Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.

Afghanistan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Tiểu vương quốc Hồi giáo Afghanistan
Quốc huy Afghanistan
Quốc huy
Tiêu ngữلا إله إلا الله، محمد رسول الله
"Lā ʾilāha ʾillā llāh, Muhammadun rasūlu llāh"
"Không có thánh thần ngoài Allah, và Muhammad là sứ giả cuối cùng của thánh Allah." (Shahada)
Quốc caدا د باتورانو کور
Dā də bātorāno kor
Afghanistan (orthographic projection).svg
Tổng quan
Thủ đô
và thành phố lớn nhất
Kabul
33°B 66°Đ / 33°B 66°Đ / 33; 66[10]
Ngôn ngữ chính thức
Sắc tộc
Tôn giáo chính
Tên dân cưAfghan[a][8][9]
Chính trị
Chính phủTiểu vương quốc Hồi giáo Afghanistan
• Lãnh đạo tối cao
Hibatullah Akhundzada
Hasan Akhund (quyền)
• Phó Thủ tướng thứ nhất
Abdul Ghani Baradar (quyền)
• Phó Thủ tướng thứ hai
Abdul Salam Hanafi (quyền)
Lịch sử
Hình thành
1709
1747
1823
19 tháng 8 năm 1919
9 tháng 6 năm 1926
17 tháng 7 năm 1973
7 tháng 9 năm 1996
26 tháng 1 năm 2004
15 tháng 8 năm 2021
Địa lý
Diện tích  
• Tổng cộng
652,864 km2 (hạng 40)
252 mi2
• Mặt nước (%)
không đáng kể
Dân số 
• Ước lượng 2020
31.390.200[11] (hạng 44)
48,08/km2 (hạng 174)
119/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2018
• Tổng số
$72,911 tỷ[12] (hạng 96)
$2.024[12] (hạng 169)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2018
• Tổng số
$21,657 tỷ[12] (hạng 111)
• Bình quân đầu người
$493[12] (hạng 177)
Đơn vị tiền tệAfghani (افغانی) (AFN)
Thông tin khác
Gini? (2008)Giảm theo hướng tích cực 27,8[13]
thấp
HDI? (2019)Tăng 0,511[14]
thấp · hạng 169
Múi giờUTC+4:30 Lịch Solar (D†)
Giao thông bênphải
Mã điện thoại+93
Mã ISO 3166AF
Tên miền Internet.af افغانستان.

Afghanistan (/æfˈɡænɪstæn, æfˈɡɑːnɪstɑːn/ /æfˈɡænɪstæn, æfˈɡɑːnɪstɑːn/;[15] Pashto / Dari: افغانستان, Afġānestān), tên gọi chính thức là Tiểu vương quốc Hồi giáo Afghanistan là một quốc gia miền núi không giáp biển ở ngã tư TrungNam Á. Afghanistan giáp với Pakistan ở phía đông và nam, Iran ở phía tây, Turkmenistan, Uzbekistan, và Tajikistan ở phía bắc, và Trung Quốc ở phía đông bắc. Có diện tích 652.000 kilômét vuông (252.000 dặm vuông Anh), nó là một quốc gia miền núi với đồng bằng ở phía bắc và tây nam. Kabul là thủ đô và thành phố lớn nhất nước này, với dân số ước tính khoảng 4,6 triệu người chủ yếu gồm các dân tộc Pashtun, Tajiks, HazarasUzbek. Cái tên Afghanistan có nghĩa "Vùng đất của người Afghan". Afghanistan hiện được quản lý bởi Tiểu vương quốc Hồi giáo Afghanistan do Taliban kiểm soát, sau sự sụp đổ của nhà nước Cộng hòa Hồi giáo Afghanistan được quốc tế công nhận vào ngày 15 tháng 8 năm 2021.

Con người đã sống ở khu vực ngày nay là Afghanistan ít nhất 50.000 năm trước.[16] Con người định cư xuất hiện trong khu vực này cách đây 9.000 năm, phát triển dần dần thành nền văn minh lưu vực sông Ấn (địa điểm Shortugai ), nền văn minh Oxus (địa điểm Dashlyji), và nền văn minh Helmand (địa điểm Mundigak) trong giai đoạn thiên niên kỷ thứ 3 TCN.[17] Người Ấn-Arya di cư từ khu vực Bactria - Margiana đến Gandhara, tiếp theo là sự trỗi dậy của nền văn hóa Yaz I trong thời kỳ đồ sắt (khoảng 1500–1100 TCN),[18] đã gắn liền với nền văn hóa được mô tả trong Avesta, văn bản tôn giáo cổ của Hỏa giáo.[19] Khu vực này, sau đó được gọi là "Ariana", rơi vào tay người Ba Tư Achaemenid vào thế kỷ thứ 6 TCN. Người Ba Tư sau đó đã chinh phục các khu vực ở phía đông đến tận thung lũng sông Hằng. Alexander Đại đế xâm chiếm khu vực này trong thế kỷ thứ 4 TCN, và kết hôn với Roxana ở Bactria trước khi ông thực hiện chiến dịch thung lũng Kabul, nơi ông chiến đấu với các bộ lạc Aspasioi và Assakan. Vương quốc Hy Lạp-Bactria trở thành phần cuối phía đông của thế giới Hy Lạp. Sau cuộc chinh phục của người da đỏ Maurya, Phật giáoẤn Độ giáo đã phát triển mạnh mẽ trong khu vực này trong nhiều thế kỷ. Hoàng đế Kushan Kanishka, người trị vì hai thủ đô KapisiPuruṣapura, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền bá Phật giáo Đại thừa đến Trung Quốc và Trung Á. Nhiều triều đại Phật giáo khác cũng bắt nguồn từ khu vực này, bao gồm Kidarites, Hephthalites, Alkhons, Nezaks, ZunbilsTurk Shahis.

Người Hồi giáo đã đưa Hồi giáo đến HeratZaranj thuộc đế quốc Sasan vào giữa thế kỷ thứ 7, trong khi việc Hồi giáo hóa đầy đủ hơn đã đạt được từ thế kỷ 9 đến 12 dưới các triều đại Saffarid, Samanid, GhaznavidGhurid. Các phần của khu vực này sau đó được các đế chế Khwarazmian, Khalji, Timurid, Lodi, Sur, MughalSafavid cai trị.[20] Lịch sử chính trị của nhà nước Afghanistan hiện đại bắt đầu với triều đại Hotak, với người sáng lập Mirwais Hotak tuyên bố miền nam Afghanistan độc lập vào năm 1709. Năm 1747, Ahmad Shah Durrani thành lập Đế chế Durrani với thủ đô tại Kandahar. Năm 1776, thủ đô Durrani được chuyển đến Kabul trong khi Peshawar trở thành thủ đô mùa đông;[21] sau này bị mất vào tay người Sikh vào năm 1823. Vào cuối thế kỷ 19, Afghanistan trở thành một quốc gia đệm trong "Ván Cờ Lớn" giữa hai đế quốc AnhNga.[22][23]

Trong chiến tranh Anh-Afghanistan lần thứ nhất, 1839-1842, lực lượng Anh đến từ Ấn Độ lúc đầu giành quyền kiểm soát Afghanistan, nhưng sau đó đã bị đánh bại một cách dứt khoát. Sau Chiến tranh Anh-Afghanistan lần thứ ba vào năm 1919, đất nước này đã có thể độc lập thoát khỏi ảnh hưởng của nước ngoài. Afghanistan trở thành một chế độ quân chủ dưới thời Amanullah Khan. Tuy nhiên vào năm 1973 Zahir Shah bị lật đổ và một nước cộng hòa được thành lập. Năm 1978, sau cuộc đảo chính lần thứ hai, Afghanistan lần đầu tiên trở thành một nhà nước xã hội chủ nghĩa, gây ra Chiến tranh Liên Xô-Afghanistan trong những năm 1980 chống lại phiến quân mujahideen. Đến năm 1996, phần lớn đất nước bị nhóm Taliban với chủ nghĩa chính thống Hồi giáo cai trị như chế độ toàn trị. Taliban đã bị mất quyền lực sau cuộc xâm lược của Hoa Kỳ vào năm 2001 nhưng vẫn kiểm soát một phần đáng kể đất nước này. Cuộc chiến diễn ra giữa chính phủ mới do Mỹ thành lập và Taliban đã làm dày thêm hồ sơ nhân quyềnquyền phụ nữ ở Afghanistan, với nhiều hành vi vi phạm mà cả hai bên đều vi phạm, chẳng hạn như giết hại dân thường, bắt cóc và tra tấn. Do sự phụ thuộc sâu rộng của chính phủ Afghanistan đối với Mỹ về mặt quân sựviện trợ kinh tế, một số người coi Afghanistan như quốc gia chư hầu của Mỹ.[24] Năm 2021, Hoa Kỳ rút quân khỏi Afghanistan, và chỉ ít tháng sau thì Taliban giành lại quyền kiểm soát đất nước sau khi đánh đổ chính phủ do Hoa Kỳ hậu thuẫn.

Afghanistan là một nước có khủng bố, nghèo đói, suy dinh dưỡng trẻ em và tham nhũng ở mức cao. Ngoài ra, Afghanistan còn là thành viên của Liên hợp quốc, Tổ chức Hợp tác Hồi giáo, Hiệp hội Hợp tác Khu vực Nam Á, Nhóm 77, Tổ chức Hợp tác Kinh tếPhong trào Không liên kết. Nền kinh tế của Afghanistan là nền kinh tế lớn thứ 96 trên thế giới, với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là 72,9 tỷ USD theo sức mua tương đương; quốc gia này kém hơn nhiều về GDP bình quân đầu người (PPP), xếp thứ 169 trong số 186 quốc gia tính đến năm 2018.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Cái tên Afghānistān dịch thành "Vùng đất của người Afghan". Tên ngày này xuất phát từ từ Afghan.

"Stan" có nghĩa là đất hay địa điểm. Afghanistan có nghĩa là vùng đất của người Afghanistan. Từ "stan" cũng được sử dụng trong tên của Kurdistan và Uzbekistan.

Nguồn gốc và ý nghĩa từ "Afghan"[sửa | sửa mã nguồn]

Người Pashtuns đã bắt đầu sử dụng thuật ngữ Afghan là tên gọi họ ít nhất từ thời kỳ Hồi giáo trở về sau. Theo W. K. Frazier Tyler, M. C. Gillet và nhiều học giả khác, "Từ Afghan lần đầu xuất hiện trong lịch sử ở thời Hudud-al-Alam năm 982. Bách khoa toàn thư Iran giải thích[25]:

"Từ một quan điểm sắc tộc và có tính hạn chế hơn, 'Afghān' là thuật ngữ những người Afghanistan nói tiếng Ba Tư (và nói chung những nhóm sắc tốc không sử dụng tiếng Paštō) chỉ người Paštūn. Sự cân bằng [của] Afghan [và] Paštūn đã được phổ biến rộng rãi cả bên trong và bên ngoài Afghanistan, bởi liên minh bộ tộc Paštūn chiếm ưu thế áp đảo trong nước, cả về dân số và chính trị."@

Từ điển giải thích thêm:

"Thuật ngữ 'Afghān' có lẽ đã được dùng để chỉ người Paštūn từ những thời cổ đại. Dưới hình thức Avagānā, nhóm sắc tộc này lần đầu tiên đã được nhà thiên văn học Ấn Độ Varāha Mihira đề cập ở đầu thế kỷ thứ VI trong tác phẩm Brihat-samhita của ông."

Bằng chứng trong văn học Pashto truyền thống ủng hộ lý thuyết này, ví dụ trong những văn bản thế kỷ XVII nhà thơ Pashto Khushal Khan Khattak đã viết[26]:

"Rút kiếm ra và giết chết bất kỳ kẻ nào, kẻ nói Pashtun và Afghan không phải là một! người Ả Rập biết điều này và người Roma cũng thế: người Afghan là người Pashtun, người Pashtun là người Afghan!"

Nguồn gốc và ý nghĩa từ "Afghanistan"[sửa | sửa mã nguồn]

Phần cuối của cái tên, -stān, là một hậu tố Ấn-Iran với nghĩa "địa điểm", nó rất thường xuất hiện trong các ngôn ngữ trong vùng.

Thuật ngữ "Afghanistan", nghĩa "Vùng đất của người Afghan", từng được Babur, Hoàng đế Môgôn, đề cập tới ở thế kỷ XVI trong cuốn hồi ký của ông, để gọi những vùng lãnh thổ phía nam Kabul nơi người Pashtun sinh sống (được gọi là "Afghans" bởi người Babur)[27]. Về quốc gia "Afghanistan" hiện đại, Bách khoa toàn thư Hồi giáo[28] đã viết:

"Afghānistān đã mang tên này từ giữa thế kỷ XVIII, khi quyền ưu của tộc người Afghan (Pashtun) bắt đầu được khẳng định: trước đó các tỉnh có tên gọi khác nhau, nhưng đất nước không phải là một đơn vị chính trị xác định, và các thành phần của nó không liên kết với nhau bởi sự đồng nhất chủng tộc hay ngôn ngữ. Trước kia từ này chỉ đơn giản có nghĩa 'vùng đất của người Afghan', một vùng lãnh thổ hạn chế không bao gồm nhiều phần hiện nay của quốc gia nhưng thực sự có bao gồm các vùng lãnh thổ hiện đã độc lập hay đang ở trong lãnh thổ Pakistan."

Cho tới thế kỷ XIX, cái tên này chỉ được sử dụng cho vùng đất truyền thống của người Pashtun, trong khi thực thể gồm cả vương quốc được gọi là Vương quốc Kabul, như đã được nhà sử học Anh Mountstuart Elphinstone nói tới[29]. Những vùng khác của đất nước trong một số giai đoạn được thừa nhận như những vương quốc độc lập, như Vương quốc Balkh ở cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX[30].

Với sự mở rộng và tập trung hóa của quốc gia, chính quyền Afghan đã chấp nhận và mở rộng cái tên "Afghanistan" cho toàn bộ vương quốc, sau khi cái tên dịch sang tiếng Anh của nó, "Afghanland", đã xuất hiện trong nhiều hiệp ước giữa British RajTriều đại Qajar Ba Tư, để chỉ những vùng đất phụ thuộc Triều đại Barakzai của người Pashtun tại Kabul[31]. "Afghanistan" trở thành cái tên phổ biến chỉ toàn bộ vương quốc được công chúng phương Tây biết đến năm 1857 bởi Friedrich Engels khi ông viết về vương quốc này trong New American Cyclopædia[32]. Nó đã trở thành tên chính thức khi nước này được cộng đồng quốc tế công nhận năm 1919, sau khi giành lại độc lập hoàn toàn từ người Anh[33] và được tái xác nhận trong bản hiến pháp đất nước năm 1923[34].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều đế chế và vương quốc đã lên nắm quyền ở Afghanistan, chẳng hạn như vương quốc Hy Lạp-Bactria, Ấn-Scythia, đế quốc Kushan, Kidarites, Hephthalites, Alkhons, Nezak, Zunbils, Turk Shahis, Hindu Shahis, Lawik, Saffarid, Samanid, Ghaznavid, Ghurid, Khwarezm, Khalji, Kartid, Lodi, Sur, Mogul, và cuối cùng là các triều đại HotakDurrani, đã đánh dấu nguồn gốc chính trị của nhà nước hiện đại. [35] Trong suốt nhiều thiên niên kỷ, một số thành phố ở Afghanistan ngày nay từng là thủ đô của nhiều đế chế khác nhau, cụ thể là Bactra (Balkh), Alexandria trên Oxus (Ai-Khanoum), Kapisi, Sigal, Kabul, Kunduz, Zaranj, Firozkoh, Herat, Ghazna (Ghazni), Binban (Bamyan) và Kandahar.

Lều của những người du mục Afghanistan ở tỉnh Badghis, miền bắc Afghanistan. Những ngôi làng nông dân đầu tiên xuất hiện ở Afghanistan khoảng 7.000 năm trước.

Đất nước này là nơi sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau qua nhiều thời đại, trong số đó có các dân tộc Iran cổ đại, những người đã thiết lập vai trò thống trị của các ngôn ngữ Ấn-Iran trong khu vực này. Tại nhiều điểm, vùng đất đã được hợp nhất với các đế chế rộng lớn trong khu vực, trong số đó có Đế chế Achaemenid, Đế chế Macedonia, Đế chế MauryaĐế chế Hồi giáo.[36] Vì thành công trong việc chống lại sự chiếm đóng của nước ngoài trong thế kỷ 19 và 20, Afghanistan đã được gọi là " nghĩa địa của các đế chế",[37] mặc dù không biết ai đã đặt ra cụm từ này.[38]

Tiền sử và thời cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Việc khai quật những địa điểm tiền sử của Louis Dupree, Đại học Pennsylvania, Viện Smithsonian và những tổ chức khác cho thấy, con người đã sống tại nơi hiện là Afghanistan từ ít nhất 50.000 năm trước, và các cộng đồng biết canh tác trong vùng là một trong số những cộng đồng xuất hiện sớm nhất trên thế giới. Được coi là một địa điểm quan trọng của các hoạt động lịch sử ban đầu, nhiều người tin rằng Afghanistan sánh ngang với Ai Cập về giá trị lịch sử của các địa điểm khảo cổ của nó.[39][40]

Mở rộng của nền văn minh Thung lũng sông Ấn trong giai đoạn trưởng thành của nó

Các cuộc thăm dò khảo cổ học được thực hiện vào thế kỷ 20 cho thấy rằng khu vực địa lý của Afghanistan đã được kết nối chặt chẽ bởi văn hóa và thương mại với các nước láng giềng ở phía đông, tây và bắc. Các đồ tạo tác tiêu biểu của thời kỳ đồ đá cũ, đồ đá trung đại, đồ đá mới, đồ đồngđồ sắt đã được tìm thấy ở Afghanistan. Nền văn minh đô thị được cho là bắt đầu sớm nhất từ năm 3000 trước Công nguyên, và thành phố đầu tiên của Mundigak (gần Kandahar ở phía nam của đất nước này) là một trung tâm của nền văn hóa Helmand. Những phát hiện gần đây hơn cho thấy Nền văn minh Thung lũng Indus kéo dài đến Afghanistan ngày nay, biến nền văn minh cổ đại này ngày nay trở thành một phần của Pakistan, Afghanistan và Ấn Độ. Chi tiết hơn, nó kéo dài từ vùng ngày nay là tây bắc Pakistan đến tây bắc Ấn Độ và đông bắc Afghanistan. Một khu vực Thung lũng sông Ấn đã được tìm thấy trên sông Oxus tại Shortugai, miền bắc Afghanistan.[41][42] Có một số thuộc địa của văn minh thung lũng sông Hằng nhỏ hơn cũng được tìm thấy ở Afghanistan.

Sau năm 2000 TCN, những làn sóng liên tiếp của những người bán du mục từ Trung Á bắt đầu di chuyển về phía nam vào Afghanistan; trong số họ có nhiều người Ấn-Iran nói tiếng Ấn-Âu. Những bộ lạc này sau đó đã di cư xa hơn vào Nam Á, Tây Á và sang châu Âu qua khu vực phía bắc của Biển Caspi. Khu vực này vào thời điểm đó được gọi là Ariana.[16][43]

Hỏa giáo và thời đại Hy Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiếc thắt lưng "vàng Bactria" của người Scythia mô tả Dionysus, đến từ Tillya Tepe ở vùng Bactria cổ đại

Hỏa giáo được một số người tin rằng có nguồn gốc từ Afghanistan ngày nay từ năm 1800 đến 800 TCN, vì người sáng lập Zarathustra được cho là đã sống và chết ở Balkh. Các ngôn ngữ Đông Iran cổ đại có thể đã được sử dụng trong khu vực vào khoảng thời gian trỗi dậy của Hỏa giáo. Vào giữa thế kỷ thứ 6 TCN, người Achaemenid lật đổ người Medes và hợp nhất Arachosia, AriaBactria trong ranh giới phía đông của nó. Một dòng chữ trên bia mộ của Darius I của Ba Tư đề cập đến Thung lũng Kabul trong danh sách 29 quốc gia mà ông đã chinh phục.[44] Khu vực Arachosia, xung quanh Kandahar ở miền nam Afghanistan ngày nay, trước đây chủ yếu là của người Hỏa giáo và đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyển Avesta đến Ba Tư và do đó được một số người coi là "quê hương thứ hai của Hỏa giáo".[45][46][47]

Alexander Đại đế và các lực lượng Macedonia của ông đến Afghanistan vào năm 330 TCN sau khi đánh bại Darius III của Ba Tư một năm trước đó trong Trận Gaugamela. Sau sự chiếm đóng ngắn ngủi của Alexander, nhà nước kế vị của Đế chế Seleukos đã kiểm soát khu vực này cho đến năm 305 TCN khi họ trao phần lớn đất đai cho Đế chế Maurya như một phần của hiệp ước liên minh. Người Maurya kiểm soát khu vực phía nam của Ấn Độ giáo Kush cho đến khi họ bị lật đổ vào khoảng năm 185 TCN. Sự suy tàn của họ bắt đầu 60 năm sau khi sự cai trị của Ashoka kết thúc, dẫn đến cuộc tái chinh phục người Hy Lạp bởi Greco-Bactrian. Phần lớn trong số đó sớm tách khỏi họ và trở thành một phần của Vương quốc Ấn-Hy Lạp. Họ đã bị người Indo-Scythia đánh bại và trục xuất vào cuối thế kỷ thứ 2 TCN.[5] [48]

Thời đại Ấn Độ giáo và Phật giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Con đường Tơ lụa xuất hiện trong thế kỷ đầu tiên TCN, và Afghanistan phát triển mạnh mẽ với thương mại, với các tuyến đường đến Trung Quốc, Ấn Độ, Ba Tư và phía bắc đến các thành phố Bukhara, SamarkandKhiva ở Uzbekistan ngày nay.[49] Hàng hóa và ý tưởng được trao đổi tại điểm trung tâm này, chẳng hạn như lụa Trung Quốc, bạc Ba Tư và vàng La Mã, trong khi khu vực Afghanistan hiện nay đang khai thác và buôn bán đá lapis lazuli[50] chủ yếu từ vùng Badakhshan.

Trong thế kỷ đầu tiên TCN, Đế chế Parthia đã chinh phục khu vực này nhưng để mất nó vào tay các chư hầu Indo-Parthia. Vào giữa đến cuối thế kỷ thứ nhất CN , Đế chế Kushan rộng lớn, trung tâm là Afghanistan, đã trở thành những người bảo trợ lớn cho nền văn hóa Phật giáo, khiến cho Phật giáo phát triển mạnh mẽ khắp khu vực này. Người Kushans đã bị người Sassanids lật đổ vào thế kỷ thứ 3 CN, mặc dù người Indo-Sassanid tiếp tục cai trị ít nhất một phần của khu vực. Theo sau họ là những người Kidarites, những người lần lượt bị thay thế bởi những người Hephthalite. Họ đã được thay thế bởi Turk Shahi vào thế kỷ thứ 7. Turk Shahi của đạo Phật ở Kabul đã được thay thế bởi một triều đại Hindu trước khi Saffarids chinh phục khu vực này vào năm 870, triều đại Hindu này được gọi là Hindu Shahi.[51] Phần lớn các khu vực đông bắc và nam của đất nước vẫn bị văn hóa Phật giáo chi phối.[52][53]

Trung đại[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc chinh phục của Hồi giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Saffarid cai trị với diện tích lớn nhất dưới thời Ya'qub b. al-Layth al-Saffar

Người Hồi giáo Ả Rập đưa Hồi giáo đến HeratZaranj vào năm 642 và bắt đầu lan rộng về phía đông; một số cư dân bản địa mà họ gặp phải chấp nhận nó trong khi những người khác nổi dậy. Trước khi đạo Hồi du nhập, người dân trong vùng chủ yếu là Phật tử và người theo Hỏa giáo, nhưng cũng có những người thờ cúng SuryaNana , người Do Thái, và những người khác. Zunbils và Kabul Shahi lần đầu tiên bị người Hồi giáo Saffarid của Zaranj chinh phục vào năm 870. Sau đó, người Samanid mở rộng ảnh hưởng Hồi giáo của họ về phía nam của Hindu Kush. Có thông tin cho rằng những người theo đạo Hồi và không theo đạo Hồi vẫn sống cạnh nhau ở Kabul trước khi nhà Ghaznavid lên nắm quyền vào thế kỷ 10.[54][55][56]

Đến thế kỷ 11, Mahmud của Ghazni đã đánh bại các nhà cai trị Hindu còn lại và Hồi giáo hóa một cách hiệu quả khu vực rộng lớn hơn,[57] ngoại trừ Kafiristan.[58] Mahmud đã biến Ghazni thành một thành phố quan trọng và bảo trợ những trí thức như nhà sử học Al-Biruni và nhà thơ Ferdowsi.[59] Vương triều Ghaznavid đã bị lật đổ bởi Ghurids, những người có thành tựu kiến trúc bao gồm Minaret of Jam xa xôi. Người Ghurid kiểm soát Afghanistan trong chưa đầy một thế kỷ trước khi bị triều đại Khwarazmi chinh phục vào năm 1215. [60]

Người Mông Cổ và Babur[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ Hồi giáo Xanh ở Mazar-i-Sharif được xây dựng vào thế kỷ 15

Năm 1219, Thành Cát Tư Hãn và quân đội Mông Cổ của ông đã chiếm đóng khu vực này. Quân Mông Cổ được cho là đã tiêu diệt các thành phố HeratBalkh của Khwarazmian cũng như Bamyan.[61] Sự tàn phá do người Mông Cổ gây ra đã buộc nhiều người dân địa phương quay trở lại xã hội nông thôn nông nghiệp.[62] Sự cai trị của người Mông Cổ tiếp tục với Ilkhanate ở phía tây bắc trong khi triều đại Khalji quản lý các khu vực bộ lạc Afghanistan ở phía nam của Hindu Kush cho đến khi xâm lược Timur (hay còn gọi là Tamerlane), người đã thành lập Đế chế Timurid vào năm 1370. Dưới sự cai trị của Shah Rukh, thành phố từng là tâm điểm của thời kỳ Phục hưng Timurid, nơi vinh quang sánh ngang với Florence của thời kỳ Phục hưng Ý là trung tâm của sự tái sinh văn hóa.[63][64]

Vào đầu thế kỷ 16, Babur đến từ Ferghana và chiếm Kabul từ triều đại Arghun. [65] Giữa thế kỷ 16 và 18, Hãn quốc Bukhara của người Uzbekistan, người Safavid của Iran và người Mughal của Ấn Độ đã cai trị một phần lãnh thổ. [66] Trong Thời kỳ Trung cổ, khu vực tây bắc của Afghanistan được gọi bằng tên khu vực là Khorasan. Hai trong số bốn thủ đô của Khorasan (HeratBalkh) hiện nằm ở Afghanistan, trong khi các vùng Kandahar, Zabulistan, Ghazni, KabulistanAfghanistan hình thành biên giới giữa Khorasan và Hindustan. Tuy nhiên, cho đến thế kỷ 19, thuật ngữ Khorasan được người bản xứ sử dụng phổ biến để mô tả đất nước của họ; Sir George Elphinstone ngạc nhiên viết rằng đất nước mà người ngoài gọi là "Afghanistan" được chính cư dân của nó gọi là "Khorasan" và rằng quan chức Afghanistan đầu tiên mà ông gặp ở biên giới đã chào đón ông đến Khorasan.[67][68][69][70]

Lịch sử hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Vương triều Hotak và Durrani[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Ahmad Shah Durrani k. 1757.

Năm 1709, Mirwais Hotak, một thủ lĩnh bộ lạc Ghilzai địa phương, đã thành công nổi dậy chống lại người Safavid. Ông đã đánh bại Gurgin Khan và thành lập vương quốc của riêng mình.[71] Mirwais chết vì nguyên nhân tự nhiên vào năm 1715 và được anh trai của ông là Abdul Aziz kế vị. Aziz sau đó bị con trai của Mirwais là Mahmud giết vì tội phản quốc. Năm 1722, Mahmud dẫn đầu quân đội Afghanistan đến thủ đô Isfahan của Ba Tư, chiếm thành phố này sau trận Gulnabad và tự xưng là Vua của Ba Tư.[71] Vương triều Afghanistan bị Nader Shah lật đổ tại Ba Tư sau trận Damghan năm 1729.

Năm 1738, Nader Shah và các lực lượng của ông đã chiếm được Kandahar, thành trì cuối cùng của Hotak, từ Shah Hussain Hotak, lúc này chàng trai 16 tuổi Ahmad Shah Durrani bị giam giữ đã được giải thoát và trở thành chỉ huy của một trung đoàn Afghanistan. Ngay sau đó, quân Ba Tư và Afghanistan xâm lược Ấn Độ. Đến năm 1747, người Afghanistan đã chọn Durrani làm nguyên thủ quốc gia của họ.[72] Durrani và quân đội Afghanistan của ông đã chinh phục phần lớn Afghanistan, Pakistan ngày nay, các tỉnh KhorasanKohistan của Iran, và Delhi ở Ấn Độ.[73] Ông đã đánh bại Đế chế Maratha của Ấn Độ, và một trong những chiến thắng lớn nhất của ông là Trận Panipat năm 1761.

Vào tháng 10 năm 1772, Durrani qua đời vì nguyên nhân tự nhiên và được chôn cất tại một địa điểm hiện nay liền kề với Shrine of the Cloak ở Kandahar. Ông được con trai của mình, Timur Shah kế vị, và Shah đã chuyển thủ đô của vương quốc mình từ Kandahar đến Kabul vào năm 1776, với Peshawar trở thành thủ đô mùa đông.[21] Sau cái chết của Timur vào năm 1793, ngai vàng Durrani được truyền lại cho con trai ông là Zaman Shah, tiếp theo là Mahmud Shah, Shuja Shah và những người khác.[74]

Vương triều Barakzai và các cuộc chiến tranh với Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Những người bộ lạc Afghanistan năm 1841, do sĩ quan người Anh James Rattray vẽ
Lực lượng Anh và đồng minh tại Kandahar sau Trận chiến Kandahar năm 1880, trong Chiến tranh Anh-Afghanistan lần thứ hai. Bức tường phòng thủ lớn xung quanh thành phố đã bị dỡ bỏ vào đầu những năm 1930 theo lệnh của Vua Nadir.

Vào đầu thế kỷ 19, đế chế Afghanistan đang bị đe dọa bởi người Ba Tư ở phía tây và Đế chế Sikh ở phía đông. Fateh Khan, thủ lĩnh của bộ tộc Barakzai, đã xếp đặt 21 người anh em của mình vào các vị trí quyền lực trên khắp đế chế. Sau khi ông qua đời, họ nổi dậy và chia cắt các tỉnh của đế chế với nhau. Trong thời kỳ hỗn loạn này, Afghanistan có nhiều người cai trị tạm thời cho đến khi Dost Mohammad Khan tuyên bố mình là tiểu vương vào năm 1823.[75] PunjabKashmir bị mất vào tay Ranjit Singh, người đã xâm lược Khyber Pakhtunkhwa vào tháng 3 năm 1823 và chiếm được thành phố Peshawar trong trận Nowshera.[76] Năm 1837, trong Trận Jamrud gần Đèo Khyber, Akbar Khan và quân đội Afghanistan không chiếm được Pháo đài Jamrud từ Quân đội Sikh Khalsa, nhưng đã giết được Chỉ huy người Sikh Hari Singh Nalwa, do đó kết thúc Chiến tranh Afghanistan-Sikh. Vào thời điểm này, người Anh đang tiến quân từ phía đông và cuộc xung đột lớn đầu tiên trong "Ván Cờ Lớn" đã bắt đầu.[77]

Năm 1838, một lực lượng viễn chinh Anh tiến vào Afghanistan và bắt giữ Dost Mohammad, bắt ông đi lưu vong ở Ấn Độ và thay thế ông bằng người cai trị trước đó, Shah Shuja.[78][79] Sau một cuộc nổi dậy, năm 1842 rút lui khỏi Kabul của lực lượng Anh-Ấn và tiêu diệt quân đội của Elphinstone , và Trận Kabul dẫn đến việc tái chiếm, người Anh đặt Dost Mohammad Khan trở lại quyền lực và rút các lực lượng quân sự của họ khỏi Afghanistan. Năm 1878, Chiến tranh Anh-Afghanistan lần thứ hai diễn ra vì nhận thấy ảnh hưởng của Nga trong khu vực, Abdur Rahman Khan thay thế Ayub Khan, và Anh giành quyền kiểm soát các mối quan hệ đối ngoại của Afghanistan như một phần của Hiệp ước Gandamak năm 1879. Năm 1893, Amir Abdur Rahman ký một thỏa thuận trong đó lãnh thổ của người Pashtunngười Baloch bị chia cắt bởi Đường Durand, tạo thành biên giới ngày nay giữa Pakistan và Afghanistan. Hazarajat do người Shia thống trị và người Kafiristan ngoại giáo vẫn độc lập về mặt chính trị cho đến khi bị Abdur Rahman Khan chinh phục năm 1891–1896. Ông được biết đến với cái tên "Iron Amir" vì vẻ ngoài và phương pháp tàn nhẫn của mình chống lại các bộ tộc.[80] Iron Amir coi các tuyến đường sắt và điện báo đến từ Nga và Anh là "con ngựa thành Troia" và do đó đã ngăn cản sự phát triển đường sắt ở Afghanistan.[81] Ông mất năm 1901, được con trai ông là Habibullah Khan kế vị.

Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, khi Afghanistan còn trung lập, Habibullah Khan đã gặp gỡ các quan chức của Các cường quốc Trung tâm trong Phái bộ Niedermayer–Hentig, để tuyên bố độc lập hoàn toàn khỏi Vương quốc Anh, tham gia cùng họ và tấn công Ấn Độ thuộc Anh, như một phần của Âm mưu Hindu-Đức. Những nỗ lực của họ nhằm đưa Afghanistan trở thành cường quốc Trung tâm đã thất bại, nhưng nó đã gây ra sự bất bình trong dân chúng vì đã giữ thái độ trung lập với người Anh. Habibullah bị ám sát trong một chuyến đi săn vào năm 1919, và Amanullah Khan cuối cùng lên nắm quyền. Là một người ủng hộ trung thành cho các cuộc thám hiểm 1915–1916, Amanullah Khan đã kích hoạt Chiến tranh Anh-Afghanistan lần thứ ba, tiến công Ấn Độ thuộc Anh qua đèo Khyber.[82]

Vua Amanullah Khan xâm lược Ấn Độ thuộc Anh vào năm 1919 và tuyên bố Afghanistan độc lập hoàn toàn sau đó.

Sau khi Chiến tranh Anh-Afghanistan lần thứ ba kết thúc và việc ký kết Hiệp ước Rawalpindi vào ngày 19 tháng 8 năm 1919, Vua Amanullah Khan tuyên bố Afghanistan là một quốc gia có chủ quyền và hoàn toàn độc lập. Ông đã chấm dứt sự cô lập truyền thống của đất nước mình bằng cách thiết lập quan hệ ngoại giao với cộng đồng quốc tế, đặc biệt là với Liên XôCộng hòa Weimar của Đức.[83][84] Sau chuyến công du châu Âu và Thổ Nhĩ Kỳ năm 1927–28, ông đã đưa ra một số cải cách nhằm hiện đại hóa quốc gia của mình. Lực lượng chủ chốt đằng sau những cải cách này là Mahmud Tarzi, một người ủng hộ nhiệt tình việc giáo dục phụ nữ. Ông đã đấu tranh cho Điều 68 của hiến pháp năm 1923 của Afghanistan, trong đó giáo dục tiểu học là bắt buộc. Chế độ chiếm hữu nô lệ bị bãi bỏ vào năm 1923.[85] Vợ của Khan, Nữ hoàng Soraya Tarzi là một nhân vật nổi tiếng trong thời kỳ này.

Một số cải cách đã được thực hiện, chẳng hạn như bãi bỏ burqa truyền thống đối với phụ nữ và mở một số trường đồng giáo dục, nhanh chóng khiến nhiều nhà lãnh đạo bộ lạc và tôn giáo xa lánh, và điều này dẫn đến Nội chiến Afghanistan (1928–1929). Đối mặt với lực lượng vũ trang áp đảo của phe đối lập, Amanullah Khan phải thoái vị vào tháng 1 năm 1929, và ngay sau đó Kabul rơi vào tay lực lượng Saqqawist do Habibullah Kalakani lãnh đạo.[86] Thái tử Mohammed Nadir Shah, em họ của Amanullah, lần lượt đánh bại và giết Kalakani vào tháng 10 năm 1929, và được tuyên bố là Vua Nadir Shah.[87] Ông từ bỏ các cải cách của Amanullah Khan để ủng hộ cách tiếp cận dần dần để hiện đại hóa nhưng bị Abdul Khaliq, một học sinh Hazara mới mười lăm tuổi, vốn là một người trung thành với Amanullah ám sát vào năm 1933.[88]

Mohammed Zahir Shah, con trai 19 tuổi của Nadir Shah, kế vị ngai vàng và trị vì từ năm 1933 đến năm 1973. Các cuộc nổi dậy của bộ lạc năm 1944–1947 chứng kiến triều đại của Zahir Shah bị thách thức bởi những người thuộc bộ lạc Zadran, Safi, MangalWazir do Mazrak Zadran, SalemaiMirzali Khan lãnh đạo, và các bộ lạc khác, nhiều người trong số họ là những người trung thành với Amanullah. Quan hệ chặt chẽ với các quốc gia Hồi giáo như Thổ Nhĩ Kỳ, Vương quốc IraqIran / Ba Tư cũng được theo đuổi, trong khi các mối quan hệ quốc tế sâu rộng hơn được tìm kiếm bằng cách gia nhập Hội Quốc Liên vào năm 1934. Những năm 1930 chứng kiến sự phát triển của đường xá, cơ sở hạ tầng, sự thành lập của ngân hàng quốc gia và sự gia tăng của giáo dục. Các tuyến đường bộ ở phía bắc đóng một vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp dệt và bông đang phát triển.[89] Nước này đã xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các nước phe Trục, trong đó Đức có tác động lớn nhất trong sự phát triển của Afghanistan vào thời điểm đó, cùng với Ý và Nhật Bản.[90]

Lịch sử đương đại[sửa | sửa mã nguồn]

Zahir Shah, vị vua cuối cùng của Afghanistan, trị vì từ năm 1933 đến năm 1973.

Cho đến năm 1946, Zahir Shah cầm quyền với sự hỗ trợ của người chú của mình với chức vụ Thủ tướng và tiếp tục các chính sách của Nadir Shah. Một người chú khác của Zahir Shah, Shah Mahmud Khan, trở thành Thủ tướng vào năm 1946 và bắt đầu một cuộc thử nghiệm cho phép tự do chính trị lớn hơn, nhưng đã đảo ngược chính sách khi việc này đi xa hơn những gì ông mong đợi. Ông bị thay thế vào năm 1953 bằng Mohammed Daoud Khan, em họ và anh rể của nhà vua, đồng thời là một người theo chủ nghĩa dân tộc Pashtun. Thủ tướng mới Khan này đã tìm cách thành lập một nước Pashtunistan, dẫn đến quan hệ căng thẳng với Pakistan.[91] Trong suốt 10 năm tại vị cho đến năm 1963, Daoud Khan thúc đẩy cải cách hiện đại hóa xã hội và tìm kiếm mối quan hệ chặt chẽ hơn với Liên Xô. Sau đó, hiến pháp năm 1964 được hình thành và vị Thủ tướng không thuộc hoàng gia đầu tiên tuyên thệ nhậm chức.[92]

Vua Zahir Shah, giống như cha mình là Nadir Shah, có chính sách duy trì độc lập quốc gia trong khi theo đuổi từng bước hiện đại hóa, tạo cảm xúc dân tộc chủ nghĩa và cải thiện quan hệ với Vương quốc Anh. Tuy nhiên, Afghanistan vẫn trung lập và không tham gia vào Chiến tranh Thế giới thứ hai cũng như không liên kết với cả hai khối cường quốc trong Chiến tranh Lạnh sau đó. Tuy nhiên, nước này lại là người hưởng lợi từ sự cạnh tranh trong Chiến tranh Lạnh vì cả Liên Xô và Hoa Kỳ đều tranh giành ảnh hưởng bằng cách xây dựng các đường cao tốc chính, sân bay và cơ sở hạ tầng quan trọng khác của Afghanistan trong thời kỳ hậu chiến. Tính theo bình quân đầu người, Afghanistan nhận được nhiều viện trợ phát triển của Liên Xô hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Do đó, Afghanistan có quan hệ tốt với cả hai kẻ thù thời Chiến tranh Lạnh. Năm 1973, khi Nhà vua đang ở Ý, Daoud Khan đã phát động một cuộc đảo chính không đổ máu và trở thành Tổng thống đầu tiên của Afghanistan, bãi bỏ chế độ quân chủ.

Chế độ dân chủ cộng hòa và chiến tranh với Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 4 năm 1978, Đảng Dân chủ Nhân dân Afghanistan theo cộng sản (PDPA) đã lên nắm quyền trong một cuộc đảo chính đẫm máu chống lại Tổng thống khi đó là Mohammed Daoud Khan, được gọi là Cách mạng Saur. PDPA tuyên bố thành lập Cộng hòa Dân chủ Afghanistan, với lãnh đạo đầu tiên của nước này là Tổng bí thư Đảng Dân chủ Nhân dân Nur Muhammad Taraki. [93] Điều này sẽ kích hoạt một loạt các sự kiện khiến Afghanistan thay đổi đáng kể từ một quốc gia nghèo nàn và hẻo lánh (và yên bình) trở thành một điểm nóng của khủng bố quốc tế.[94] PDPA đã khởi xướng nhiều cải cách xã hội, phân phối đất đai, gây ra sự phản đối mạnh mẽ, đồng thời đàn áp dã man những người bất đồng chính kiến. Điều này gây ra tình trạng bất ổn và nhanh chóng mở rộng thành tình trạng nội chiến vào năm 1979, do các nhóm du kích mujahideen (và các du kích Maoist nhỏ hơn) tiến hành chống lại các lực lượng của chế độ trên toàn quốc. Nó nhanh chóng biến thành một cuộc chiến tranh ủy nhiệm khi chính phủ Pakistan cung cấp cho những người nổi dậy này các trung tâm huấn luyện bí mật, Hoa Kỳ hỗ trợ họ thông qua Cơ quan Tình báo Liên ngành của Pakistan (ISI),[95]Liên Xô đã cử hàng nghìn cố vấn quân sự đến hỗ trợ chế độ PDPA.[96] Trong khi đó, ngày càng có nhiều xích mích thù địch giữa các phe phái cạnh tranh bên trong PDPA, với nhóm Khalq chiếm ưu thế và Parcham ôn hòa hơn.[97]

Vào tháng 9 năm 1979, Tổng Bí thư Đảng PDPA Taraki bị ám sát trong một cuộc đảo chính nội bộ do thành viên Khalq lúc bấy giờ là Thủ tướng Hafizullah Amin, người đảm nhận chức tổng thư ký mới của Đảng Dân chủ Nhân dân, dàn dựng. Tình hình đất nước trở nên tồi tệ dưới thời Amin và hàng nghìn người đã mất tích.[98] Không hài lòng với chính phủ của Amin, Quân đội Liên Xô xâm lược Afghanistan vào tháng 12 năm 1979, tấn công Kabul và giết chết Amin chỉ ba ngày sau đó. [99] Một chế độ do Liên Xô tổ chức, do Babrak Karmal của Parcham lãnh đạo nhưng bao gồm cả hai phe (Parcham và Khalq), đã thay thế chính quyền cũ. Quân đội Liên Xô với số lượng đáng kể hơn đã được triển khai để ổn định Afghanistan dưới thời Karmal, đánh dấu sự khởi đầu của Chiến tranh Liên Xô-Afghanistan.[100] Hoa Kỳ và Pakistan,[95] cùng với các nước nhỏ hơn như Ả Rập Xê-út và Trung Quốc, tiếp tục hỗ trợ quân nổi dậy, cung cấp hàng tỷ đô la tiền mặt và vũ khí bao gồm hai nghìn tên lửa đất đối không FIM-92 Stinger.[101][102] Chiến tranh kéo dài chín năm và đã gây ra cái chết của 562.000[103] đến 2 triệu người Afghanistan,[104][105][106][107][108][109][110] và khiến 6  triệu người mất nhà cửa, sau đó đã bỏ trốn khỏi Afghanistan, chủ yếu đến PakistanIran.[111] Các cuộc không kích nặng nề đã phá hủy nhiều ngôi làng ở nông thôn, hàng triệu quả mìn đã được[112] và một số thành phố như HeratKandahar cũng bị hư hại do bị pháo kích. Tỉnh Biên giới Tây Bắc của Pakistan hoạt động như một cơ sở tổ chức và mạng lưới cho cuộc kháng chiến Afghanistan chống Liên Xô, với các Deobandi ulama có ảnh hưởng lớn của tỉnh này đóng vai trò hỗ trợ chính trong việc thúc đẩy 'thánh chiến'.[113] Sau khi Liên Xô rút quân, cuộc nội chiến xảy ra sau đó cho đến khi chế độ cộng sản dưới sự lãnh đạo của Đảng Dân chủ Nhân dân Mohammad Najibullah sụp đổ vào năm 1992.[114][115] [116]

Xung đột hậu Chiến tranh Lạnh và chế độ Taliban[sửa | sửa mã nguồn]

Một cuộc nội chiến khác nổ ra sau khi thành lập một chính phủ liên minh rối loạn chức năng giữa các nhà lãnh đạo khác nhau của các phe phái mujahideen. Giữa tình trạng vô chính phủ và đấu đá phe phái,[117][118][119] các phe phái mujahideen khác nhau đã thực hiện hành vi hãm hiếp, giết người và tống tiền trên diện rộng,[118][120][121] trong khi Kabul bị bắn phá nặng nề và bị phá hủy một phần bởi cuộc giao tranh.[121] Một số cuộc hòa giải và liên minh không thành đã xảy ra giữa các nhà lãnh đạo khác nhau.[122] Taliban nổi lên vào tháng 9 năm 1994 với tư cách là một phong trào và lực lượng dân quân của học sinh (talib) từ các trường học (madrassa) Hồi giáo ở Pakistan,[121][123] vốn đã sớm nhận được sự hỗ trợ quân sự từ Pakistan.[124] Nắm quyền kiểm soát thành phố Kandahar vào năm đó,[121] họ đã chinh phục nhiều lãnh thổ hơn cho đến khi cuối cùng đánh bật chính quyền Rabbani khỏi Kabul vào năm 1996,[125][126] và họ thành lập một tiểu vương quốc chỉ được ba quốc gia công nhận.[127] Taliban đã bị quốc tế lên án vì việc thực thi hà khắc việc giải thích luật sharia của Hồi giáo, dẫn đến việc đối xử tàn bạo với nhiều người Afghanistan, đặc biệt là phụ nữ.[128][129] Trong thời gian cầm quyền, Taliban và các đồng minh đã thực hiện các cuộc tàn sát nhằm vào dân thường Afghanistan, từ chối cung cấp lương thực của Liên Hợp Quốc cho dân thường đang chết đói và tiến hành chính sách tiêu thổ, đốt cháy những vùng đất màu mỡ rộng lớn và phá hủy hàng chục nghìn ngôi nhà.[130][131][132][133][134][135]

Sau khi Kabul thất thủ vào tay Taliban, Ahmad Shah MassoudAbdul Rashid Dostum thành lập Liên minh phương Bắc, sau đó là sự tham gia của những nhóm khác, để chống lại Taliban. Lực lượng của Dostum đã bị Taliban đánh bại trong Trận chiến Mazar-i-Sharif năm 1997 và 1998; Tham mưu trưởng Lục quân Pakistan, Pervez Musharraf, bắt đầu cử hàng nghìn người Pakistan đến giúp Taliban đánh bại Liên minh phương Bắc.[124][136][137][138][139] Đến năm 2000, Liên minh phương Bắc chỉ còn kiểm soát 10% lãnh thổ, bị dồn về phía đông bắc. Vào ngày 9 tháng 9 năm 2001, Massoud bị hai kẻ tấn công liều chết Ả Rập tại Thung lũng Panjshir ám sát. Khoảng 400.000 người Afghanistan đã chết trong các cuộc xung đột nội bộ từ năm 1990 đến 2001.[140]

Vào tháng 10 năm 2001, Hoa Kỳ xâm lược Afghanistan để loại bỏ Taliban sau khi Taliban từ chối bàn giao Osama Bin Laden, nghi phạm chính của vụ tấn công ngày 11 tháng 9, là "khách mời" của Taliban và đang điều hành mạng lưới al-Qaeda ở Afghanistan.[141][142][143] Đa số người Afghanistan ủng hộ cuộc xâm lược của Mỹ trên đất nước của họ.[144][145] Trong cuộc xâm lược ban đầu, các lực lượng Hoa Kỳ và Anh đã ném bom các trại huấn luyện của al-Qaeda, và sau đó hợp tác với Liên minh phương Bắc, làm kết thúc chế độ Taliban.[146]

Sau năm 2001[sửa | sửa mã nguồn]

Hamid Karzai đã trở thành Tổng thống nước Cộng hòa Hồi giáo Afghanistan năm 2004, sau một cuộc bầu cử lần đầu tiên được tổ chức tại nước này.
Quân đội Mỹ và trực thăng Không quân Mỹ ở Afghanistan, 2008

Tháng 12 năm 2001, sau khi chính phủ Taliban bị lật đổ, Chính quyền lâm thời Afghanistan dưới quyền Hamid Karzai được thành lập. Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế (ISAF) được Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thành lập để giúp hỗ trợ chính quyền Karzai và cung cấp an ninh cơ bản.[147][148] Vào thời điểm này, sau hai thập kỷ chiến tranh cũng như nạn đói khốc liệt vào thời điểm đó, Afghanistan là một trong những quốc gia có tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ em cao nhất trên thế giới, tuổi thọ thấp nhất, phần lớn dân số bị đói,[149][150][151] và cơ sở hạ tầng đổ nát.[152] Nhiều nhà tài trợ nước ngoài bắt đầu cung cấp viện trợ và hỗ trợ để tái thiết lại quốc gia bị chiến tranh tàn phá.[153][154]

Lực lượng Taliban trong khi đó đã bắt đầu tập hợp lại bên trong Pakistan, trong khi nhiều quân liên minh hơn tiến vào Afghanistan để giúp quá trình tái thiết.[155][156] Taliban bắt đầu nổi dậy để giành lại quyền kiểm soát Afghanistan. Trong thập kỷ tiếp theo, ISAF và quân đội Afghanistan đã dẫn đầu nhiều cuộc tấn công chống lại Taliban, nhưng không đánh bại được chúng hoàn toàn. Afghanistan vẫn là một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới vì thiếu đầu tư nước ngoài, tham nhũng của chính phủ và lực lượng nổi dậy của Taliban.[157][158] Trong khi đó, Karzai cố gắng đoàn kết các dân tộc trong nước,[159]chính phủ Afghanistan đã có thể xây dựng một số cấu trúc dân chủ, thông qua hiến pháp vào năm 2004 với tên gọi Cộng hòa Hồi giáo Afghanistan. Các nỗ lực đã được thực hiện, thường là với sự hỗ trợ của các nước tài trợ nước ngoài, nhằm cải thiện nền kinh tế, y tế, giáo dục, giao thông và nông nghiệp của đất nước. Lực lượng ISAF cũng bắt đầu huấn luyện Lực lượng An ninh Quốc gia Afghanistan. Sau năm 2002, gần năm triệu người Afghanistan đã được hồi hương.[160] Số lượng quân NATO hiện diện tại Afghanistan đạt đỉnh 140.000 vào năm 2011,[161] giảm xuống còn khoảng 16.000 vào năm 2018.[162]

Vào tháng 9 năm 2014 Ashraf Ghani trở thành tổng thống sau cuộc bầu cử tổng thống năm 2014, đánh dấu mốc lần đầu tiên trong lịch sử quyền lực của Afghanistan được chuyển giao một cách dân chủ.[163][164][165][166][167] Vào ngày 28 tháng 12 năm 2014, NATO chính thức chấm dứt các hoạt động chiến đấu của ISAF tại Afghanistan và chuyển giao toàn bộ trách nhiệm an ninh cho chính phủ Afghanistan. Chiến dịch do NATO dẫn đầu được thành lập cùng ngày với tư cách là tổ chức kế nhiệm của ISAF.[168][169] Hàng nghìn binh sĩ NATO vẫn ở lại nước này để huấn luyện và cố vấn cho các lực lượng chính phủ Afghanistan[170] và tiếp tục cuộc chiến chống lại Taliban.[171] Người ta ước tính vào năm 2015 rằng "khoảng 147.000 người đã thiệt mạng trong cuộc chiến Afghanistan kể từ năm 2001. Hơn 38.000 trong số những người thiệt mạng là dân thường ".[172] Một báo cáo có tiêu đề Body Count kết luận rằng 106.000–170.000 thường dân đã thiệt mạng do hậu quả của cuộc giao tranh ở Afghanistan do tất cả các bên tham gia xung đột.[173]

Vào ngày 14 tháng 4 năm 2021, Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg cho biết liên minh đã đồng ý bắt đầu rút quân khỏi Afghanistan trước ngày 1 tháng 5.[174] Ngay sau khi bắt đầu rút quân của NATO, Taliban đã tiến hành một cuộc tấn công chống lại chính phủ Afghanistan, nhanh chóng mở rộng lãnh thổ trước một lực lượng chính phủ Afghanistan đang sụp đổ.[175][176] Theo báo cáo của tình báo Mỹ, chính phủ Afghanistan có thể sẽ sụp đổ trong vòng 6 tháng sau khi NATO hoàn tất việc rút quân khỏi nước này.[177]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Là một quốc gia miền núi không giáp biển với đồng bằng ở phía bắc và tây nam, Afghanistan nằm ở nơi giao giữa Nam Á[179][180] và Trung Á.[181] Điểm cao nhất của đất nước là Noshaq, ở độ cao 7,492 m (24,580 ft) so với mực nước biển.[182] Nó có khí hậu lục địa với mùa đông khắc nghiệt ở vùng cao nguyên trung tâm, phía đông bắc băng giá (xung quanh Nuristan) và Hành lang Wakhan, nơi nhiệt độ trung bình vào tháng 1 dưới −15 °C (5 °F) và mùa hè nóng ở vùng thấp Các khu vực thuộc lưu vực Sistan ở phía tây nam, lưu vực Jalalabad ở phía đông và đồng bằng Turkestan dọc theo sông Amu ở phía bắc, nơi có nhiệt độ trung bình trên 35 °C (95 °F) vào tháng Bảy. Điểm thấp nhất nằm ở tỉnh Jowzjan dọc theo bờ sông Amu, ở độ cao 258 m (846 ft) trên mực nước biển.[182]

Phong cảnh của Afghanistan, từ trái sang phải: 1. Vườn quốc gia Band-e Amir; 2. Đèo Salang ở tỉnh Parwan; 3. Thung lũng Korangal thuộc tỉnh Kunar; và 4. Đập Kajaki ở tỉnh Helmand

Mặc dù có nhiều sông và hồ chứa nhưng phần lớn đất nước lại khô hạn. Lưu vực lòng chảo Sistan là một trong những khu vực khô hạn nhất trên thế giới.[183] Afghanistan có tuyết trong mùa đông ở dãy núi PamirHindu Kush, và tuyết tan vào mùa xuân chảy vào sông, hồ và suối.[184][185] Tuy nhiên, hai phần ba nước của nước này chảy vào các nước láng giềng Iran, Pakistan và Turkmenistan. Afghanistan cần hơn 2 tỷ đô la Mỹ để cải tạo hệ thống tưới tiêu để nước được quản lý hợp lý.[186]

Dãy núi Hindu Kush ở phía đông bắc, trong và xung quanh tỉnh Badakhshan của Afghanistan, nằm trong khu vực hoạt động địa chất nơi động đất có thể xảy ra gần như hàng năm.[187] Chúng có thể gây chết người và phá hoại, gây ra lở đất ở một số khu vực hoặc tuyết lở trong mùa đông.[188] Trận động đất mạnh cuối cùng là vào năm 1998, đã giết chết khoảng 6.000 người ở Badakhshan gần Tajikistan.[189] Tiếp theo là trận động đất Hindu Kush năm 2002, trong đó hơn 150 người thiệt mạng và hơn 1.000 người bị thương. Một trận động đất năm 2010 đã khiến 11 người Afghanistan thiệt mạng, hơn 70 người bị thương và hơn 2.000 ngôi nhà bị phá hủy.

Tài nguyên thiên nhiên của đất nước bao gồm: than, đồng, quặng sắt, lithi, urani, các nguyên tố đất hiếm, crôm, vàng, kẽm, Tan, barit, lưu huỳnh, chì, đá cẩm thạch, đá quý và bán quý, khí thiên nhiêndầu mỏ cùng nhiều tài nguyên khác.[190][191] Năm 2010, các quan chức chính phủ Hoa Kỳ và Afghanistan ước tính rằng các mỏ khoáng sản chưa được khai thác vào năm 2007 của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ trị giá ít nhất 1 nghìn tỷ đô la.[192]

Địa hình

Với hơn 652.230 km2 (251.830 dặm vuông),[193] Afghanistan là quốc gia lớn thứ 40 trên thế giới,[194] lớn hơn một chút so với Pháp và nhỏ hơn Miến Điện, có kích thước bằng Texas của Hoa Kỳ. Nó giáp Pakistan ở phía nam và phía đông; Iran ở phía tây; Turkmenistan, Uzbekistan và Tajikistan ở phía bắc; và Trung Quốc ở vùng viễn đông.[195]

Chính phủ và chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa nhà Quốc hội Afghanistan năm 2016

Chính trị Afghanistan từ lâu đã bao gồm nhiều cuộc tranh giành quyền lực, đảo chính đẫm máu, và những cuộc chuyển giao quyền lực trong tình trạng bất ổn. Ngoại trừ một military junta (hội đồng thủ lĩnh quân sự), đất nước này đã trải qua hầu như tất cả các hệ thống chính phủ trong thế kỷ qua, từ quân chủ, cộng hòa, chính trị thần quyền tới quốc gia cộng sản. Hiến pháp được Loya jirga 2003 phê chuẩn đã quy định chính phủ theo hình thức nhà nước Cộng hòa Hồi giáo gồm ba nhánh, (hành pháp, lập pháptư pháp).

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và tổng thống Afghanistan Ashraf Ghani vào năm 2017.

Tổng thống Afghanistan là nguyên thủ quốc gia và đứng đầu hành pháp. Tổng thống cũng giữ vai trò là người đứng đầu Nội các Afghanistan. Tổng thống hiện thời là ông Ashraf Ghani. Điều hành cấp cao Afghanistan là chức vụ mới được tạo thành từ năm 2014 theo Hiến pháp mới, có vai trò tương tự như Thủ tướng, chủ trì các cuộc họp hàng tuần của Hội đồng Bộ trưởng, đưa ra các khuyến nghị chính sách cho Tổng thống, cũng như có thể đề cử các ứng viên Bộ trưởng cho nội các Afghanistan. Điều hành cấp cao hiện tại là ông Abdullah Abdullah, được Tổng thống bổ nhiệm từ ngày 29 tháng 9 năm 2014.

Quốc hội Afghanistan lưỡng viện gồm: Viện trưởng lão (Meshrano Jirga) là thượng việnViện Nhân dân (Wolesi Jirga) là hạ viện. Trong số những đại biểu có cả các cựu thành viên mujahadeen, Taliban, cộng sản, những người cải cách, và Những người theo trào lưu chính thống Hồi giáo. 28% đại biểu là phụ nữ, lớn hơn 3% so với con số 25% tối thiểu do hiến pháp quy định. Điều này khiến Afghanistan, một nước từ lâu đã nổi tiếng về sự đàn áp phụ nữ thời Taliban, trở thành một trong những nước đứng đầu về số đại biểu nữ giới.

Địa giới hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Về hành chính, Afghanistan được chia thành ba mươi bốn tỉnh (welayats) và mỗi tỉnh có một trung tâm riêng.

Bản đồ thể hiện các tỉnh Afghanistan.
  1. Badakhshan
  2. Badghis
  3. Baghlan
  4. Balkh
  5. Bamiyan
  6. Daykundi
  7. Farah
  8. Faryab
  9. Ghazni
  10. Ghor
  11. Helmand
  12. Herat
  1. Jowzjan
  2. Kabul
  3. Kandahar
  4. Kapisa
  5. Khost
  6. Konar
  7. Kunduz
  8. Laghman
  9. Lowgar
  10. Nangarhar
  11. Nimruz
  1. Nurestan
  2. Oruzgan
  3. Paktia
  4. Paktika
  5. Panjshir
  6. Parvan
  7. Samangan
  8. Sare Pol
  9. Takhar
  10. Wardak
  11. Zabol

Mỗi tỉnh lại được chia tiếp thành quận/huyện và mỗi quận thường gồm một thành phố hay nhiều thị trấn.

Thống đốc tỉnh do Bộ nội vụ và các Quận trưởng cảnh sát chỉ định, người đứng đầu các quận do thống đốc chỉ định. Thống đốc là người đại diện của chính phủ và chịu trách nhiệm về mọi vấn đề hành chính và nghi lễ. Lãnh đạo cảnh sát và an ninh thường do Bộ nội vụ chỉ định và làm việc cùng với Thống đốc để bảo đảm an ninh.

Riêng Kabul là nơi Thị trưởng thành phố do Tổng thống lựa chọn và hoàn toàn độc lập với quận trưởng Tỉnh Kabul.

Lực lượng bảo vệ quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Afghanistan hiện có lực lượng cảnh sát 60.000 người. Nước này đang đặt kế hoạch tuyển dụng thêm 20.000 sĩ quan cảnh sát khác đưa con số lên tới 80.000 người. Dù về mặt chính thức cảnh sát chịu trách nhiệm giữ gìn trật tự dân sự, các lãnh đạo quân sự địa phương và vùng tiếp tục nắm quyền kiểm soát tại những vùng chưa ổn định. Cảnh sát đã bị buộc tội đối xử không thích hợp và tra tấn các tù nhân. Năm 2003 khu vực ủy nhiệm của Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế, hiện thuộc quyền chỉ huy của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã được mở rộng tới vùng Kabul. Tuy nhiên tại một số vùng không thuộc quyền ủy nhiệm của lực lượng trên, các du kích địa phương vẫn nắm quyền kiểm soát. Ở nhiều vùng, các vụ phạm pháp không thể được điều tra bởi thiếu sự có mặt của lực lượng cảnh sát và/hay hệ thống thông tin liên lạc. Binh lính thuộc Quân đội Quốc gia Afghanistan đã được phái tới giữ gìn an ninh tại những nơi thiếu sự hiện diện của cảnh sát.[196]

Nhân quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà báo ở Afghanistan đối mặt với mối đe dọa từ cả lực lượng an ninh và quân nổi dậy.[197] Ủy ban An toàn Nhà báo Afghanistan (AJSC) năm 2017 tuyên bố rằng chính phủ Afghanistan chiếm 46% các cuộc tấn công vào nhà báo Afghanistan, trong khi quân nổi dậy chịu trách nhiệm cho phần còn lại của các cuộc tấn công.[198]

Đồng tính luyến ái là bất hợp pháp và là một hành vi phạm tội tử hình ở Afghanistan.[199]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Công nhân chế biến lựu (anaar), loại trái cây Afghanistan nổi tiếng ở châu Á

Afghanistan là một nước đang phát triển. Hai phần ba dân số nước này sống với chưa đến 2 đô la Mỹ một ngày. Nền kinh tế đã phải chịu rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ tình trạng bất ổn chính trị và quân sự từ cuộc chiến tranh xâm lược của Xô viết từ năm 1979 và những cuộc xung đột tiếp sau đó, ngoài ra tình trạng hạn hán nặng nề cũng gây rất nhiều khó khăn cho đất nước này trong giai đoạn 1998-2001.[200][201] Tính đến năm 2016, GDP của Afghanistan đạt 18.395 USD, đứng thứ 114 thế giới, đứng thứ 36 châu Á và đứng thứ 6 Nam Á.

Dân số tham gia tích cực vào hoạt động kinh tế năm 2002 khoảng 11 triệu người (trong tổng cộng khoảng 29 triệu). Tuy không có con số chính thức về tỷ lệ thất nghiệp, ước tính khoảng 3 triệu người, và dường như tăng thêm khoảng 300.000 người mỗi năm.[202]

Tuy nhiên, Afghanistan đã đạt được mức hồi phục và tăng trưởng kinh tế đáng khâm phục từ năm 2002. Giá trị GDP thực, không tính thuốc phiện, đã tăng 29% năm 2002, 16% năm 2003, 8% năm 2004 và 14% năm 2005.[203] Một phần ba GDP Afghanistan có từ hoạt động trồng cây anh túc và buôn bán trái phép các loại chất có nguồn gốc hay có dẫn xuất từ thuốc phiện, morphineheroin, cũng như sản xuất hashish.

Phụ nữ Afghanistan tại một nhà máy dệt ở Kabul

Một lợi thế khác, những nỗ lực quốc tế nhằm tái thiết Afghanistan đã dẫn tới sự thành lập Chính quyền Lâm thời Afghanistan (AIA), kết quả của Thỏa thuận Bonn tháng 12 năm 2001 Bonn, và sau đó là Hội nghị các Nhà tài trợ cho việc Tái thiết Afghanistan tại Tokyo năm 2002, với 4,5 tỷ USD được hứa hẹn tài trợ và số vốn này sẽ được Nhóm Ngân hàng Thế giới quản lý. 4 tỷ USD khác cũng được hứa hẹn cho vay năm 2004 và tiếp đó là 10,5 tỷ USD đầu năm 2006 tại Hội nghị Luân Đôn.[204] Đầu năm 2007, 11,6 tỷ USD đã được cam kết tài trợ cho nước này từ riêng Hoa Kỳ. Những lĩnh vực được ưu tiên tái thiết gồm việc tái xây dựng hệ thống giáo dục, sức khoẻ, các cơ sở y tế, tăng cường năng lực quản lý hành chính, phát triển lĩnh vực nông nghiệp và tái thiết đường sá, năng lượng và viễn thông.

Theo một bản báo cáo năm 2004 của Ngân hàng Phát triển châu Á, nỗ lực tái thiết hiện tại tập trung vào hai hướng: thứ nhất chú trọng tái thiết các cơ sở hạ tầng quan trọng và thứ hai, xây dựng các cơ sở hiện đại trong lĩnh vực công cộng từ những tàn dư của kiểu kế hoạch hóa Xô viết sang kiểu hướng mạnh vào phát triển kinh tế thị trường.[202] Năm 2006, hai công ty Hoa Kỳ, Black & Veatch và Louis Berger Group, đã thắng một hợp đồng trị giá 1,4 tỷ USD xây dựng lại đường sá, các hệ thống cung cấp điện nước cho Afghanistan.[205]

Một trong những định hướng chính của việc khôi phục kinh tế hiện nay là hồi hương cho hơn 4 triệu người tị nạn từ các quốc gia và phương Tây, những người sẽ mang theo về nguồn nhân lực mới, mối quan hệ, tay nghề cũng như nguồn vốn cần thiết cho việc khởi động lại nền kinh tế. Một yếu tố tích cực khác là con số viện trợ từ 2 đến 3 tỷ USD mỗi năm từ cộng đồng quốc tếref>Shalizi and Harooni, Hamid and Mirwais (ngày 4 tháng 4 năm 2014). “Landmark Afghanistan Presidential Election Held Under Shadow of Violence”. HuffPost. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2018., việc hồi phục một phần lĩnh vực nông nghiệp, và việc tái xây dựng các định chế kinh tế. Những kế hoạch phát triển khu vực tư nhân cũng đang được tiến hành. Năm 2006, một gia đình người Afghanistan tại Dubai đã mở một nhà máy đóng chai Coca Cola trị giá 25 triệu USD tại Afghanistan.[206]

Con số thâm hụt tài khoản vãng lai của nước này hiện được bù đắp phần lớn bởi khoản tiền từ các nhà tài trợ, chỉ một phần nhỏ – khoảng 15% – được lấy từ ngân sách chính phủ. Số còn lại được chia cho các khoản chi tiêu không thuộc ngân sách và những dự án do nhà tài trợ chỉ định thông qua hệ thống Liên hiệp quốc và các tổ chức phi chính phủ. Chính phủ có một quỹ trung ương chỉ 350 triệu USD năm 2003 và ước tính đạt 550 năm 2004. Tổng dự trữ ngoại tệ quốc gia khoảng 500 triệu USD. Nguồn thu đa số từ hải quan, bởi các nguồn thuế thu nhập và thuế doanh nghiệp rất nhỏ nhoi.

Afghanistan, Xu hướng trong chỉ số phát triển con người, 1970–2010

Lạm phát từng là vấn đề nghiêm trọng tại nước này trước năm 2002. Tuy nhiên, việc hạ giá đồng Afghani năm 2002 sau khi đồng tiền mới được đưa vào lưu hành (1.000 Afghani cũ tương đương 1 Afghani mới) cộng với tình trạng ổn định hơn so với trước kia đã giúp giá cả ổn định và thậm chí giảm bớt trong giai đoạn tháng 12 năm 2002 và tháng 2 năm 2003, phản ánh sự ưa thích với đồng Afghani mới. Kể từ đó, chỉ số lạm phát đã trở nên ổn định, hơi tăng vào cuối năm 2003.[202]

Chính phủ Afghanistan và các nhà tài trợ quốc tế dường như muốn chú trọng vào cải thiện các lĩnh vực nhu cầu then chốt, phát triển cơ sở hạ tầng, giáo dục, nhà ở và cải cách kinh tế. Chính phủ trung ương cũng tập trung vào việc cải thiện tình trạng lỏng lẻo trong chi trả lương và chi tiêu công cộng. Việc tái thiết lĩnh vực tài chính dường như cần một thời gian lâu dài để đạt tới thành công. Hiện tiềm có thể được chuyển ra vào đất nước thông qua các kênh ngân hàng chính thức. Từ năm 2003, hơn mười bốn ngân hàng mới đã được thành lập trong nước, gồm cả Standard Chartered Bank, Afghanistan International Bank, Kabul Bank, Azizi Bank, First MicroFinanceBank, và các ngân hàng khác. Một luật mới về đầu tư tư nhân đã quy định khoảng thời gian ưu đãi thuế từ ba tới bảy năm cũng như khoảng thời gian bốn năm miễn trừ thuế xuất khẩu nhằm khuyến khích các công ty.

Afghanistan là một thành viên đầy đủ của Tổ chức hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) và Tổ chức hợp tác kinh tế (ECO), các tổ chức khu vực, cũng như Tổ chức hội nghị Hồi giáo.

Kế hoạch trị giá 9 tỷ USD nhằm phát triển Kabul thành một đô thị hiện đại tương lai, Thành phố ánh sáng.

Một số dự án đầu tư tư nhân, với sự hỗ trợ của nhà nước, cũng đang hình thành tại Afghanistan. Một bản thiết kế ý tưởng ban đầu được gọi là Thành phố ánh sáng, do Tiến sĩ Hisham N. Ashkouri, Giám đốc ARCADD, Inc. đề xuất cho một dự án phát triển và thực hiện dựa trên cơ sở đầu tư hoàn toàn tư nhân đã được đề xuất với mục tiêu hình thành một khu đa chức năng thương mại, lịch sử và phát triển văn hóa bên trong Thành phố Cổ Kabul dọc bờ nam Sông Kabul và dọc Đại lộ Jade Meywand,[207] đem lại sức sốc mới cho một trong những khu vực thương mại và lịch sử quan trọng nhất bên trong Thành phố Kabul, với nhiều thánh đường và lăng mộ lịch sử cũng như các khu vực hoạt động thương mại đã bị tàn phá trong chiến tranh. Trong bản thiết kế này cũng bao gồm một phức hợp cho Bảo tàng Quốc gia Afghanistan.

Một con đường chợ nhộn nhịp ở trung tâm Kabul, 2009

Tuy những dự án đó sẽ giúp xây dựng lại một cơ sở căn bản của quốc gia trong tương lai, hiện tại, một nửa dân số vẫn phải sống trong tình trạng thiếu lương thực, quần áo, nhà cửa và các vấn đề khác do các hoạt động quân sự và sự bất ổn chính trị gây ra. Chính phủ không đủ mạnh để thu thuế và phí từ tất cả các tỉnh vì tình trạng lãnh chúa địa phương. Tình trạng gian lận lừa đảo và "tham nhũng xuất hiện trong hàng loạt tổ chức chính phủ Afghanistan.[208]

Điều tốt lành với Afghanistan là nước này có tiềm năng để nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo đói để trở thành một quốc gia ổn định. Nhiều bản báo cáo cho thấy đất nước sở hữu nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản quan trọng, có giá trị trên thị trường thế giới. Theo Nghiên cứu của US Geological và Bộ Công nghiệp và Mỏ Afghanistan, nước này có thể sở hữu tới 36 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên, 3,6 tỷ barrel dầu mỏ và tới 1.325 triệu barrel khí gas hóa lỏng. Điều này có thể đánh dấu bước ngoặt trong những nỗ lực tái thiết Afghanistan. Xuất khẩu dầu mỏ có thể mang lại nguồn thu Afghanistan cần để hiện đại hóa cơ sở hạ tầng và mở rộng các cơ hội kinh tế cho đất nước. Những báo cáo khác cho rằng nước này có khá nhiều nguồn tài nguyên vàng, đồng, than, quặng sắt và các khoáng sản giàu khác.

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Dân cư Afghanistan được chia thành nhiều nhóm sắc tộc khác nhau. Vì một cuộc điều tra dân số có hệ thống chưa từng được thực hiện ở nước này trong nhiều thập kỷ, con số chính xác về số lượng và thành phần các nhóm dân tộc hiện chưa được biết.[209] Vì thế những con số dưới đây chỉ có tính ước đoán.[210]

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo CIA factbook các ngôn ngữ được sử dụng ở Afghanistan gồm: tiếng Ba Tư (chính thức được gọi là Dari, nhưng được biết đến rộng hơn dưới cái tên Farsi) 50% và Pashto 35%; cả hai đều là các ngôn ngữ Ấn-Âu trong ngữ chi Iran. Tiếng Pashto và Ba Tư là các ngôn ngữ chính thức của quốc gia. Tiếng Hazara, của cộng đồng thiểu số Hazara, là một thổ ngữ của tiếng Ba Tư. Các ngôn ngữ khác gồm các ngôn ngữ Turk (chủ yếu là UzbekTurkmen) 9%, cũng như 30 ngôn ngữ nhỏ khác chiếm 4% (chủ yếu gồm Baloch, Nuristan, Pashai, Brahui, các ngôn ngữ Pamir, Hindko, Hindi/Urdu, vân vân.). Số người thạo nhiều ngôn ngữ rất đông.

Các ngôn ngữ Afghanistan
  50% Ba Tư (thường là thổ ngữ Dari)
  35% Pashto
  8% Uzbek
  3% Turkmen
  2% Baloch
2% khác (Nuristan, Pashai, Brahui, vân vân.)

Theo Từ điển bách khoa Iran,[211] tiếng Ba Tư là ngôn ngữ mẹ đẻ của khoảng một phần ba dân số Afghanistan, và nó cũng là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất trong nước, với khoảng 90% dân số. Từ điển bách khoa này cũng cho rằng tiếng Pashto được khoảng 50% dân số sử dụng.

Các nhóm sắc tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Hai trẻ em ở Kabul

Dưới đây là sự phân bố các nhóm sắc tộc gần đúng dựa trên CIA World Factbook[212]. Từ điển bách khoa toàn thư Anh đưa ra một danh sách nhóm sắc tộc Afghanistan hơi khác:[213]

Dựa trên những con số từ cuộc điều tra dân số thập niên 1960 tới 1980, cũng như thông tin có được từ các học giả,[214] Bách khoa toàn thư Iran đưa ra danh sách sau:[214]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn giáo tại Afghanistan

  Hồi giáo (99.5%)
  Khác (0.5%)

Theo tôn giáo, Hơn 99% người dân Afghanistan là người Hồi giáo: khoảng 74-89% thuộc hệ phái Sunni và 9-25% thuộc Shi'a[213][215] (những con số ước tính có thể khác biệt). Có khoảng 30.000 tới 150.000 người Ấn giáo và người đạo Sikh sống tại nhiều thành phố nhưng chủ yếu tại Jalalabad, Kabul, và Kandahar.[216][217]

Tương tự, có một cộng đồng người Do Thái nhỏ tại Afghanistan (Xem Người Do Thái Bukharan) họ đã bỏ chạy khỏi đất nước sau khi quân đội Liên Xô đến tham chiến năm 1979, và ngày nay chỉ duy nhất một người Do Thái là Zablon Simintov, còn ở lại nước này.[218]

Các thành phố lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố duy nhất tại Afghanistan có hơn một triệu dân là thủ đô Kabul. Các thành phố lớn khác gồm: (theo thứ tự dân số) Kandahar, Herat, Mazari Sharif, Jalalabad, GhazniKunduz.

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Một bệnh viện ở Kabul

Theo Chỉ số phát triển con người, Afghanistan là quốc gia kém phát triển thứ 15 trên thế giới. Tuổi thọ trung bình được ước tính là khoảng 60 năm.[219][220] Tỷ lệ sản phụ tử vong của nước này là 396/100.000 ca sinh sống và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh là 66[220] đến 112,8 ca tử vong mỗi 1.000 ca sinh sống.[182] Bộ Y tế Công cộng có kế hoạch cắt giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh xuống còn 400 cho mỗi 100.000 ca sinh sống trước năm 2020. Đất nước này có hơn 3.000 nữ hộ sinh, với thêm 300 đến 400 người được đào tạo mỗi năm.[221]

Có hơn 100 bệnh viện ở Afghanistan,[222] với các phương pháp điều trị tiên tiến nhất hiện có ở Kabul. Viện Y học Trẻ em PhápBệnh viện nhi Indira Gandhi ở Kabul là những bệnh viện nhi hàng đầu trong cả nước. Một số bệnh viện hàng đầu khác ở Kabul bao gồm Bệnh viện JamhuriatBệnh viện Jinnah.[223] Mặc dù vậy, nhiều người Afghanistan tới Pakistan và Ấn Độ để điều trị nâng cao.

Có báo cáo vào năm 2006 rằng gần 60% dân số Afghanistan sống trong vòng hai giờ đi bộ từ cơ sở y tế gần nhất.[224] Tỷ lệ khuyết tật cũng cao ở Afghanistan do hàng thập kỷ chiến tranh.[225] Báo cáo gần đây cho biết khoảng 80.000 người bị mất chi.[226][227] Các tổ chức từ thiện phi chính phủ như Save the ChildrenMahboba's Promise hỗ trợ trẻ mồ côi kết hợp với các cấu trúc chính phủ.[228] Các khảo sát về nhân khẩu học và y tế đang làm việc với Viện nghiên cứu quản lý y tế Ấn Độ và các nghiên cứu khác để thực hiện một cuộc khảo sát ở Afghanistan tập trung vào tỷ lệ sản phụ tử vong và những vấn đề khác.[229]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Tỷ lệ biết chữ/dân số plus15 theo Viện thống kê UNESCO 1980–2015

Giáo dục ở Afghanistan gồm K–12giáo dục đại học, được Bộ Giáo dụcBộ Giáo dục Đại học giám sát. Có hơn 16.000 trường học trong cả nước và khoảng 9 triệu học sinh. Trong đó, khoảng 60% là nam và 40% nữ. Hơn 174.000 sinh viên đang theo học tại các trường đại học khác nhau trên cả nước. Khoảng 21% trong số này là nữ giới.[230] Cựu Bộ trưởng Giáo dục Ghulam Farooq Wardak đã tuyên bố rằng việc xây dựng 8.000 trường học là cần thiết cho những trẻ em còn lại bị thiếu học tập chính quy.[231]

Các trường đại học hàng đầu ở Afghanistan là Đại học Mỹ ở Afghanistan (AUAF), tiếp theo là Đại học Kabul (KU), cả hai đều nằm ở Kabul. Học viện Quân sự Quốc gia Afghanistan, được mô phỏng theo Học viện Quân sự Hoa Kỳ tại West Point, là một tổ chức phát triển quân sự bốn năm dành riêng cho các sĩ quan tốt nghiệp cho Lực lượng Vũ trang Afghanistan. Đại học Quốc phòng Afghanistan được xây dựng gần Hồ chứa nước Qargha ở Kabul. Các trường đại học lớn bên ngoài Kabul bao gồm Đại học Kandahar ở phía Nam, Đại học Herat ở phía Tây Bắc, Đại học BalkhĐại học Kunduz ở phía Bắc, Đại học NangarharĐại học Khost ở phía đông. Hoa Kỳ đang xây dựng sáu cơ sở giáo dục và năm trường cao đẳng đào tạo giáo viên trên toàn quốc, hai trường trung học lớn ở Kabul và một trường ở Jalalabad.[230]

Tỷ lệ biết chữ của dân số là 38,2% (nam 52% và nữ 24,2%).[182] Lực lượng an ninh quốc gia Afghanistan được cung cấp các khóa học xóa mù chữ bắt buộc.[232]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Cô gái dân tộc Tajik trong trang phục truyền thống ở Mazar-i-Sharif

Người Afghanistan tự hào về tôn giáo, quốc gia, tổ tiên, và trên tất cả là nền độc lập của họ. Như những người dân vùng cao nguyên khác, người Afghanistan được cho là nhanh nhạy và mến khách, vì họ rất coi trọng danh dự cá nhân, vì sự trung thành với dòng tộc và vị sự sẵn sàng mang theo và sử dụng vũ khí để giải quyết các tranh chấp.[233] Vì các cuộc tranh chấp bộ tộc và những cuộc tàn sát phong kiến đã trở thành một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của họ từ xa xưa, kiểu chủ nghĩa cá nhân tiêu biểu này đã là một trở ngại lớn đối với những kẻ xâm lược từ bên ngoài.

Afghanistan có một lịch sử phức tạp thể hiện qua những nền văn hóa hiện nay của họ cũng như dưới hình thức nhiều ngôn ngữ và công trình kiến trúc khác. Tuy nhiên, nhiều công trình kiến trúc lịch sử quốc gia đã bị tàn phá trong những cuộc chiến gần đây. Hai pho tượng Phật tại Tỉnh Bamiyan đã bị lực lượng Taliban, những kẻ coi đó là sự sùng bái thần tượng, phá huỷ. Các địa điểm nổi tiếng khác gồm các thành phố Kandahar, Herat, GhazniBalkh. Tháp Jam, tại thung lũng Hari Rud, là một địa điểm di sản văn hóa thế giới của UNESCO. Tấm áo choàng của Muhammad được cất giữ bên trong Khalka Sharifa nổi tiếng tại Thành phố Kandahar.

Buzkashi là một môn thể thao quốc gia tại Afghanistan. Nó tương tự như polo và những người chơi cưỡi trên lưng ngựa chia thành hai đội, mỗi bên tìm cách chiếm và giữ xác một con . Chó sói Afghanistan (một kiểu chó đua) cũng có nguồn gốc từ Afghanistan.

Dù tỷ lệ người biết chữ thấp, thi ca Ba Tư đóng một vai trò rất quan trọng trong văn hóa Afghanistan. Thi ca luôn là một môn học quan trọng tại Iran và Afghanistan, tới mức nó đã thống nhất vào trong văn hóa. Văn hóa Ba Tư, từng, và luôn luôn, có ảnh hưởng lớn trong văn hóa Afghanistan. Những cuộc thi thơ giữa cá nhân được gọi là "musha’era" thường xuất hiện trong những người bình dân. Hầu như mọi gia đình đều sở hữu một hay nhiều tập thơ ở mọi kiểu, thậm chí khi chúng không được mang ra đọc thường xuyên.

Các thổ ngữ phía đông của ngôn ngữ Ba Tư thường được gọi là "Dari". Cái tên này xuất xứ từ từ "Pārsī-e Darbārī", có nghĩa Tiếng Ba Tư của các triều đình hoàng gia. Thuật ngữ Darī cổ – một trong những cái tên gốc của ngôn ngữ Ba Tư – was đã được tái sinh trong hiến pháp Afghanistan năm 1964, và có mục tiêu "biểu thị rằng người Afghanistan coi quốc gia của họ là cái nôi của ngôn ngữ. Vì thế, cái tên Fārsī, ngôn ngữ của người Fārs, thường bị tránh nhắc tới. Theo quan điểm này, chúng ta có thể coi sự phát triển của Dari hay văn học Ba Tư trong thực thể chính trị được gọi là Afghanistan."[234]

Nhiều nhà thơ Ba Tư nổi tiếng trong giai đoạn thế kỷ thứ mười đến thế kỷ mười lăm xuất thân từ Khorasan nơi được coi là Afghanistan ngày nay. Đa số họ cũng là các học giả trong nhiều trường phái khác nhau như ngôn ngữ, khoa học tự nhiên, y học, tôn giáo và thiên văn học.

Đa số những nhân vật trên đều là người Ba Tư (Tājīk) theo sắc tộc và đây vẫn là nhóm sắc tộc lớn thứ hai tại Afghanistan. Tương tự, một số nhà thơ và tác gia tiếng Ba Tư hiện đại, những người khá nổi tiếng trong thế giới sử dụng tiếng Ba Tư, gồm Ustad Betab, Qari Abdullah, Khalilullah Khalili,[235] Sufi Ghulam Nabi Ashqari,[236] Sarwar Joya, Qahar Asey, Parwin Pazwak và những người khác. Năm 2003, Khaled Hosseini đã xuất bản cuốn The Kiterunner, dù chỉ là tiểu thuyết nhưng đã thể hiện đa phần lịch sử, chính trị và văn hóa xảy ra tại Afghanistan từ thập niên 1930 tới nay.

Ngoài các nhà thơ và tác gia, nhiều nhà khoa học Ba Tư cũng có nguồn gốc từ nơi hiện được gọi là Afghanistan. Nổi tiếng nhất là Avicenna (Abu Alī Hussein ibn Sīnā), cha ông xuất thân từ Balkh. Ibn Sīnā, người đã tới Isfahan để lập ra một trường y tại đó, được một số học giả coi là "người cha của y học hiện đại". George Sarton đã gọi ibn Sīnā là "nhà khoa học nổi tiếng nhất của Hồi giáo và một trong những người nổi tiếng nhất ở mọi sắc tộc, địa điểm và thời đại". Các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông gồm Sách chữa vết thương (The Book of Healing) và Luật lệ ngành y (The Canon of Medicine), cũng được gọi là Qanun. Câu chuyện về Ibn Sīnā thậm chí đã xuất hiện trong văn học hiện đại Anh qua cuốn Thầy thuốc (The Physician) của Noah Gordon, hiện đã được xuất bản bằng nhiều thứ tiếng. Hơn nữa, theo Ibn al-Nadim, Al-Farabi, một nhà khoa học và triết học nổi tiếng, cũng xuất thân từ Tỉnh Faryab Afghanistan.

Trước khi Taliban lên nắm quyền lực, thành phố Kabul là nơi có nhiều nhạc sĩ bậc thầy cả về âm nhạc truyền thống và hiện đại Afghanistan, đặc biệt trong lễ hội Nauroz. Ở thế kỷ hai mươi Kabul từng là trung tâm văn hóa được coi như Viên ở thế kỷ mười tám và mười chín.

Hệ thống bộ tộc, quy định cuộc sống của hầu hết mọi người bên ngoài các khu đô thị, và có ảnh hưởng mạnh mẽ theo các thuật ngữ chính trị. Những người đàn ông có một lòng trung thành cuồng nhiệt với bộ tộc của mình, tới mức, khi được kêu gọi, họ sẵn sàng tập trung lại với vũ khí trong tay dưới quyền lãnh đạo của người đứng đầu bộ tộc cũng các lãnh đạo dòng họ (Khans). Trên lý thuyết, theo luật Hồi giáo, mọi tín đồ đều phải đứng lên cầm vũ khí theo lời hiệu triệu (Ulul-Amr) của thủ lĩnh.

Heathcote coi hệ thống bộ tộc là cách thức tốt nhất để tổ chức những nhóm người lớn trong một quốc gia với những khó khăn địa lý, và trong một xã hội, từ quan điểm duy vật, có phong cách sống đơn giản.[233]

Phụ nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Global Rights, gần 90% phụ nữ ở Afghanistan trải qua lạm dụng thể xác, lạm dụng tình dục, lạm dụng tâm lý hoặc cưỡng hôn. Thủ phạm của những tội ác này là gia đình của nạn nhân.[237] Một đề xuất năm 2009 về một đạo luật chống lại bạo lực phụ nữ chỉ có thể được thông qua qua một sắc lệnh của tổng thống.[237]

Năm 2012, Afghanistan đã ghi nhận 240 trường hợp hành quyết để bảo vệ danh dự, nhưng tổng số người được cho là cao hơn nhiều. Trong số các vụ hành quyết để bảo vệ danh dự được báo cáo, 21% được thực hiện bởi chồng của nạn nhân, 7% bởi anh em của họ, 4% bởi cha của họ và phần còn lại bởi những người thân khác.[238][239]

Hôn nhân trẻ em phổ biến ở Afghanistan.[240] Tuổi hợp pháp để kết hôn là 16.[241] Cuộc hôn nhân được ưa thích nhất trong xã hội Afghanistan là anh em họ song song và chú rể thường phải trả giá cô dâu.[242]

Truyền thông và giải trí[sửa | sửa mã nguồn]

Afghanistan có khoảng 350 đài phát thanh và hơn 200 đài truyền hình[243] gồm RTA TV thuộc sở hữu nhà nước và các kênh tư nhân khác như TOLOShamshad TV. Tờ báo đầu tiên của Afghanistan được xuất bản vào năm 1873,[244] và có hàng trăm cửa hàng in ngày nay.[243] Vào những năm 1920, Radio Kabul đã phát sóng các dịch vụ radio địa phương.[245] Các chương trình truyền hình bắt đầu phát sóng vào đầu những năm 1970. Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, BBCĐài Châu Âu Tự do/Đài Tự do (RFE / RL) phát sóng bằng cả hai ngôn ngữ chính thức của Afghanistan.[246]

Kể từ năm 2002, các hạn chế báo chí đã dần được nới lỏng và phương tiện truyền thông tư nhân đa dạng. Tự do ngôn luận và báo chí được thúc đẩy trong hiến pháp năm 2004, kiểm duyệt bị cấm, mặc dù phỉ báng các cá nhân hoặc sản xuất tài liệu trái với các nguyên tắc của đạo Hồi bị cấm. Năm 2019, Phóng viên không biên giới xếp hạng môi trường truyền thông của Afghanistan đứng thứ 121 trong số 179 theo Chỉ số tự do báo chí, trong đó đứng thứ 1 về khoản hầu hết là miễn phí.[247][248]

Thành phố Kabul đã là nơi sinh sống của nhiều nhạc sĩ, những người làm chủ cả âm nhạc Afghanistan truyền thống và hiện đại. Âm nhạc truyền thống đặc biệt phổ biến trong lễ kỷ niệm Nowruz (Năm mới) và Quốc khánh. Ahmad Zahir, Nashenas, Ustad Sarahang, Sarban, Ubaidullah Jan, Farhad DaryaNaghma là một trong số các nhạc sĩ Afghanistan đáng chú ý.[249] Người Afghanistan từ lâu đã quen với việc xem phim Bollywood Ấn Độ và nghe các bài hát filmi (nhạc phim) của nó. Nhiều ngôi sao điện ảnh Bollywood có nguồn gốc ở Afghanistan như Salman Khan, Saif Ali Khan, Shah Rukh Khan, Aamir Khan, Feroz Khan, Kader Khan, Naseeruddin Shah, Zarine Khan, Celina Jaitly và một số người khác. Một số bộ phim Bollywood đã được quay ở Afghanistan, bao gồm Dharmatma, Khuda Gawah, Escape from TalibanKabul Express.

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Một số món ăn nổi tiếng của Afghanistan

Ẩm thực Afghanistan chủ yếu dựa trên các loại cây trồng chính của quốc gia như lúa mì, ngô, lúa mạch và gạo. Đi kèm với các mặt hàng chủ lực này là trái cây và rau quả bản địa cũng như các sản phẩm từ sữa như sữa, sữa chua và nước sữa. Cơm Kabuli palaw là món ăn truyền thống của Afghanistan.[250] Đặc sản ẩm thực của quốc gia phản ánh sự đa dạng về dân tộc và địa lý.[251] Afghanistan được biết đến với lựu, nhodưa ngọt chất lượng cao.[252]

Thơ ca[sửa | sửa mã nguồn]

Thơ cổ điển Ba Tưtiếng Pashtun là một phần được ưa chuộng của văn hóa Afghanistan. Thứ năm theo truyền thống là "đêm thơ" ở thành phố Herat khi đàn ông, phụ nữ và trẻ em tụ tập và đọc thuộc những bài thơ cổ xưa và hiện đại.[253] Thơ luôn là một trong những trụ cột giáo dục chính trong khu vực đến mức nó đã hòa nhập vào văn hóa. Một số nhà thơ đáng chú ý bao gồm Rumi, Rabi'a Balkhi, Sanai, Jami, Khushal Khan Khattak, Rahman Baba, Khalilullah KhaliliParween Pazhwak.[254]

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển bóng đá quốc gia Afghanistan (mặc đồng phục màu đỏ) trong chiến thắng đầu tiên trước Ấn Độ (màu xanh) tại SAFF Championship 2011.
Môn thể thao quốc gia truyền thống của Afghanistan, Buzkashi

Thể thao ở Afghanistan được quản lý bởi Liên đoàn thể thao Afghanistan. Cricketbóng đá là hai môn thể thao phổ biến nhất cả nước.[255][256] Liên đoàn thể thao Afghanistan khuyến khích môn cricket, bóng đá, bóng rổ, bóng chuyền, golf, bóng ném, đấm bốc, taekwondo, cử tạ, thể hình, Điền kinh trong sân vận động, trượt băng, bowling, Snooker, cờ vua và các môn thể thao khác.

Các đội thể thao của Afghanistan đang ngày càng đạt nhiều danh hiệu tại các sự kiện quốc tế. Đội bóng rổ của họ đã giành được danh hiệu thể thao đội đầu tiên tại Đại hội thể thao Nam Á 2010.[257] Cuối năm đó, đội cricket quốc gia sau đó cũng giành được Cúp Liên lục địa ICC 2009–10.[258] Vào năm 2012, đội bóng rổ 3x3 quốc gia đã giành huy chương vàng tại Đại hội thể thao bãi biển châu Á 2012. Vào năm 2013, đội bóng đá của Afghanistan cũng giành được giải vô địch SAFF.[259]

Đội cricket quốc gia Afghanistan, được thành lập năm 2001, đã tham gia Vòng loại World Cup ICC 2009, 2010 ICC World Cricket League Division OneGiải ICC World Twenty20 2010. Họ đã giành được ACC Twenty20 Cup vào các năm 2007, 2009, 2011 và 2013. Cuối cùng, đội đã thành công và chơi ở World Cup Cricket 2015.[260] Hội đồng cricket Afghanistan (ACB) là cơ quan quản lý chính thức của môn thể thao này và có trụ sở tại Kabul. Sân cricket quốc tế Alokozay Kabul đóng vai trò là sân vận động cricket chính của quốc gia. Có một số sân vận động khác trên khắp đất nước như Sân vận động Cricket Quốc tế Ghazi Amanullah Khan gần Jalalabad. Ở trong nước, cricket được chơi giữa các đội từ các tỉnh khác nhau.

Đội tuyển bóng đá quốc gia Afghanistan đã thi đấu quốc tế từ năm 1941.[261] Đội tuyển quốc gia chơi các trận đấu trên sân nhà tại Sân vận động Ghazi ở Kabul, trong khi bóng đá ở Afghanistan được quản lý bởi Liên đoàn bóng đá Afghanistan. Đội tuyển quốc gia chưa bao giờ thi đấu hoặc vượt qua vòng loại cho FIFA World Cup nhưng gần đây đã giành được một danh hiệu bóng đá quốc tế vào năm 2013.[259] Đất nước này cũng có một đội tuyển quốc gia trong môn thể thao futsal, một biến thể 5 mặt của bóng đá.

Môn thể thao truyền thống và là môn thể thao quốc gia của Afghanistan là buzkashi, chủ yếu phổ biến ở miền bắc Afghanistan. Nó tương tự như polo, được chơi bởi kỵ sĩ trong hai đội, mỗi đội cố gắng nắm lấy và giữ một cái xác dê.[262] Chó săn Afghan (một giống chó săn đuổi) có nguồn gốc từ Afghanistan và trước đây được sử dụng trong săn sói. Năm 2002, du khách Rory Stewart báo cáo rằng chó vẫn được sử dụng để săn sói ở những vùng xa xôi.[263]

Cơ sở hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

Viễn thông và Công nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Afghanistan đã tăng cường nhanh chóng công nghệ viễn thông, và đã thành lập các công ty truyền thông không dây, Internet, đài phát thanh cùng các đài truyền hình. Các dịch vụ viễn thông ở Afghanistan được cung cấp bởi Afghan Telecom, Afghan Wireless, Etisalat, MTN GroupRoshan. Quốc gia này sử dụng vệ tinh không gian của riêng mình có tên Afghansat 1, nơi cung cấp dịch vụ cho hàng triệu thuê bao điện thoại, internet và truyền hình. Vào năm 2001 sau những năm nội chiến, viễn thông gần như là một lĩnh vực không tồn tại. Năm 2006, Bộ viễn thông Afghanistan đã ký kết một thỏa thuận trị giá 64,5 triệu USD với một công ty (ZTE Corporation) về việc thành lập một mạng lưới cáp quang rộng khắp quốc gia. Dự án này đã giúp cải thiện các dịch vụ điện thoại, Internet, vô tuyến và truyền thanh trên toàn quốc.[264] Đến năm 2016, viễn thông đã phát triển thành một ngành công nghiệp trị giá 2 tỷ đô la với 22 triệu thuê bao điện thoại di động và 5 triệu người dùng internet. Ngành này sử dụng ít nhất 120.000 người trên toàn quốc.[265]

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Hàng không[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiếc Airbus A310 của Ariana Afghan Airlines năm 2006

Vận tải hàng không ở Afghanistan được cung cấp bởi hãng hàng không quốc gia Ariana Afghanistan Airlines,[266] và bởi công ty tư nhân Kam Air. Các hãng hàng không từ một số quốc gia cũng cung cấp các chuyến bay trong và ngoài nước. Chúng bao gồm Air India, Emirates, Gulf Air, Iran Aseman Airlines, Pakistan International AirlinesTurkish Airlines.

Đất nước này có bốn sân bay quốc tế: Sân bay quốc tế Hamid Karzai (trước đây là Sân bay quốc tế Kabul), Sân bay quốc tế Kandahar, Sân bay quốc tế HeratSân bay quốc tế Mazar-e Sharif. Bao gồm các sân bay nội địa, có 43.[182]

Đường sắt[sửa | sửa mã nguồn]

Nút giao đường sắt ở phía bắc Afghanistan trên đường hướng tới Uzbekistan

Đất nước này có ba tuyến đường sắt: một tuyến đường dài 75 km (47 dặm) từ Mazar-i-Sharif đến biên giới Uzbekistan;[267] một tuyến đường dài 10 km (6,2 dặm) từ Toraghundi đến biên giới Turkmenistan (nơi nó tiếp tục là một phần của Đường sắt Turkmen); và một liên kết ngắn từ Aqina qua biên giới Turkmen đến Kerki, dự kiến sẽ được mở rộng hơn nữa trên khắp Afghanistan.[268] Những tuyến này chỉ được sử dụng cho vận chuyển hàng hóa và không có dịch vụ chở khách. Một tuyến đường sắt giữa Khaf, Iran và Herat, phía tây Afghanistan, dành cho cả vận tải hàng hóa và hành khách, đang được xây dựng vào năm 2019.[269][270] Khoảng 125 km (78 dặm) của tuyến sẽ nằm ở phía Afghanistan.[271][272] Có nhiều đề xuất khác nhau cho việc xây dựng các tuyến đường sắt bổ sung trong nước.[273]

Đường bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Con đường quan trọng nhất ở Afghanistan là Quốc lộ 1, còn được gọi là Đường Vành đai, kéo dài 2.210 km (1.370 dặm) kết nối bốn thành phố lớn: Kabul, Ghazni, Kandahar và Herat.[274] Một phần quan trọng của Quốc lộ 1 là Đường hầm Salang, được hoàn thành vào năm 1964, tạo điều kiện cho việc đi qua dãy núi Hindu Kush và kết nối miền bắc và miền nam Afghanistan.[275] Du lịch bằng xe buýt ở Afghanistan vẫn nguy hiểm do các hoạt động quân sự.[276] Tai nạn giao thông nghiêm trọng phổ biến trên các quốc lộ và đường bộ ở Afghanistan, đặc biệt là trên quốc lộ Kabul–Kandaharquốc lộ Kabul–Jalalabad.[277]

Trẻ em trên một chiếc xe tải tại khu buôn bán Kabul (tháng 6 năm 2003).

Afghanistan cũng đã cải thiện chất lượng xe cộ của mình với sự hiện diện của các đại lý Toyota, Land Rover, BMWHyundai trên khắp Kabul, và một khu vực trưng bày xe second-hand từ Các tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất tại Kandahar. Tuy Afghanistan vẫn còn một chặng đường dài về công nghệ hiện đại phía trước nhưng họ đang tiến bước khá nhanh trên con đường đó.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa xuân năm 2003, ước tính 30% trong số 7.000 trường học tại Afghanistan đã bị hư hại nặng nề sau hơn hai thập kỷ nội chiến. Theo báo cáo, chỉ một nửa số trường có nước sạch, và chưa tới 40% có điều kiện vệ sinh thích hợp. Giáo dục cho trẻ em trai không phải là vấn đề được ưu tiên ở thời chính quyền Taliban, trẻ em gái bị cấm tới trường.

Vì tình trạng nghèo đói và bạo lực xung quanh, một cuộc nghiên cứu năm 2002 của Quỹ Cứu trợ Trẻ em cho thấy trẻ em Afghanistan rất nhanh nhạy và dũng cảm. Cuộc nghiên cứu cũng cho thấy những định chế vững chắc trong gia đình và cộng đồng.

Những học sinh vùng quê nghèo ở Bamozai, gần Gardez, tỉnh Paktya, năm 2007 lúc đang chiến tranh. Trường chưa có cơ sở, vì vậy các lớp học được tổ chức ngoài trời.

Năm 2006, trên khắp đất nước hơn bốn triệu học sinh nam và nữ đã được tới trường. Giáo dục tiểu học hoàn toàn miễn phí và tự do với cả trẻ em trai và gái.

Tỷ lệ biết đọc biết viết toàn quốc ước tính khoảng 36%, tỷ lệ biết đọc viết của nam là 51% nữ là 21%. Hiện nay có 9.000 trường học trên toàn quốc.

Một khía cạnh giáo dục khác đang nhanh chóng thay đổi tại Afghanistan, đó là giáo dục bậc cao. Sau sự sụp đổ của chính quyền Taliban, Đại học Kabul đã mở cửa trở lại cho cả sinh viên nam và nữ. Năm 2006, Đại học Mỹ tại Afghanistan cũng đã mở cửa, với mục tiêu cung cấp các lớp học tiêu chuẩn thế giới, với môi trường giáo dục tốt, sử dụng tiếng Anh tại Afghanistan. Trường đại học nhận cả các sinh viên Afghanistan và từ các nước láng giềng. Công việc xây dựng Đại học Balkh tại Mazari Sharif cũng sẽ sớm bắt đầu. Tòa nhà mới của trường sẽ được xây dựng trên khuôn viên rộng 600 acre với chi phí 250 triệu USD.[278]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tem

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “BBCNazer.com | زندگى و آموزش | حرف های مردم: سرود ملی”. www.bbc.co.uk. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2021.
  2. ^ Amirzai, Shafiq l. “د ملي سرود تاریخ | روهي”. Rohi.Af (bằng tiếng Pashto). Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2021.
  3. ^ “ملا فقیر محمد درویش د جهادي ترنم منل شوی سرخیل”. نن ټکی اسیا (bằng tiếng Pashto). 16 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2021.
  4. ^ Tharoor, Ishaan (19 tháng 6 năm 2013). “The Taliban's Qatar Office: Are Prospects for Peace Already Doomed?”. Time (bằng tiếng Anh). ISSN 0040-781X. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2021.
  5. ^ a b “Country Profile: Afghanistan” (PDF). Library of Congress Country Studies on Afghanistan. tháng 8 năm 2008. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010.
  6. ^ Dictionary.com. The American Heritage Dictionary of the English Language, Fourth Edition. Houghton Mifflin Company, 2004. Reference.com (Retrieved ngày 13 tháng 11 năm 2007).
  7. ^ Dictionary.com. WordNet 3.0. Princeton University. Reference.com (Retrieved ngày 13 tháng 11 năm 2007). Lưu trữ 2014-03-28 tại Wayback Machine
  8. ^ “Constitution of Afghanistan”. 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2013.
  9. ^ Afghan | meaning in the Cambridge English Dictionary. the Cambridge English Dictionary. ISBN 9781107660151.
  10. ^ [[[:Bản mẫu:Geonameslink]] Islamic Republic of Afghanistan] in [[[:Bản mẫu:Geonamesabout]] Geonames.org (cc-by)]
  11. ^ Central Statistics Office Afghanistan, 2020.
  12. ^ a b c d “Afghanistan”. International Monetary Fund. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2018.
  13. ^ “Gini Index”. World Bank. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2011.
  14. ^ Human Development Report 2020 The Next Frontier: Human Development and the Anthropocene (PDF). United Nations Development Programme. ngày 15 tháng 12 năm 2020. tr. 343–346. ISBN 978-92-1-126442-5. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2020.
  15. ^ These pronunciations involve assimilation, wherein /f/ becomes its assimilated allophone [v] before a voiced consonant.
  16. ^ a b Afghanistan – John Ford Shroder, University of Nebraska. Encarta. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2004. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2012.
  17. ^ , ISBN 978-0-19-882905-8 |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); , ISBN 978-1-107-11162-2 |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  18. ^ Anthony, David W. (2007). The Horse, the Wheel, and Language: How Bronze-Age Riders from the Eurasian Steppes Shaped the Modern World. Princeton University Press. tr. 454. ISBN 978-0691058870.
  19. ^ Mallory, J.P.; Adams, Douglas Q. (1997). Encyclopedia of Indo-European Culture . Taylor & Francis. tr. 310. ISBN 1884964982.
  20. ^ The Far East and Australasia 2003. Psychology Press. ngày 14 tháng 6 năm 2002. ISBN 9781857431339.
  21. ^ a b Qassem, Ahmad Shayeq (ngày 16 tháng 3 năm 2016). Afghanistan's Political Stability: A Dream Unrealised. Routledge. ISBN 9781317184591.
  22. ^ , ISBN 978-1610392624 |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  23. ^ , ISBN 1-86064-417-1 |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  24. ^ Ladwig, Walter C. (2017). The Forgotten Front: Patron-Client Relationships in Counter Insurgency. Cambridge University Press. tr. 302. ISBN 9781107170773. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2018. As with their Cold War counterparts, it was erroneous for American policymakers to believe that the governments of contemporary client states, such as Iraq, Afghanistan, and Pakistan, necessarily shared their desire to defeat radical Islamic insurgents by adhering to the prescriptions of U.S. counterinsurgency doctrine.
  25. ^ "Afghan" (with ref. To "Afghanistan: iv. Ethnography") by Ch. M. Kieffer, Encyclopaedia Iranica Online Edition 2006.
  26. ^ extract from "Passion of the Afghan" by Khushal Khan Khattak; translated by C. Biddulph in "Afghan Poetry Of The 17th Century: Selections from the Poems of Khushal Khan Khattak", Luân Đôn, 1890
  27. ^ "Transactions of the year 908" by Zāhir ud-Dīn Mohammad Bābur in Bāburnāma, translated by John Leyden, Oxford University Press: 1921.
  28. ^ M. Longworth Dames/G. Morgenstierne/R. Ghirshman, "Afghānistān", Encyclopaedia of Islam Online Edition
  29. ^ Elphinstone, M., Account of the Kingdom of Cabul and its Dependencies in Persia and India, Luân Đôn 1815; published by Longman, Hurst, Rees, Orme & Brown
  30. ^ E. Bowen, A New & Accurate Map of Persia in A Complete System Of Geography, Printed for W. Innys, R. Ware [etc.], Luân Đôn 1747
  31. ^ E. Huntington, The Anglo-Russian Agreement as to Tibet, Afghanistan, and Persia, Bulletin of the American Geographical Society, Vol. 39, No. 11 (1907)
  32. ^ MECW Volume 18, p. 40; The New American Cyclopaedia - Vol. I, 1858
  33. ^ M. Ali, Afghanistan: The War of Independence, 1919, Kabul [s.n.], 1960
  34. ^ Afghanistan's Constitution of 1923 under King Amanullah Khan (English translation).
  35. ^ Runion 2007, tr. 44-49.
  36. ^ George Erdosy (1995). The Indo-Aryans of Ancient South Asia: Language, Material Culture and Ethnicity. tr. 321. ISBN 3110144476.
  37. ^ Barfield 2012, tr. 255.
  38. ^ Nordland, Rod (ngày 29 tháng 8 năm 2017). “The Empire Stopper”. The New York Times. ISSN 0362-4331. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2019. Afghanistan has long been called the "graveyard of empires" – for so long that it is unclear who coined that disputable term.
  39. ^ Sites in Perspective, chapter 3 of Nancy Hatch Dupree, An Historical Guide To Afghanistan.
  40. ^ Afghanistan Lưu trữ 2009-10-31 tại WebCite, Microsoft Encarta Online Encyclopedia 2006 (specifically John Ford Shroder, B.S., M.S., Ph. D. Regents Professor of Geography and Geology, University of Nebraska. Editor, Himalaya to the Sea: Geology, Geomorphology, and the Quaternary and other books).
  41. ^ Rita Wright (2009). The Ancient Indus: Urbanism, Economy, and Society. tr. 1. ISBN 978-0521576529. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2019.
  42. ^ Kenoyer, Jonathan Mark (1998). Ancient cities of the Indus Valley Civilisation. pp.96
  43. ^ Bryant, Edwin F. (2001) The quest for the origins of Vedic culture: the Indo-Aryan migration debate Oxford University Press, ISBN 978-0-19-513777-4.
  44. ^ “Chronological History of Afghanistan – the cradle of Gandharan civilisation”. Gandhara.com.au. ngày 15 tháng 2 năm 1989. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2012.
  45. ^ Gnoli, Gherado (1989). The Idea of Iran, an Essay on its Origin. Istituto italiano per il Medio ed Estremo Oriente. tr. 133. ... he would have drawn inspiration from a ireligious policy which intended to counteract the Median Magi's influence and transfer the 'Avesta-Schule' from Arachosia to Persia: thus the Avesta would have arrived in Persia through Arachosia in the 6th century B.C. [...] Alltough [...] Arachosia would have been only a second fatherland for Zoroastrianism, a significant role should still be attributed to this south-eastern region in the history of the Zoroastrian tradition.
  46. ^ Gnoli, Gherado (1989). The Idea of Iran, an essay on its Origin. Istituto italiano per il Medio ed Estremo Oriente. tr. 133. linguistic data [...] prove the presence of the Zoroastrian tradition in Arachosia both in the Achaemenian age, in the last quarter of the 6th century, and in the Seleucid age.
  47. ^ “ARACHOSIA – Encyclopaedia Iranica”. iranicaonline.org. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2021.
  48. ^ Runion 2007, tr. 44.
  49. ^ 'Afghanistan and the Silk Road: The land at the heart of world trade' by Bijan Omrani”. UNAMA. ngày 8 tháng 3 năm 2010.
  50. ^ “Afghanistan – Silk Roads Programme”. UNESCO.
  51. ^ Wink, André (2002). Al-Hind, the Making of the Indo-Islamic World: Early Medieval India and the Expansion of Islam 7Th-11th Centuries. BRILL. tr. 125. ISBN 0-391-04173-8. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2019.
  52. ^ “Afghan and Afghanistan”. Abdul Hai Habibi. alamahabibi.com. 1969. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2015.
  53. ^ Charles Higham (2014). Encyclopedia of Ancient Asian Civilizations. Infobase Publishing. tr. 141. ISBN 978-1-4381-0996-1.
  54. ^ “A.—The Hindu Kings of Kábul”. Sir H. M. Elliot. London: Packard Humanities Institute. 1867–1877. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010.
  55. ^ Hamd-Allah Mustawfi of Qazwin (1340). “The Geographical Part of the NUZHAT-AL-QULUB”. Translated by Guy Le Strange. Packard Humanities Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2011.
  56. ^ “A.—The Hindu Kings of Kábul (p.3)”. Sir H. M. Elliot. London: Packard Humanities Institute. 1867–1877. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010.
  57. ^ Ewans 2002, tr. 22-23.
  58. ^ Richard F. Strand (ngày 31 tháng 12 năm 2005). “Richard Strand's Nuristân Site: Peoples and Languages of Nuristan”. nuristan.info. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2019.
  59. ^ Richard Nyrop; Donald Seekins biên tập (1986). Afghanistan: A Country Study. Foreign Area Studies, The American University. tr. 10.
  60. ^ Ewans 2002, tr. 23.
  61. ^ “Central Asian world cities”. Faculty.washington.edu. ngày 29 tháng 9 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012.
  62. ^ Page, Susan (ngày 18 tháng 2 năm 2009). “Obama's war: Deploying 17,000 raises stakes in Afghanistan”. USA Today. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2012.
  63. ^ Periods of World History: A Latin American Perspective – Page 129
  64. ^ The Empire of the Steppes: A History of Central Asia – Page 465
  65. ^ Barfield 2012, tr. 92–93.
  66. ^ Dupree 1997, tr. 319, 321.
  67. ^ Hanifi, Shah Mahmoud (ngày 15 tháng 7 năm 2019). Mountstuart Elphinstone in South Asia: Pioneer of British Colonial Rule. Oxford University Press. ISBN 9780190914400.
  68. ^ “Khurasan”. The Encyclopaedia of Islam. Brill. 2009. tr. 55. In pre-Islamic and early Islamic times, the term "Khurassan" frequently had a much wider denotation, covering also parts of what are now Soviet Central Asia and Afghanistan
  69. ^ Ibn Battuta (2004). Travels in Asia and Africa, 1325–1354 . Routledge. tr. 416. ISBN 978-0-415-34473-9. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2017.
  70. ^ Muhammad Qasim Hindu Shah (1560). “Chapter 200: Translation of the Introduction to Firishta's History”. The History of India. 6. Sir H. M. Elliot. London: Packard Humanities Institute. tr. 8. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2010.
  71. ^ a b Edward G. Browne. “A Literary History of Persia, Volume 4: Modern Times (1500–1924), Chapter IV. An Outline of the History Of Persia During The Last Two Centuries (A.D. 1722–1922)”. Packard Humanities Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2010.
  72. ^ “Ahmad Shah Durrani”. Encyclopædia Britannica Online. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2010.
  73. ^ Friedrich Engels (1857). “Afghanistan”. Andy Blunden. The New American Cyclopaedia, Vol. I. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2010.
  74. ^ The Oxford Dictionary of Islam by John L. Esposito, p.71
  75. ^ Tanner, Stephen (2009). Afghanistan: A Military History from Alexander the Great to the War against the Taliban. Da Capo Press. tr. 126. ISBN 978-0-306-81826-4.
  76. ^ Nalwa, Vanit (2009). Hari Singh Nalwa, "champion of the Khalsaji" (1791–1837). tr. 198. ISBN 978-81-7304-785-5.
  77. ^ Chahryar, Adle (2003). History of Civilizations of Central Asia: Development in contrast: from the sixteenth to the mid-nineteenth century. UNESCO. tr. 296. ISBN 978-92-3-103876-1.
  78. ^ Ingram, Edward (1980). “Great Britain's Great Game: An Introduction”. The International History Review. 2 (2): 160–171. doi:10.1080/07075332.1980.9640210. JSTOR 40105749. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2016.
  79. ^ In Defence of British India: Great Britain in the Middle East, 1775–1842 Lưu trữ 2017-01-06 tại Wayback Machine By Edward Ingram. Frank Cass & Co, London, 1984. ISBN 0714632465. p7-19
  80. ^ “Afghan Women Hope for More Gains Under New Administration – Afghanistan”. ReliefWeb.
  81. ^ “Afghan rail plan among proposals for donors”. CNN. ngày 21 tháng 1 năm 2002.
  82. ^ Wyatt, Christopher (ngày 2 tháng 9 năm 2015). “Afghanistan in the Great War”. Asian Affairs. 46 (3): 387–410. doi:10.1080/03068374.2015.1081001.
  83. ^ Roberts, Jeffery J. (ngày 14 tháng 6 năm 2003). The Origins of Conflict in Afghanistan. Greenwood Publishing Group. ISBN 9780275978785.
  84. ^ Nicosia, Francis R. (1997). “'Drang Nach Osten' Continued? Germany and Afghanistan during the Weimar Republic”. Journal of Contemporary History. 32 (2): 235–257. doi:10.1177/002200949703200207. JSTOR 261243.
  85. ^ “Afghanistan”. Encyclopedia Americana. 25. Americana Corporation. 1976. tr. 24.
  86. ^ Muḥammad, Fayz̤; McChesney, R. D. (1999). Kabul under siege: Fayz Muhammad's account of the 1929 Uprising (bằng tiếng Anh). Markus Wiener Publishers. tr. 39, 40. ISBN 9781558761544. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2019.
  87. ^ Muḥammad, Fayz̤; McChesney, R. D. (1999). Kabul under siege: Fayz Muhammad's account of the 1929 Uprising (bằng tiếng Anh). Markus Wiener Publishers. tr. 275, 276. ISBN 9781558761544. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2019.
  88. ^ Hafizullah, Emadi (2005). Culture and customs of Afghanistan. Greenwood Publishing Group. tr. 35. ISBN 0-313-33089-1. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2019.
  89. ^ Eur (2002). The Far East and Australasia 2003. Psychology Press. tr. 62. ISBN 978-1-85743-133-9.
  90. ^ Anthony Hyman (ngày 27 tháng 7 năm 2016). Afghanistan under Soviet Domination, 1964–91. Springer. tr. 46. ISBN 978-1-349-21948-3.
  91. ^ Ron Synovitz (ngày 18 tháng 7 năm 2003). “Afghanistan: History Of 1973 Coup Sheds Light On Relations With Pakistan”. Radio Free Europe/Radio Liberty. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2019.
  92. ^ Eur (2002). The Far East and Australasia 2003. Psychology Press. tr. 62. ISBN 978-1-85743-133-9.
  93. ^ Ewans 2002, tr. 186-88.
  94. ^ Wadle, Ryan (ngày 1 tháng 10 năm 2018). Afghanistan War: A Documentary and Reference Guide. ABC-CLIO. ISBN 9781440857478.
  95. ^ a b Meher, Jagmohan (2004). America's Afghanistan War: The Success that Failed. Gyan Books. tr. 68–69, 94. ISBN 978-81-7835-262-6.
  96. ^ Hussain, Rizwan (2005). Pakistan and the Emergence of Islamic Militancy in Afghanistan. Ashgate Publishing. tr. 108–109. ISBN 978-0-7546-4434-7.
  97. ^ Rasanayagam, Angelo (2005). Afghanistan: A Modern History. I.B.Tauris. tr. 73. ISBN 978-1850438571. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2019.
  98. ^ “Afghanistan: 20 years of bloodshed”. BBC. ngày 26 tháng 4 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2019.
  99. ^ Barfield 2012, tr. 234.
  100. ^ Kalinovsky, Artemy M. (2011). A Long Goodbye: The Soviet Withdrawal from Afghanistan. Harvard University Press. tr. 25–28. ISBN 978-0-674-05866-8.
  101. ^ “Story of US, CIA and Taliban”. The Brunei Times. 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013.
  102. ^ “The Cost of an Afghan 'Victory'. The Nation. 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013.
  103. ^ Lacina, Bethany; Gleditsch, Nils Petter (2005). “Monitoring Trends in Global Combat: A New Dataset of Battle Deaths” (PDF). European Journal of Population. 21 (2–3): 154. doi:10.1007/s10680-005-6851-6. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2017.
  104. ^ Kakar, Mohammed (ngày 3 tháng 3 năm 1997). The Soviet Invasion and the Afghan Response, 1979–1982. University of California Press. ISBN 9780520208933. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. The Afghans are among the latest victims of genocide by a superpower. Large numbers of Afghans were killed to suppress resistance to the army of the Soviet Union, which wished to vindicate its client regime and realize its goal in Afghanistan.
  105. ^ Klass, Rosanne (1994). The Widening Circle of Genocide. Transaction Publishers. tr. 129. ISBN 978-1-4128-3965-5. During the intervening fourteen years of Communist rule, an estimated 1.5 to 2 million Afghan civilians were killed by Soviet forces and their proxies- the four Communist regimes in Kabul, and the East Germans, Bulgarians, Czechs, Cubans, Palestinians, Indians and others who assisted them. These were not battle casualties or the unavoidable civilian victims of warfare. Soviet and local Communist forces seldom attacked the scattered guerilla bands of the Afghan Resistance except, in a few strategic locales like the Panjsher valley. Instead they deliberately targeted the civilian population, primarily in the rural areas.
  106. ^ Reisman, W. Michael; Norchi, Charles H. “Genocide and the Soviet Occupation of Afghanistan” (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. According to widely reported accounts, substantial programmes of depopulation have been conducted in these Afghan provinces: Ghazni, Nagarhar, Lagham, Qandahar, Zabul, Badakhshan, Lowgar, Paktia, Paktika and Kunar...There is considerable evidence that genocide has been committed against the Afghan people by the combined forces of the Democratic Republic of Afghanistan and the Soviet Union.
  107. ^ Goodson, Larry P. (2001). Afghanistan's Endless War: State Failure, Regional Politics, and the Rise of the Taliban. University of Washington Press. tr. 5. ISBN 978-0-295-98050-8.
  108. ^ “Soldiers of God: Cold War (Part 1/5)”. CNN. 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2011.
  109. ^ UNICEF, Land-mines: A deadly inheritance Lưu trữ 2013-08-05 tại Wayback Machine
  110. ^ “Landmines in Afghanistan: A Decades Old Danger”. Defenseindustrydaily.com. ngày 1 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012.
  111. ^ “Refugee Admissions Program for Near East and South Asia”. Bureau of Population, Refugees, and Migration. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2013.
  112. ^ “Afghanistan: Land Mines From Afghan-Soviet War Leave Bitter Legacy (Part 2)”. RadioFreeEurope/RadioLiberty.
  113. ^ Haroon, Sana (2008). “The Rise of Deobandi Islam in the North-West Frontier Province and Its Implications in Colonial India and Pakistan 1914–1996”. Journal of the Royal Asiatic Society. 18 (1): 66–67. doi:10.1017/S1356186307007778. JSTOR 27755911.
  114. ^ “Afghanistan: History – Columbia Encyclopedia. Infoplease.com. ngày 11 tháng 9 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2012.
  115. ^ 'Mujahidin vs. Communists: Revisiting the battles of Jalalabad and Khost Lưu trữ 2018-08-02 tại Wayback Machine. By Anne Stenersen: a Paper presented at the conference COIN in Afghanistan: From Mughals to the Americans, Peace Research Institute Oslo (PRIO), 12–ngày 13 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2018.
  116. ^ Barfield 2012, tr. 239, 244.
  117. ^ Amin Saikal (ngày 13 tháng 11 năm 2004). Modern Afghanistan: A History of Struggle and Survival (ấn bản 1). I.B. Tauris & Co Ltd., London New York. tr. 352. ISBN 978-1-85043-437-5.
  118. ^ a b “Blood-Stained Hands, Past Atrocities in Kabul and Afghanistan's Legacy of Impunity”. Human Rights Watch. ngày 7 tháng 7 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2009.
  119. ^ GUTMAN, Roy (2008): How We Missed the Story: Osama Bin Laden, the Taliban and the Hijacking of Afghanistan, Endowment of the United States Institute of Peace, 1st ed., Washington D.C.
  120. ^ “Casting Shadows: War Crimes and Crimes against Humanity: 1978–2001” (PDF). Afghanistan Justice Project. 2005. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013.
  121. ^ a b c d “Afghanistan: The massacre in Mazar-i Sharif. (Chapter II: Background)”. Human Rights Watch. tháng 11 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013.
  122. ^ “Casting Shadows: War Crimes and Crimes against Humanity: 1978–2001” (PDF). Afghanistan Justice Project. 2005. tr. 63. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013.
  123. ^ Matinuddin, Kamal, The Taliban Phenomenon, Afghanistan 1994–1997, Oxford University Press, (1999), pp. 25–26
  124. ^ a b “Documents Detail Years of Pakistani Support for Taliban, Extremists”. George Washington University. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2013.
  125. ^ (Bản báo cáo). |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  126. ^ Coll, Ghost Wars (New York: Penguin, 2005), 14.
  127. ^ Country profile: Afghanistan (published August 2008) Lưu trữ 2018-06-25 tại Wayback Machine(page 3). Library of Congress. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  128. ^ Skain, Rosemarie (2002). The women of Afghanistan under the Taliban. McFarland. tr. 41. ISBN 978-0-7864-1090-3.
  129. ^ James Gerstenzan; Lisa Getter (ngày 18 tháng 11 năm 2001). “Laura Bush Addresses State of Afghan Women”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
  130. ^ Rashid, Ahmed (2002). Taliban: Islam, Oil and the New Great Game in Central Asia. I.B.Tauris. tr. 253. ISBN 978-1-86064-830-4.
  131. ^ Gargan, Edward A (tháng 10 năm 2001). “Taliban massacres outlined for UN”. Chicago Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2010.
  132. ^ “Confidential UN report details mass killings of civilian villagers”. Newsday. newsday.org. 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2001.
  133. ^ Chú thích trống (trợ giúp)
  134. ^ Goodson, Larry P. (2002). Afghanistan's Endless War: State Failure, Regional Politics and the Rise of the Taliban. University of Washington Press. tr. 121. ISBN 978-0-295-98111-6.
  135. ^ “Re-Creating Afghanistan: Returning to Istalif”. NPR. ngày 1 tháng 8 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2013.
  136. ^ Marcela Grad. Massoud: An Intimate Portrait of the Legendary Afghan Leader . Webster University Press. tr. 310.
  137. ^ “Ahmed Shah Massoud”. History Commons. 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013.
  138. ^ Maley, William (2009). The Afghanistan wars. Palgrave Macmillan. tr. 288. ISBN 978-0-230-21313-5.
  139. ^ Rashid, Ahmed (ngày 11 tháng 9 năm 2001). “Afghanistan resistance leader feared dead in blast”. The Telegraph. London. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2013.
  140. ^ "Life under Taliban cuts two ways". CSM. ngày 20 tháng 9 năm 2001 Lưu trữ 2013-12-30 tại Wayback Machine
  141. ^ “Brigade 055”. CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2013.
  142. ^ Rory McCarthy in Islamabad (ngày 17 tháng 10 năm 2001). “New offer on Bin Laden”. The Guardian. London. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2012.
  143. ^ 'Trump calls out Pakistan, India as he pledges to 'fight to win' in Afghanistan Lưu trữ 2017-09-01 tại Wayback Machine. CNN, ngày 24 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2017.
  144. ^ “WPO Poll: Afghan Public Overwhelmingly Rejects al-Qaeda, Taliban”. ngày 30 tháng 1 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2017. Equally large percentages endorse the US military presence in Afghanistan. Eighty-three percent said they have a favorable view of "the US military forces in our country" (39% very favorable). Just 17% have an unfavorable view.
  145. ^ “Afghan Futures: A National Public Opinion Survey” (PDF). ngày 29 tháng 1 năm 2015. tr. 4. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2017. Seventy-seven percent support the presence of U.S. forces; 67 percent say the same of NATO/ISAF forces more generally. Despite the country's travails, eight in 10 say it was a good thing for the United States to oust the Taliban in 2001. And much more blame either the Taliban or al Qaeda for the country's violence, 53 percent, than blame the United States, 12 percent. The latter is about half what it was in 2012, coinciding with a sharp reduction in the U.S. deployment.
  146. ^ Tyler, Patrick (ngày 8 tháng 10 năm 2001). “A Nation challenged: The attack; U.S. and Britain strike Afghanistan, aiming at bases and terrorist camps; Bush warns 'Taliban will pay a price'. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2010.
  147. ^  – (UNSCR 1386)
  148. ^ “United States Mission to Afghanistan”. Nato.usmission.gov. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010.
  149. ^ “Afghanistan's Refugee Crisis”. MERIP. ngày 24 tháng 9 năm 2001.
  150. ^ “Afghanistan: Civilians at Risk”. Doctors Without Borders - USA.
  151. ^ Makhmalbaf, Mohsen (ngày 1 tháng 11 năm 2001). “Limbs of No Body: The World's Indifference to the Afghan Tragedy”. Monthly Review.
  152. ^ “Rebuilding Afghanistan”. Return to Hope.
  153. ^ “Japan aid offer to 'broke' Afghanistan”. CNN. ngày 15 tháng 1 năm 2002.
  154. ^ “Rebuilding Afghanistan: The U.S. Role”. Stanford University.
  155. ^ Fossler, Julie. “USAID Afghanistan”. Afghanistan.usaid.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010.
  156. ^ “Canada's Engagement in Afghanistan: Backgrounder”. Afghanistan.gc.ca. ngày 9 tháng 7 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010.
  157. ^ “Pakistan Accused of Helping Taliban”. ABC News. ngày 31 tháng 7 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2010.
  158. ^ Crilly, Rob; Spillius, Alex (ngày 26 tháng 7 năm 2010). “Wikileaks: Pakistan accused of helping Taliban in Afghanistan attacks”. The Telegraph. London. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2010.
  159. ^ “Afghan President Karzai Receives Philadelphia Liberty Medal”. Philanthropy News Digest (PND).
  160. ^ Howard Adelman (ngày 15 tháng 4 năm 2016). Protracted Displacement in Asia: No Place to Call Home. Taylor & Francis. tr. 167. ISBN 978-1-317-07407-6.
  161. ^ “The foreign troops left in Afghanistan”. BBC News. ngày 15 tháng 10 năm 2015.
  162. ^ at 11:38 am, ngày 18 tháng 5 năm 2018. “How Many Troops Are Currently in Afghanistan?”. Forces Network.
  163. ^ “Huge security as Afghan presidential election looms”. BBC. ngày 4 tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2018.
  164. ^ “Afghanistan votes in historic presidential election”. BBC. ngày 5 tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2018.
  165. ^ Shalizi and Harooni, Hamid and Mirwais (ngày 4 tháng 4 năm 2014). “Landmark Afghanistan Presidential Election Held Under Shadow of Violence”. HuffPost. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2018.
  166. ^ “Afghanistan's Future: Who's Who in Pivotal Presidential Election”. NBC News. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2019.
  167. ^ “Afghan president Ashraf Ghani inaugurated after bitter campaign”. The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2015.
  168. ^ “U.S. formally ends the war in Afghanistan” (online). CBA News. Associated Press. ngày 28 tháng 12 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2014.
  169. ^ Sune Engel Rasmussen in Kabul (ngày 28 tháng 12 năm 2014). “Nato ends combat operations in Afghanistan”. The Guardian. Kabul. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2015.
  170. ^ “U.S. formally ends the war in Afghanistan”. CBS News. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2015.
  171. ^ “TSG IntelBrief: Afghanistan 16.0”. The Soufan Group. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2018.
  172. ^ “Afghan Civilians”. Brown University. 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
  173. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên IPPNW
  174. ^ “NATO to Cut Forces in Afghanistan, Match US Withdrawal”. VOA News. ngày 14 tháng 4 năm 2021.
  175. ^ Robertson, Nic (ngày 24 tháng 6 năm 2021). “Afghanistan is disintegrating fast as Biden's troop withdrawal continues”. CNN.
  176. ^ “Afghanistan stunned by scale and speed of security forces' collapse”. The Guardian. ngày 13 tháng 7 năm 2021.
  177. ^ “Afghan government could fall within six months of U.S. military withdrawal, new intelligence assessment says”. The Washington Post (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 6 năm 2021. ISSN 0190-8286.
  178. ^ Beck, Hylke E.; Zimmermann, Niklaus E.; McVicar, Tim R.; Vergopolan, Noemi; Berg, Alexis; Wood, Eric F. (ngày 30 tháng 10 năm 2018). “Present and future Köppen-Geiger climate classification maps at 1-km resolution”. Scientific Data. 5: 180214. Bibcode:2018NatSD...580214B. doi:10.1038/sdata.2018.214.
  179. ^ * “U.S. maps”. Pubs.usgs.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2012.
  180. ^ “Composition of macro geographical (continental) regions, geographical sub-regions, and selected economic and other groupings”. UNdata. ngày 26 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011.
  181. ^ “Afghanistan”. Encyclopædia Britannica. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2010.
  182. ^ a b c d e Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Factbook
  183. ^ “History of Environmental Change in the Sistan Basin 1976–2005” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2007.
  184. ^ “Snow in Afghanistan: Natural Hazards”. NASA. ngày 3 tháng 2 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012.
  185. ^ “Snow may end Afghan drought, but bitter winter looms”. Reuters. ngày 18 tháng 1 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2020. Đã định rõ hơn một tham số trong |archiveurl=|archive-url= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |archivedate=|archive-date= (trợ giúp)
  186. ^ “Afghanistan's woeful water management delights neighbors”. Csmonitor.com. ngày 15 tháng 6 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010.
  187. ^ Crone, Anthony J. (tháng 4 năm 2007). Earthquakes Pose a Serious Hazard in Afghanistan (PDF) (Bản báo cáo kỹ thuật). US Geological Survey. Fact Sheet FS 2007–3027. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2011.
  188. ^ “Earthquake Hazards”. USGS Projects in Afghanistan. US Geological Survey. ngày 1 tháng 8 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011.
  189. ^ 'Seven dead' as earthquake rocks Afghanistan”. BBC News. ngày 19 tháng 4 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011.
  190. ^ Peters, Steven G. (tháng 10 năm 2007). Preliminary Assessment of Non-Fuel Mineral Resources of Afghanistan, 2007 (PDF) (Bản báo cáo kỹ thuật). USGS Afghanistan Project/US Geological Survey/Afghanistan Geological Survey. Fact Sheet 2007–3063. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011.
  191. ^ “Minerals in Afghanistan” (PDF). British Geological Survey. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2010.
  192. ^ “Afghans say US team found huge potential mineral wealth”. BBC News. ngày 14 tháng 6 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011.
  193. ^ “Land area (sq. km)”. World Development Indicators. World Bank. 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011.
  194. ^ “CIA Factbook – Area: 41”. CIA. ngày 26 tháng 11 năm 1991. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2012.
  195. ^ Cary Gladstone (2001). Afghanistan Revisited. Nova Publishers. tr. 121. ISBN 978-1-59033-421-8.
  196. ^ Text used in this cited section originally came from: Afghanistan (Feb 2005) profile from the Library of Congress Country Studies project.
  197. ^ “Afghan journalists 'face increasing attacks and threats' – report”. The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2015.
  198. ^ “Violence Against Journalists Surges In Afghanistan In 2017”. RFERL. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2017.
  199. ^ “LGBT relationships are illegal in 74 countries, research finds”. The Independent. ngày 17 tháng 5 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2019.
  200. ^ Morales, Victor (ngày 28 tháng 3 năm 2005). “Poor Afghanistan”. Voice of America. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2006.
  201. ^ North, Andrew (ngày 30 tháng 3 năm 2004). “Why Afghanistan wants $27.6bn”. BBC News. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2006.
  202. ^ a b c Fujimura, Manabu (2004) "Afghan Economy After the Election", Asian Development Bank Institute
  203. ^ Macroeconomics & Economic Growth in South Asia, The World Bank.
  204. ^ Government to have greater control over aid pledged in Luân Đôn, irinnews.org.
  205. ^ "Midday Business Report: Black & Veatch unit gains piece of Afghan contract", The Kansas City Star.
  206. ^ "Coca-Cola opens plant in Afghanistan", Contra Costa Times.
  207. ^ Kabul - City of Light Project
  208. ^ The Economist magazine, UK, tháng 10 năm 2005
  209. ^ BBC News - Afghan poll's ethnic battleground - 6 tháng 10 năm 2004
  210. ^ J. Feiser, Asia Times"The ghost of Greater Afghanistan" Lưu trữ 2007-07-06 tại Wayback Machine by J. Feiser, Asia Times, 23 tháng 7 2003
  211. ^ "Afghānistān: (v.) languages" by L. Dupree, Encyclopædia Iranica Online Edition 2006.
  212. ^ CIA World Factbook
  213. ^ a b Encyclopædia Britannica - Afghanistan...Link (PDF)
  214. ^ a b L. Dupree, "Afghānistān: (iv.) ethnocgraphy", in Encyclopædia Iranica, Online Edition 2006, (LINK)
  215. ^ Goring, R. (ed): "Larousse Dictionary of Beliefs & Religions" (Larousse: 1994), pg. 581-58, Table: "Population Distribution of Major Beliefs", ISBN 0-7523-0000-8, Note: "... Figures have been compiled from the most accurate recent available information and are in most cases correct to the nearest 1%..."
  216. ^ “Hinduism Today: Hindus Abandon Afghanistan”. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2007.
  217. ^ BBC South Asia: Sikhs struggle in Afghanistan
  218. ^ Washingtonpost.com - Afghan Jew Becomes Country's One and Only - N.C. Aizenman
  219. ^ “Afghanistan” (PDF). World Health Organization (WHO). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2017.
  220. ^ a b UNESCO, Country profile, https://uis.unesco.org/en/country/af Lưu trữ 2017-06-23 tại Wayback Machine
  221. ^ Peter, Tom A. (ngày 17 tháng 12 năm 2011). “Childbirth and maternal health improve in Afghanistan”. Christian Science Monitor. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2012.
  222. ^ “Afghanistan National Hospital Survey” (PDF). Afghan Ministry of Health. tháng 8 năm 2004. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019.
  223. ^ Gul, Ayaz (ngày 20 tháng 4 năm 2019). “Pakistan-funded Afghan Hospital Begins Operations”. VOA News. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019. It opens a new chapter in the friendship of the two countries... This is the second-largest hospital [in Afghanistan] built with your support that will serve the needy," Feroz told the gathering.
  224. ^ “Health”. United States Agency for International Development (USAID). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2010.
  225. ^ Anne-Marie DiNardo, LPA/PIPOS (ngày 31 tháng 3 năm 2006). “Empowering Afghanistan's Disabled Population – ngày 31 tháng 3 năm 2006”. Usaid.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2012.
  226. ^ Richard Norton-Taylor (ngày 13 tháng 2 năm 2008). “Afghanistan's refugee crisis 'ignored'. Guardian. London. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2012.
  227. ^ "Afghanistan: People living with disabilities call for integration Lưu trữ 2011-09-20 tại Wayback Machine
  228. ^ Virginia Haussegger Mahooba's Promise ABC TV 7.30 Report. 2009. ABC.net.au. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2009. Lưu trữ 2013-07-26 tại Wayback Machine
  229. ^ “Afghanistan”. Measuredhs.com. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010.
  230. ^ a b “Education”. USAID. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017.
  231. ^ “Wardak seeks $3b in aid for school buildings”. Pajhwok Afghan News. ngày 18 tháng 5 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013.
  232. ^ “Rising literacy in Afghanistan ensures transition”. Army.mil. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2012.
  233. ^ a b Heathcote, Tony (1980, 2003) "The Afghan Wars 1839 - 1919", Sellmount Staplehurst
  234. ^ "Modern literature of Afghanistan" by R. Farhādī, Encyclopaedia Iranica, xii, Online Edition.
  235. ^ Afghanmagazine.com - Ustad Khalilullah Khalili - 1997
  236. ^ Afghanmagazine.com - Kharaabat - by Yousef Kohzad - 2000
  237. ^ a b “Afghanistan: No Country for Women | International Women's Day | Al Jazeera”. www.aljazeera.com. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2019.
  238. ^ “240 cases of honor killing recorded in Afghanistan”. khaama.com. ngày 9 tháng 6 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2013.
  239. ^ “AIHRC: 400 rape, honor killings registered in Afghanistan in 2 years”. latinbusinesstoday.com. ngày 10 tháng 6 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2013.
  240. ^ Bahgam, S; Mukhatari (2004). “Study on Child Marriage in Afghanistan” (PDF). Medica Mondiale: 1–20. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2014.
  241. ^ “Afghanistan Has a Tougher Law on Child Marriage than Florida”. Human Rights Watch. ngày 20 tháng 10 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2019. In Afghanistan girls can marry at 16, or at 15 with permission from their father or a judge.
  242. ^ Dupree 1997, tr. 122, 198.
  243. ^ a b “Suspects Sentenced To Death For Killing Journalist in Kandahar”. TOLOnews. ngày 16 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2019.
  244. ^ Dupree 1997, tr. 405.
  245. ^ Monica Whitlock (ngày 24 tháng 10 năm 2003). Land Beyond the River: The Untold Story of Central Asia. St. Martin's Press. tr. 127. ISBN 978-0-312-27727-7.
  246. ^ “Freedom of the Press 2016: Afghanistan”. Freedom House. 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2016.
  247. ^ “Afghanistan”. Reporters Without Borders. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2019.
  248. ^ “Afghanistan Descends 3 Points on Press Freedom Index”. TOLOnews. ngày 19 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2019.
  249. ^ “Artist Biographies”. Afghanland.com. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2011.
  250. ^ Ali, Tanveer (ngày 31 tháng 7 năm 2012). “Everything You Need To Know About Afghan Food”. foodrepublic. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2013.
  251. ^ Brittin, Helen (2011). The Food and Culture Around the World Handbook. Boston: Prentice Hall. tr. 20–21.
  252. ^ “Rare Heirloom Seeds – Baker Creek Heirloom Seeds”. Baker Creek Heirloom Seeds. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2013.
  253. ^ “Afghanistan: 10 facts you may not know”. ngày 6 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2018 – qua www.bbc.co.uk.
  254. ^ “Classical Dari and Pashto Poets”. Afghan-web.com. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2012.
  255. ^ Uthra Ganesan (ngày 11 tháng 1 năm 2016). “Cricket is now the biggest sport in Afghanistan”. The Hindu. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2019.
  256. ^ “Sport in Afghanistan”. Top End Sports. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2019.
  257. ^ “South Asian Games: Shooters, swimmers shine as India consolidate dominance”. Times of India. ngày 5 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019.
  258. ^ “2009–10 Intercontinental Cup”. CricketEurope. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019.
  259. ^ a b Lyse, Doucet (ngày 12 tháng 9 năm 2013). “Precious moments of unity touch Afghans after football triumph”. BBC News. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019.
  260. ^ “Afghanistan Makes History in Cricket World Cup, Despite Debut Loss to Bangladesh”. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019.
  261. ^ “Statistics: Iran”. Team Melli. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019.
  262. ^ Abi-Habib, Maria; Fazly, Walid (ngày 13 tháng 4 năm 2011). “In Afghanistan's National Pastime, It's Better to Be a Hero Than a Goat”. The Wall Street Journal. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2011.
  263. ^ Stewart, Rory (2007). The Places in Between. HMH Books. tr. 100. ISBN 978-0-15-603593-4.
  264. ^ Ministry signs contract with Chinese company, Pajhwok Afghan News.
  265. ^ “Connecting Afghanistan: The rise of technology in governance and society – The Embassy of Afghanistan in London”. afghanistanembassy.org.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2018.
  266. ^ “EU To Impose Ban on Afghan Planes”. Airwise News. ngày 22 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019. Kabul-based Safi is the country's No. 2 airline after national carrier Ariana Afghan Airlines
  267. ^ “Hairatan to Mazar-i-Sharif railway – Railways of Afghanistan”. www.andrewgrantham.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2018.
  268. ^ “Afghan-Turkmenistan railroad inaugurated”. www.pajhwok.com. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2018.
  269. ^ “Khaf-Herat railroad to be launched in Iran soon”. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2018. "Iran-Afghanistan railway networks through Khaf-Herat Railroad will be completed in the next few months," Yazdani said, according to Mehr news agency on August 3
  270. ^ “Iran Strongly Condemns Herat Railway Mine Blast”. Iran Front Page. ngày 20 tháng 5 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2019.
  271. ^ “Rail Linkup With Afghanistan by March 2018”. ngày 25 tháng 2 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2018.
  272. ^ “Khaf-Herat railway”. RaillyNews | Dailly Railway News in English. ngày 10 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014.
  273. ^ “Railways of Afghanistan -Afghan railroads, past, present and future”. www.andrewgrantham.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014.
  274. ^ Qayoom Suroush (ngày 16 tháng 1 năm 2015). “Going in Circles: The never-ending story of Afghanistan's unfinished Ring Road”. Afghanistan Analysts Network. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2019.
  275. ^ Cary Gladstone (2001). Afghanistan Revisited. Nova Publishers. tr. 122. ISBN 978-1-59033-421-8.
  276. ^ “Driving in Afghanistan”. Caravanistan. Caravanistan. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2016.
  277. ^ “Afghan bus crash kills 45”. theguardian.com. ngày 26 tháng 4 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2014.
  278. ^ Pakistan grants $10m for Balkh University, Pajhwok Afghan News.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Incorrect names that have been used as demonyms are Afghani[6] and Afghanistani.[7]
  1. ^ [1]