Thành Cát Tư Hãn

Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Thành Cát Tư Hãn
成吉思汗 Cinggis qagan.svg
Đại Hãn của đế quốc Mông Cổ
YuanEmperorAlbumGenghisPortrait.jpg
Chân dung Thành Cát Tư Hãn, trích album về dòng dõi Nhà Nguyên, lưu trữ tại Bảo tàng Cố cung Quốc lập tại Đài Loan
Đại Hãn Mông Cổ
Trị vì12061227
Đăng quangnăm 1206
tại hội nghị Khố Lý Đài trên sông Oát Nan, Mông Cổ
Kế nhiệm Oa Khoát Đài
Thông tin chung
Sinh1162
Dãy núi Khentii, Mông Cổ
Mất(1227-08-18)18 tháng 8 năm 1227 (65 tuổi)
Tên đầy đủ
Thiết Mộc Chân (鐵木真(ᠲᠡᠮᠦᠵᠢᠨ))
Thụy hiệu
Pháp Thiên Khải Vận Thánh Vũ Hoàng Đế
(法天啟運聖武皇帝)
Miếu hiệu
Thái Tổ (太祖)
Tước hiệuThành Cát Tư Hãn (成吉思汗, Cinggis qagan.svg).
Hoàng tộcBột Nhi Chỉ Cân
Thân phụDã Tốc Cai
Thân mẫuHạ Ngạch Luân

Thành Cát Tư Hãn (tiếng Mông Cổ: ᠴᠢᠩᠭᠢᠰ
ᠬᠠᠭᠠᠨ
, Chuyển tự Latinh: Činggis qaγan, Âm dịch chữ Hán: 成吉思汗, chữ Mông Cổ: Чингис хаан, Çingis hán; tiếng Mông Cổ: [tʃiŋɡɪs xaːŋ] (); (1162[1] - 1227) là một Đại Hãn Mông Cổ và là người sáng lập ra đế quốc Mông Cổ sau khi hợp nhất các bộ lạc độc lập ở vùng Đông Bắc Á năm 1206.

Ông là một trong những nhà quân sự lỗi lạc và có ảnh hưởng nhất lịch sử thế giới. Với công lao thống nhất Mông Cổ của mình, ông được người dân Mông Cổ dành sự kính trọng cao nhất và tôn kính như một vị thần trong tín ngưỡng của họ. Tháng 10 năm Chí Nguyên thứ 3 (1266), Hốt Tất Liệt, Hoàng đế khai quốc của nhà Nguyên và cũng là cháu nội của Thành Cát Tư Hãn truy tôn ông miếu hiệu là Thái Tổ, nên ông còn được gọi là Nguyên Thái Tổ, thụy hiệu là Thánh Vũ Hoàng Đế. Tới năm Chí Đại thứ 2 (1309), Nguyên Vũ Tông gia thụy thành Pháp Thiên Khải Vận Thánh Vũ Hoàng Đế.

Các cuộc chinh phạt của Thành Cát Tư Hãn trên khắp khu vực Á - Âu đã đem lại sự thống nhất và phát triển giao lưu buôn bán, đồng thời ông cũng thi hành chính sách tự do tôn giáo. Tuy nhiên, Thành Cát Tư Hãn cũng nổi tiếng bởi sự tàn bạo với những người chống đối. Thành Cát Tư Hãn bị nhiều dân tộc coi là hiện thân của sự tàn bạo, nhất là từ Trung Á, Đông ÂuTrung Đông (là những nơi bị quân đội Mông Cổ thảm sát hàng loạt). Theo ước tính, đội quân của Thành Cát Tư Hãn đã giết hơn 40 triệu người tại các lãnh thổ mà họ xâm chiếm[2], trực tiếp làm sụt giảm gần 11% dân số thế giới thời điểm đó.

Có rất nhiều nhân vật nổi tiếng được cho là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, như Thiếp Mộc Nhi, người lập ra đế quốc Timurid; Babur, người sáng lập ra đế quốc Mông Cổ trong lịch sử Ấn Độ. Những hậu duệ khác của Thành Cát Tư Hãn còn tiếp tục cai trị Mông Cổ đến thế kỷ XVII cho đến khi bị nhà Thanh thống trị lại.

Thời kỳ đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Tên thật của ông là Thiết Mộc Chân (tiếng Mông Cổ: ᠲᠡᠮᠦᠵᠢᠨ, Chuyển tự Latinh: Temüǰin, Mông Cổ bí sử ký âm: 帖木真, chữ Mông Cổ: Тэмүжин), sinh năm 1162 (có nguồn cho rằng ông sinh năm 1155),[3] thuộc gia tộc Bột Nhi Chỉ Cân[4] (tiếng Mông Cổ: ᠪᠣᠷᠵᠢᠭᠢᠨ, Chuyển tự Latinh: Borǰigin, Mông Cổ bí sử ký âm: 孛儿只斤, chữ Mông Cổ: Боржигин/Борджигин). Ông là con trai cả của Dã Tốc Cai, thủ lĩnh của bộ lạc Khất Nhan[5] với bà Hạ Ngạch Luân từ bộ lạc Oát Lặc Hốt Nột. Vào thời điểm bà Hạ Ngạch Luân mang thai ông, một thủ lĩnh người Thát Đát là Thiết Mộc Chân Ngột Cách đã bị cha ông đánh bại. Theo truyền thống Mông Cổ, người cha sẽ lấy tên vị tướng quân mà mình đã đánh bại để đặt tên cho con. Đó có thể là lý do khả dĩ nhất cho nguồn gốc cái tên Thiết Mộc Chân của ông.[6] Ông có 3 người em cùng mẹ là Cáp Tát Nhi, Thiết Mộc Cách và em gái Thiết Mộc Luân, cùng 2 người em khác mẹ là Biệt Khắc Thiếp Nhi và Biệt Lặc Cổ Đài do vợ thứ của Dã Tốc Cai sinh ra.

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Thiết Mộc Chân lên 9 tuổi, Dã Tốc Cai đưa ông về bộ lạc bên ngoại Oát Lặc Hốt Nột để hỏi con gái của một người họ hàng làm vợ tương lai cho ông. Đoàn của Dã Tốc Cai trên đường đi đã gặp Đức Tiết Thiền - tộc trưởng bộ lạc Hoằng Cát Lạt. Ông này ngay lập tức quý mến Thiết Mộc Chân, liền hỏi cưới con gái mình là Bột Nhi Thiếp cho Thiết Mộc Chân nhưng yêu cầu Dã Tốc Cai để cậu bé ở rể đến khi đủ 12 tuổi[7]. Dã Tốc Cai đồng ý và quay về một mình.

Trên đường trở về, Dã Tốc Cai bị một nhóm người Thát Đát đầu độc và qua đời. Thiết Mộc Chân phải tạm biệt gia đình Bột Nhi Thiếp để về chịu tang, đồng thời tiếp quản vị trí tộc trưởng. Nhưng các bô lão trong bộ lạc cho rằng không thể trao vị trí đứng đầu cho một đứa trẻ 9 tuổi, nên họ đã trao vị trí này cho Tháp Nhĩ Hốt Đài - một người em họ của Dã Tốc Cai và đang là thủ lĩnh một bộ lạc nhỏ tên là Thái Xích Ô. Sau khi nắm quyền, Tháp Nhĩ Hốt Đài lập tức trở mặt, đuổi gia đình Thiết Mộc Chân ra khỏi bộ lạc và ra lệnh cho tất cả người dân di chuyển xuống hạ lưu sông Oát Nan, bỏ lại gia đình cậu đơn độc kiếm sống.

Từ đó, gia đình Thiết Mộc Chân sống cuộc đời du cư nghèo khó, sống chủ yếu nhờ câu cá, hái lượm và săn bắn[8]. Trong một lần đi câu cá, Thiết Mộc Chân cùng Cáp Tát Nhi đã giết chết Biệt Khắc Thiếp Nhi[9], khi hắn trộm mất mẻ cá mà họ vất vả thu được, khiến bà Hạ Ngạch Luân tức giận quở mắng anh em ông nhưng cũng bắt đầu dạy ông nhiều bài học từ sống sót trong điều kiện khắc nghiệt của Mông Cổ tới sự cần thiết của liên minh và thống nhất. Nhưng cái chết của Biệt Khắc Thiếp Nhi đã ám ảnh Thiết Mộc Chân suốt những năm sau đó, đặc biệt là khi ông phải chứng kiến hai cậu con trai là Truật XíchSát Hợp Đài luôn bất hòa và không thể tìm được tiếng nói chung.

Năm 15 tuổi, Thiết Mộc Chân đã khôn lớn, là trụ cột chính của gia đình. Còn Tháp Nhĩ Hốt Đài sau nhiều năm thì bắt đầu lo lắng, rằng Thiết Mộc Chân khi trưởng thành có thể sẽ quay về đòi lại vị trí tộc trưởng. Vì vậy hắn đã cho binh lính lùng sục khắp thảo nguyên, tìm gia đình Thiết Mộc Chân để trừ khử. Cuối cùng họ bị phát hiện khi đang đi săn trong rừng. Thiết Mộc Chân phải để mẹ và các em chạy theo một hướng, còn mình chạy theo hướng ngược lại, thu hút sự chú ý của binh lính Thái Xích Ô, giúp gia đình chạy trốn an toàn. Ông sau đó cũng bị bắt và bị đối xử như một tên tội phạm. Nhưng Thiết Mộc Chân biết trong bộ lạc vẫn còn những người trung thành với cha mình, nên đã lợi dụng đêm tối, đánh bất tỉnh lính canh rồi trốn vào nhà một người bạn cũ của Dã Tốc Cai, được ông ta giấu kín trong nhà, cho ăn uống và mượn quần áo cùng ngựa để chạy trốn. Thiết Mộc Chân gặp lại gia đình ở chân núi Bất Nhi Hãn. Cả nhà quyết định sẽ di cư sang phía bên kia dãy núi để tránh tai mắt của Tháp Nhĩ Hốt Đài. Về phần ân nhân của Thiết Mộc Chân, con gái của ông ta sau này trở thành vương phi của Thiết Mộc Chân, còn con trai Xích Lão Ôn trở thành một trong những vị tướng lừng danh dưới trướng Thành Cát Tư Hãn.

Một lần, đàn ngựa của gia đình Thiết Mộc Chân bị mất trộm. Thiết Mộc Chân vừa đi săn về, nghe tin dữ thì lập tức đuổi theo bọn cướp. Trên đường đi, ông kết giao với một thanh niên tên là Bác Nhĩ Thuật và đề nghị trợ giúp. Cả hai dã thành công trừ khử bọn cướp và lấy lại đàn ngựa. Sau lần đó, ông cùng Bác Nhĩ Thuật kết nghĩa huynh đệ. Bác Nhĩ Thuật sau này là một trong những khai quốc công thần của đế quốc Mông Cổ và là cận thần đáng tin cậy của Thành Cát Tư Hãn.

Năm 17 tuổi, Thiết Mộc Chân tìm về bộ lạc Hoằng Cát Lạt để lấy Bột Nhi Thiếp làm vợ. Nhưng ít lâu sau, bộ lạc Miệt Nhĩ đã tấn công làng của Thiết Mộc Chân để trả thù cho thủ lĩnh của họ năm xưa bị Dã Tốc Cai cướp vợ (bà Hạ Ngạch Luân) và cướp Bột Nhi Thiếp làm chiến lợi phẩm. Ông đã đến cầu viện người anh em kết nghĩa Trác Mộc Hợp - người sau này trở thành kẻ thù, và người cha nuôi Thoát Lý của bộ lạc Khắc Liệt để giải cứu vợ mình. Nhưng trong thời gian bị bắt giữ, Bột Nhi Thiếp đã mang thai đứa con đầu lòng Truật Xích, khiến mọi người nghi ngờ Truật Xích không phải con của Thiết Mộc Chân, và hậu duệ của Truật Xích không bao giờ được coi là những người kế vị. Nhưng Thiết Mộc Chân, thay vì nghe lời khuyên của mọi người là giết đứa bé, đã giữ Truật Xích lại và nghiêm cấm mọi người xung quanh bàn tán về thân thế cậu con cả. Nhưng chính vì bị nghi ngờ huyết thống mà Truật Xích luôn gặp rắc rối với mọi người trong dòng tộc, đặc biệt là cậu em thứ Sát Hợp Đài, khiến chính người cha vĩ đại của mình cũng phải bất lực. Bên cạnh Truật Xích và Sát Hợp Đài, Bột Nhi Thiếp còn sinh 2 người con trai khác là Oa Khoát ĐàiĐà Lôi cùng 5 con gái.

Thống nhất Mông Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Á vào khoảng năm 1200.

Mông Cổ khoảng cuối thế kỷ XII và đầu thế kỷ XIII phân chia giữa các bộ lạc như Nãi Man, Miệt Nhĩ, Duy Ngô Nhĩ, Thát Đát, Khất Nhan, Khắc Liệt,... thường xuyên xung đột lẫn nhau. Dù vậy trên danh nghĩa, thảo nguyên Mông Cổ khi đó là thuộc địa của nhà Kim, sau khi quân đội nước này diệt nhà Liêu và sáp nhập toàn bộ lãnh thổ của nhà Liêu vào lãnh thổ của mình, bao gồm cả Mông Cổ. Nhà Kim sử dụng chính sách "chia để trị" với Mông Cổ, kích động chiến tranh giữa các bộ lạc để họ bị phân tâm, không thể trở thành liên minh thống nhất để chống lại nhà Kim.

Thiết Mộc Chân bắt đầu sự nghiệp bằng cách liên minh với một người bạn của cha ông là Thoát Lý, thủ lĩnh của bộ lạc Khắc Liệt, và được ông này nhận làm con nuôi. Khi Bột Nhi Thiếp bị người Miệt Nhĩ bắt, Thoát Lý cho Thiết Mộc Chân mượn 20.000 quân và đề nghị mời cả Trác Mộc Hợp, khi đó đang là thủ lĩnh bộ lạc Trát Đạt Lan cùng tiếp ứng. Sau khi giải cứu Bột Nhi Thiếp và đánh bại người Miệt Nhĩ, Thiết Mộc Chân đưa gia đình đi theo Trác Mộc Hợp. Nhưng hai người bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn về phân chia quyền lợi, đất đai và cách quản lý bộ lạc.

Năm 1189, một hội nghị giữa các thủ lĩnh bộ lạc Mông Cổ đã bầu Thiết Mộc Chân làm Khả Hãn của toàn Mông Cổ, khiến Trác Mộc Hợp vô cùng căm tức. Ông ta vốn đã nghi ngại về thế lực ngày càng lớn mạnh của Thiết Mộc Chân, nên quyết định sẽ tấn công người anh em kết nghĩa. Và ông ta đã tìm thấy cái cớ, khi người của Thiết Mộc Chân trong một cuộc tranh chấp đồng cỏ đã giết chết người của Trác Mộc Hợp. Ông ta lập tức đem 30.000 quân tấn công Thiết Mộc Chân. Thế lực của Thiết Mộc Chân dù đang lớn mạnh nhưng cũng chỉ có hơn 10.000 quân, và phải chịu thất bại. Dù thắng trận, nhưng việc Trác Mộc Hợp đối xử tàn nhẫn với các tù binh và hành quyết họ một cách dã man đã khiến rất nhiều tướng sĩ bất mãn và chạy sang đầu quân cho Thiết Mộc Chân. Trong số đó có Mộc Hoa Lê - một trong những vị đại tướng huyền thoại của Mông Cổ, có công rất lớn trong cuộc chiến với nhà Kim sau này.

Các kẻ thù chính của liên minh Mông Cổ vào khoảng năm 1190-1200 là Nãi Man ở phía tây, Miệt Nhĩ ở phía bắc, nước Tây Hạ ở phía nam và nhà Kim cùng Thát Đát ở phía đông. Năm 1190, Thiết Mộc Chân thống nhất một bộ phận người Mông Cổ, chủ yếu là bạn bè và tướng lĩnh dưới quyền cha ông khi xưa. Năm 1197, Thiết Mộc Chân cùng cha nuôi Thoát Lý liên minh với nhà Kim tiến đánh bộ lạc Thát Đát và giành thắng lợi. Nhờ góp công lớn trong cuộc chiến, ông được nhà Kim ban một chức quan võ trong triều đình, trên danh nghĩa là cánh tay nối dài của nhà Kim cai quản Mông Cổ. Điều này càng giúp uy danh của Thiết Mộc Chân vang khắp thảo nguyên và có nhiều bộ lạc nhỏ quy phục dưới trướng của ông. Trong các bộ lạc chiếm được, ông thực hiện việc cai trị theo cung cách khác với truyền thống của người Mông Cổ bằng cách ủy quyền cho những người xứng đáng và trung thành chứ không dựa trên quan hệ gia đình. Để đảm bảo sự phục tùng tuyệt đối, Thiết Mộc Chân yêu cầu tướng sĩ phải giao nộp toàn bộ chiến lợi phẩm sau mỗi cuộc chiến với cam kết sẽ ban thưởng xứng đáng dựa trên công lao của họ. Khi đánh bại các bộ lạc thù địch, ông không ruồng bỏ binh lính và người dân của các bộ lạc đó mà đặt họ dưới sự bảo hộ của mình. Mẹ ông còn nhận những đứa trẻ mồ côi từ các bộ lạc đó để nuôi. Một trong số những đứa trẻ đó là Bác Nhĩ Hốt - sau này cũng là viên tướng đắc lực giúp Thiết Mộc Chân thống nhất Mông Cổ, nhưng không may tử trận trong chiến dịch bình định các bộ lạc phía bắc.

Năm 1201, một hội nghị do thủ lĩnh 11 bộ lạc tổ chức đã bầu Trác Mộc Hợp làm Cổ Nhi Hãn, liên minh tấn công Thiết Mộc Chân. Liên minh này bị Thiết Mộc Chân và Thoát Lý đánh bại, Trác Mộc Hợp phải đầu hàng Thoát Lý.

Con trai của Thoát Lý là Tang Côn ghen tức với thế lực đang lên của Thiết Mộc Chân và sự thân mật giữa Thiết Mộc Chân với cha mình, đã lập kế hoạch ám sát Thiết Mộc Chân. Thoát Lý dù là nghĩa phụ của Thiết Mộc Chân, được Thiết Mộc Chân cứu mạng nhiều lần, lại nhắm mắt làm ngơ chuyện này[10]. Thiết Mộc Chân biết được ý đồ nên đã thoát chết. Một trong những sự kiện cuối cùng làm đoạn tuyệt quan hệ giữa Thiết Mộc Chân và Thoát Lý là Thoát Lý từ chối đề nghị cưới cháu trai ông ta cho con gái của Thiết Mộc Chân, một dấu hiệu không tôn trọng trong văn hóa Mông Cổ, dẫn tới sự chia cắt hai bên và điềm báo một cuộc chiến sẽ nổ ra. Thoát Lý liên minh với Trác Mộc Hợp, nhưng sau lại nảy sinh mâu thuẫn, cộng với việc Thiết Mộc Chân lôi kéo thành công những bộ lạc liên minh với Thoát Lý về phía mình khiến cán cân thay đổi, và Thoát Lý nhanh chóng thất bại. Ông ta chạy tới bộ lạc Nãi Man, nhưng bị binh lính Nãi Man giết chết năm 1203. Thất bại này đã khiến bộ lạc Khắc Liệt bị phân rã và chịu sự cai quản của Thiết Mộc Chân.

Thành Cát Tư Hãn
Thành Cát Tư Hãn

Mối đe dọa cuối cùng đối với Thiết Mộc Chân là người Nãi Man, với Trác Mộc Hợp và các tàn dư bộ lạc bị Thiết Mộc Chân đánh bại đã chạy tới nương tựa. Nhưng trước khi Thiết Mộc Chân tấn công Nãi Man, một số tướng lĩnh đã chạy sang phía quân Mông Cổ. Thiết Mộc Chân đã đánh bại Thái Dương Hãn - thủ lĩnh bộ lạc Nãi Man vào cuối năm 1204. Thất bại của người Nãi Man đã giúp Thiết Mộc Chân trở thành thủ lĩnh duy nhất của thảo nguyên Mông Cổ. Cũng trong lần chinh phạt này, Thiết Mộc Chân đã thu nạp một học giả dưới trướng Thái Dương Hãn, yêu cầu ông ta sáng tạo chữ viết riêng của người Mông Cổ dựa theo chữ viết của người Duy Ngô Nhĩ, và ông ta cũng đảm nhiệm việc dạy học cho cấp dưới và các thành viên trong gia đình Thiết Mộc Chân.

Theo Bí sử Mông Cổ, Trác Mộc Hợp sau thất bại của người Nãi Man phải tiếp tục bỏ chạy để tránh bị truy sát. Nhưng hắn lại bị thuộc hạ phản bội, bắt trói và giải đến chỗ của Thiết Mộc Chân. Tuy nhiên, Thiết Mộc Chân không nỡ xuống tay với người anh em kết nghĩa nên đã tha chết và đề nghị Trác Mộc Hợp quên đi hận thù mà cùng nhau xây dựng Mông Cổ. Ông còn hạ lệnh hành hình những kẻ bán đứng Trác Mộc Hợp vì tội tạo phản. Tuy nhiên, Trác Mộc Hợp từ chối, nói rằng bầu trời chỉ có một mặt trời thôi và đề nghị được chết một cách cao quý theo tập quán là chết không rơi máu. Thiết Mộc Chân dù rất đau lòng nhưng vẫn phải đáp ứng.

Năm 1206, sau khi thống nhất toàn bộ các bộ lạc trên thảo nguyên Mông Cổ, các tướng lĩnh Mông Cổ đã mở hội nghị Khố Lý Đài, tôn Thiết Mộc Chân làm Đại Hãn, tuyên bố lập ra Đại Mông Cổ Quốc, lấy hiệu là Thành Cát Tư Hãn (trong tiếng Mông Cổ thì Чингис Хаан có nghĩa là vua của cả thế giới).

Thành lập đế chế[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi thống nhất Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn nắm trong tay hơn 1 triệu dân cùng gần 100.000 quân. Tất cả tướng sĩ theo ông vào sinh ra tử, dù còn sống hay đã hy sinh, đều được ban thưởng xứng đáng. Trong đó 8 người có công lao lớn nhất: Bác Nhĩ Thuật, Mộc Hoa Lê, Xích Lão Ôn và Bác Nhĩ Hốt, tức 4 vị quân sư được gọi là "Tứ Kiệt"; Tốc Bất Đài, Triết Biệt, Hốt Tất Lai và Giả Lặc Miệt - 4 vị mãnh tướng được gọi là "Tứ Mãnh". Mỗi người được phong "vạn hộ tướng", chỉ huy 10.000 quân. Thành Cát Tư Hãn còn thành lập đội cận vệ 10.000 người do em trai Cáp Tát Nhi làm tổng chỉ huy. Ông còn lập ra mạng lưới truyền tin bằng ngựa, mỗi trạm truyền tin cách nhau 300km, giúp tin tức được truyền tải liên tục và nhanh chóng. Bên cạnh những cải cách về quân sự, Thành Cát Tư Hãn còn phổ biến việc dạy chữ Mông Cổ cho toàn bộ người dân và đề ra một bộ luật gọi là Yassa, yêu cầu mọi người dân trong lãnh thổ Mông Cổ phải tuyệt đối tuân thủ, và giao cho em trai khác mẹ Biệt Lặc Cổ Đài công việc giám sát việc thi hành luật pháp của người dân và quân đội. Thậm chí, Thành Cát Tư Hãn còn khuyến khích người dân của các bộ lạc phân rã trước kia kết hôn với nhau để tạo sự đoàn kết và ràng buộc về huyết thống và quan hệ họ hàng.

Trung Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Những cuộc hành quân lớn trong cuộc đời Thành Cát Tư Hãn.

Sau khi lên ngôi, Thành Cát Tư Hãn đã có nhiều chính sách nhằm giúp Mông Cổ phát triển cả về quân sự, chính trị và văn hóa. Tuy vậy, tình trạng bùng nổ dân số dẫn đến nguồn cung cấp lương thực và tài nguyên ngày càng cạn kiệt, khiến Thành Cát Tư Hãn bắt đầu nhắm đến những vùng đất bên ngoài thảo nguyên, cụ thể là vùng đất Trung Nguyên rộng lớn mà gần nhất là nhà Kim - những kẻ mà ông coi là kẻ thù không đội trời chung do mối thù từ những đời tổ tiên trước đó. Nhưng vì thời cơ chưa chín muồi nên Thành Cát Tư Hãn chuyển hướng sang Tây Hạ, vừa để phá vỡ quan hệ liên minh giữa Kim và Tây Hạ, vừa để làm bàn đạp tấn công Kim. Vì vậy, sau khi ổn định các vấn đề nội bộ và bình định các bộ lạc thiểu số phía Bắc, Thành Cát Tư Hãn dẫn quân tiến đánh Tây Hạ vào năm 1209, và đã chiếm được một số thành trì vững chắc. Tây Hạ Tương Tông sai sứ sang cầu cứu nước Kim nhưng không được hồi đáp. Cuối cùng, Tây Hạ phải ký hiệp ước hòa bình, trở thành chư hầu của Mông Cổ và cung cấp binh lính cũng như hậu cần cho các chiến dịch trong tương lai của Thành Cát Tư Hãn.

Sau khi thu phục Tây Hạ và chỉnh đốn quân đội, Thành Cát Tư Hãn nhận thấy thời cơ tiến đánh nước Kim đã đến. Trước tiên, ông sỉ nhục tân hoàng đế của nước Kim là Hoàn Nhan Vĩnh Tế, khi sứ giả nhà Kim yêu cầu ông triều cống vào năm 1210, do trên danh nghĩa, ông vẫn là võ tướng của nhà Kim. Thành Cát Tư Hãn gọi tân hoàng đế là kẻ đần độn, hèn nhát, thậm chí còn nói với sứ giả nước Kim rằng "Hoàng đế Trung Nguyên phải là người nhà trời như ta mới xứng đáng". Sau đó, ông gả con gái cho con trai tộc trưởng bộ lạc Uông Cổ ở biên giới Mông-Kim, để họ làm tai mắt do thám tình hình nước Kim. Năm 1211, Thành Cát Tư Hãn điểm 100.000 kỵ binh tiến đánh nước Kim, với lý do để trả thù cho ông nội là Yêm Ba Hài - trước kia cũng từng là Khả Hãn của Mông Cổ - đã bị nhà Kim sát hại cũng như những cư dân Mông Cổ bị nhà Kim tàn sát và bắt bớ làm nô lệ trong nhiều năm qua. Ông còn lấy lý do giải phóng tộc người Khiết Đan bị người Nữ Chân chèn ép để lôi kéo người Khiết Đan đi theo mình.

Thành Cát Tư Hãn với chiến thuật và sách lược khôn ngoan đã xâm chiếm và hợp nhất lãnh thổ nhà Kim đến tận Vạn Lý Trường Thành năm 1213. Tiêu biểu nhất là trận Dã Hồ Lĩnh, khi 100.000 quân Mông Cổ đánh tan tác 450.000 quân Kim cùng với gần 1 triệu quân phòng thủ biên giới, khiến quốc lực tích lũy suốt hơn 100 năm của nhà Kim bỗng chốc tiêu tan. Cùng năm đó, tướng nhà Kim là Hồ Sa Hổ giết chết Hoàn Nhan Vĩnh Tế rồi lập anh trai của Kim Chương TôngHoàn Nhan Tuần lên ngôi, tức Kim Tuyên Tông. Sau đó Thành Cát Tư Hãn chỉ huy 3 cánh quân tiến vào trung tâm nước Kim, nằm giữa Vạn Lý Trường Thành và sông Hoàng Hà. Kim Tuyên Tông phải cầu hòa, cắt đất, dâng vàng bạc châu báu và gả công chúa cho Thành Cát Tư Hãn. Tuy tỏ ra hòa hảo nhưng Kim Tuyên Tông vẫn lo sợ, lập tức dời đô về Khai Phong. Thành Cát Tư Hãn cho rằng nhà Kim bội ước, lại xua quân tiến đánh vào năm 1215, chiếm giữ hàng loạt thành phố, trong đó có cả kinh đô cũ của nước Kim là Trung Đô (Bắc Kinh ngày nay). Nhưng trong lúc đó, tàn dư bộ lạc Miệt Nhĩ quay lại quấy nhiễu thảo nguyên Mông Cổ. Thành Cát Tư Hãn buộc phải rút quân, chỉ để Mộc Hoa Lê cùng binh sĩ dưới quyền ông ta ở lại. Mộc Hoa Lê sau đó vì quá lao lực, cộng thêm sự uất ức vì bị Tây Hạ trở mặt mà qua đời khi quân Mông Cổ chuẩn bị tiến vào Khai Phong. Trong suốt thời gian tiến đánh nhà Kim, quân Mông Cổ đã thu được rất nhiều vàng bạc châu báu, sản vật quý cùng hàng ngàn tù binh. Nhưng thu hoạch lớn nhất của Thành Cát Tư Hãn có lẽ là thu phục thành công Gia Luật Sở Tài - hậu duệ của hoàng tộc nhà Liêu và là một kỳ tài hiếm có thời điểm đó. Ông đồng ý làm việc cho đế quốc Mông Cổ và làm đến chức Tể tướng dưới thời Oa Khoát Đài.

Tây Á[sửa | sửa mã nguồn]

Đế quốc Mông Cổ từ năm 1206 đến năm 1294

Cùng thời gian đó, Khuất Xuất Luật, con trai của Thái Dương Hãn của bộ lạc Nãi Man đã chạy về phía tây, cướp ngôi hoàng đế Tây Liêu từ tay Gia Luật Đại Thạch và gây chiến với bộ lạc Cát La, một đồng minh của Mông Cổ. Thành Cát Tư Hãn gửi 20.000 quân dưới sự chỉ huy của Triết Biệt để chống lại Khuất Xuất Luật. Hắn bị đánh bại ở phía tây Kashgar; bị bắt sống và hành hình, và Tây Liêu sáp nhập vào Mông Cổ. Năm 1218, đế quốc Mông Cổ mở rộng về phía tây tới hồ Balkhash và tiếp giáp với đế quốc Khwarezm, một quốc gia Hồi giáo trải dài từ biển Caspi ở phía tây và vịnh Ba Tư, biển Ả Rập ở phía nam.

Năm 1218, Thành Cát Tư Hãn gửi một đoàn thương nhân sang Ostras - một tỉnh phía đông của Khwarezm nhằm thiết lập giao thương, nhưng bị thống đốc của tỉnh này, cũng là cháu của Muhamad II - quốc vương (Sultan) của đế quốc Khwarezm, nghi là gián điệp và sát hại toàn bộ, chỉ duy nhất 1 người may mắn trốn thoát về Mông Cổ báo tin dữ. Thành Cát Tư Hãn lại sai một đoàn sứ giả đến gặp Muhamad II để chất vấn, nhưng ông ta từ chối thương lượng và hành hình đoàn sứ giả.

Tức giận trước hành động khiêu khích của Muhamad II, Thành Cát Tư Hãn lập tức đưa 200.000 quân tràn sang để trả thù. Quân Mông Cổ nhanh chóng hạ thành Ostras và hành hình viên thống đốc bằng cách đổ bạc nóng chảy vào tai và mắt ông ta để trả thù cho những thương nhân Mông Cổ và hành động xúc phạm Thành Cát Tư Hãn.

Cùng thời điểm này, Thành Cát Tư Hãn quyết định mở rộng ảnh hưởng của Mông Cổ với thế giới Hồi giáo. Quân Mông Cổ lần lượt hạ các thành phố lớn của Khwarezm như Bukhara, SamarkandBalkh, khiến Muhammad II phải liên tục rút lui. Cuối cùng, ông ta chết ở một hòn đảo trên biển Caspi năm 1220, và đế quốc Khwarezm sụp đổ. Chiến thắng trước đế quốc Khwarezm đã xác lập hình ảnh của Thành Cát Tư Hãn như một chiến binh khát máu, gieo rắc nỗi kinh hoàng cho bất cứ vùng đất nào mà ông cùng quân Mông Cổ tràn qua.

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tiêu diệt Đế quốc Khwarezm vào năm 1220, quân Mông Cổ được chia thành 2 cánh trở về thảo nguyên. Thành Cát Tư Hãn dẫn phần lớn quân chủ lực hành quân xuyên qua Afghanistan và bắc Ấn Độ. Cánh còn lại gồm 2 vạn quân do Triết Biệt và Tốc Bất Đài chỉ huy, hành quân qua vùng Kavkaz và vào Nga, tấn công sâu vào Armenia và Azerbaijan. Người Mông Cổ phá hủy Gruzia, chiếm được trung tâm thương mại và quân sự CaffaKrym của Cộng hòa Genova, và tiến sát Biển Đen. Ảnh hưởng của vó ngựa Mông Cổ được mở rộng hơn bao giờ hết.

Trên đường trở về Mông Cổ, cánh quân Tốc Bất Đài bị liên quân Cuman-Kipchak và lực lượng lớn quân Nga Kiev lên tới 8 vạn, tập hợp từ quân đội của các vương công Nga, do Mstislav Mstilavich của Halych và Mstislav III của Kiev chỉ huy, chặn lại. Tốc Bất Đài gửi sứ giả đến đề nghị hòa bình nhưng các sứ giả bị hành quyết. Nổi giận vì bị từ chối, Tốc Bất Đài ra lệnh tấn công đội quân Nga Kiev, và đã đánh tan đội quân này tại sông Kalka năm 1223. Quân Mông Cổ tiếp tục càn quét lãnh thổ Nga và chỉ chịu dừng lại sau trận eo sông Samara, khi bị quân Volga Bulgar, do Ghabdulla Chelbir chỉ huy, phục kích gây thiệt hại nặng nề.[11]

Các vương công Nga không còn cách nào khác ngoài đề nghị cầu hòa, thực chất là lời đầu hàng nhục nhã. Tuy họ không bị tước đi quyền lực, nhưng họ phải chịu thần phục và triều cống cho Thành Cát Tư Hãn. Tương truyền, để dương uy quân Mông Cổ, Tốc Bất Đài cho đặt ván trên đầu các vương công Nga để mở tiệc ăn mừng. 6 vương công Nga, trong đó có Mstislav III của Kiev, đã bị đè đến chết.

Thành Cát Tư Hãn không phải người chấp nhận thất bại. Trước khi 2 cánh quân về Mông Cổ năm 1225, họ đã trinh sát và tìm hiểu kỹ đối phương để chuẩn bị phục thù. Dù Thành Cát Tư Hãn chết 2 năm sau đó, quân Mông Cổ cũng một lần nữa trở lại vào năm 1237 dưới sự chỉ huy của Bạt Đô - con trai của Truật Xích, chinh phục hoàn toàn Nga Kiev và Volga Bulgar vào năm 1240, trả lại mối thù bại trận lần trước.

Chiến dịch cuối cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Hạ từ chối không tham chiến chống lại đế chế Khwarezm, cũng từ chối góp quân để đánh nhà Kim, thậm chí còn giúp nước Kim đánh Mông Cổ khiến Mộc Hoa Lê uất ức mà qua đời. Thành Cát Tư Hãn đã thề sẽ dành cho họ sự trừng phạt. Sau một thời gian nghỉ ngơi để chỉnh đốn quân đội, Thành Cát Tư Hãn chuẩn bị binh mã với mục tiêu san phẳng Tây Hạ.

Cùng thời gian này, ông cũng đã chọn con trai thứ 3 là Oa Khoát Đài làm người kế vị cũng như thiết lập cơ chế chọn người kế vị thông qua hội nghị Khố Lý Đài và phải là hậu duệ trực hệ của ông.

Xâm lăng Nhật Bản-Cung thủ Mông Cổ tấn công các Samurai trên lưng ngựa

Năm 1226, Thành Cát Tư Hãn điểm 180.000 quân tấn công Tây Hạ. Tháng 2, quân Mông Cổ chiếm các thành phố Hắc Thủy, Cam ChâuTúc Châu và trong mùa thu năm đó chiếm phủ Tây Lương. Tháng 11, quân Mông Cổ bao vây thành Linh Châu và vượt qua sông Hoàng Hà đánh bại quân cứu viện của Tây Hạ.

Năm 1227, quân Mông Cổ tấn công kinh đô Ngân Xuyên (nay thuộc Ninh Hạ), trong tháng 2 chiếm phủ Lâm Thao, tháng 3 chiếm quận Tây Ninh (tỉnh Thanh Hải ngày nay) và phủ Tín Đô, tháng 4 chiếm quận Đức Thuận. Sau đó quân Mông Cổ đến Lục Bàn Sơn (nay thuộc huyện Thanh Thủy, thành phố Thiên Thủy, tỉnh Cam Túc) để tránh mùa hè khắc nghiệt.

Tây Hạ Mạt Đế - vị vua cuối cùng của Tây Hạ chính thức đầu hàng Mông Cổ năm 1227 và hẹn xin nộp thành. Tây Hạ bị diệt sau 190 năm (1038 - 1227). Trước thời hạn Tây Hạ Mạt Đế nộp thành đúng 1 ngày thì Thành Cát Tư Hãn băng hà. Cả hoàng tộc Tây Hạ sau đó cũng bị hành hình.

Trong giờ phút cuối cùng, Thành Cát Tư Hãn vẫn không quên nói ra chiến lược tác chiến sinh tử giữa Mông Cổ, Kim và Nam Tống. Sách lược của Thành Cát Tư Hãn là trước mượn đường Tống để diệt Kim, sau đó quay lại diệt Tống. Không những thế, Thành Cát Tư Hãn còn chỉ cụ thể con đường xuất quân và việc thực hiện phương án tác chiến: "Quân tinh nhuệ của Kim ở Đồng Quan, phía nam chiếm cứ Liên Sơn, phía bắc bị hạn chế bởi sông lớn, khó đánh thắng nhanh. Nhưng Tống và Kim có mối thù truyền kiếp, giả liên Tống thì đánh Kim sẽ dễ. Bởi lúc này Kim nóng vội, trưng binh hàng vạn, tiếp tế khó khăn, người ngựa mệt mỏi, ta sẽ đánh thắng".[12] Nói xong, Thành Cát Tư Hãn băng hà vào ngày 18 tháng 8 năm 1227 tại huyện Thanh Thủy, gần Lục Bàn Sơn, Trung Quốc, thọ 66 tuổi. Nguyên nhân cái chết của ông vẫn chưa được sáng tỏ, nhiều người cho rằng do ông ngã ngựa, cộng với tuổi già và suy giảm thể lực hay bị hạ độc từ phía kẻ thù. Biên niên sử Galicia-Volhynia cho rằng ông bị những người Đảng Hạng giết chết, tuy nhiên đến ngày nay vẫn chưa ai biết rõ.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi mất, Thành Cát Tư Hãn đã chia đế quốc rộng lớn của mình cho 4 đích tử: Truật Xích nhận vùng cực Tây (Nga và Kazakhstan ngày nay) gọi là Kim Trướng Hãn quốc; Sát Hợp Đài nhận Transoxania nằm giữa các sông Amu Darya và Syr Darya tại Uzbekistan ngày nay, và khu vực quanh Kashgar, gọi là Sát Hợp Đài Hãn quốc; Oa Khoát Đài nhận Trung Quốc và được chỉ định làm Đại Hãn kế vị; còn Đà Lôi nhận vùng trung tâm Mông Cổ theo truyền thống con út thừa hưởng gia tài.

Tuy nhiên, sau khi Thành Cát Tư Hãn mất, thay vì Oa Khoát Đài lên kế vị như di chiếu, Đà Lôi đã nắm quyền Giám quốc trong 2 năm. Đến năm 1229, Oa Khoát Đài mới chính thức lên ngôi Đại Hãn. Ông mở cuộc tấn công chưa từng thấy vào nước Kim. Cùng với sự trợ lực của Nam Tống, cuối cùng nhà Kim diệt vong vào năm 1234. Sau khi diệt nhà Kim và phân chia lãnh thổ, triều đình Nam Tống đã chiếm lấy 3 cố đô Khai Phong, Lạc Dương và Trường An, đồng thời giết sứ giả Mông Cổ, khiến chiến tranh giữa 2 bên nổ ra trong suốt hơn 40 năm. Cùng thời gian này, Oa Khoát Đài ra lệnh cho Bạt Đô và Tốc Bất Đài thôn tính toàn bộ châu Âu. Quân Mông Cổ tàn phá cả châu Âu từ Nga, Hungary, Bulgaria đến Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan, giúp đất phong của Truật Xích được mở rộng, và chỉ dừng lại khi Oa Khoát Đài băng hà.

Oa Khoát Đài ở ngôi Đại Hãn được 13 năm thì băng hà. Hoàng hậu Thoát Liệt Ca Na làm Giám quốc trong 5 năm rồi đưa con trai trưởng Quý Do làm Đại Hãn (1246). Nhưng Quý Do chỉ ở ngôi được 2 năm thì qua đời mà chưa kịp chỉ định người kế vị. Cuộc chiến vương quyền trong hoàng tộc Mông Cổ ngày càng trở nên căng thẳng giữa nhà Oa Khoát Đài (gồm các anh em của Quý Do và Thất Liệt Môn - cháu nội của Oa Khoát Đài, vốn được ông chọn làm người kế vị) và nhà Đà Lôi (gồm Mông Kha và Hốt Tất Liệt). Cuối cùng, với sự trợ giúp của Bạt Đô, con trưởng của Đà Lôi là Mông Kha đã đánh bại tất cả đối thủ để lên ngôi Đại Hãn (1251). Ông mở các chiến dịch mở rộng lãnh thổ như đánh chiếm Đại Lý (1254) và Đại Việt (1257) để thuận lợi đánh chiếm Nam Tống. Sau khi thôn tính Đại Lý và thất bại trong cuộc xâm lăng Đại Việt, năm 1258 ông cùng Hốt Tất Liệt dẫn quân tiến đánh Nam Tống. Nhưng ông đã tử trận khi quân Mông Cổ đang vây hãm Điếu Ngư (Trùng Khánh ngày nay) (1259).

Sau khi Mông Kha mất, hai em trai cùng mẹ của ông là Hốt Tất Liệt và A Lý Bất Ca cùng xưng Đại Hãn (1260). Thế là cuộc nội chiến nổ ra. Cuối cùng Hốt Tất Liệt dành chiến thắng và trở thành Đại Hãn chính thức (1264). Cùng thời gian này, Húc Liệt Ngột, một người anh em khác của Hốt Tất Liệt đã mở rộng đế quốc Mông Cổ xuống phía Tây Nam, chiếm cứ Ba Tư, Tiểu Á, tiến sát đến Địa Trung Hải, nhưng thất bại tại Ai Cập và phải dừng lại. Phần lãnh thổ do Húc Liệt Ngột cai quản được gọi là Y Nhi Hãn quốc.

Năm 1271, Hốt Tất Liệt cải xưng thành Hoàng Đế, đổi quốc hiệu từ Đại Mông Cổ Quốc thành Đại Nguyên, thay thế kinh đô cũ Hòa Lâm bằng 2 kinh đô mới là Đại Đô (kinh đô mùa đông, tức Bắc Kinh ngày nay) và Thượng Đô (kinh đô mùa hè, tức Chính Lam, Nội Mông ngày nay). Năm 1279, Hốt Tất Liệt tiêu diệt Nam Tống, thống nhất Trung Nguyên, đánh dấu lần đầu tiên Trung Hoa chịu sự cai trị của một triều đình ngoại tộc. Nhưng việc Hốt Tất Liệt chuyển trung tâm quyền lực của đế quốc Mông Cổ xuống Trung Hoa và phá vỡ nhiều cách thức cai trị truyền thống của Mông Cổ khiến quý tộc Mông Cổ bất mãn và xa lánh ông ta. Điều này cũng gián tiếp khiến đế quốc Mông Cổ rộng lớn bị phân rã thành 4 mảnh gồm nhà Nguyên, Hãn quốc Kim Trướng, Hãn quốc Sát Hợp Đài và Hãn quốc Y Nhi. Tệ hơn là sự phân rã này khiến các cuộc nội chiến trong nội bộ đế quốc dần gia tăng sau khi Hốt Tất Liệt băng hà.

Hốt Tất Liệt cũng tích cực mở rộng lãnh thổ bằng các cuộc chiến với Nhật Bản, Đại Việt, MyanmarJava nhưng đều thất bại, mà nặng nề nhất là thất bại 2 lần trước Nhật Bản và 2 lần trước Đại Việt. Nhà Nguyên là triều đại khai thác triệt để "Con đường tơ lụa" - tuyến đường giao thương Á - Âu thời điểm đó. Nhà Nguyên cũng là triều đại Trung Hoa đầu tiên có sự xuất hiện của các quan chức châu Âu, người Hồi giáo và Kito giáo trong bộ máy quan lại. Trong số đó có Marco Polo - tác giả của cuốn "Marco Polo du ký", ghi lại hành trình 17 năm của ông trên đất Trung Quốc và làm việc cho Hốt Tất Liệt. Nhà Nguyên thống trị Trung Hoa đến năm 1368, trải qua 11 vị hoàng đế, trước khi bị Hoàng Đế khai quốc của nhà MinhChu Nguyên Chương đánh đuổi, giành lại Trung Quốc cho người Hán. Nhà Nguyên phải rút về thảo nguyên Mông Cổ, tức nhà Bắc Nguyên, cai trị đến năm 1402 thì bỏ quốc hiệu, Mông Cổ lại bị tách ra thành nhiều bộ lạc nhỏ. Năm 1635, Hoàng Thái Cực, Đại Hãn thứ 2 của nước Hậu Kim, sau là Hoàng Đế khai quốc của nhà Thanh thu phục toàn bộ Mông Cổ khi Lâm Đan Hãn - Đại Hãn cuối cùng của Mông Cổ chết trên đường trốn chạy. Con trai ông ta là Ngạch Triết đầu hàng và dâng ngọc tỷ truyền quốc của nhà Nguyên cho Hoàng Thái Cực. Ngạch Triết sau đó được Hoàng Thái Cực phong làm Sát Cáp Nhĩ thân vương. Sau khi Ngạch Triết mất, chức vụ Sát Cáp Nhĩ thân vương được giao lại cho em trai là A Bố Nại. Nhưng A Bố Nại lại bất mãn với nhà Thanh, cộng thêm việc 2 con trai của ông ta tạo phản, khiến cả gia đình ông ta bị tru di vào năm Khang Hy thứ 6 (1675).

Bí ẩn lăng mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng tẩm tượng trưng của Thành Cát Tư Hãn

Nhiều năm trước khi qua đời, Thành Cát Tư Hãn đã tiên liệu việc xây dựng lăng mộ cho mình. Ông hạ lệnh xây một ngôi mộ vô danh theo đúng phong tục Mông Cổ, và tuyệt đối giữ bí mật về vị trí lăng mộ. Sử chép rằng, sau khi qua đời, thi thể của Thành Cát Tư Hãn được đưa về cố hương ở tỉnh Khentii, nơi nhiều người cho rằng ông được chôn cất ở đâu đó gần sông Oát Nan và núi Bất Nhi Hãn

Theo truyền thuyết, để đảm bảo vị trí lăng mộ hoàn toàn bí mật, quân lính tham gia diễu hành linh cữu sẽ giết sạch tất cả những gì họ thấy trên đường đi (kể cả người, động vật). Sau khi khâm liệm, hàng ngàn con ngựa được đưa tới để giày xéo, biến khu đất đó trở nên bằng phẳng, không có vẻ gì là nơi chôn người chết. Binh lính thậm chí còn thay đổi dòng chảy của một con sông, để dòng nước chảy qua lăng mộ, xóa sạch mọi dấu vết đào bới. Sau tang lễ, tất cả những người tham gia diễu hành linh cữu, trừ các thành viên hoàng tộc, đều bị giết hoặc tự sát trong bí mật. Chỉ vài người sống sót để ở lại canh giữ lăng mộ đến khi cỏ mọc lên, trở nên giống với những khu đất khác, và những binh lính này cũng phải thề tuyệt đối giữ bí mật đến tận lúc qua đời.

Sau này, để các thành viên hoàng tộc có thể tìm chính xác vị trí lăng mộ để thăm viếng, binh lính canh giữ lăng mộ giết một con lạc đà con ngay trước mắt mẹ của nó, rồi rải máu của nó xuống lăng mộ. Lạc đà mẹ sẽ nhớ nơi con mình bị giết và dẫn các thành viên hoàng tộc đến đúng lăng mộ. Nhưng dần dà, họ cũng bỏ cách thức tìm kiếm tàn nhẫn này.

Nhiều năm sau khi Thành Cát Tư Hãn qua đời, lăng tẩm của ông được người Mông Cổ xây dựng lên nhằm tôn vinh những cống hiến của vị thống lĩnh đầu tiên. Tuy nhiên, lăng tẩm này chỉ mang tính biểu trưng, bên trong không có thi thể của ông.

Vào ngày 6/10/2004, một nhóm khảo cổ đã khám phá ra khu vực được cho là cung điện của Thành Cát Tư Hãn ở vùng nông thôn Mông Cổ, làm tăng khả năng xác định vị trí chôn cất của ông. Có người cho rằng, khu mộ được đặt ở Kherem, cách cung điện của ông khoảng 322 km. Một số khác lại cho rằng, nơi chôn cất Thành Cát Tư Hãn ở khu vực gần hai con sông Oát Nan và Kerulen và núi Bất Nhi Hãn.

Tuy nhiên, cho đến nay, sau gần 800 năm kể từ ngày ông mất, chưa ai xác định chính xác vị trí ngôi mộ. Bí mật này trở thành một trong những "bài toán khảo cổ" lớn nhất chưa có lời giải của thế kỷ 21. Thậm chí, người ta còn truyền tai nhau về những lời nguyền bên trong lăng mộ. Những kẻ dám tìm thấy và khai quật lăng mộ, dù có chính xác vị trí hay không, đều sẽ phải nhận lấy những tai ương, thậm chí cả cái chết vô cùng đau đớn. Chính người dân Mông Cổ cũng không bao giờ có ý định khai quật lăng mộ. Họ cho rằng hãy để vị Đại Hãn tối cao của họ được ngủ yên và việc khai quật lăng mộ bị họ xem là không tôn trọng người đã khuất và là sự báng bổ thần linh.

Tài năng[sửa | sửa mã nguồn]

Chính trị, văn hóa, và kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Cát Tư Hãn là một nhà lãnh đạo thực thụ. Ông tạo ra bộ luật bằng chữ viết của người Mông Cổ mà mọi người trong đế chế phải tuân thủ. Vì sự đa dạng về dân tộc, tôn giáo và sắc tộc của các công dân và binh lính, ông đã truyền lại sự trung thành chỉ với Đại Hãn. Để giữ vững và bổ sung chi phí cho quân đội cũng như các hoạt động khác, ông đã cho phép các thủ lĩnh duy trì quyền lực khi họ còn cung cấp được sức mạnh quân sự, nộp cống phẩm và cung cấp nhân lực trong các cơ sở cố định. Chiếm đóng được một khu vực đất đai rộng lớn, ông khuyến khích thương nghiệp, trao đổi hàng hóa và người Mông Cổ nhận được hàng hóa và dịch vụ từ những người khác. Các thương nhân, giáo sĩ, đặc sứ có được đảm bảo sự an toàn và hướng dẫn cần thiết dưới đế chế Mông Cổ, ví dụ một số người trong số họ đã đến Trung Hoa như nhà du hành Giovanni da Pian del Carpini dưới thời Oa Khoát Đài hay nhà du hành người Ý Marco Polo tới Bắc Kinh dưới thời Hốt Tất Liệt, là những người đã viết sách về chuyến du hành của họ với độ đáng tin cậy cao. Dưới thời Thành Cát Tư Hãn, “mọi cá nhân và tôn giáo là bình đẳng trước pháp luật Mông Cổ".

Vì sự mở rộng đế chế, Thành Cát Tư Hãn có ảnh hưởng sâu rộng trong văn hóa của nhiều quốc gia châu Á, chủ yếu là Trung Hoa và Nga. Ông tiêu diệt tầng lớp quý tộc hiện thời trong các vùng lãnh thổ của mình, tạo ra tầng lớp trí thức thô sơ. Ông cũng tạo ra hệ thống bưu chính rộng lớn và mở rộng sự phổ biến của việc sử dụng hệ thống chữ cái thế giới, mặc dù trong nhiều năm người ta vẫn tin rằng ông là người thất học vì sự xuất hiện gần đây của chữ viết cũng như tuổi tác của ông tại thời điểm thi hành điều đó. Tuy nhiên, gần đây theo các phát kiến của các nhà sử học Mông Cổ và Trung Quốc thì ông là người có học thức cao. Các văn bản viết tay được cho là của ông cũng như nội dung của chúng cho thấy ông có thể đọc các bài thuyết pháp của Lão giáo.[13] Thương mại và du lịch trong lãnh thổ Trung Hoa, Trung Cận Đông và châu Âu được phát triển mạnh mẽ bởi sự ổn định chính trị nhất mà đế chế Mông Cổ đã đem lại khi thiết lập lại Con đường tơ lụa. Ông giảm các hình phạt trong các khu vực của mình, miễn giảm thuế cho các lang y và thầy đồ, thiết lập sự tự do tôn giáo. Các ngôn ngữ khác như tiếng Thổ Nhĩ Kỳ được phát triển và các loại hình tôn giáo đã nảy nở. Quân đội Mông Cổ về sau bao gồm rất nhiều người của các nền di sản khác nhau. Người Mông Cổ giúp cho phần lớn châu Á biết đến bàn tínhla bàn cũng như cho châu Âu biết đến thuốc súngthuốc nổ (phát minh bởi người Trung Hoa) và các công cụ phục vụ chiến tranh vây hãm mà người Trung Quốc đã phát triển để đối phó với người châu Âu. Người ta cũng cho rằng ông là người đầu tiên ngăn chặn sự phân chia bắc và nam Trung Quốc bắt đầu từ thời nhà Tống. Với thành tựu thống nhất các bộ lạc Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn giành được sự tôn trọng và hậu thuẫn sâu rộng của họ.

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tổ chức quân đội Mông Cổ thành các nhóm theo cơ số 10. 10 lính được quản lý bới một thập hộ tướng, 10 thập hộ tướng được quản lý bởi bách hộ tướng, 10 bách hộ tướng được quản lý bởi thiên hộ tướng, 10 thiên hộ tướng được quản lý bới vạn hộ tướng. Cơ cấu mệnh lệnh này tạo ra một sự mềm dẻo cao và cho phép quân Mông Cổ có khả năng tấn công ồ ạt, chia thành các nhóm nhỏ để bao vây và dẫn kẻ thù vào trong mai phục hay áp chế các nhóm tàn quân đã tan vỡ và đang trốn chạy. Mỗi người lính Mông Cổ có thể có từ 2 đến 4 con ngựa cho phép họ phi nước đại trong vài ngày mà không cần nghỉ ngơi hay mệt mỏi. Binh sĩ Mông Cổ cũng có thể sống vài ngày chỉ cần uống máu ngựa và ăn thịt bò Tây Tạng khô khi thời tiết khắc nghiệt.

Khi bổ sung binh lính mới, Thành Cát Tư Hãn chia họ ra thành nhiều nhóm dưới quyền của các thủ lĩnh khác nhau để tránh tình trạng có quan hệ về sắc tộc hay xã hội, vì thế ở đây không có sự phân chia theo các liên minh sắc tộc. Trong mọi chiến dịch, binh sĩ được phép đem theo gia đình của họ. Chỉ những chiến binh dũng cảm nhất mới được thăng chức. Mỗi một thủ lĩnh của một nhóm nào đó phải chịu trách nhiệm về sự sẵn sàng chiến đấu của binh lính dưới quyền tại bất kỳ thời điểm nào và có thể bị thay thế nếu như phát hiện được sự tắc trách.

Binh lính Mông Cổ là các khinh kỵ binh (kỵ binh nhẹ), điều này cho phép họ tiến hành các chiến thuật và rút lui nhanh chóng. Đây là một thông lệ đối với các đội quân linh hoạt. Người Mông Cổ dưới thời Thành Cát Tư Hãn và các hậu duệ của ông là sự hoàn hảo của khinh kỵ bắn cung. Một trong những kỹ thuật mà người Mông Cổ sử dụng trong chiến tranh là giả vờ rút lui giữa trận, làm đối phương tin rằng người Mông Cổ đã thua trận. Chỉ sau đó trong một khoảng cách nhất định thì họ mới hiểu là đã bị quân Mông Cổ bao vây và cuối cùng là hàng mưa tên bắn về phía họ. Người Mông Cổ không thích hợp với cận chiến, họ thích tấn công từ một khoảng cách nhất định bằng cung tên, tận dụng khả năng bắn cung khi đang cưỡi ngựa điêu luyện của mình.

Trong các cuộc chiến, thủ lĩnh quân đội Mông Cổ có thể sử dụng cờ hay kèn hiệu để thực hiện chiến lược, chiến thuật của mình. Đối với người Mông Cổ, chiến thắng là vấn đề quan trọng nhất và họ không thể chấp nhận thua trận cũng như mất người bởi vì họ bị thua sút về tiếp viện cũng như phải di chuyển xa lãnh thổ của mình. Vũ khí chủ yếu của người Mông Cổ là cung tên và kiếm lưỡi cong, nhẹ và hiệu quả để mang vác và đánh nhau hơn là kiếm dài và nặng của người châu Âu. Một quy tắc đơn giản trong giao tranh được làm rõ trong thời đại của Thành Cát Tư Hãn là nếu có từ 2 binh sĩ trở lên tách khỏi nhóm của họ mà không có sự chấp thuận của thủ lĩnh thì họ phải chết. Kiểu giao tranh của người Mông Cổ là phương thức tự nhiên nhất của cuộc sống du cư của họ, có nghĩa là trong các cuộc viễn du thì phải có hành lý gọn nhẹ nhất cũng như tốc độ và sự linh hoạt cao. Do đó Thành Cát Tư Hãn đã bổ sung thêm một yếu tố quan trọng là kỷ luật nghiêm minh.

Trận thủy chiến giữa Hạm đội Mông CổNhật Bản. Người Nhật đang tấn công năm 1293

Triết lý quân sự của Thành Cát Tư Hãn là đánh bại kẻ thù với ít tổn thất và rủi ro nhất, dựa trên lòng trung thành và tài năng trong việc lựa chọn tướng lĩnh và binh sĩ. Do đó, chiến tranh tâm lý rất được ông ưa chuộng, đặc biệt trong việc mở rộng sự đe dọa, khủng bố với các thành phố, thị trấn khác. Nếu ông nhận thấy sự chống cự, ông có thể đưa ra cơ hội để họ đầu hàng và cống nộp. Nếu lời đề nghị bị từ chối, ông sẽ tiêu diệt cả thành phố hay thị trấn đó nhưng để cho một số người chạy trốn nhằm loan truyền tin về tổn thất của họ cho cư dân của các thành phố khác. Khi những tin đồn về sức mạnh của đội quân Mông Cổ đã lan rộng thì sẽ rất khó cho các thủ lĩnh của các thành phố đó trong việc thuyết phục người dân của họ chống lại Thành Cát Tư Hãn. Quan điểm của ông với kẻ thù là: đầu hàng hoặc chết. Khi họ đã đầu hàng, Thành Cát Tư Hãn thông thường giữ cho thành phố đó được nguyên vẹn và đảm bảo cho họ sự bảo vệ để họ trở thành nguồn nhân lực và quân nhu cho các chiến dịch trong tương lai. Nếu họ chống lại, ông thực hiện quyền sinh sát của người cai trị một cách tàn nhẫn. Người ta cho rằng ông đã tiết kiệm nhiều tổn thất sinh mạng cho quân đội Mông Cổ nhờ kiểu chiến tranh tâm lý này.

Công nghệ là một mặt quan trọng trong chiến thuật của ông. Những thiết bị vây hãm là một phần quan trọng trong các cuộc chiến, đặc biệt trong việc tấn công các thành phố đã tăng cường phòng thủ. Ông sử dụng các nhà kỹ thuật Trung Quốc am hiểu về các thiết bị vây hãm trong quân đội của mình. Các thiết bị này được tháo rời và vận chuyển bằng ngựa và được lắp ráp lại ở nơi mà chúng cần sử dụng.

Trong bối cảnh của một cuộc chiến tranh điển hình và các hình thái của nó, trước khi xâm chiếm, Thành Cát Tư Hãn và các tướng lĩnh thực hiện việc chuẩn bị ở hội nghị Khố Lý Nhĩ Đài để quyết định sách lược và tướng lĩnh tham gia. Ở phía khác, các tướng Mông Cổ là những chiến binh với mức độ độc lập cao trong các quyết định khi họ tỏ rõ lòng trung thành với Thành Cát Tư Hãn trong một thời gian dài, điều này làm giảm thiểu sự kiểm tra, giám sát của ông đối với họ trong thời gian diễn ra chiến dịch. Vì bản chất linh hoạt của quân đội Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn đã xây dựng một mạng lưới tình báo phức tạp trong quân đội Mông Cổ cũng như trong các mạng lưới thương mại hay các nước chư hầu, trong đó tình báo có thể nhanh chóng đến được mọi ngõ ngách của đế chế Mông Cổ. Người ta cho rằng, để chuẩn bị cho chiến tranh, các thủ lĩnh có thể cử 200 kỵ binh đi theo 4 hướng khác nhau để do thám các hoạt động của kẻ thù và đôi khi binh sĩ có thể đi tới 300 km trong 1 hay 2 ngày, điều này là thông thường trong thời đại của đội quân Mông Cổ.

Mặc dù chiến lược của người Mông Cổ sẽ có sự thay đổi tùy theo phản ứng của kẻ thù, nhưng kỹ thuật của họ chỉ có một. Người Mông Cổ giao chiến theo hàng dọc, thông thường có ba cánh quân, hai cánh bên hông có thể tách ra từ cánh quân trung tâm khi họ tính toán xem nơi nào họ có thể thọc vào. Các cánh quân bên hông có quân số tương đương có thể đi sâu vào lãnh thổ kẻ thù và bắt đầu chôn vùi kẻ thù bằng các toán quân Mông Cổ được chia thành các nhóm binh sĩ với các thủ lĩnh của họ, tạo ra một lực lượng chiến đấu tinh tế và có tổ chức cao, gần như không thể ngăn chặn. Khi họ hiện diện ở một nơi nào đó và do thám các thành phố và cánh đồng xung quanh, họ có thể nhập lại với cánh quân trung tâm và đưa ra đòn đánh quyết định với đội quân chính của kẻ thù. Tư tưởng và ưu thế của việc sử dụng các lực lượng bên hông là lan truyền đe dọa, khủng bố, thu thập tin tức tình báo từ các kẻ thù và loại bỏ các đơn vị nhỏ hơn của kẻ thù để họ không thể hỗ trợ lẫn nhau. Nói cách khác, nó là một dạng của khái niệm phân chia và chế ngự. Các cánh quân bên hông này gửi các thông điệp thông qua tình báo cho các cánh quân khác về những gì xảy ra trên hướng của họ và họ có cần sự hỗ trợ từ các cánh quân đó hoặc hỗ trợ các cánh quân đó hay không. Quân đội Mông Cổ có các cuộc giao chiến với các đội quân nhỏ lẻ trên các cánh đồng trước khi tiêu diệt lực lượng đối địch chính, làm tăng ưu thế trong việc loại trừ khả năng thông tin từ nơi này sang nơi khác của đối phương. Người Mông Cổ giỏi chiến tranh vây hãm, làm lệch dòng chảy của các dòng sông cũng như cắt đứt lương thực, thực phẩm cho các thành phố và gửi những người tỵ nạn tới các thành phố khác để tạo sức ép kinh tế - xã hội cho các thành phố này.

Khi trận đánh chính hay sự vây hãm đã kết thúc, người ta cho rằng các lực lượng Mông Cổ sẽ vẫn truy đuổi các thủ lĩnh đối phương cho đến khi họ chắc chắn rằng những kẻ này đã chết.

Những cuộc tàn sát[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 10 tuổi, Thành Cát Tư Hãn đã giết chết người em trai cùng cha khác mẹ trong một vụ tranh giành thức ăn.

Theo các sử gia, Thành Cát Tư Hãn đã trực tiếp tham gia 32 trận đánh lớn, 65 trận đánh nhỏ. Trong quá trình chinh chiến, Thành Cát Tư Hãn đã thực hiện nhiều cuộc tàn sát đẫm máu. Không chỉ tận diệt quân đội của đối thủ, ông cũng sẵn sàng tàn sát toàn bộ người dân trong một thành phố, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em, nếu thành phố đó kháng cự lại quân đội của ông. Tiếng hung bạo đã được loan truyền khắp châu Âu, kỵ binh Mông Cổ khét tiếng đến độ người ta than rằng: "Cỏ không mọc được dưới vó ngựa Mông Cổ"

Theo nhiều số liệu, các cuộc tấn công của người Mông Cổ có thể đã làm sụt giảm dân số toàn thế giới thời đó đi khoảng 11%[14], tương đương với khoảng 45 triệu người.

Mông Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 20 tuổi, Thành Cát Tư Hãn đánh bại bộ lạc Thát Đát đã gây ra cái chết của cha mình. Ông có cách trả thù vô cùng tàn khốc, đó là nam giới bị trói vào trục bánh xe, người nào cao hơn trục bánh xe đều bị chém đầu. Hàng vạn người Thát Đát đã bị chém đầu theo cách này.

Trung Á[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1219, sau khi vua của đế chế Khwarezm giết đoàn thương nhân và sứ giả Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn đã xua toàn bộ quân đội xâm chiếm đế chế này. Cuộc chiến sau đó đã khiến khoảng 4 triệu thường dân Khwarezm bỏ mạng, và đế chế Khwarezm đã bị phá hủy hoàn toàn:

  • Mùa xuân năm 1220, thành Bukhara, một trung tâm nổi tiếng ở Trung Á bị phá trụi. Nhà sử học Ipanaxia đã viết về sự kiện này như sau: "Đó là một ngày vô cùng bất hạnh, chỉ nghe tiếng khóc bi ai vĩnh việt của già trẻ trai gái. Bọn man rợ (quân Mông Cổ) đã làm nhục phụ nữ trước mặt những người bất hạnh... Có những người thà chết không muốn chứng kiến thảm cảnh ấy."[15]
  • Từ Bukhara, Thành Cát Tư Hãn tiến đánh Samarkand, một kinh thành cổ kính và giàu có và chỉ trong 5 ngày thành này bị hạ. 3/4 dân cư thành phố bị giết.
  • Năm 1220, đạo quân Mông Cổ tới thị trấn Urgenc trên bờ sông Amou-Daria, phía nam biển Aral. Ở đấy diễn ra một trận tàn sát dã man, người ta nói rằng có tới 100 ngàn người trong thành bị giết. Quân Mông Cổ đào kênh, phá đê dẫn nước vào dìm chết toàn bộ người trong thành.
  • Tại thành phố Nishapur, Ba Tư vào tháng 4/1221, con rể của Thành Cát Tư Hãn không may tử trận. Để trả thù, Thành Cát Tư Hãn ra lệnh tàn sát toàn bộ người dân trong thành. Theo các nhà sử học Iran như Rashid-ad-Din Fadl Allah, quân Mông Cổ đã giết khoảng trên 1 triệu dân ở Nishapur. Trong cuộc trả thù đó, cả phụ nữ, trẻ em, trẻ sơ sinh, thậm chí là cả súc vật cũng bị sát hại. Sau đó, để chiều lòng cô con gái rượu vừa góa chồng, Thành Cát Tư Hãn hạ lệnh chặt đầu người dân và xếp chồng chất thành những kim tự tháp sọ người.
  • Đầu năm 1221, ở Merv, (thành phố Mary tại Turkmenistan ngày nay), quân Mông Cổ đã giết trên 700.000 dân, chỉ tha cho 400 thợ thủ công và một số trẻ nhỏ bị bắt làm nô lệ. Người ta phải mất 13 ngày liền mới đếm hết các xác chết.
  • Thành Balk ở Afghanistan cũng chung số phận: già trẻ lớn bé đều bị bắt xếp hàng 10, hàng 100 như quân đội, rồi lính Mông Cổ cầm dao, cầm giáo giết từng loạt.

Nhiều công trình nghệ thuật, những thư viện phong phú, cung điện và giáo đường ở Trung Á cũng bị tàn phá nặng nề trong cuộc chinh phạt của Thành Cát Tư Hãn.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc cũng chịu sự tàn sát kinh hoàng của quân Mông Cổ. Trong thời gian đế quốc Mông Cổ chinh phục Tây Hạ, Kim và Nam Tống (từ 1211 tới 1279), quân Mông Cổ thường hay tiến hành tàn sát và cướp bóc trên quy mô lớn[16]:

  • Năm 1214, sau 3 năm tàn phá nước Kim, Thành Cát Tư Hãn cho rút quân về Mông Cổ, bắt đi hàng vạn tù binh và chiến lợi phẩm, nhưng số tù binh này đã không còn đủ sức vượt qua sa mạc Gobi. Trước thực tế ấy, Thành Cát Tư Hãn cho chọn lại những nho sĩ, nghệ sĩ và thợ giỏi, số còn lại đều bị giết.
  • Tháng 4 năm 1215, quân Mông Cổ sau khi đánh hạ Trung Đô của nước Kim đã tàn sát dân chúng, đốt phá khắp nơi. Ngoài 5 vạn quân Kim, đã có khoảng 50 vạn dân chúng bị giết. 10 vạn phụ nữ lên thành nhảy xuống tự tử vì sợ bị hãm hiếp. Trong 3 tháng, thành Trung Đô vẫn còn bốc cháy.
  • Năm 1227, sau khi đánh bại các lực lượng Tây Hạ và tàn sát kinh đô của họ, Thành Cát Tư Hãn để lại di chiếu hạ lệnh hành quyết toàn bộ hoàng tộc Tây Hạ để trừng phạt việc họ dám thách thức ông.
  • Sau khi nhà Kim diệt vong năm 1234, khu vực Hoa Bắc ước tính có 1,1 triệu hộ với 6 triệu người, chỉ bằng 13% so với mức 53,5 triệu người vào năm 1208.[17]
  • Trước khi người Mông Cổ xâm lược, Trung Quốc có khoảng 100 triệu dân; sau khi hoàn thành việc xâm lấn năm 1279, điều tra dân số năm 1290 cho thấy chỉ còn khoảng 58,8 triệu dân.

Từ các số liệu dân số trên, nhiều học giả cho rằng chính quân Mông Cổ đã gây ra nguyên nhân cái chết của ít nhất 40 triệu người Trung Quốc, khoảng 1/3 trong số đó là dưới tay của Thành Cát Tư Hãn (giai đoạn 1211-1227).

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Phụ mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Thê thiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Cát Tư Hãn có khoảng 40 thê thiếp, sống trong 4 "Oát nhi đóa":

Đệ nhất Oát Nhi Đóa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Hoàng hậu Bột Nhi Thiếp (孛兒帖; tiếng Mông Cổ: ᠪᠥᠷᠲᠡ, Chuyển tự Latinh: Börte, chữ Mông Cổ: Бөртэ; 1161 - 1236), Hoằng Cát Lạt thị (弘吉剌氏; Хонгирад; Onggirat). Năm 1206 lập làm Hoàng hậu. Năm 1266 được truy thụy Quang Hiến Hoàng hậu (光献皇后). Năm 1310 được thêm thụy, trở thành Quang Hiến Dực Thánh Hoàng hậu (光献翼圣皇后).
  • Hoàng hậu Hốt Lỗ Hồn (忽鲁浑皇后; Хулухун хатан)
  • Hoàng hậu Khoát Lý Kiệt (闊里桀皇后; Хөлигэ хатан)
  • Hoàng hậu Thoát Hốt Tư (脱忽思皇后; Төгс хатан)
  • Hoàng hậu Thiếp Mộc Luân (帖木倫皇后; Тэмүлүн хатан)
  • Hoàng hậu Diệc Liên Chân Bát Lạt (亦憐真八剌皇后; Ринчинбал хатан)
  • Hoàng hậu Bất Nhan Hỗn Thốc (不顏渾禿皇后; Буян хутуг[18])
  • Cung phi Hỗn Thắng Hải (忽勝海妃子; Хушэнхай татвар)

Đệ nhị Oát Nhi Đóa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhị hoàng hậu Hốt Lan (忽蘭; tiếng Mông Cổ: ᠬᠤᠯᠠᠨ, Chuyển tự Latinh: qulan, chữ Mông Cổ: Хулан), Miệt Nhĩ thị (蔑兒乞氏; Мэргид; Merkit).
  • Hoàng hậu Cáp Nhi Bát Chân (哈儿八真皇后; Харбажин хатан) hay Hoàng hậu Cổ Nhi Biệt Tốc (古儿别速)
  • Hoàng hậu Diệc Khất Lặc Chân (亦乞剌真皇后; Ихиржин хатан)
  • Hoàng hậu Thoát Hốt Tư (脱忽思皇后; Төгс хатан)
  • Cung phi Dã Chân (也真妃子; Ижин татвар эм)
  • Cung phi Dã Lý Hốt Thốc (也里忽秃妃子; Илихутуг татвар эм)
  • Cung phi Sát Chân (察真妃子; Чажин татвар эм)
  • Cung phi Cát Lạp Chân (哈剌真妃子; Харжин татвар эм)

Đệ tam Oát Nhi Đóa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tam hoàng hậu Dã Toại (也遂皇后; Есүй хатан), Thát Đát thị (塔塔儿氏; Татарын).
  • Hoàng hậu Dã Tốc Can (也速干皇后; Есүгэн хатан). Chị gái Hoàng hậu Dã Toại.
  • Hoàng hậu Hốt Lỗ Cáp Lạt (忽鲁哈剌皇后; Хурхар хатан)
  • Hoàng hậu A Thất Luân (阿失伦皇后; Ашилун хатан)
  • Hoàng hậu Thốc Nhi Cáp Lạt (秃儿哈剌皇后; Турхал хатан)
  • Hoàng hậu Sát Hợp (察儿皇后; Чар хатан). Công chúa Tây Hạ, con gái của Tây Hạ Tương Tông Lý An Toàn.
  • Hoàng hậu A Tích Mê Thất (阿昔迷失皇后; Ашимиши хатан)
  • Hoàng hậu Hoàn Giả Hốt Đô (完者忽都皇后; Өлзийхуту хатан)
  • Cung phi Lạt Bá (剌伯妃子; Лавай татвар эм)
  • Cung phi Khố Nhĩ Hồ Đại (Хурхудай татвар эм)
  • Cung phi Hốt Lỗ Khôi (忽鲁灰妃子; Хулуху татвар эм)

Đệ tứ Oát Nhi Đóa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Công chúa Hoàng hậu (公主皇后; Гүнж хатан); Hoàn Nhan thị (完顏氏). Kỳ Quốc Công chúa của Nhà Kim, con gái của Vệ Thiệu vương Hoàn Nhan Vĩnh Tế. Địa vị đứng thứ 4. Vì thân phận cao quý mà được xưng "Công chúa Hoàng hậu". Có tài liệu cho rằng bà được Thành Cát Tư Hãn ban cho riêng một Oát Nhi Đóa, còn người đứng đầu Đệ tứ Oát Nhi Đóa là Hoàng hậu Dã Tốc Can.
  • Hoàng hậu Hợp Đáp An (合答安皇后; Хадаан хатан); Tốc Lặc Tốn Đô thị (速勒逊都氏; Сүлдүсний)
  • Hoàng hậu Oát Giả Hốt Tư (斡者忽思皇后; Үзэхүс хатан)
  • Hoàng hậu Yến Lý (燕里皇后; Яньли хатан)
  • Cung phi Thốc Cai (秃干妃子; Туган татвар)
  • Cung phi Hoàn Giả (完者妃子; Өлзий татвар)
  • Cung phi Kim Liên (金莲妃子; Жинлян татвар)
  • Cung phi Hoàn Giả Đài (完者台妃子; Өлзийтэй татвар)
  • Cung phi Nô Luân (奴伦妃子; Нурун татвар)
  • Cung phi Mão Chân (卯真妃子; Мажин татвар)
  • Cung phi Tỏa Lang Cáp (锁郎哈妃子; Суранхай татвар эм)

Các Hoàng hậu khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Diệc Ba Hợp Biệt Khất (亦巴合別乞; Ибага бэхи); Khắc Liệt thị (克烈氏; Хэрээдийн). Con gái của Trát Hợp Cảm Bất (札合敢不; Жаха Хамбу), chị gái của Toa Lỗ Hòa Thiếp Ni - Hoàng hậu của Đà Lôi, mẹ của Hốt Tất Liệt. Năm 1206, bà được Thành Cát Tư Hãn tặng cho Vữu Nhĩ Cơ Đức (尤尔基德; Жүрчидэй баатарт) của bộ lạc Ô Lỗ Đức (乌鲁德; Уруд).
  • Hoàng hậu Mạc Cách (Мөгэ хатан), sau trở thành Hoàng hậu của Oa Khoát Đài.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau mỗi cuộc chiến, Thành Cát Tư Hãn đều bắt và cưỡng bức những cô gái đẹp nhất tại vùng đất vừa chiếm đóng. Vì vậy ông có thế có hàng trăm người con rải rác trên khắp các vùng đất ông đi qua. Dưới đây chỉ là những người con được ghi nhận chính thức của ông.

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

(8 người, 4 người đầu tiên là đích tử do Đại hoàng hậu Bột Nhi Thiếp sinh ra)

  1. Truật Xích (术赤, tiếng Mông Cổ: ᠵᠥᠴᠢ, Chuyển tự Latinh: J̌öci, chữ Mông Cổ: Зүчи; 1181 - 1227), Hãn của Hãn quốc Kim Trướng.
  2. Sát Hợp Đài (察合台, tiếng Mông Cổ: ᠴᠠᠭᠠᠲᠠᠢ, Chuyển tự Latinh: Čaγatai, chữ Mông Cổ: Цагадай; 1183 - 1242), Hãn của Hãn quốc Sát Hợp Đài.
  3. Oa Khoát Đài (窩闊台, tiếng Mông Cổ: ᠣᠭᠡᠳᠡᠢ
    ᠬᠠᠭᠠᠨ
    , Chuyển tự Latinh: Ögedei qaγan, chữ Mông Cổ: Өгөдэй хаан; 1186 - 1241), Đại Hãn thứ 2 của đế quốc Mông Cổ và là cha của Quý Do - Đại Hãn thứ 3 của Mông Cổ.
  4. Đà Lôi (拖雷, tiếng Mông Cổ: ᠲᠤᠯᠤᠢ, Chuyển tự Latinh: Tului, chữ Mông Cổ: Тулуй; 1191 - 1232). Làm Giám quốc trong 2 năm (1227-1229). Là cha của Húc Liệt Ngột - Hãn của Hãn quốc Y Nhi, và 3 Đại Hãn Mông Cổ là Mông Kha, Hốt Tất Liệt và A Lý Bất Ca (tranh ngôi Đại Hãn với Hốt Tất Liệt).
  5. Khoát Liệt Kiên (阔列坚, Хүлгэн ноён; ? - 1238), mẹ là Hốt Lan. Cùng đãi ngộ với 4 đích tử. Con trai ông là Hốt Sát (忽察) được phong Hà Gian vương, hậu duệ trở thành An Định vương.
  6. Ngột Lỗ Xích (兀鲁赤, Үрүчи; 1195 - 1211 ~ 1213), không rõ mẹ. Mất sớm.
  7. Sát Ngột Nhi (察兀儿, Харачар), mẹ là Dã Tốc Can. Mất sớm.
  8. Thuật Nhi Triệt (术儿彻, Журчидай), mẹ là một phụ nữ Nãi Man, có khả năng là Hoàng hậu Cổ Nhi Biệt Tốc.

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

(5 người, đều do Đại hoàng hậu Bột Nhi Thiếp sinh ra)

  1. Hỏa Thần Biệt Các (火臣别吉, tiếng Mông Cổ: ᠬᠣᠵᠢᠨ
    ᠪᠡᠬᠢ
    , Chuyển tự Latinh: Qoǰin Beqi, chữ Mông Cổ: Хожин бэхи) còn được dịch là Khoát Chân Biệt Khấc (豁真别乞). Ban đầu được hứa gả cho Ngốc Tát Hợp - cháu nội của Thoát Lý. Tuy nhiên hoán thân không thành. Cuối cùng, bà được gả làm Kế thất cho Bột Ngốc (孛秃) - con trai của Diệc Khấc Liệt Tư bộ Niết Quần. Năm 1321 được truy phong Xương Quốc Đại Trưởng Công chúa.
  2. Đồ Đồ Can (阇阇干, tiếng Mông Cổ: ᠴᠡᠴᠡᠢᠢᠬᠡᠨ, chữ Mông Cổ: Цэцэйхэн) còn được dịch là Xả Xả Can (扯扯干) hay Xả Xả Diệc Can (扯扯亦坚), Khoát Khoát Can (阔阔干), gả cho Thoát Liệt Lặc Xích (脱劣勒赤), con trai của Hốt Đô Hợp Biệt Khấc - thủ lĩnh của Oát Diệc Lạc bộ, một bộ lạc kết minh với Thành Cát Tư Hãn. Sau khi kết hôn, Thành Cát Tư Hãn giao cho bà quản lý Oát Diệc Lạc. Bà cùng các chị em của mình đã cùng nhau khống chế một phần quan trọng của Con đường tơ lụa. Bà được phong làm Duyên An Công chúa.
    • Con trai:
      1. Bất Hoa Thiếp Mộc Nhi (不花帖木儿)
      2. Bát Lập Thác (八立托)
      3. Ba Nhi Tư Bất Hoa (巴儿思不花)
    • Con gái:
      1. Ngột Lỗ Hốt Nãi (兀鲁忽乃)
  3. A Lạt Hải Biệt Các (阿剌海别吉, tiếng Mông Cổ: ᠠᠯᠠᠭ᠎ᠠ
    ᠪᠡᠬᠢ
    , Chuyển tự Latinh: Alaγa Beqi, chữ Mông Cổ: Алага бэхи) hay A Lạt Hợp Biệt Khấc (阿剌合·别乞), được gả cho Uông Cổ bộ. Vì bà chưởng quản Uông Cổ bộ mà được xưng là "Giám quốc Công chúa" (国公主的, Төр захирагч гүнж). Bà thống lĩnh Uông Cổ bộ 20 năm. Năm 1305 được truy phong làm Tề Quốc Đại Trưởng Công chúa. Năm 1311 được gia phong Triệu Quốc Đại Trưởng Công chúa.
  4. Ngốc Mãn Luân (秃满伦, tiếng Mông Cổ: ᠲᠦᠮᠡᠯᠦᠨ, Chuyển tự Latinh: Tümelün, chữ Mông Cổ: Түмэлүн) hay Ngốc Mã Luân (秃马伦), gả cho Xích Cổ của Hoàng Cát Lạt bộ. Năm 1236 được truy phong làm Vận Quốc Công chúa (郓国公主, Юань улсын гүнж).
  5. A Lặc Tháp Luân (阿勒塔伦, Алталун) hay A Lặc Tháp Lỗ Hãn (阿勒塔鲁罕), A Nhi Đáp Lỗ Hắc (阿儿答鲁黑), Án Tháp Luân (按塔伦), gả cho Tháp Suất (塔出) của Oát Lặc Hốt Nột Ngột Dịch bộ - nhà ngoại của Thành Cát Tư Hãn.
    • Con trai: Thuật Chân Bá (术真伯) hay Trát Ngột Nhi Tiết Thiện (扎兀儿薛禅), lần lượt cưới 2 con gái của Nguyên Hiến Tông Mông Kha là Thất Lân Công chúa và Tất Xích Hợp Công chúa.

Người "truyền giống"[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nghiên cứu mẫu gene của 16 dân tộc ở châu Á, chương trình nghiên cứu gene của ĐH Leicester (Anh) tin rằng, có tới 16 triệu hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn còn sống tới ngày nay. Điều này đồng nghĩa ông đã phải "gây giống" cho hàng ngàn phụ nữ.

Theo một số tư liệu, Thành Cát Tư Hãn có một chính sách rất đặc biệt: thu phục và bắt giữ tất cả những cô gái xinh đẹp nhất ở mỗi vùng đất mà ông chiếm đóng. Với mỗi lần hành quân trở về, Thành Cát Tư Hãn cùng các tướng tá khác ngồi trong lều, ăn một mâm đầy thịt ngựa và xem mặt những cô gái tù binh.

Thành Cát Tư Hãn được chọn lựa mỹ nữ trước tiên và tiêu chí hàng đầu của ông là mũi nhỏ, hông trái lê, tóc dài như suối, môi đỏ như hoa hồng và giọng nói trong trẻo như tiếng chim ca. Cô nào không đạt yêu cầu sẽ bị đẩy xuống cho binh sĩ cấp dưới.

Một lần nọ, một tướng của Thành Cát Tư Hãn tranh cãi với minh chủ của mình ở đời điều gì là thú vị nhất. Đại đa số người có mặt trong lều cho rằng thú nuôi chim ưng là tuyệt vời nhất. Cần biết rằng Thành Cát Tư Hãn sở hữu tới 800 con chim ưng các loại. Nhưng Thành Cát Tư Hãn đứng lên và dõng dạc tuyên bố: "Thú vui lớn nhất đời ta là chinh phục quân thù, đuổi chúng chạy bán sống bán chết, cướp hết tài sản, xem chúng khóc lóc xin tha mạng, cưỡi ngựa của chúng và véo mông những bà vợ, cô gái xinh đẹp" - theo tác giả Christopher Hudson từ báo Daily Mail.

Dù vậy nhiều nhà di truyền cho rằng con số 16 triệu người sống trải dài từ Trung Quốc tới Trung Đông có chung gene với Thành Cát Tư Hãn là điều không thể. Dù ông có thể "năng suất" nhưng con số này là quá lớn với một người bình thường.

Nhiều sử gia thì cho rằng con số 16 triệu là chính xác với phạm vi ảnh hưởng của Thành Cát Tư Hãn trong thế kỷ 13. Cần nhớ rằng ông đã lãnh đạo đội quân Mông Cổ thiện chiến tới những vùng xa xôi nhất của châu Âu, giết hại quân thù và bắt cóc rất nhiều phụ nữ đẹp.

Thành Cát Tư Hãn trong thế giới hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận thức về ông[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Cát Tư Hãn là nhân vật bị phân cực nhiều nhất trong cách đánh giá của người phương Đông và phương Tây. Ở phương Tây và Trung Đông, hình ảnh của ông không được tích cực lắm vì ông đã giết quá nhiều người cũng như là mối đe dọa đối với cuộc sống và tài sản của họ. Tuy nhiên, ở phương Đông thì ông là một trong những lãnh tụ có ảnh hưởng to lớn đối với lịch sử. Ngày nay, những người Mông Cổ tìm thấy ở ông như là người sáng lập ra và thống nhất Mông Cổ, là điều mà họ không thể có được trước khi có ông. Ngược lại, ở Trung Đông, người ta có cách đánh giá hơi pha trộn về ông và các hậu duệ của ông vì quân đội của họ đã xâm chiếm và tiêu hủy thành Baghdad, nhưng cuối cùng thì một số trong quân đội Mông Cổ đã chuyển sang theo đạo Hồi và có cuộc sống pha trộn với dân bản xứ. Một số trường phái và các nhà khoa học, phụ thuộc vào gốc gác của họ, cho rằng những người Mông Cổ là những người xây dựng hay những kẻ hủy diệt vĩ đại nhất.

Thành Cát Tư Hãn và những người Mông Cổ là một trong những chủ đề trái ngược nhau theo các cách hiểu khác nhau tùy theo vị trí mà ta xem xét, trong đó tiêu cực nhất là từ châu Âu và Trung Đông là những nơi đã từng bị đe dọa và tiêu diệt như Ba Lan, Hungary, một phần của Nga.

Sự nhìn nhận mâu thuẫn về Thành Cát Tư Hãn ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày nay bởi vì các nhà sử học Trung Quốc vừa nhìn thấy ở ông mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực. Trong khi người ta nhận thức được những tổn thất nặng nề mà ông gây ra, thì hình ảnh của ông trong một phương diện nào đó lại được nhìn nhận tốt hơn do ông đã kết thúc sự chia rẽ bắc-nam Trung Hoa có từ thời Nhà Tống đi vào dĩ vãng. Bên cạnh đó, sự phỉ báng Thành Cát Tư Hãn là một sự xúc phạm ghê gớm đối với các công dân Trung Quốc có nguồn gốc Mông Cổ, là những người coi Thành Cát Tư Hãn như một người anh hùng dân tộc trong khi xu hướng lịch sử Trung Quốc hiện đại tránh nói tới điều đó.

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Các hậu duệ của ông đã mở rộng quốc gia của ông rộng hơn về phía nam Trung Quốc, Nga, Iraq, Triều Tiên và Tây Tạng. Người Mông Cổ cuối cùng đã xâm chiếm Ba Lan và Hungary dưới triều đại của Bạt Đô nhưng hoàn toàn thất bại trong các cuộc xâm lược Syria, Nhật BảnViệt Nam vì thời tiết như đối với các cuộc xâm lược Nhật Bản; vì khí hậu nóng bức, nhất là ở Trung Đông như Ả Rập Xê Út; vì khó khăn do địa hình rừng núi và mạng lưới sông ngòi dày đặc cùng với chiến thuật "vườn không nhà trống" của Việt Nam trong suốt ba cuộc xâm lược. Việc mở rộng về phía châu Âu bị ngừng lại do nhiều lý do như các thành viên cao cấp của người Mông Cổ phải quay về Mông Cổ để bầu đại hãn mới hay do sự kháng cự của người châu Âu quá mạnh. Nếu không gặp những trở ngại này, người Mông Cổ đã có thể xâm chiếm toàn bộ châu Âu như họ đã xâm chiếm Ba Lan và Hungary chỉ trong thời gian khoảng một vài tháng. Đế chế Mông Cổ đạt tới cực đại của nó vào thời của cháu nội ông, đại hãn Hốt Tất Liệt, vua triều Nguyên, nhưng sau đó đã bị chia sẻ thành nhiều hãn quốc nhỏ và ít sức mạnh hơn.

Vào thời cực thịnh, Đế chế Mông Cổ đạt tới diện tích lớn nhất trong lịch sử loài người, trải dài từ Đông Nam Á tới châu Âu trên một diện tích 35 triệu km vuông (13,8 triệu dặm vuông). Theo một số nguồn, đế chế này chiếm tới gần 50% dân số thế giới và bao gồm các dân tộc đông dân và văn minh nhất thời kỳ đó như Trung Quốc và phần lớn các quốc gia của thế giới Hồi giáo ở Iraq, Ba Tư và Tiểu Á.

Không thể phủ nhận là những cuộc chiến tranh của Thành Cát Tư Hãn được đặc trưng bởi sự phá hủy toàn bộ với một mức độ chưa hề có cũng như sự thay đổi lớn trong phân bố dân cư châu Á.[19][20] Theo như các số liệu của các nhà sử học Iran như Rashid-ad-Din Fadl Allah, thì người Mông Cổ đã giết khoảng trên 70.000 dân ở Merv và trên một triệu dân ở Nishapur. Trung Quốc cũng chịu sự suy giảm bi thảm về dân số. Trước khi người Mông Cổ xâm lược Trung Quốc có khoảng 100 triệu dân; sau khi hoàn thành việc xâm lấn năm 1279, điều tra dân số năm 1300 cho thấy chỉ còn khoảng 60 triệu dân. Điều này không có nghĩa là quân đội của Thành Cát Tư Hãn phải chịu trách nhiệm trực tiếp đối với cái chết của 40 triệu người nhưng nó cho thấy mức độ của sự tàn bạo trong các cuộc giao tranh.

Trong thời gian gần đây, Thành Cát Tư Hãn đã trở thành biểu tượng của những cố gắng vươn tới của người Mông Cổ để thế giới thấy được hình ảnh của họ sau những năm dài ngủ quên. Hình ảnh Thành Cát Tư Hãn xuất hiện trên những đồng tiền Mông Cổ và nhãn mác của các loại rượu mạnh. Trong thế giới phương Tây ông thường được gắn với sự khát máu và man rợ. Các hãn Mông Cổ sau này cổ vũ dân chúng tưởng niệm tới ông như một vị thánh thần tôn giáo trong toàn đế chế. Không có Thành Cát Tư Hãn có lẽ đã không có Mông Cổ, bởi vì đế chế Mông Cổ đã co lại từ vương quốc mà Thành Cát Tư Hãn đã dựng lên từ năm 1206. Sự miêu tả có ý nghĩa về Thành Cát Tư Hãn và những người Mông Cổ (dẫu cho không phải thực tế lắm) được viết trong cuốn sách "Những bí mật của lịch sử Mông Cổ".

Cuộc thẩm tra di truyền gần đây[21] tìm thấy các đoạn nhiễm sắc thể Y với những đặc trưng không bình thường trong 8% đàn ông trong khu vực thuộc đế chế Mông Cổ và 0,5% đàn ông trên thế giới. Tuổi của các đoạn này, tương ứng với tỷ lệ của sự biến đổi, đã đưa nguồn gốc của chúng về thời đại của Thành Cát Tư Hãn, và nó đặc biệt là chung trong những người Hazara, là những người tự nhận là hậu duệ của ông.

Ông được nhớ đến vì sự hủy diệt toàn bộ, sức mạnh ý chí mãnh liệt, khả năng thuyết phục và đặc trưng Mông Cổ của mình đối với mọi người.

Thành Cát Tư Hãn trong đời sống văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu thuyết hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Cát Tư Hãn được tiểu thuyết hoá trở thành một nhân vật trong truyện kiếm hiệp Anh hùng xạ điêu của Kim Dung. Theo truyện này, ông rất yêu quý nhân vật chính Quách Tĩnh, từng hứa gả con gái Hoa Tranh cho chàng, phong cho chàng tước Kim Đao phò mã. Thành Cát Tư Hãn cũng là người bức tử Lý Bình, mẹ của Quách Tĩnh. Trong truyện, Thành Cát Tư Hãn mất sau khi nói chuyện với Quách Tĩnh trên thảo nguyên.

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Diễn viên vai
Thành Cát Tư Hãn
Đạo diễn Ghi chú
1950 Thành Cát Tư Hãn Manuel Conde Manuel Conde, Lou Salvador
2007 Mongol: The Rise of Genghis Khan Tadanobu Asano Sergei Bodrov Phim được đề cử Giải Oscar cho Phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất năm 2007

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Cát Tư Hãn 2004 do diễn viên người Nội Mông là Ba Sâm (tên Mông Cổ là Batdorj-in Baasanjab, hậu duệ của Sát Hợp Đài, con thứ hai của Thành Cát Tư Hãn) trong vai Thành Cát Tư Hãn.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1979, nhóm nhạc Nhật Bản Berryz Koubou cho ra mắt đĩa đơn Dschinghis Khan. Bài hát nói về sự dũng mãnh đến đáng sợ của quân đội Mông Cổ lãnh đạo bởi Thành Cát Tư Hãn và được đánh giá rất cao bởi âm điệu bắt tai người nghe. Năm 2016, Miike Snow cũng cho ra mắt MV Genghis Khan và gây được tiếng vang cho sự nghiệp của anh. Đó còn chưa kể đến những bản dân ca vốn đã được truyền tụng của người Mông Cổ.

Trò chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc đời và những thành quả của ông và các thế hệ sau khi ông qua đời từ lúc khởi đầu cho tới lúc xâm chiếm được Hungary đã được mô phỏng lại trong game dàn trận chiến thuật Age of Empires II, chế độ chơi Chiến dịch (Campaign).

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sử gia người Ba Tư Rashid al-Din cho rằng Thành Cát Tư Hãn sống tới 72 tuổi, và như thế năm sinh của ông là 1155. Nguyên sử (元史) quyển 1 - Bản kỷ 1: Thái Tổ ghi năm sinh của ông là 1162. Theo Ratchnevsky, việc chấp nhận năm sinh là 1155 nghĩa là Thành Cát Tư Hãn làm cha khi khoảng 30 tuổi và có thể hàm ý rằng ông tự mình chỉ huy cuộc chiến chống lại người Đảng Hạng ở độ tuổi 72. Ngoài ra, theo Altan Tobci, em gái của Thành Cát Tư Hãn là Thiết Mộc Lôn (Temülin) ít hơn ông 9 tuổi; nhưng Bí sử Mông Cổ thuật lại rằng Thiết Mộc Lôn là một đứa trẻ còn ẵm ngửa khi người Miệt Nhi Khất (Merkit) tấn công, khi đó Thành Cát Tư Hãn sẽ khoảng 18 tuổi, nếu như ông sinh năm 1155. Zhao Hong thông báo trong nhật ký hành trình của mình rằng những người Mông Cổ ông hỏi đều không biết và không bao giờ biết tuổi của họ.
  2. ^ Top sự thật gây sốc về tội ác Thành Cát Tư Hãn
  3. ^ Chapitre 1: «Gengis Khan» dans Gengis Khan et l'Empire mongol de Jean-Paul Roux, Découvertes Gallimard, 2002.
  4. ^ Gia tộc Borjigin là gia tộc lâu đời của Mông Cổ, sống quanh vùng núi Burkhan Khaldun. Các thủ lĩnh của gia tộc này là: Kharchu, Borjigidai Mergen, Dobun Mergen, Butunchar Munkhag, Nữ hoàng Monolun (1000 - 1055), Khaidu (1040-1100), Tumbinai Setsen (1100 - 1130), Khabul Khan (1130 - 1146), Ambaghai Khan (1148 - 1156), Hotula Khan (1156 - 1160), Yesükhei (1160 - 1171), Genghis Khan: 1171 - 1206
  5. ^ Morgan David (1990). The Mongols (Peoples of Europe). tr. 58.
  6. ^ Theo Mông Cổ bí sử
  7. ^ Tuổi lấy vợ theo truyền thống Mông Cổ
  8. ^ The secret history of Mongols: A Mongolian epic chronicle of thirteen century, Igor de Rachewiltz (2015), chapter 2, p.18
  9. ^ “The Emperors of Emperors”. Đại học bang California, Chico. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2008.
  10. ^ Man John (2004). Genghis Khan: Life, Death and Resurrection. Luân Đôn; New York: Bantam Press. ISBN 0-593-05044-4.
  11. ^ De Hartog Leo (1988). Genghis Khan: Conqueror of the World. Luân Đôn, UK: I.B. Tauris. Trang 122–123.
  12. ^ Kiến thức ngày nay số 707, Di chúc của Thành Cát Tư Hãn trang 23
  13. ^ www.guardian.co.uk
  14. ^ 10 điều ít biết về thủ lĩnh Mông Cổ Thành Cát Tư Hãn khét tiếng
  15. ^ Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên-mông thế kỷ XIII, Sđd, tr.47-48
  16. ^ 清朝光绪年间《潼川府志》卷五所载明人王维贤《九贤祠记》
  17. ^ 《中国人口发展史》,第201页和第211页。 作者:葛剑雄 福建人民出版社,1991年出版。
  18. ^ хутуг tức Khả đôn, tương đương với Hoàng hậu
  19. ^ (tiếng Anh) Ahmad Kamron Jabbari; "The Legacy of Genghis Khan" at Los Angeles County Museum of Art--again; Payvand.com; 14 juin 2003
  20. ^ (tiếng Anh) Azar Mahloujian; Phoenix From the Ashes: A Tale of the Book in Iran; Iran Chamber Society, 2002
  21. ^ Tatiana Zerjal et al. 2003,Các trang báo dạng *.pdf: The Genetic Legacy of the Mongols bản lưu 20/9/2003

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn thứ cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Cát Tư Hãn
Sinh: , khoảng 1162 Mất: , 1227
Tước hiệu
Tiền nhiệm
(Không)
Khả Hãn của Đế quốc Mông Cổ
1206–1227
Kế nhiệm
Đà Lôi
(nhiếp chính)
Sửa Khả hãn của Đế quốc Mông Cổ
Thành Cát Tư Hãn (1206-1227) | Đà Lôi (nhiếp chính) (1227-1229) | Oa Khoát Đài (1229-1241) | Nãi Mã Chân (nhiếp chính) (1241-1245) | Quý Do (1246-1248) | Hải Mê Thất (nhiếp chính) (1248-1251)| Mông Kha (1251-1259) | Hốt Tất Liệt (1260-1294)
Hốt Tất LiệtMông KhaOghul GhaymishQuý DoBột Lạt Cáp ChânOa Khoát ĐàiĐà LôiThành Cát Tư Hãn