEX 2020” (PDF). networkreadinessindex.org.
  346. ^ The VinePair Team. “MAP: What Country Drinks the Most Alcohol?”. vinepair.com.
  347. ^ Global Drinking Demographics. “Sources: Alcohol Consumption by Country 2021”. worldpopulationreview.com.
  348. ^ An Hồng. “Kpop - công cụ tuyên truyền hòa bình của Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  349. ^ Bảo Lâm (3 tháng 11 năm 2020). 'Baby Shark' là video YouTube được xem nhiều nhất mọi thời đại”. vnexpress.net.
  350. ^ Ben Beaumont-Thomas (2 tháng 11 năm 2020). “Baby Shark becomes most viewed YouTube video ever, beating Despacito”. www.theguardian.com.
  351. ^ Alves, Vera (4 tháng 9 năm 2018). “Everything you should know about the Baby Shark phenomenon”. www.nzherald.co.nz.
  352. ^ Gibson, Caitlin (14 tháng 9 năm 2018). “The story of 'Baby Shark': How toddlers around the world made a K-pop earworm go viral”. www.washingtonpost.com.
  353. ^ Cerretani, Jessica (6 tháng 11 năm 2019). “Why do kids love "Baby Shark"? A Boston Children's music therapist explains”. discoveries.childrenshospital.org.
  354. ^ Romano, Aja (21 tháng 3 năm 2019). “Baby Shark (doo doo do doo do doo), explained”. www.vox.com.
  355. ^ Harding, Amanda (30 tháng 8 năm 2019). “There's a Simple Explanation Why the 'Baby Shark' Song is So Ridiculously Popular”. www.cheatsheet.com.
  356. ^ Hiểu Nhân (21 tháng 8 năm 2020). “BTS phá kỷ lục của Blackpink”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  357. ^ Rolli, Bryan (21 tháng 8 năm 2020). “BTS's 'Dynamite' Video Obliterates YouTube Premiere Record [Updated]”. Forbes.com.
  358. ^ “Top 7 of the biggest Korean entertainment companies”. weproject.media. 21 tháng 5 năm 2020.
  359. ^ “K-Pop takes America: how South Korea's music machine is conquering the world”. The Verge. 18 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2017.
  360. ^ Williamson, Lucy (ngày 15 tháng 6 năm 2011). “The dark side of South Korean pop music”. BBC News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2017.
  361. ^ “K-POP World Festival (케이팝월드페스티벌)”. Visit Korea. Korean Tourism Organization. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2017.
  362. ^ Kim, Tae Young; Jin, Dal Young (2016). “Cultural Policy in the Korean Wave: An Analysis of Cultural Diplomacy Embedded in Presidential Speeches” (PDF). International Journal of Communication. 10: 5514–5534.
  363. ^ Smirke, Richard (5 tháng 4 năm 2020). “IFPI Global Music Report 2020: Music Revenues Rise For Fifth Straight Year to $20 Billion”. www.billboard.com.
  364. ^ Nguyễn Minh Tiệp & Hoàng Thị Thu Thủy - Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam (21 tháng 8 năm 2020). “Phát triển ngành công nghiệp điện ảnh trong chính sách gia tăng "sức mạnh mềm" văn hóa của Hàn Quốc”. www.tapchicongsan.org.vn.
  365. ^ “Tarantino Compliments Korean Movie 'Old Boy'. www.hancinema.net. 20 tháng 5 năm 2004.
  366. ^ Lawson, Terry (17 tháng 4 năm 2005). “Tarantino opens doors for graphic Korean filmmaker”. www.seattletimes.com.
  367. ^ KOFIC. “Korean Film Biz Zone - Box Office: All time”. www.koreanfilm.or.kr.
  368. ^ Dorothy Pomerantz. “What The Economics Of 'Snowpiercer' Say About The Future Of Film”. www.forbes.com.
  369. ^ Hye Won Kang Kim. “Asia Insights: Could K-Film Ever Be As Popular As K-Pop In Asia?”. www.forbes.com.
  370. ^ Thanh An. “Song Kang Ho - 'Quái vật phòng vé' của điện ảnh Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  371. ^ a ă Ân Nguyễn. “Phim Hàn Quốc lần đầu giành giải Cành Cọ Vàng”. vnexpress.net.
  372. ^ KBS World (10 tháng 2 năm 2020). "Ký sinh trùng" thắng lớn với 4 tượng vàng Oscar”. world.kbs.co.kr. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  373. ^ Nguyễn Thanh Điệp (20 tháng 6 năm 2018). “Quốc gia châu Á nào nhiều lần dự World Cup nhất?”. zingnews.vn.
  374. ^ KOIS (2003), pág. 632.
  375. ^ a ă â COI (2010). “Republic of Korea”. Olympic.org (bằng tiếng Anh). Truy cập 12 tháng 4 năm 2010.
  376. ^ “Asian Games” (bằng tiếng Anh). Consejo Olímpico de Asia. Truy cập 16 tháng 11 năm 2010.
  377. ^ FIFA (2010). “República de Corea: Clasificación Mundial/FIFA Coca Cola”. FIFA.com (bằng tiếng español). Truy cập 12 tháng 4 năm 2010.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  378. ^ KaioShin (theo NA Lolesports) (3 tháng 10 năm 2014). “LCK/LPL: Thể thao điện tử trong nền văn hóa Hàn Quốc”. lienminh360.vn.
  379. ^ Loris CarryUs (Theo Helino) (3 tháng 7 năm 2019). “LMHT: Hàn Quốc công nhận thể thao điện tử là 'quốc bảo', xây cả Sân vận động quốc gia dành riêng cho Esports”. gamek.vn.
  380. ^ Huỳnh Lộc & Mai Hồng. “Vì sao eSports ở Hàn Quốc phát triển không đâu sánh bằng?”. zingnews.vn.
  381. ^ Hạ San (24 tháng 8 năm 2017). “PUBG: Người Hàn vô địch giải Solo chuyên nghiệp đầu tiên nhờ 'cáo già'. thanhnien.vn.
  382. ^ “PGI 2018: Người Hàn vô địch thể thức TPP”. gamesao.vietnamnet.vn. 27 tháng 7 năm 2018.
  383. ^ Đại Việt (25 tháng 11 năm 2019). “Đội Hàn Quốc vô địch PUBG thế giới, nhận 2 triệu USD tiền thưởng”. zingnews.vn.
  384. ^ Thành Hưng (25 tháng 11 năm 2019). “Kết quả PUBG thế giới Global Championship 2019: GEN.G vô địch”. webthethao.vn.
  385. ^ Thành Hưng (11 tháng 8 năm 2019). “PUBG Nations Cup 2019: Việt Nam xuất sắc lọt Top 4, ngáng đường Top 1!”. webthethao.vn.
  386. ^ “Why Is StarCraft So Popular In Korea?”. Kotaku.com. 24 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2012.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Alice H. Asia's Next Giant: South Korea and Late Industrialization. Oxford University Press, New York: Amsden. 1989.
  • Appleman, Roy E (1961). History, Department of the Army. South to the Naktong, North to the Yalu. Washington: Office of the Chief of Military.
  • Ed, Wayne Surdam. Ann Arbor (1990). Bibliography of Asian Studies, 1985. Michigan: Association for Asian Studies.
  • Blair, Clay (1988). The Forgotten War: America in Korea, 1950-1953. New York: Times Books.