Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.

Thành Cát Tư Hãn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Thành Cát Tư Hãn
成吉思汗 Cinggis qagan.svg
Đại Hãn của đế quốc Mông Cổ
YuanEmperorAlbumGenghisPortrait.jpg
Chân dung Thành Cát Tư Hãn.
Tranh vẽ trên lụa, trích album về dòng dõi Nhà Nguyên, lưu trữ tại Bảo tàng Cố cung Quốc lập tại Đài Loan
Đại Hãn đế quốc Mông Cổ
Trị vì12061227
Đăng quangnăm 1206
tại hội nghị Khố Lý Đài trên sông Oát Nan, Mông Cổ
Kế nhiệm Oa Khoát Đài
Thông tin chung
Tên đầy đủ
Thiết Mộc Chân (鐵木真(ᠲᠡᠮᠦᠵᠢᠨ)
Thụy hiệu
Pháp Thiên Khải Vận Thánh Vũ Hoàng Đế
(法天啟運聖武皇帝)
Miếu hiệu
Thái Tổ (太祖)
Tước hiệuThành Cát Tư Hãn (成吉思汗, Cinggis qagan.svg).
Hoàng tộcBột Nhi Chỉ Cân (Bác Nhĩ Tề Cát Đặc)
Thân phụDã Tốc Cai
Thân mẫuHạ Ngạch Luân
Sinh1162
Dãy núi Khentii, Mông Cổ
Mất(1227-08-18)18 tháng 8 năm 1227 (65 tuổi)
An tángKhông rõ

Thành Cát Tư Hãn (tiếng Mông Cổ: ᠴᠢᠩᠭᠢᠰ
ᠬᠠᠭᠠᠨ
, Chuyển tự Latinh: Činggis qaγan, Âm dịch chữ Hán: 成吉思汗, chữ Mông Cổ: Чингис хаан, Çingis hán; tiếng Mông Cổ: [tʃiŋɡɪs xaːŋ] (); 1162[1] - 1227) là một Khả Hãn Mông Cổ và là người sáng lập ra đế quốc Mông Cổ sau khi hợp nhất các bộ lạc độc lập ở vùng Đông Bắc Á năm 1206.

Ông là một trong những nhà quân sự lỗi lạc và có ảnh hưởng nhất lịch sử thế giới, được người Mông Cổ kính trọng, như là vị lãnh đạo mang lại sự thống nhất cho Mông Cổ. Cháu nội của ông và là người kế tục sau này, Hốt Tất Liệt lập ra nhà Nguyên của Trung Quốc. Tháng 10 năm Chí Nguyên thứ 3 (1266), Hốt Tất Liệt truy tôn Thành Cát Tư Hãn miếu hiệu là Thái Tổ, nên ông còn được gọi là Nguyên Thái Tổ. Thụy hiệu khi đó truy tôn là Thánh Vũ Hoàng đế. Tới năm Chí Đại thứ 2 (1309), Nguyên Vũ Tông gia thụy thành Pháp Thiên Khải Vận. Từ đó thụy hiệu của ông là Pháp Thiên Khải Vận Thánh Vũ Hoàng đế.

Các cuộc chinh phạt của Thành Cát Tư Hãn trên khắp khu vực Á - Âu để bành trướng lãnh thổ đã đem lại sự thống nhất và phát triển giao lưu buôn bán, đồng thời ông cũng thi hành chính sách tự do tôn giáo. Tuy nhiên, Thành Cát Tư Hãn cũng nổi tiếng bởi sự tàn bạo với những người chống đối. Thành Cát Tư Hãn bị nhiều dân tộc coi là hiện thân của sự tàn bạo, nhất là từ Trung Á, Đông ÂuTrung Đông (là những nơi đã từng bị quân đội Mông Cổ thảm sát hàng loạt). Theo ước tính, đội quân của Thành Cát Tư Hãn đã giết hơn 40 triệu người tại các lãnh thổ mà họ xâm chiếm[2].

Có rất nhiều nhân vật nổi tiếng được cho là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, như Timur Lenk, kẻ chinh phục dân Thổ Nhĩ Kỳ; Babur, người sáng lập ra đế quốc Mông Cổ trong lịch sử Ấn Độ. Những hậu duệ khác của Thành Cát Tư Hãn còn tiếp tục cai trị Mông Cổ đến thế kỷ XVII cho đến khi bị đế quốc Đại Thanh của người Mãn Châu thống trị lại.

Thời kỳ đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Tên thật của ông là Thiết Mộc Chân (tiếng Mông Cổ: ᠲᠡᠮᠦᠵᠢᠨ, Chuyển tự Latinh: Temüǰin, Mông Cổ bí sử ký âm: 帖木真, chữ Mông Cổ: Тэмүжин), sinh năm 1162 (dù có nguồn cho rằng ông sinh năm 1155),[3] thuộc gia tộc Bột Nhi Chỉ Cân[4] (tiếng Mông Cổ: ᠪᠣᠷᠵᠢᠭᠢᠨ, Chuyển tự Latinh: Borǰigin, Mông Cổ bí sử ký âm: 孛儿只斤, chữ Mông Cổ: Боржигин/Борджигин). Ông là con trai cả của Dã Tốc Cai, thủ lĩnh của bộ lạc Khất Nhan[5] với bà Hạ Ngạch Luân từ bộ lạc Oát Lặc Hốt Nột. Vào thời điểm bà Hạ Ngạch Luân mang thai ông, một thủ lĩnh dũng cảm người Thát Đát đã bị cha ông đánh bại tên là Thiết Mộc Chân Ngột Cách. Theo truyền thống trên thảo nguyên, người cha sẽ lấy tên vị tướng quân mà mình đã đánh bại để đặt tên cho con. Đó có thể là lý do khả dĩ nhất cho nguồn gốc cái tên Thiết Mộc Chân của ông.[6] Trong tiếng Mông Cổ, Thiết Mộc Chân có nghĩa là "sắt".

Thiết Mộc Chân có 3 em trai là Cáp Tát Nhĩ, Hợp Xích Ôn, Thiết Mộc Cách và em gái Thiết Mộc Luân, cùng hai em cùng cha khác mẹ là Biệt Khắc Thiếp Nhĩ và Biệt Lặc Cổ Đài do vợ thứ của Dã Tốc Cai là sinh ra.

Khi Thiết Mộc Chân lên 9 tuổi, Dã Tốc Cai đưa ông về bộ lạc bên ngoại Oát Lặc Hốt Nột để hỏi con gái của một người họ hàng làm vợ tương lai cho ông. Đoàn của Dã Tốc Cai trên đường đi thì gặp tộc trưởng bộ lạc Hoằng Cát Lạt. Ông này ngay lập tức quý mến Thiết Mộc Chân và kể cho Dã Tốc Cai về một giấc mơ của ông ta rằng một con đại bàng trắng đã cắp mặt trời và mặt trăng đưa cho ông ta, tin rằng Thiết Mộc Chân đến gặp ông ta là một điềm lành[7], liền hỏi cưới con gái mình là Bật Tê cho Thiết Mộc Chân nhưng yêu cầu Dã Tốc Cai để cậu bé ở rể đến khi đủ 12 tuổi[8]. Dã Tốc Cai đồng ý và quay về một mình.

Cái chết của người cha và tuổi thơ cơ cực[sửa | sửa mã nguồn]

Trên đường trở về, Dã Tốc Cai bị một nhóm người Thát Đát đầu độc và qua đời ngay sau đó. Thiết Mộc Chân phải tạm biệt gia đình người vợ tương lai để về chịu tang, đồng thời tiếp quản vị trí tộc trưởng. Nhưng các bô lão trong bộ lạc cho rằng không thể trao vị trí đứng đầu cho một đứa trẻ 9 tuổi, nên họ đã trao vị trí này cho Tháp Nhĩ Hốt Đài - một viên tướng dưới quyền Dã Tốc Cai và đang là thủ lĩnh bộ lạc Thái Xích Ô. Sau khi nắm quyền, Tháp Nhĩ Hốt Đài lập tức trở mặt, đuổi gia đình Thiết Mộc Chân ra khỏi bộ lạc và ra lệnh cho tất cả người dân di chuyển xuống hạ lưu sông Oát Nan, bỏ lại gia đình cậu đơn độc kiếm sống.

Trong những năm sau đó, gia đình Thiết Mộc Chân sống cuộc đời du cư nghèo khó, sống chủ yếu nhờ câu cá, hái lượm và săn bắn[9]. Trong một lần đi câu cá, Thiết Mộc Chân cùng Cáp Tát Nhĩ đã giết chết Biệt Khắc Thiếp Nhĩ[10], khi bị hắn trộm mất mẻ cá mà họ vất vả thu được, khiến bà Hạ Ngạch Luân tức giận quở mắng anh em ông nhưng cũng bắt đầu dạy ông nhiều bài học từ sống sót trong điều kiện khắc nghiệt của Mông Cổ tới sự cần thiết của liên minh, hình thành nên sự hiểu biết của ông trong những năm sau này về sự cần thiết của thống nhất. Nhưng cái chết của Biệt Khắc Thiếp Nhĩ đã ám ảnh Thiết Mộc Chân suốt những năm sau đó, đặc biệt là khi ông phải chứng kiến hai cậu con trai là Truật XíchSát Hợp Đài luôn bất hòa và không thể tìm được tiếng nói chung.

Năm 15 tuổi, Thiết Mộc Chân giờ đã khôn lớn, chững chạc, là trụ cột chính của gia đình. Còn Tháp Nhĩ Hốt Đài sau một thời gian thì bắt đầu lo lắng, rằng Thiết Mộc Chân khi trưởng thành có thể sẽ quay về lấy lại vị trí tộc trưởng. Vì vậy hắn đã cho binh lính lùng sục khắp thảo nguyên, tìm gia đình Thiết Mộc Chân để trừ khử. Cuối cùng họ bị phát hiện khi đang đi săn trong một khu rừng. Để bảo vệ gia đình, Thiết Mộc Chân phải để mẹ và các em chạy theo một hướng, còn mình chạy theo hướng khác, thu hút sự chú ý của binh lính Thái Xích Ô, giúp gia đình chạy trốn an toàn. Ông sau đó cũng bị bắt và bị đối xử như một tên tội phạm. Nhưng trong lúc này, sự dũng cảm, mưu trí của Thiết Mộc Chân mới lộ rõ. Ông biết trong bộ lạc vẫn còn những người trung thành với cha ông là Dã Tốc Cai, nên đã lợi dụng đêm tối, đánh bất tỉnh lính canh rồi chạy vào nhà một người bạn khi xưa của Dã Tốc Cai, được ông ta giấu kín trong nhà, cho ăn uống và mượn quần áo cùng ngựa để chạy trốn. Thiết Mộc Chân gặp lại gia đình ở chân núi Bất Nhi Hãn. Cả nhà quyết định sẽ di cư sang phía bên kia dãy núi để tránh tai mắt của Tháp Nhĩ Hốt Đài. Về phần ân nhân của Thiết Mộc Chân, con gái của ông ta sau này trở thành thiếp của Thiết Mộc Chân, còn con trai Xích Lão Ôn trở thành một trong Tứ Kiệt, tức 4 vị quân sư đắc lực của Thành Cát Tư Hãn.

Một lần, đàn ngựa của gia đình Thiết Mộc Chân bị mất trộm. Thiết Mộc Chân vừa đi săn về, nghe tin dữ thì lập tức đuổi theo bọn cướp. Đến sẩm tối, người ngựa đều mỏi mệt, may sao Thiết Mộc Chân được một thanh niên sống gần đó là Bác Nhĩ Thuật cho tá túc. Ông nói rõ tình hình và đề nghị Bác Nhĩ Thuật đi cùng. Tài trí của Thiết Mộc Chân lại có dịp được bộc lộ khi cùng Bác Nhĩ Thuật trừ khử bọn cướp và lấy lại đàn ngựa. Sau lần đó, ông cùng Bác Nhĩ Thuật kết nghĩa huynh đệ. Bác Nhĩ Thuật sau này cũng là một trong Tứ Kiệt, là một trong những đại khai quốc công thần của đế quốc Mông Cổ và là cận thần đáng tin cậy của Thành Cát Tư Hãn.

Năm 16 tuổi, Thiết Mộc Chân tìm về bộ lạc Hoằng Cát Lạt để lấy Bật Tê làm vợ. Nhưng ít lâu sau, bộ lạc Miệt Nhĩ đã tấn công làng của Thiết Mộc Chân để trả thù cho việc thủ lĩnh của họ năm xưa bị Dã Tốc Cai cướp vợ (bà Hạ Ngạch Luân) và cướp Bật Tê làm chiến lợi phẩm. Ông đã đến cầu viện người anh em kết nghĩa Trác Mộc Hợp - người sau này trở thành kẻ thù, và người cha đỡ đầu Thoát Lý của bộ lạc Khắc Liệt để giải thoát cho vợ mình. Nhưng trong thời gian bị bắt giữ, Bật Tê đã mang thai đứa con đầu lòng Truật Xích. Điều này đã dẫn đến sự nghi ngờ trong dòng tộc, rằng Truật Xích không phải con của Thiết Mộc Chân, và hậu duệ của Truật Xích không bao giờ được coi là những người kế vị. Cũng chính vì điều này mà Truật Xích luôn gặp rắc rối với mọi người trong dòng tộc, đặc biệt là cậu em thứ Sát Hợp Đài, khi Sát Hợp Đài một mực tin rằng những tin đồn đó là sự thật. Cả hai luôn xô xát, cãi cọ, thậm chí dùng đến nắm đấm để giải quyết mâu thuẫn, khiến chính người cha vĩ đại của mình cũng phải bất lực. Bên cạnh Truật Xích và Sát Hợp Đài, Bật Tê còn sinh 2 người con trai khác Oa Khoát ĐàiĐà Lôi cùng 5 con gái.

Thống nhất thảo nguyên Mông Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Á vào khoảng năm 1200.

Thảo nguyên Mông Cổ vào khoảng cuối thế kỷ XII và đầu thế kỷ XIII được phân chia giữa các bộ lạc hay liên minh bộ lạc, nổi bật như Nãi Man, Miệt Nhĩ, Duy Ngô Nhĩ, Thát Đát, Khất Nhan, Khắc Liệt,... thường xung đột với những cuộc đột kích, cướp bóc, trả thù lẫn nhau.

Thiết Mộc Chân bắt đầu sự nghiệp bằng cách liên minh với một người bạn của cha ông là Thoát Lý, thủ lĩnh của bộ lạc Khắc Liệt, được nhà Kim phong tước Hãn Vương năm 1197. Mối quan hệ này được thiết lập khi Thiết Mộc Chân lấy danh nghĩa là con của Dã Tốc Cai, đến diện kiến Thoát Lý và nhận ông ta làm cha đỡ đầu. Đến khi Bật Tê bị người Miệt Nhĩ bắt, Thoát Lý cho Thiết Mộc Chân mượn 20.000 quân và đề nghị mời cả Trác Mộc Hợp, khi đó đang là thủ lĩnh bộ lạc Trát Đạt Lan cùng tiếp ứng, vì Trác Mộc Hợp cũng có tư thù với người Miệt Nhĩ khi bị họ bắt cóc lúc nhỏ. Người anh em kết nghĩa này đã cho ông mượn thêm 10.000 quân, đồng thời hẹn tập kết ở thượng nguồn sông Oát Nan 3 ngày sau đó. Mặc dù giải cứu Bật Tê thành công và họ đánh bại hoàn toàn người Miệt Nhĩ, nhưng Thiết Mộc Chân và Trác Mộc Hợp bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn về phân chia quyền lợi, đất đai và cả cách quản lý bộ lạc.

Các kẻ thù chính của liên minh Mông Cổ vào khoảng năm 1190-1200 là Nãi Man ở phía tây, Miệt Nhĩ ở phía bắc, Đảng Hạng ở phía nam và nhà Kim cùng Thát Đát ở phía đông. Năm 1190, Thiết Mộc Chân chỉ thống nhất được một lượng nhỏ người Mông Cổ. Trong các bộ lạc chiếm được, ông thực hiện việc cai trị theo cung cách khác với truyền thống của người Mông Cổ bằng cách ủy quyền cho những người xứng đáng và trung thành chứ không dựa trên quan hệ gia đình. Thiết Mộc Chân sau đó ban hành bộ luật bằng văn bản cho người Mông Cổ, gọi là Yassa, ra lệnh phải tuân thủ nghiêm ngặt để xây dựng tổ chức và quyền lực trong phạm vi vương quốc của mình.[11] Để đảm bảo sự phục tùng tuyệt đối và tuân thủ luật pháp, Thiết Mộc Chân cam kết dành cho thần dân và binh lính sự giàu có từ chiến lợi phẩm trong tương lai. Khi đánh bại các bộ lạc thù địch, ông không ruồng bỏ binh lính của họ mà đặt các bộ lạc đó dưới sự bảo hộ của mình và hợp nhất các thành viên bộ lạc đó vào bộ lạc của mình. Mẹ ông còn nhận những đứa trẻ mồ côi từ các bộ lạc đó để nuôi. Những điểm mới trong chính sách đã gây dựng được niềm tin và lòng trung thành từ những người bị chế ngự, giúp Thiết Mộc Chân mạnh hơn sau mỗi chiến thắng.[12]

Năm 1201, một hội nghị Khố Lý Đài (Kurultai, hội nghị các thủ lĩnh Mông Cổ) do thủ lĩnh từ 11 bộ lạc tổ chức đã bầu Trác Mộc Hợp làm Cổ Nhi Hãn, một tước hiệu được những người trị vì vương quốc Tây Liêu dùng, để liên minh tấn công Thiết Mộc Chân. Liên minh này bị liên minh giữa Thiết Mộc Chân với Thoát Lý đánh bại, Trác Mộc Hợp phải chạy sang hàng Thoát Lý.

Con trai của Thoát Lý là Tang Côn ghen tức với sức mạnh đang lên của Thiết Mộc Chân và sự thân mật với cha mình, đã lập kế hoạch ám sát Thiết Mộc Chân. Thoát Lý dù là nghĩa phụ của Thiết Mộc Chân, được Thiết Mộc Chân cứu mạng nhiều lần, lại ủng hộ con mình[13]. Thiết Mộc Chân biết được ý đồ và đã đánh bại Tang Côn. Một trong những sự kiện cuối cùng làm đoạn tuyệt quan hệ giữa Thiết Mộc Chân và Thoát Lý là Thoát Lý từ chối đề nghị cưới con gái ông ta cho Truật Xích, một dấu hiệu không tôn trọng trong văn hóa Mông Cổ. Hành động này dẫn tới sự chia cắt hai bên và là điềm báo một cuộc chiến tranh sẽ nổ ra. Thoát Lý liên minh với Trác Mộc Hợp, nhưng sau đó hai người nảy sinh mâu thuẫn, cộng với sự chuyển hướng của một loạt cựu liên minh sang phía Thiết Mộc Chân đã dẫn tới thất bại của Thoát Lý. Thoát Lý chạy tới chỗ của Thái Dương Hãn, thủ lĩnh bộ lạc Nãi Man, nhưng bị binh lính Nãi Man giết chết năm 1203. Thất bại này đã làm cho bộ lạc Khắc Liệt bị phân rã hoàn toàn.

Thành Cát Tư Hãn

Mối đe dọa kế tiếp đối với Thiết Mộc Chân là người Nãi Man, với Trác Mộc Hợp và các tàn dư bộ lạc bị Thiết Mộc Chân đánh bại đã chạy tới đó tìm nơi nương tựa. Nhưng trước khi Thiết Mộc Chân tấn công Nãi Man, một số tướng lĩnh đã chạy sang phía quân Mông Cổ. Thiết Mộc Chân đã đánh bại Thái Dương Hãn vào cuối năm 1204. Thất bại của người Nãi Man đã làm cho Thiết Mộc Chân trở thành thủ lĩnh duy nhất của thảo nguyên Mông Cổ, nghĩa là tất cả các liên minh hùng mạnh khác hoặc là thất bại hoặc là bị hợp nhất dưới trướng của ông.

Theo Bí sử Mông Cổ, Trác Mộc Hợp sau thất bại của người Nãi Man phải tiếp tục bỏ chạy để tránh bị truy sát. Nhưng cuối cùng hắn lại bị thuộc hạ của mình phản bội, bắt trói và giải đến chỗ của Thiết Mộc Chân. Tuy nhiên, Thiết Mộc Chân không nỡ xuống tay với người bạn thời thơ ấu nên đã tha chết và đề nghị Trác Mộc Hợp quên đi hận thù mà cùng nhau xây dựng Mông Cổ. Ông cũng hạ lệnh hành hình những kẻ bán đứng Trác Mộc Hợp vì tội tạo phản. Tuy nhiên, Trác Mộc Hợp từ chối, nói rằng bầu trời chỉ có một mặt trời thôi và đề nghị được chết một cách cao quý theo tập quán là chết không rơi máu. Thiết Mộc Chân dù rất đau lòng nhưng vẫn phải đáp ứng.

Năm 1206, sau khi thống nhất toàn bộ các bộ lạc trên thảo nguyên Mông Cổ, các tướng lĩnh Mông Cổ đã mở hội nghị Khố Lý Đài, tôn Thiết Mộc Chân làm Đại Hãn, lấy hiệu là Thành Cát Tư Hãn (trong tiếng Mông Cổ thì Чингис Хаан có nghĩa là vua của cả thế giới).

Thành lập đế chế[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ thể hiện những cuộc hành quân lớn trong đời Thành Cát Tư Hãn.

Trước thời của Thành Cát Tư Hãn, Mông Cổ là chư hầu của Tây Hạ, phải nộp cống phẩm hàng năm. Vì vậy, ngay sau khi lên ngôi và đặt quyền bảo hộ lên các bộ lạc thiểu số phía Bắc, Thành Cát Tư Hãn dẫn quân tiến đánh Tây Hạ. Ông đã chiếm được một số thành trì vững chắc của Tây Hạ. Năm 1209, hòa bình với Tây Hạ được ký kết, về thực chất ông đã thu phục được Tây Hạ, được vua Tây Hạ là Lý An Toàn thừa nhận là chúa tể, biến quốc gia này trở thành chư hầu của Mông Cổ và cung cấp binh lính cũng như hậu cần cho các chiến dịch trong tương lai của Thành Cát Tư Hãn. Sau đó Tây Hạ cũng bị ông lật đổ (1227).[14]

Thực chất, việc tiến đánh Tây Hạ chỉ là bàn đạp để Thành Cát Tư Hãn xâm chiếm nhà Kim, lấy lý do để trả thù cho ông nội là Khả Hãn Yểm Ba Hải đã bị nhà Kim sát hại và giải phóng tộc người Khiết Đan bị người Nữ Chân đánh đuổi. Ông tuyên bố chiến tranh năm 1211, để nhà Kim không còn là sự đe dọa thường xuyên đối với Mông Cổ về lãnh thổ, tài sản ở biên giới phía nam.

Kết quả của chiến thuật siêu đẳng và sự hoàn hảo của chiến lược là Thành Cát Tư Hãn đã xâm chiếm và hợp nhất lãnh thổ nhà Kim đến tận Vạn Lý Trường Thành năm 1213. Cũng năm đó hoàng đế nhà Kim là Hoàn Nhan Vĩnh Tế bị tướng Hồ Sa Hổ giết trong cuộc bạo loạn. Cháu của Hoàn Nhan Vĩnh Tế là Hoàn Nhan Tuần lên ngôi, tức Kim Tuyên Tông. Sau đó Thành Cát Tư Hãn chỉ huy ba cánh quân tiến vào trung tâm lãnh thổ nước Kim, nằm giữa Vạn Lý Trường Thành và sông Hoàng Hà. Ông đã xâm chiếm miền bắc Trung Quốc, chiếm giữ hàng loạt thành phố và năm 1215 đã bao vây, chiếm giữ và cướp bóc kinh thành Yên Kinh (sau này là Bắc Kinh). Kim Tuyên Tông phải cầu hòa, cắt đất, dâng vàng bạc châu báu và gả công chúa cho Thành Cát Tư Hãn để ông lui binh. Tuy tỏ ra hòa hảo nhưng Kim Tuyên Tông vẫn lo sợ, lập tức dời đô về Khai Phong. Thành Cát Tư Hãn vô cùng giận dữ, cho rằng nhà Kim bội ước, lại xua quân tiến đánh. Nhưng trong lúc đó, tàn dư bộ lạc Miệt Nhĩ quay lại quấy nhiễu thảo nguyên Mông Cổ. Thành Cát Tư Hãn buộc phải rút quân, chỉ để đại tướng Mộc Hoa Lê - một trong Tứ Kiệt - cùng binh sĩ dưới quyền ông ta ở lại. Mộc Hoa Lê sau đó tử trận khi quân Mông Cổ chuẩn bị tiến vào Khai Phong. Trong suốt thời gian tiến đánh nhà Kim, quân Mông Cổ đã thu được rất nhiều vàng bạc châu báu, sản vật quý cùng hàng ngàn tù binh. Trong số các tù binh có Gia Luật Sở Tài - hậu duệ của hoàng tộc Khiết Đan và là một kỳ tài hiếm có thời điểm đó. Ông đồng ý làm việc cho đế quốc Mông Cổ và làm đến chức Tể tướng dưới thời Oa Khoát Đài.

Tây Á[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng thời gian đó Khuất Xuất Luật, con trai của Thái Dương Hãn của bộ lạc Nãi Man đã chạy về phía tây và cướp Tây Liêu, đồng minh phía tây của Thành Cát Tư Hãn. Trong thời gian này, quân đội Mông Cổ đã mệt mỏi do hơn 10 năm chiến tranh chống lại Tây Hạ và Kim. Vì vậy Thành Cát Tư Hãn chỉ gửi khoảng 20.000 quân dưới sự chỉ huy của Triết Biệt để chống lại Khuất Xuất Luật. Một cuộc nổi dậy trong nước với sự giúp đỡ của người Mông Cổ và sau đó Triết Biệt tràn qua đất nước này. Khuất Xuất Luật đã bị đánh bại ở phía tây Kashgar; ông ta bị bắt sống và hành hình sau đó. Tây Liêu sáp nhập vào Mông Cổ. Năm 1218 đế quốc Mông Cổ mở rộng về phía tây tới hồ Balkhash và tiếp giáp với đế quốc Khwarezm, một quốc gia Hồi giáo trải dài từ biển Caspi ở phía tây và vịnh Ba Tư, biển Ả Rập ở phía nam.

Năm 1218 Thành Cát Tư Hãn gửi một đoàn sứ giả sang tỉnh phía đông của đế quốc Khwarezm với mục đích thảo luận khả năng buôn bán với quốc gia này. Thống đốc của tỉnh này đã giết chết họ và làm Thành Cát Tư Hãn giận dữ. Ông đã cho 200.000 quân tràn sang để trả thù. Quân đội Mông Cổ với chiến lược và chiến thuật hơn hẳn đã nhanh chóng hạ thành phố này và hành hình viên thống đốc bằng cách đổ bạc nóng chảy vào tai và mắt ông ta để trả đũa hành động xúc phạm Thành Cát Tư Hãn và những ý định tốt đẹp ban đầu của người Mông Cổ.

Cùng thời điểm này (1219), ông quyết định mở rộng ảnh hưởng của Mông Cổ với thế giới Hồi giáo. Quân Mông Cổ lần lượt hạ các thành phố chính của Khwarezm như Bukhara, SamarkandBalkh, và hoàng đế Khwarezm là Ala ad-Din Muhammad II phải liên tục rút lui. Cuối cùng, ông ta chết ở một hòn đảo trên biển Caspi, gần cảng Abaskun năm 1220, và đế quốc Khwarezm sụp đổ.

Đế quốc Mông Cổ từ năm 1206 đến năm 1294

Sau đó quân Mông Cổ chia làm 2 đạo quân, Thành Cát Tư Hãn chỉ huy một nhánh tràn vào Afghanistan và bắc Ấn Độ, nhánh kia do Tốc Bất Đài chỉ huy tiến vào KavkazNga. Không cánh quân nào bổ sung thêm lãnh thổ cho đế chế nhưng họ đã cướp bóc và đánh bại mọi đội quân mà họ gặp. Năm 1225 cả hai cánh quân đều quay trở lại Mông Cổ.

Những cuộc xâm lăng này đã bổ sung thêm Transoxiana và Ba Tư vào đế chế vốn đã ghê gớm và xác lập hình ảnh của Thành Cát Tư Hãn như một chiến binh khát máu trong những người không biết hoặc không muốn biết rằng ông là ông chủ thực sự của thế giới cho đến năm 1227, khi ông qua đời.

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tiêu diệt Đế quốc Khwarezm vào năm 1220, Thành Cát Tư Hãn tập hợp lực lượng ở Ba Tư và Armenia để trở về thảo nguyên Mông Cổ. Theo đề nghị của Tốc Bất Đài, quân Mông Cổ được chia thành 2 cánh. Thành Cát Tư Hãn dẫn phần lớn quân chủ lực về Mông Cổ bằng cách tấn công xuyên qua Afghanistan và bắc Ấn Độ. Cánh còn lại gồm 2 vạn quân do Triết Biệt và Tốc Bất Đài chỉ huy, hành quân qua vùng Kavkaz và vào Nga, tấn công sâu vào Armenia và Azerbaijan. Người Mông Cổ phá hủy Gruzia, chiếm được trung tâm thương mại và quân sự CaffaKrym của Cộng hòa Genova, và tiến sát Biển Đen. Ảnh hưởng của vó ngựa Mông Cổ được mở rộng hơn bao giờ hết.

Trên đường trở về Mông Cổ, cánh quân Tốc Bất Đài bị liên quân Cuman-Kipchak và lực lượng lớn quân Nga Kiev lên tới 8 vạn, tập hợp từ quân đội của các vương công Nga, do Mstislav Mstilavich của Halych và Mstislav III của Kiev chỉ huy, chặn lại. Tốc Bất Đài gửi sứ giả đến đề nghị hòa bình nhưng các sứ giả bị hành quyết. Nổi giận vì bị từ chối, Tốc Bất Đài ra lệnh tấn công vào đội quân Nga Kiev, tuy đông nhưng kém phối hợp bởi sự thiếu đoàn kết của các vương công Nga, Tốc Bất Đài đã đánh tan đội quân này tại sông Kalka năm 1223. Quân Mông Cổ tiếp tục càn quét lãnh thổ Nga và chỉ chịu dừng lại sau trận eo sông Samara, khi bị quân Volga Bulgar, do Ghabdulla Chelbir chỉ huy, phục kích gây thiệt hại nặng nề.[15]

Các vương công Nga không còn cách nào khác ngoài đề nghị cầu hòa, thực chất là lời đầu hàng nhục nhã. Tuy họ không bị tước đi quyền lực, nhưng họ phải chịu thần phục và triều cống cho Thành Cát Tư Hãn. Tương truyền, để dương uy quân Mông Cổ, Tốc Bất Đài cho đặt ván trên đầu các vương công Nga để mở tiệc ăn mừng. 6 vương công Nga, trong đó có Mstislav III của Kiev, đã bị đè đến chết.

Thành Cát Tư Hãn không phải người chấp nhận thất bại. Trước khi 2 cánh quân về Mông Cổ năm 1225, họ đã trinh sát và tìm hiểu kỹ đối phương để chuẩn bị phục thù. Dù Thành Cát Tư Hãn chết 2 năm sau đó, quân Mông Cổ cũng một lần nữa trở lại vào năm 1237 dưới sự chỉ huy của Bạt Đô - con trai của Truật Xích, chinh phục hoàn toàn Nga Kiev và Volga Bulgar vào năm 1240, trả lại mối thù bại trận lần trước.

Chiến dịch cuối cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Hạ từ chối không tham chiến chống lại đế chế Khwarezm, và Thành Cát Tư Hãn thề dành cho họ sự trừng phạt. Trong khi ông đang ở Iran, Tây Hạ và Kim đã hình thành liên minh chống lại Mông Cổ. Sau một thời gian nghỉ ngơi để chỉnh đốn quân đội, Thành Cát Tư Hãn chuẩn bị chiến tranh chống lại liên minh này.

Cùng thời gian này, ông cũng đã chọn người con trai thứ 3 là Oa Khoát Đài làm người kế vị cũng như thiết lập cơ chế lựa chọn những người kế vị trong tương lai với điều kiện họ phải là hậu duệ của ông.

Xâm lăng Nhật Bản-Cung thủ Mông Cổ tấn công các Samurai trên lưng ngựa

Năm 1226, Thành Cát Tư Hãn tấn công Tây Hạ với cớ là Tây Hạ chứa chấp kẻ thù của Mông Cổ và để trừng phạt sự phản bội của họ. Tháng 2, ông chiếm các thành phố Hắc Thủy, Cam ChâuTúc Châu và trong mùa thu năm đó ông chiếm phủ Tây Lương. Các tướng Tây Hạ đã đánh một trận lớn với quân Mông Cổ gần dãy núi Hạ Lan Sơn. Quân Tây Hạ đại bại. Tháng 11, ông bao vây thành Linh Châu và vượt qua sông Hoàng Hà đánh bại quân cứu viện của Tây Hạ.

Năm 1227, ông tấn công kinh đô Tây Hạ, trong tháng 2 chiếm phủ Lâm Thao, tháng 3 chiếm quận Tây Ninh (tỉnh Thanh Hải ngày nay) và phủ Tín Đô. Trong tháng 4 chiếm quận Đức Thuận. Tại Đức Thuận, tướng Tây Hạ Mã Kiên Long chống lại quân Mông Cổ trong nhiều ngày cả trong và ngoài thành. Mã Kiên Long sau đó chết do bị tên bắn. Thành Cát Tư Hãn sau khi chiếm Đức Thuận, tiến quân tới Lục Bàn Sơn (thuộc huyện Thanh Thủy, thành phố Thiên Thủy, tỉnh Cam Túc) để tránh mùa hè khắc nghiệt.

Vua Tây Hạ chính thức đầu hàng Mông Cổ năm 1227 và hẹn xin nộp thành. Tây Hạ bị diệt sau 190 năm (1038 - 1227). Trước thời hạn vua Tây Hạ nộp thành đúng 1 ngày thì Thành Cát Tư Hãn băng hà. Cả hoàng tộc Tây Hạ sau đó cũng bị hành hình.

Trước khi chết, Thành Cát Tư Hãn đã chia đế chế của ông cho 4 đích trưởng tử. Truật Xích là lớn nhất, nhưng đã chết và quan hệ huyết thống cũng bị nghi ngờ, vì thế những vùng đất xa xôi nhất được chia cho các con của Truật Xích. Bạt Đô là thủ lĩnh của Thanh Trướng hãn quốc, Oát Nhi Đáp là thủ lĩnh của Bạc Trướng hãn quốc. Sát Hợp Đài, người con thứ hai được chia vùng Trung Á và bắc Iran. Oa Khoát Đài nhận Trung Quốc. Đà Lôi nhận Mông Cổ. Tháng 7 âm lịch năm 1227, sau khi hay tin Truật Xích ở Khwarezm qua đời, Thành Cát Tư Hãn rất đau buồn rồi lâm bệnh nặng. Trên giường bệnh, Thành Cát Tư Hãn phác thảo kế hoạch cho Đà Lôi, kế hoạch mà sau này được những người kế vị sử dụng để triệt hạ dứt điểm nhà Kim và tuyên bố người kế vị là Oa Khoát Đài.

Trong giờ phút cuối cùng, Thành Cát Tư Hãn vẫn không quên nói ra chiến lược tác chiến sinh tử giữa Mông Cổ, Kim và Nam Tống. Sách lược của Thành Cát Tư Hãn là trước mượn đường Tống để diệt Kim, sau đó quay lại diệt Tống. Không những thế, Thành Cát Tư Hãn còn chỉ cụ thể con đường xuất quân và việc thực hiện phương án tác chiến. Ông nói: "Quân tinh nhuệ của Kim ở Đồng Quan, phía nam chiếm cứ Liên Sơn, phía bắc bị hạn chế bởi sông lớn, như thế khó đánh thắng nhanh. Nhưng Tống và Kim có mối thù truyền kiếp, giả liên Tống thì đánh Kim sẽ dễ. Bởi lúc này Kim nóng vội, trưng binh hàng vạn, tiếp tế khó khăn, người ngựa mệt mỏi, ta sẽ đánh thắng".[16] Nói xong, Thành Cát Tư Hãn băng hà vào ngày 18 tháng 8 năm 1227 tại huyện Thanh Thủy, gần Lục Bàn Sơn, Trung Quốc, thọ 66 tuổi. Nguyên nhân cái chết của ông vẫn chưa được sáng tỏ, nhiều người cho rằng do ông ngã ngựa, cộng với tuổi già và suy giảm thể lực hay bị hạ độc từ phía kẻ thù. Biên niên sử Galicia-Volhynia cho rằng ông bị những người Đảng Hạng giết chết, tuy nhiên đến ngày nay vẫn chưa ai biết rõ.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Thành Cát Tư Hãn mất, thay vì Oa Khoát Đài lên kế vị như di chiếu, Đà Lôi đã nắm quyền Giám quốc trong 2 năm. Đến năm 1229, Oa Khoát Đài mới chính thức lên ngôi Đại Hãn. Ông cử Đà Lôi thống lĩnh đại quân Mông Cổ mở cuộc tấn công chưa từng thấy vào nước Kim, cuối cùng nhà Kim bị tiêu diệt (9/2/1234).

Sau khi lên ngôi Đại Hãn được 13 năm, Oa Khoát Đài băng hà. Con trai của ông là Quý Do được lập làm Đại Hãn kế nhiệm. Nhưng Quý Do chỉ ở ngôi được 2 năm thì qua đời mà chưa kịp chỉ định người nối ngôi. Cuộc chiến vương quyền trong hoàng tộc Mông Cổ bắt đầu trở nên căng thẳng. Cuối cùng, với sự trợ giúp của Bạt Đô, người con trưởng của Đà Lôi là Mông Kha đã đánh bại tất cả đối thủ để lên ngôi Đại Hãn (1251). Ông cho mở các chiến dịch để mở rộng lãnh thổ như đánh chiếm Đại Lý (1254) và Đại Việt (1257) để thuận lợi cho việc đánh chiếm Nam Tống. Sau khi thôn tính Đại Lý và thất bại trong cuộc xâm lăng Đại Việt, năm 1258 ông cùng em trai là Hốt Tất Liệt dẫn quân tiến đánh Nam Tống. Nhưng ông bất ngờ qua đời chỉ một năm sau đó, khi quân Mông Cổ đang vây hãm Điếu Ngư (Trùng Khánh ngày nay).

Sau khi Mông Kha mất, hai em trai của ông là Hốt Tất Liệt và A Lý Bất Ca đều cùng xưng Đại Hãn. Thế là cuộc nội chiến nổ ra. Cuối cùng Hốt Tất Liệt dành chiến thắng. Năm 1271, Hốt Tất Liệt đặt quốc hiệu là Đại Nguyên, thay thế kinh đô cũ Hòa Lâm bằng 2 kinh đô mới là Đại Đô (kinh đô mùa đông, tức Bắc Kinh ngày nay) và Thượng Đô (kinh đô mùa hè, tức Chính Lam, Nội Mông ngày nay). Năm 1279, Hốt Tất Liệt chinh phục thành công Nam Tống, thôn tính toàn bộ Trung Nguyên. Hốt Tất Liệt cũng tích cực mở rộng lãnh thổ bằng các cuộc chiến với Nhật Bản, Đại Việt, MyanmarJava, nhưng không thể giành chiến thắng trong mọi cuộc chiến, mà nặng nề nhất là thất bại 2 lần trước Nhật Bản và 2 lần trước Đại Việt. Nhà Nguyên cũng là triều đại khai thác triệt để "Con đường tơ lụa" - tuyến đường giao thương Á - Âu thời điểm đó. Nhà Nguyên thống trị Trung Quốc đến năm 1368, trải qua 13 đời vua, trước khi bị Hoàng Đế khai quốc của nhà MinhChu Nguyên Chương đánh đuổi, giành lại Trung Quốc cho người Hán.

Bí ẩn lăng mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng tẩm tượng trưng của Thành Cát Tư Hãn

Nhiều năm trước khi qua đời, Thành Cát Tư Hãn đã tiên liệu việc xây dựng lăng mộ cho mình. Ông hạ lệnh xây một ngôi mộ không có bia theo đúng phong tục Mông Cổ, và tuyệt đối giữ bí mật về vị trí huyệt mộ. Sử chép rằng, sau khi qua đời, thi thể của Thành Cát Tư Hãn được đưa về cố hương ở Khentii Aimag, nơi nhiều người cho rằng ông được chôn cất ở đâu đó gần sông Oát Nan và núi Burkhan Khaldun.

Theo truyền thuyết, để đảm bảo vị trí lăng mộ hoàn toàn bí mật, tất cả những quân lính tín nhiệm của ông khi tham gia diễu hành linh cữu đều giết sạch tất cả những gì bất chợt thấy trên đường đi (kể cả người, động vật). Sau khi khâm liệm, hàng ngàn con ngựa được đưa tới để giày xéo, biến khu đất đó trở nên bằng phẳng, không có vẻ gì là nơi chôn người chết. Sau tang lễ, tất cả những người tham gia diễu hành linh cữu đều bị giết hoặc tự sát trong bí mật. Chỉ vài người sống sót, rồi sau khi chết, họ cũng chôn bí mật lớn nhất của vị thủ lĩnh tối cao xuống suối vàng.

Nhiều năm sau khi Thành Cát Tư Hãn qua đời, lăng mộ của ông được người Mông Cổ xây dựng lên nhằm tôn vinh những cống hiến của vị thống lĩnh đầu tiên. Tuy nhiên, lăng mộ này chỉ mang tính biểu trưng, bên trong không có thi thể của ông.

Vào ngày 6/10/2004, một dự án khảo cổ đã khám phá ra khu vực được cho là cung điện của Thành Cát Tư Hãn ở vùng nông thôn Mông Cổ, làm tăng khả năng xác định vị trí chôn cất của ông. Điều này làm dấy lên những khả năng về vị trí của khu mộ Thành Cát Tư Hãn. Có người cho rằng, khu mộ được đặt ở Kherem, cách cung điện của ông khoảng 322 km. Một số khác lại cho rằng, nơi chôn cất Thành Cát Tư Hãn ở khu vực gần hai con sông Oát Nan và Kerulen và núi Burkhan Khaldun.

Tuy nhiên, cho đến nay, sau gần 800 năm kể từ ngày ông mất, chưa ai xác định chính xác vị trí ngôi mộ. Bí mật này trở thành một trong những "bài toán khảo cổ" lớn nhất chưa có lời giải của thế kỷ 21. Thậm chí, chính người dân Mông Cổ cũng không bao giờ có ý định khai quật lăng mộ. Họ cho rằng hãy để vị Đại Hãn tối cao của họ được ngủ yên và việc khai quật lăng mộ bị họ xem là không tôn trọng người đã khuất và là sự báng bổ thần linh.

Tài năng[sửa | sửa mã nguồn]

Chính trị, văn hóa, và kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Cát Tư Hãn là một nhà lãnh đạo thực thụ. Ông tạo ra bộ luật bằng chữ viết của người Mông Cổ mà mọi người trong đế chế phải tuân thủ. Vì sự đa dạng về dân tộc, tôn giáo và sắc tộc của các công dân và binh lính, ông đã truyền lại sự trung thành chỉ với Đại Hãn. Để giữ vững và bổ sung chi phí cho quân đội cũng như các hoạt động khác, ông đã cho phép các thủ lĩnh duy trì quyền lực khi họ còn cung cấp được sức mạnh quân sự, nộp cống phẩm và cung cấp nhân lực trong các cơ sở cố định. Chiếm đóng được một khu vực đất đai rộng lớn, ông khuyến khích thương nghiệp, trao đổi hàng hóa và người Mông Cổ nhận được hàng hóa và dịch vụ từ những người khác. Các thương nhân, giáo sĩ, đặc sứ có được đảm bảo sự an toàn và hướng dẫn cần thiết dưới đế chế Mông Cổ, ví dụ một số người trong số họ đã đến Trung Quốc như nhà du hành Giovanni da Pian del Carpini dưới thời Oa Khoát Đài hay nhà du hành người Ý Marco Polo tới Bắc Kinh dưới thời Hốt Tất Liệt, là những người đã viết sách về chuyến du hành của họ với độ đáng tin cậy cao. Dưới thời Thành Cát Tư Hãn, “mọi cá nhân và tôn giáo là bình đẳng trước pháp luật Mông Cổ".

Vì sự mở rộng đế chế, Thành Cát Tư Hãn có ảnh hưởng sâu rộng trong văn hóa của nhiều quốc gia châu Á, chủ yếu là Trung Quốc và Nga. Ông tiêu diệt tầng lớp quý tộc hiện thời trong các vùng lãnh thổ của mình, tạo ra tầng lớp trí thức thô sơ. Ông cũng tạo ra hệ thống bưu chính rộng lớn và mở rộng sự phổ biến của việc sử dụng hệ thống chữ cái thế giới, mặc dù trong nhiều năm người ta vẫn tin rằng ông là người thất học vì sự xuất hiện gần đây của chữ viết cũng như tuổi tác của ông tại thời điểm thi hành điều đó. Tuy nhiên, gần đây theo các phát kiến của các nhà sử học Mông Cổ và Trung Quốc thì ông là người có học thức cao. Các văn bản viết tay được cho là của ông cũng như nội dung của chúng cho thấy ông có thể đọc các bài thuyết pháp của Lão giáo.[17] Thương mại và du lịch trong lãnh thổ Trung Quốc, Trung Cận Đông và châu Âu được phát triển mạnh mẽ bởi sự ổn định chính trị nhất mà đế chế Mông Cổ đã đem lại khi thiết lập lại Con đường tơ lụa. Ông giảm các hình phạt trong các khu vực của mình, miễn giảm thuế cho các lang y và thầy đồ, thiết lập sự tự do tôn giáo. Các ngôn ngữ khác như tiếng Thổ Nhĩ Kỳ được phát triển và các loại hình tôn giáo đã nảy nở. Quân đội Mông Cổ về sau bao gồm rất nhiều người của các nền di sản khác nhau. Người Mông Cổ giúp cho phần lớn châu Á biết đến bàn tínhla bàn cũng như cho châu Âu biết đến thuốc súngthuốc nổ (phát minh bởi người Trung Quốc) và các công cụ phục vụ chiến tranh vây hãm mà người Trung Quốc đã phát triển để đối phó với người châu Âu. Người ta cũng cho rằng ông là người đầu tiên ngăn chặn sự phân chia bắc và nam Trung Quốc bắt đầu từ thời nhà Tống. Với thành tựu thống nhất các bộ lạc Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn giành được sự tôn trọng và hậu thuẫn sâu rộng của họ.

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tổ chức quân đội Mông Cổ thành các nhóm theo cơ số 10 .10 lính được quản lý bới một thập hộ tướng, 10 thập hộ tướng được quản lý bởi bách hộ tướng, 10 bách hộ tướng được quản lý bởi thiên hộ tướng, 10 thiên hộ tướng được quản lý bới vạn hộ tướng. Cơ cấu mệnh lệnh này tạo ra một sự mềm dẻo cao và cho phép quân Mông Cổ có khả năng tấn công ồ ạt, chia thành các nhóm nhỏ để bao vây và dẫn kẻ thù vào trong mai phục hay áp chế các nhóm tàn quân đã tan vỡ và đang trốn chạy. Mỗi người lính Mông Cổ có thể có từ 2 đến 4 con ngựa cho phép họ phi nước đại trong vài ngày mà không cần nghỉ ngơi hay mệt mỏi. Binh sĩ Mông Cổ cũng có thể sống vài ngày chỉ cần uống máu ngựa và ăn thịt bò Tây Tạng khô khi thời tiết khắc nghiệt.

Khi bổ sung binh lính mới, Thành Cát Tư Hãn chia họ ra thành nhiều nhóm dưới quyền của các thủ lĩnh khác nhau để tránh tình trạng có quan hệ về sắc tộc hay xã hội, vì thế ở đây không có sự phân chia theo các liên minh sắc tộc. Trong mọi chiến dịch, binh sĩ được phép đem theo gia đình của họ. Chỉ những chiến binh dũng cảm nhất mới được thăng chức. Mỗi một thủ lĩnh của một nhóm nào đó phải chịu trách nhiệm về sự sẵn sàng chiến đấu của binh lính dưới quyền tại bất kỳ thời điểm nào và có thể bị thay thế nếu như phát hiện được sự tắc trách.

Binh lính Mông Cổ là các khinh kỵ binh (kỵ binh nhẹ), điều này cho phép họ tiến hành các chiến thuật và rút lui nhanh chóng. Đây là một thông lệ đối với các đội quân linh hoạt. Người Mông Cổ dưới thời Thành Cát Tư Hãn và các hậu duệ của ông là sự hoàn hảo của khinh kỵ bắn cung. Một trong những kỹ thuật mà người Mông Cổ sử dụng trong chiến tranh là giả vờ rút lui giữa trận, làm đối phương tin rằng người Mông Cổ đã thua trận. Chỉ sau đó trong một khoảng cách nhất định thì họ mới hiểu là đã bị quân Mông Cổ bao vây và cuối cùng là hàng mưa tên bắn về phía họ. Người Mông Cổ không thích hợp với cận chiến, họ thích tấn công từ một khoảng cách nhất định bằng cung tên, tận dụng khả năng bắn cung khi đang cưỡi ngựa điêu luyện của mình.

Trong các cuộc chiến, thủ lĩnh quân đội Mông Cổ có thể sử dụng cờ hay kèn hiệu để thực hiện chiến lược, chiến thuật của mình. Đối với người Mông Cổ, chiến thắng là vấn đề quan trọng nhất và họ không thể chấp nhận thua trận cũng như mất người bởi vì họ bị thua sút về tiếp viện cũng như phải di chuyển xa lãnh thổ của mình. Vũ khí chủ yếu của người Mông Cổ là cung tên và kiếm lưỡi cong, nhẹ và hiệu quả để mang vác và đánh nhau hơn là kiếm dài và nặng của người châu Âu. Một quy tắc đơn giản trong giao tranh được làm rõ trong thời đại của Thành Cát Tư Hãn là nếu có từ 2 binh sĩ trở lên tách khỏi nhóm của họ mà không có sự chấp thuận của thủ lĩnh thì họ phải chết. Kiểu giao tranh của người Mông Cổ là phương thức tự nhiên nhất của cuộc sống du cư của họ, có nghĩa là trong các cuộc viễn du thì phải có hành lý gọn nhẹ nhất cũng như tốc độ và sự linh hoạt cao. Do đó Thành Cát Tư Hãn đã bổ sung thêm một yếu tố quan trọng là kỷ luật nghiêm minh.

Trận thủy chiến giữa Hạm đội Mông CổNhật Bản. Người Nhật đang tấn công năm 1293

Triết lý quân sự của Thành Cát Tư Hãn là đánh bại kẻ thù với ít tổn thất và rủi ro nhất, dựa trên lòng trung thành và tài năng trong việc lựa chọn tướng lĩnh và binh sĩ. Do đó, chiến tranh tâm lý rất được ông ưa chuộng, đặc biệt trong việc mở rộng sự đe dọa, khủng bố với các thành phố, thị trấn khác. Nếu ông nhận thấy sự chống cự, ông có thể đưa ra cơ hội để họ đầu hàng và cống nộp. Nếu lời đề nghị bị từ chối, ông sẽ tiêu diệt cả thành phố hay thị trấn đó nhưng để cho một số người chạy trốn nhằm loan truyền tin về tổn thất của họ cho cư dân của các thành phố khác. Khi những tin đồn về sức mạnh của đội quân Mông Cổ đã lan rộng thì sẽ rất khó cho các thủ lĩnh của các thành phố đó trong việc thuyết phục người dân của họ chống lại Thành Cát Tư Hãn. Quan điểm của ông với kẻ thù là: đầu hàng hoặc chết. Khi họ đã đầu hàng, Thành Cát Tư Hãn thông thường giữ cho thành phố đó được nguyên vẹn và đảm bảo cho họ sự bảo vệ để họ trở thành nguồn nhân lực và quân nhu cho các chiến dịch trong tương lai. Nếu họ chống lại, ông thực hiện quyền sinh sát của người cai trị một cách tàn nhẫn. Người ta cho rằng ông đã tiết kiệm nhiều tổn thất sinh mạng cho quân đội Mông Cổ nhờ kiểu chiến tranh tâm lý này.

Công nghệ là một mặt quan trọng trong chiến thuật của ông. Những thiết bị vây hãm là một phần quan trọng trong các cuộc chiến, đặc biệt trong việc tấn công các thành phố đã tăng cường phòng thủ. Ông sử dụng các nhà kỹ thuật Trung Quốc am hiểu về các thiết bị vây hãm trong quân đội của mình. Các thiết bị này được tháo rời và vận chuyển bằng ngựa và được lắp ráp lại ở nơi mà chúng cần sử dụng.

Trong bối cảnh của một cuộc chiến tranh điển hình và các hình thái của nó, trước khi xâm chiếm, Thành Cát Tư Hãn và các tướng lĩnh thực hiện việc chuẩn bị ở hội nghị Khố Lý Nhĩ Đài để quyết định sách lược và tướng lĩnh tham gia. Ở phía khác, các tướng Mông Cổ là những chiến binh với mức độ độc lập cao trong các quyết định khi họ tỏ rõ lòng trung thành với Thành Cát Tư Hãn trong một thời gian dài, điều này làm giảm thiểu sự kiểm tra, giám sát của ông đối với họ trong thời gian diễn ra chiến dịch. Vì bản chất linh hoạt của quân đội Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn đã xây dựng một mạng lưới tình báo phức tạp trong quân đội Mông Cổ cũng như trong các mạng lưới thương mại hay các nước chư hầu, trong đó tình báo có thể nhanh chóng đến được mọi ngõ ngách của đế chế Mông Cổ. Người ta cho rằng, để chuẩn bị cho chiến tranh, các thủ lĩnh có thể cử 200 kỵ binh đi theo 4 hướng khác nhau để do thám các hoạt động của kẻ thù và đôi khi binh sĩ có thể đi tới 300 km trong 1 hay 2 ngày, điều này là thông thường trong thời đại của đội quân Mông Cổ.

Mặc dù chiến lược của người Mông Cổ sẽ có sự thay đổi tùy theo phản ứng của kẻ thù, nhưng kỹ thuật của họ chỉ có một. Người Mông Cổ giao chiến theo hàng dọc, thông thường có ba cánh quân, hai cánh bên hông có thể tách ra từ cánh quân trung tâm khi họ tính toán xem nơi nào họ có thể thọc vào. Các cánh quân bên hông có quân số tương đương có thể đi sâu vào lãnh thổ kẻ thù và bắt đầu chôn vùi kẻ thù bằng các toán quân Mông Cổ được chia thành các nhóm binh sĩ với các thủ lĩnh của họ, tạo ra một lực lượng chiến đấu tinh tế và có tổ chức cao, gần như không thể ngăn chặn. Khi họ hiện diện ở một nơi nào đó và do thám các thành phố và cánh đồng xung quanh, họ có thể nhập lại với cánh quân trung tâm và đưa ra đòn đánh quyết định với đội quân chính của kẻ thù. Tư tưởng và ưu thế của việc sử dụng các lực lượng bên hông là lan truyền đe dọa, khủng bố, thu thập tin tức tình báo từ các kẻ thù và loại bỏ các đơn vị nhỏ hơn của kẻ thù để họ không thể hỗ trợ lẫn nhau. Nói cách khác, nó là một dạng của khái niệm phân chia và chế ngự. Các cánh quân bên hông này gửi các thông điệp thông qua tình báo cho các cánh quân khác về những gì xảy ra trên hướng của họ và họ có cần sự hỗ trợ từ các cánh quân đó hoặc hỗ trợ các cánh quân đó hay không. Quân đội Mông Cổ có các cuộc giao chiến với các đội quân nhỏ lẻ trên các cánh đồng trước khi tiêu diệt lực lượng đối địch chính, làm tăng ưu thế trong việc loại trừ khả năng thông tin từ nơi này sang nơi khác của đối phương. Người Mông Cổ giỏi chiến tranh vây hãm, làm lệch dòng chảy của các dòng sông cũng như cắt đứt lương thực, thực phẩm cho các thành phố và gửi những người tỵ nạn tới các thành phố khác để tạo sức ép kinh tế - xã hội cho các thành phố này.

Khi trận đánh chính hay sự vây hãm đã kết thúc, người ta cho rằng các lực lượng Mông Cổ sẽ vẫn truy đuổi các thủ lĩnh đối phương cho đến khi họ chắc chắn rằng những kẻ này đã chết.

Những cuộc tàn sát[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 10 tuổi, Thành Cát Tư Hãn đã giết chết người em trai cùng cha khác mẹ trong một vụ tranh giành thức ăn.

Theo các sử gia, Thành Cát Tư Hãn đã trực tiếp tham gia 32 trận đánh lớn, 65 trận đánh nhỏ. Trong quá trình chinh chiến, Thành Cát Tư Hãn đã thực hiện nhiều cuộc tàn sát đẫm máu. Không chỉ tận diệt quân đội của đối thủ, ông cũng sẵn sàng tàn sát toàn bộ người dân trong một thành phố, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em, nếu thành phố đó kháng cự lại quân đội của ông. Tiếng hung bạo đã được loan truyền khắp châu Âu, kỵ binh Mông Cổ khét tiếng đến độ người ta than rằng: "Cỏ không mọc được dưới vó ngựa Hung Nô"

Theo nhiều số liệu, các cuộc tấn công của người Mông Cổ có thể đã làm sụt giảm dân số toàn thế giới thời đó đi khoảng 11%[18], tương đương với khoảng 45 triệu người.

Mông Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 20 tuổi, Thành Cát Tư Hãn đánh bại bộ lạc Thát Đát đã gây ra cái chết của cha mình. Ông có cách trả thù vô cùng tàn khốc, đó là nam giới bị trói vào trục bánh xe, người nào cao hơn trục bánh xe đều bị chém đầu. Hàng vạn người Thát Đát đã bị chém đầu theo cách này.

Trung Á[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1219, sau khi vua của đế chế Khwarezm giết sứ giả Mông Cổ, ông đã xua toàn bộ quân đội xâm chiếm đế chế này. Cuộc chiến sau đó đã khiến khoảng 4 triệu thường dân Khwarezm bỏ mạng, và đế chế Khwarezm đã bị phá hủy hoàn toàn:

  • Mùa xuân năm 1220, thành Bukhara, một trung tâm nổi tiếng ở Trung Á bị phá trụi. Nhà sử học Ipanaxia đã viết về sự kiện này như sau: "Đó là một ngày vô cùng bất hạnh, chỉ nghe tiếng khóc bi ai vĩnh việt của già trẻ trai gái. Bọn man rợ (quân Mông Cổ) đã làm nhục phụ nữ trước mặt những người bất hạnh... Có những người thà chết không muốn chứng kiến thảm cảnh ấy."[19]
  • Từ Bukhara, Thành Cát Tư Hãn tiến đánh Samarkand, một kinh thành cổ kính và giàu có và chỉ trong 5 ngày thành này bị hạ. 3/4 dân cư thành phố bị giết.
  • Năm 1220, đạo quân Mông Cổ tới thị trấn Urgenc trên bờ sông Amou-Daria, phía nam biển Aral. Ở đấy diễn ra một trận tàn sát dã man, người ta nói rằng có tới 100 ngàn người trong thành bị giết. Quân Mông Cổ đào kênh, phá đê dẫn nước vào dìm chết toàn bộ người trong thành.
  • Tại thành phố Nishapur, Ba Tư vào tháng 4/1221, con rể của Thành Cát Tư Hãn đã bị trúng tên và tử trận. Để trả thù, Thành Cát Tư Hãn ra lệnh tàn sát toàn bộ người trong thành phố. Theo các nhà sử học Iran như Rashid-ad-Din Fadl Allah thì quân Mông Cổ đã giết khoảng trên 1 triệu dân ở Nishapur. Trong cuộc trả thù đó, cả phụ nữ, trẻ em, trẻ sơ sinh, thậm chí là cả súc vật cũng bị sát hại. Sau đó, để chiều lòng cô con gái rượu vừa góa chồng, Thành Cát Tư Hãn hạ lệnh chặt đầu người dân và xếp chồng chất thành những kim tự tháp sọ người.
  • Đầu năm 1221, ở Merv, (thành phố Mary tại Turkmenistan ngày nay), quân Mông Cổ đã giết trên 700.000 dân, chỉ tha cho 400 thợ thủ công và một số trẻ nhỏ bị bắt làm nô lệ. Người ta phải mất 13 ngày liền mới đếm hết các xác chết.
  • Thành Balk ở Afghanistan cũng chung số phận: già trẻ lớn bé đều bị bắt xếp hàng 10, hàng 100 như quân đội, rồi lính Mông Cổ cầm dao, cầm giáo giết từng loạt.

Nhiều công trình nghệ thuật, những thư viện phong phú, cung điện và giáo đường ở Trung Á cũng bị tàn phá nặng nề trong cuộc chinh phạt của Thành Cát Tư Hãn.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc cũng chịu sự tàn sát kinh hoàng của quân Mông Cổ. Trong thời gian đế quốc Mông Cổ chinh phục Tây Hạ, Kim và Nam Tống (từ 1211 tới 1279), quân Mông Cổ thường hay tiến hành tàn sát và cướp bóc trên quy mô lớn[20]:

  • Năm 1214, sau 3 năm tàn phá nước Kim, Thành Cát Tư Hãn cho rút quân về Mông Cổ, bắt đi hàng vạn tù binh và chiến lợi phẩm, nhưng số tù binh này đã không còn đủ sức vượt qua sa mạc Gobi. Trước thực tế ấy, Thành Cát Tư Hãn cho chọn lại những nho sĩ, nghệ sĩ và thợ giỏi, số còn lại đều bị giết.
  • Tháng 4/1215, quân Mông Cổ sau khi đánh hạ Yên Kinh của nước Kim đã tàn sát dân chúng, đốt phá khắp nơi. Ngoài 5 vạn quân Kim, đã có khoảng 50 vạn dân chúng bị giết. 10 vạn phụ nữ lên thành nhảy xuống tự tử vì sợ bị hãm hiếp. Trong 3 tháng, thành Yên Kinh vẫn còn bốc cháy.
  • Năm 1227, sau khi đánh bại các lực lượng Tây Hạ và tàn sát kinh đô của họ, Thành Cát Tư Hãn để lại di chiếu hạ lệnh hành quyết toàn bộ hoàng tộc Tây Hạ để trừng phạt việc họ dám thách thức ông.
  • Sau khi nhà Kim diệt vong năm 1234, khu vực Hoa Bắc ước tính có 1,1 triệu hộ với 6 triệu người, chỉ bằng 13% so với mức 53,5 triệu người vào năm 1208.[21]
  • Trước khi người Mông Cổ xâm lược, Trung Quốc có khoảng 100 triệu dân; sau khi hoàn thành việc xâm lấn năm 1279, điều tra dân số năm 1290 cho thấy chỉ còn khoảng 58,8 triệu dân.

Từ các số liệu dân số trên, nhiều học giả cho rằng chính quân Mông Cổ đã gây ra nguyên nhân cái chết của ít nhất 40 triệu người Trung Quốc, khoảng 1/3 trong số đó là dưới tay của Thành Cát Tư Hãn (giai đoạn 1211-1227).

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Phụ mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Thê thiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Cát Tư Hãn có khoảng 40 thê thiếp, sống trong 4 "Oát nhi đóa":

Đệ nhất Oát Nhi Đóa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chính cung Đại Hoàng hậu Bật Tê (孛兒帖; tiếng Mông Cổ: ᠪᠥᠷᠲᠡ, Chuyển tự Latinh: Börte, chữ Mông Cổ: Бөртэ; 1161 - 1236), Hoằng Cát Lạt thị (弘吉剌氏; Хонгирад; Onggirat). Năm 1206 lập làm Hoàng hậu. Năm 1266 được truy thụy Quang Hiến Hoàng hậu (光献皇后). Năm 1310 được thêm thụy, trở thành Quang Hiến Dực Thánh Hoàng hậu (光献翼圣皇后).
  • Hoàng hậu Hốt Lỗ Hồn (忽鲁浑皇后; Хулухун хатан)
  • Hoàng hậu Khoát Lý Kiệt (闊里桀皇后; Хөлигэ хатан)
  • Hoàng hậu Thoát Hốt Tư (脱忽思皇后; Төгс хатан)
  • Hoàng hậu Thiếp Mộc Luân (帖木倫皇后; Тэмүлүн хатан)
  • Hoàng hậu Diệc Liên Chân Bát Lạt (亦憐真八剌皇后; Ринчинбал хатан)
  • Hoàng hậu Bất Nhan Hỗn Thốc (不顏渾禿皇后; Буян хутуг[22])
  • Cung phi Hỗn Thắng Hải (忽勝海妃子; Хушэнхай татвар)

Đệ nhị Oát Nhi Đóa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhị hoàng hậu Hốt Lan (忽蘭; tiếng Mông Cổ: ᠬᠤᠯᠠᠨ, Chuyển tự Latinh: qulan, chữ Mông Cổ: Хулан), Miệt Nhĩ thị (蔑兒乞氏; Мэргид; Merkit).
  • Hoàng hậu Cáp Nhi Bát Chân (哈儿八真皇后; Харбажин хатан) hay Hoàng hậu Cổ Nhi Biệt Tốc (古儿别速)
  • Hoàng hậu Diệc Khất Lặc Chân (亦乞剌真皇后; Ихиржин хатан)
  • Hoàng hậu Thoát Hốt Tư (脱忽思皇后; Төгс хатан)
  • Cung phi Dã Chân (也真妃子; Ижин татвар эм)
  • Cung phi Dã Lý Hốt Thốc (也里忽秃妃子; Илихутуг татвар эм)
  • Cung phi Sát Chân (察真妃子; Чажин татвар эм)
  • Cung phi Cát Lạp Chân (哈剌真妃子; Харжин татвар эм)

Đệ tam Oát Nhi Đóa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tam hoàng hậu Dã Toại (也遂皇后; Есүй хатан), Thát Đát thị (塔塔儿氏; Татарын).
  • Hoàng hậu Dã Tốc Can (也速干皇后; Есүгэн хатан). Chị gái Hoàng hậu Dã Toại.
  • Hoàng hậu Hốt Lỗ Cáp Lạt (忽鲁哈剌皇后; Хурхар хатан)
  • Hoàng hậu A Thất Luân (阿失伦皇后; Ашилун хатан)
  • Hoàng hậu Thốc Nhi Cáp Lạt (秃儿哈剌皇后; Турхал хатан)
  • Hoàng hậu Sát Hợp (察儿皇后; Чар хатан). Công chúa Tây Hạ, con gái của Tây Hạ Tương Tông Lý An Toàn.
  • Hoàng hậu A Tích Mê Thất (阿昔迷失皇后; Ашимиши хатан)
  • Hoàng hậu Hoàn Giả Hốt Đô (完者忽都皇后; Өлзийхуту хатан)
  • Cung phi Lạt Bá (剌伯妃子; Лавай татвар эм)
  • Cung phi Khố Nhĩ Hồ Đại (Хурхудай татвар эм)
  • Cung phi Hốt Lỗ Khôi (忽鲁灰妃子; Хулуху татвар эм)

Đệ tứ Oát Nhi Đóa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Công chúa Hoàng hậu (公主皇后; Гүнж хатан); Hoàn Nhan thị (完顏氏). Kỳ Quốc Công chúa của Nhà Kim, con gái của Vệ Thiệu vương Hoàn Nhan Vĩnh Tế. Địa vị đứng thứ 4. Vì thân phận cao quý mà được xưng "Công chúa Hoàng hậu". Có tài liệu cho rằng bà được Thành Cát Tư Hãn ban cho riêng một Oát Nhi Đóa, còn người đứng đầu Đệ tứ Oát Nhi Đóa là Hoàng hậu Dã Tốc Can.
  • Hoàng hậu Hợp Đáp An (合答安皇后; Хадаан хатан); Tốc Lặc Tốn Đô thị (速勒逊都氏; Сүлдүсний)
  • Hoàng hậu Oát Giả Hốt Tư (斡者忽思皇后; Үзэхүс хатан)
  • Hoàng hậu Yến Lý (燕里皇后; Яньли хатан)
  • Cung phi Thốc Cai (秃干妃子; Туган татвар)
  • Cung phi Hoàn Giả (完者妃子; Өлзий татвар)
  • Cung phi Kim Liên (金莲妃子; Жинлян татвар)
  • Cung phi Hoàn Giả Đài (完者台妃子; Өлзийтэй татвар)
  • Cung phi Nô Luân (奴伦妃子; Нурун татвар)
  • Cung phi Mão Chân (卯真妃子; Мажин татвар)
  • Cung phi Tỏa Lang Cáp (锁郎哈妃子; Суранхай татвар эм)

Các Hoàng hậu khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Diệc Ba Hợp Biệt Khất (亦巴合別乞; Ибага бэхи); Khắc Liệt thị (克烈氏; Хэрээдийн). Con gái của Trát Hợp Cảm Bất (札合敢不; Жаха Хамбу), chị gái của Toa Lỗ Hòa Thiếp Ni - Hoàng hậu của Đà Lôi, mẹ của Hốt Tất Liệt. Năm 1206, bà được Thành Cát Tư Hãn tặng cho Vữu Nhĩ Cơ Đức (尤尔基德; Жүрчидэй баатарт) của bộ lạc Ô Lỗ Đức (乌鲁德; Уруд).
  • Hoàng hậu Mạc Cách (Мөгэ хатан), sau trở thành Hoàng hậu của Oa Khoát Đài.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

(8 người, 4 người đầu tiên là đích trưởng tử, do Đại hoàng hậu Bật Tê sinh ra)

  1. Truật Xích (术赤, tiếng Mông Cổ: ᠵᠥᠴᠢ, Chuyển tự Latinh: J̌öci, chữ Mông Cổ: Зүчи; 1181 - 1227), Hãn của Hãn quốc Kim Trướng.
  2. Sát Hợp Đài (察合台, tiếng Mông Cổ: ᠴᠠᠭᠠᠲᠠᠢ, Chuyển tự Latinh: Čaγatai, chữ Mông Cổ: Цагадай; 1183 - 1242), Hãn của Hãn quốc Sát Hợp Đài.
  3. Oa Khoát Đài (窩闊台, tiếng Mông Cổ: ᠣᠭᠡᠳᠡᠢ
    ᠬᠠᠭᠠᠨ
    , Chuyển tự Latinh: Ögedei qaγan, chữ Mông Cổ: Өгөдэй хаан; 1186 - 1241), Đại Hãn kế vị của đế quốc Mông Cổ.
  4. Đà Lôi (拖雷, tiếng Mông Cổ: ᠲᠤᠯᠤᠢ, Chuyển tự Latinh: Tului, chữ Mông Cổ: Тулуй; 1191 - 1232), Nhiếp chính của Quý Do. Là cha của Húc Liệt Ngột - Hãn của Hãn quốc Y Nhi, và 2 Đại Hãn Mông Cổ là Mông KhaHốt Tất Liệt.
  5. Khoát Liệt Kiên (阔列坚, Хүлгэн ноён; ? - 1238), mẹ là Hốt Lan. Cùng đãi ngộ với 4 đích trưởng tử. Con trai ông là Hốt Sát (忽察) được phong Hà Gian vương, hậu duệ trở thành An Định vương.
  6. Ngột Lỗ Xích (兀鲁赤, Үрүчи; 1195 - 1211 ~ 1213), không rõ mẹ. Mất sớm.
  7. Sát Ngột Nhi (察兀儿, Харачар), mẹ là Dã Tốc Can. Mất sớm.
  8. Thuật Nhi Triệt (术儿彻, Журчидай), mẹ là một phụ nữ Nãi Man, có khả năng là Hoàng hậu Cổ Nhi Biệt Tốc.

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

(5 người, đều do Đại hoàng hậu Bật Tê sinh ra)

  1. Hỏa Thần Biệt Các (火臣别吉, tiếng Mông Cổ: ᠬᠣᠵᠢᠨ
    ᠪᠡᠬᠢ
    , Chuyển tự Latinh: Qoǰin Beqi, chữ Mông Cổ: Хожин бэхи) còn được dịch là Khoát Chân Biệt Khấc (豁真别乞). Ban đầu được hứa gả cho Ngốc Tát Hợp - cháu nội của Thoát Lý. Tuy nhiên hoán thân không thành. Cuối cùng, bà được gả làm Kế thất cho Bột Ngốc (孛秃) - con trai của Diệc Khấc Liệt Tư bộ Niết Quần. Năm 1321 được truy phong Xương Quốc Đại Trưởng Công chúa.
  2. Đồ Đồ Can (阇阇干, tiếng Mông Cổ: ᠴᠡᠴᠡᠢᠢᠬᠡᠨ, chữ Mông Cổ: Цэцэйхэн) còn được dịch là Xả Xả Can (扯扯干) hay Xả Xả Diệc Can (扯扯亦坚), Khoát Khoát Can (阔阔干), gả cho Thoát Liệt Lặc Xích (脱劣勒赤), con trai của Hốt Đô Hợp Biệt Khấc - thủ lĩnh của Oát Diệc Lạc bộ, một bộ lạc kết minh với Thành Cát Tư Hãn. Sau khi kết hôn, Thành Cát Tư Hãn giao cho bà quản lý Oát Diệc Lạc. Bà cùng các chị em của mình đã cùng nhau khống chế một phần quan trọng của Con đường tơ lụa. Bà được phong làm Duyên An Công chúa.
    • Con trai:
      1. Bất Hoa Thiếp Mộc Nhi (不花帖木儿)
      2. Bát Lập Thác (八立托)
      3. Ba Nhi Tư Bất Hoa (巴儿思不花)
    • Con gái:
      1. Ngột Lỗ Hốt Nãi (兀鲁忽乃)
  3. A Lạt Hải Biệt Các (阿剌海别吉, tiếng Mông Cổ: ᠠᠯᠠᠭ᠎ᠠ
    ᠪᠡᠬᠢ
    , Chuyển tự Latinh: Alaγa Beqi, chữ Mông Cổ: Алага бэхи) hay A Lạt Hợp Biệt Khấc (阿剌合·别乞), được gả cho Uông Cổ bộ. Vì bà chưởng quản Uông Cổ bộ mà được xưng là "Giám quốc Công chúa" (国公主的, Төр захирагч гүнж). Bà thống lĩnh Uông Cổ bộ 20 năm. Năm 1305 được truy phong làm Tề Quốc Đại Trưởng Công chúa. Năm 1311 được gia phong Triệu Quốc Đại Trưởng Công chúa.
  4. Ngốc Mãn Luân (秃满伦, tiếng Mông Cổ: ᠲᠦᠮᠡᠯᠦᠨ, Chuyển tự Latinh: Tümelün, chữ Mông Cổ: Түмэлүн) hay Ngốc Mã Luân (秃马伦), gả cho Xích Cổ của Hoàng Cát Lạt bộ. Năm 1236 được truy phong làm Vận Quốc Công chúa (郓国公主, Юань улсын гүнж).
  5. A Lặc Tháp Luân (阿勒塔伦, Алталун) hay A Lặc Tháp Lỗ Hãn (阿勒塔鲁罕), A Nhi Đáp Lỗ Hắc (阿儿答鲁黑), Án Tháp Luân (按塔伦), gả cho Tháp Suất (塔出) của Oát Lặc Hốt Nột Ngột Dịch bộ - nhà ngoại của Thành Cát Tư Hãn.
    • Con trai: Thuật Chân Bá (术真伯) hay Trát Ngột Nhi Tiết Thiện (扎兀儿薛禅), lần lượt cưới 2 con gái của Nguyên Hiến Tông Mông Kha là Thất Lân Công chúa và Tất Xích Hợp Công chúa.

Người "truyền giống"[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nghiên cứu mẫu gene của 16 dân tộc ở châu Á, chương trình nghiên cứu gene của ĐH Leicester (Anh) tin rằng, có tới 16 triệu hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn còn sống tới ngày nay. Điều này đồng nghĩa ông đã phải "gây giống" cho hàng ngàn phụ nữ.

Theo một số tư liệu, Thành Cát Tư Hãn có một chính sách rất đặc biệt: thu phục và bắt giữ tất cả những cô gái xinh đẹp nhất ở mỗi vùng đất mà ông chiếm đóng. Với mỗi lần hành quân trở về, Thành Cát Tư Hãn cùng các tướng tá khác ngồi trong lều, ăn một mâm đầu thịt ngựa và xem mặt những cô gái tù binh.

Thành Cát Tư Hãn được chọn lựa mỹ nữ trước tiên và tiêu chí hàng đầu của ông là mũi nhỏ, hông trái lê, tóc dài như suối, môi đỏ như hoa hồng và giọng nói trong trẻo như tiếng chim ca. Cô nào không đạt yêu cầu sẽ bị đẩy xuống cho binh sĩ cấp dưới.

Một lần nọ, một tướng của Thành Cát Tư Hãn tranh cãi với minh chủ của mình ở đời điều gì là thú vị nhất. Đại đa số người có mặt trong lều cho rằng thú nuôi chim ưng là tuyệt vời nhất. Cần biết rằng Thành Cát Tư Hãn sở hữu tới 800 con chim ưng các loại. Nhưng Thành Cát Tư Hãn đứng lên và dõng dạc tuyên bố: "Thú vui lớn nhất đời ta là chinh phục quân thù, đuổi chúng chạy bán sống bán chết, cướp hết tài sản, xem chúng khóc lóc xin tha mạng, cưỡi ngựa của chúng và véo mông những bà vợ, cô gái xinh đẹp" - theo tác giả Christopher Hudson từ báo Daily Mail.

Dù vậy nhiều nhà di truyền cho rằng con số 16 triệu người sống trải dài từ Trung Quốc tới Trung Đông có chung gene với Thành Cát Tư Hãn là điều không thể. Dù ông có thể "năng suất" nhưng con số này là quá lớn với một người bình thường.

Nhiều sử gia thì cho rằng con số 16 triệu là chính xác với phạm vi ảnh hưởng của Thành Cát Tư Hãn trong thế kỷ 13. Cần nhớ rằng ông đã lãnh đạo đội quân Mông Cổ thiện chiến tới những vùng xa xôi nhất của châu Âu, giết hại quân thù và bắt cóc rất nhiều phụ nữ đẹp.

Thành Cát Tư Hãn trong thế giới hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận thức về ông[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Cát Tư Hãn là nhân vật bị phân cực nhiều nhất trong cách đánh giá của người phương Đông và phương Tây. Ở phương Tây và Trung Đông, hình ảnh của ông không được tích cực lắm vì ông đã giết quá nhiều người cũng như là mối đe dọa đối với cuộc sống và tài sản của họ. Tuy nhiên, ở phương Đông thì ông là một trong những lãnh tụ có ảnh hưởng to lớn đối với lịch sử. Ngày nay, những người Mông Cổ tìm thấy ở ông như là người sáng lập ra và thống nhất Mông Cổ, là điều mà họ không thể có được trước khi có ông. Ngược lại, ở Trung Đông, người ta có cách đánh giá hơi pha trộn về ông và các hậu duệ của ông vì quân đội của họ đã xâm chiếm và tiêu hủy thành Baghdad, nhưng cuối cùng thì một số trong quân đội Mông Cổ đã chuyển sang theo đạo Hồi và có cuộc sống pha trộn với dân bản xứ. Một số trường phái và các nhà khoa học, phụ thuộc vào gốc gác của họ, cho rằng những người Mông Cổ là những người xây dựng hay những kẻ hủy diệt vĩ đại nhất.

Thành Cát Tư Hãn và những người Mông Cổ là một trong những chủ đề trái ngược nhau theo các cách hiểu khác nhau tùy theo vị trí mà ta xem xét, trong đó tiêu cực nhất là từ châu Âu và Trung Đông là những nơi đã từng bị đe dọa và tiêu diệt (ví dụ: châu Âu, Ba Lan, Hungary, một phần của Nga).

Sự nhìn nhận mâu thuẫn về Thành Cát Tư Hãn ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày nay bởi vì các nhà sử học Trung Quốc vừa nhìn thấy ở ông mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực. Trong khi người ta nhận thức được những tổn thất nặng nề mà ông gây ra, thì hình ảnh của ông trong một phương diện nào đó lại được nhìn nhận tốt hơn do ông đã kết thúc sự chia rẽ bắc-nam Trung Hoa có từ thời Nhà Tống đi vào dĩ vãng. Bên cạnh đó, sự phỉ báng Thành Cát Tư Hãn là một sự xúc phạm ghê gớm đối với các công dân Trung Quốc có nguồn gốc Mông Cổ, là những người coi Thành Cát Tư Hãn như một người anh hùng dân tộc trong khi xu hướng lịch sử Trung Quốc hiện đại tránh nói tới điều đó.

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Các hậu duệ của ông đã mở rộng quốc gia của ông rộng hơn về phía nam Trung Quốc, Nga, Iraq, Triều Tiên và Tây Tạng. Người Mông Cổ cuối cùng đã xâm chiếm Ba Lan và Hungary dưới triều đại của Bạt Đô nhưng hoàn toàn thất bại trong các cuộc xâm lược đối với Syria, Nhật BảnViệt Nam (vì lý do thời tiết đối với các cuộc xâm lược Nhật Bản, các lý do như khí hậu nóng bức, nhất là ở Trung Đông như Ả Rập Xê Út, với khó khăn về vị trí địa lý + mạng lưới sông ngòi dày đặc và chiến thuật "vườn không nhà trống" của Việt Nam trong suốt ba cuộc xâm lược). Việc mở rộng về phía châu Âu bị ngừng lại do nhiều lý do như các thành viên cao cấp của người Mông Cổ phải quay về Mông Cổ (ngày nay) để bầu đại hãn mới hay do sự kháng cự của người châu Âu quá mạnh v.v. Người Mông Cổ đã có thể xâm chiếm toàn bộ châu Âu do họ xâm chiếm Ba Lan và Hungary chỉ trong thời gian khoảng một vài tháng. Đế chế Mông Cổ đạt tới cực đại của nó vào thời của cháu nội ông, đại hãn Hốt Tất Liệt, vua triều Nguyên, nhưng sau đó đã bị chia sẻ thành nhiều hãn quốc nhỏ và ít sức mạnh hơn.

Vào thời cực thịnh, Đế chế Mông Cổ đạt tới diện tích lớn nhất trong lịch sử loài người, trải dài từ Đông Nam Á tới châu Âu trên một diện tích 35 triệu km vuông (13,8 triệu dặm vuông). Theo một số nguồn, đế chế này chiếm tới gần 50% dân số thế giới và bao gồm các dân tộc đông dân và văn minh nhất thời kỳ đó như Trung Quốc và phần lớn các quốc gia của thế giới Hồi giáo ở Iraq, Ba Tư và Tiểu Á.

Không thể phủ nhận là những cuộc chiến tranh của Thành Cát Tư Hãn được đặc trưng bởi sự phá hủy toàn bộ với một mức độ chưa hề có cũng như sự thay đổi lớn trong phân bố dân cư châu Á.[23][24] Theo như các số liệu của các nhà sử học Iran như Rashid-ad-Din Fadl Allah, thì người Mông Cổ đã giết khoảng trên 70.000 dân ở Merv và trên một triệu dân ở Nishapur. Trung Quốc cũng chịu sự suy giảm bi thảm về dân số. Trước khi người Mông Cổ xâm lược Trung Quốc có khoảng 100 triệu dân; sau khi hoàn thành việc xâm lấn năm 1279, điều tra dân số năm 1300 cho thấy chỉ còn khoảng 60 triệu dân. Điều này không có nghĩa là những người của Thành Cát Tư Hãn phải chịu trách nhiệm trực tiếp đối với cái chết của 40 triệu người nhưng nó cho thấy mức độ của sự tàn bạo trong các cuộc giao tranh.

Trong thời gian gần đây, Thành Cát Tư Hãn đã trở thành biểu tượng của những cố gắng vươn tới của người Mông Cổ để thế giới thấy được hình ảnh của họ sau những năm dài ngủ quên. Hình ảnh Thành Cát Tư Hãn xuất hiện trên những đồng tiền Mông Cổ và nhãn mác của các loại rượu mạnh. Trong thế giới phương Tây ông thường được gắn với sự khát máu và man rợ. Các hãn Mông Cổ sau này cổ vũ dân chúng tưởng niệm tới ông như một vị thánh thần tôn giáo trong toàn đế chế. Không có Thành Cát Tư Hãn có lẽ đã không có Mông Cổ, bởi vì đế chế Mông Cổ đã co lại từ những cái mà Thành Cát Tư Hãn đã dựng lên từ năm 1206. Sự miêu tả có ý nghĩa về Thành Cát Tư Hãn và những người Mông Cổ (dẫu cho không phải thực tế lắm) được viết trong cuốn sách "Những bí mật của lịch sử Mông Cổ".

Cuộc thẩm tra di truyền gần đây[25] tìm thấy các đoạn nhiễm sắc thể Y với những đặc trưng không bình thường trong 8% đàn ông trong khu vực thuộc đế chế Mông Cổ và 0,5% đàn ông trên thế giới. Tuổi của các đoạn này, tương ứng với tỷ lệ của sự biến đổi, đã đưa nguồn gốc của chúng về thời đại của Thành Cát Tư Hãn, và nó đặc biệt là chung trong những người Hazara, là những người tự nhận là hậu duệ của ông.

Ông được nhớ đến vì sự hủy diệt toàn bộ, sức mạnh ý chí mãnh liệt, khả năng thuyết phục và đặc trưng Mông Cổ của mình đối với mọi người.

Thành Cát Tư Hãn trong đời sống văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu thuyết hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Cát Tư Hãn được tiểu thuyết hoá trở thành một nhân vật trong truyện kiếm hiệp Anh hùng xạ điêu của Kim Dung. Theo truyện này, ông rất yêu quý nhân vật chính Quách Tĩnh, từng hứa gả con gái Hoa Tranh cho chàng, phong cho chàng tước Kim Đao phò mã. Thành Cát Tư Hãn cũng là người bức tử Lý Bình, mẹ của Quách Tĩnh. Trong truyện, Thành Cát Tư Hãn mất sau khi nói chuyện với Quách Tĩnh trên thảo nguyên.

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Diễn viên vai
Thành Cát Tư Hãn
Đạo diễn Ghi chú
1950 Thành Cát Tư Hãn Manuel Conde Manuel Conde, Lou Salvador
2007 Mongol: The Rise of Genghis Khan Tadanobu Asano Sergei Bodrov Phim được đề cử Giải Oscar cho Phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất năm 2007

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Cát Tư Hãn 2004 do diễn viên người Nội Mông là Ba Sâm (tên Mông Cổ là Batdorj-in Baasanjab, hậu duệ của Sát Hợp Đài, con thứ hai của Thành Cát Tư Hãn) trong vai Thành Cát Tư Hãn.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1979, nhóm nhạc Nhật Bản Berryz Koubou cho ra mắt đĩa đơn Dschinghis Khan. Bài hát nói về sự dũng mãnh đến đáng sợ của quân đội Mông Cổ lãnh đạo bởi Thành Cát Tư Hãn và được đánh giá rất cao bởi âm điệu bắt tai người nghe. Năm 2016, Miike Snow cũng cho ra mắt MV Genghis Khan và gây được tiếng vang cho sự nghiệp của anh. Đó còn chưa kể đến những bản dân ca vốn đã được truyền tụng của người Mông Cổ.

Trò chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc đời và những thành quả của ông và các thế hệ sau khi ông qua đời từ lúc khởi đầu cho tới lúc xâm chiếm được Hungary đã được mô phỏng lại trong game dàn trận chiến thuật Age of Empires II, chế độ chơi Chiến dịch (Campaign).

Câu nói[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sử gia người Ba Tư Rashid al-Din cho rằng Thành Cát Tư Hãn sống tới 72 tuổi, và như thế năm sinh của ông là 1155. Nguyên sử (元史) quyển 1 - Bản kỷ 1: Thái Tổ ghi năm sinh của ông là 1162. Theo Ratchnevsky, việc chấp nhận năm sinh là 1155 nghĩa là Thành Cát Tư Hãn làm cha khi khoảng 30 tuổi và có thể hàm ý rằng ông tự mình chỉ huy cuộc chiến chống lại người Đảng Hạng ở độ tuổi 72. Ngoài ra, theo Altan Tobci, em gái của Thành Cát Tư Hãn là Thiết Mộc Lôn (Temülin) ít hơn ông 9 tuổi; nhưng Bí sử Mông Cổ thuật lại rằng Thiết Mộc Lôn là một đứa trẻ còn ẵm ngửa khi người Miệt Nhi Khất (Merkit) tấn công, khi đó Thành Cát Tư Hãn sẽ khoảng 18 tuổi, nếu như ông sinh năm 1155. Zhao Hong thông báo trong nhật ký hành trình của mình rằng những người Mông Cổ ông hỏi đều không biết và không bao giờ biết tuổi của họ.
  2. ^ Top sự thật gây sốc về tội ác Thành Cát Tư Hãn
  3. ^ Chapitre 1: «Gengis Khan» dans Gengis Khan et l'Empire mongol de Jean-Paul Roux, Découvertes Gallimard, 2002.
  4. ^ Gia tộc Borjigin là gia tộc lâu đời của Mông Cổ, sống quanh vùng núi Burkhan Khaldun. Các thủ lĩnh của gia tộc này là: Kharchu, Borjigidai Mergen, Dobun Mergen, Butunchar Munkhag, Nữ hoàng Monolun (1000 - 1055), Khaidu (1040-1100), Tumbinai Setsen (1100 - 1130), Khabul Khan (1130 - 1146), Ambaghai Khan (1148 - 1156), Hotula Khan (1156 - 1160), Yesükhei (1160 - 1171), Genghis Khan: 1171 - 1206
  5. ^ Morgan David (1990). The Mongols (Peoples of Europe). tr. 58.
  6. ^ Theo Mông Cổ bí sử
  7. ^ The secret history of Mongols: A Mongolian epic chronicle of thirteen century, Igor de Rachewiltz (2015), chapter 1, p.14
  8. ^ Tuổi lấy vợ theo truyền thống Mông Cổ
  9. ^ The secret history of Mongols: A Mongolian epic chronicle of thirteen century, Igor de Rachewiltz (2015), chapter 2, p.18
  10. ^ “The Emperors of Emperors”. Đại học bang California, Chico. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2008.
  11. ^ Trang một trong Singing the village: Music, Memory and Ritual Among the Sibe of Xinjiang, Rachel Harris, Nhà in Đại học Oxford, 2004
  12. ^ Weatherford Jack (2004). “2: Tale of Three Rivers”. Genghis Khan and the Making of the Modern World. Three Rivers Press. tr. 44. ISBN 0-609-80964-4.
  13. ^ Man John (2004). Genghis Khan: Life, Death and Resurrection. Luân Đôn; New York: Bantam Press. ISBN 0-593-05044-4.
  14. ^ “Genghis Khan (1165-1227)”. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2002.
  15. ^ De Hartog Leo (1988). Genghis Khan: Conqueror of the World. Luân Đôn, UK: I.B. Tauris. Trang 122–123.
  16. ^ Kiến thức ngày nay số 707, Di chúc của Thành Cát Tư Hãn trang 23
  17. ^ www.guardian.co.uk
  18. ^ 10 điều ít biết về thủ lĩnh Mông Cổ Thành Cát Tư Hãn khét tiếng
  19. ^ Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên-mông thế kỷ XIII, Sđd, tr.47-48
  20. ^ 清朝光绪年间《潼川府志》卷五所载明人王维贤《九贤祠记》
  21. ^ 《中国人口发展史》,第201页和第211页。 作者:葛剑雄 福建人民出版社,1991年出版。
  22. ^ хутуг tức Khả đôn, tương đương với Hoàng hậu
  23. ^ (tiếng Anh) Ahmad Kamron Jabbari; "The Legacy of Genghis Khan" at Los Angeles County Museum of Art--again; Payvand.com; 14 juin 2003
  24. ^ (tiếng Anh) Azar Mahloujian; Phoenix From the Ashes: A Tale of the Book in Iran; Iran Chamber Society, 2002
  25. ^ Tatiana Zerjal et al. 2003,Các trang báo dạng *.pdf: The Genetic Legacy of the Mongols bản lưu 20/9/2003
  26. ^ “Balotelli xăm lên ngực câu nói của Thành Cát Tư Hãn”. Thanh Niên Online. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn thứ cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • “Genghis Khan”. Funk & Wagnalls New Encyclopedia. World Almanac Education Group. 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008 – qua History Channel.
  • Brent, Peter (1976). The Mongol Empire: Genghis Khan: His Triumph and His Legacy. London: Weidenfeld & Nicolson. ISBN 978-0-297-77137-1.
  • Bretschneider, Emilii (2002). Mediæval Researches from Eastern Asiatic Sources; Fragments Towards the Knowledge of the Geography & History of Central & Western Asia. This Elibron Classics book is a facsimile reprint of an 1888 edition by Trübner & Co., London. Adamant Media Corporation. ISBN 978-1-4021-9303-3.
  • Cable, Mildred; French, Francesca (1943). The Gobi Desert. London, England: Landsborough Publications.
  • Chapin, David (2012). Long Lines: Ten of the World's Longest Continuous Family Lineages. VirtualBookWorm.com. College Station, Texas. ISBN 978-1-60264-933-0.
  • Charney, Israel W. (1994). Genocide: A Critical Bibliographic Review. New York, NY: Facts on File Publications.
  • Farale, Dominique (2002). De Gengis Khan à Qoubilaï Khan: la grande chevauchée mongole. Campagnes & stratégies (bằng tiếng Pháp). Paris, France: Economica. ISBN 978-2-7178-4537-2.
  • Farale, Dominique (2007). La Russie et les Turco-Mongols: 15 siècles de guerre (bằng tiếng Pháp). Paris, France: Economica. ISBN 978-2-7178-5429-9.
  • Kennedy, Hugh (2002). Mongols, Huns & Vikings. London: Cassell. ISBN 978-0-304-35292-0.
  • Kradin, Nikolay; Skrynnikova, Tatiana (2006). Imperiia Chingis-khana (Chinggis Khan Empire) (bằng tiếng Nga). Moscow, Russia: Vostochnaia literatura. ISBN 978-5-02-018521-0. (summary in English)
  • Kradin, Nikolay; Skrynnikova, Tatiana (2006). “Why do we call Chinggis Khan's Polity 'an Empire'”. Ab Imperio. 7 (1): 89–118. doi:10.1353/imp.2006.0016. 5-89423-110-8.
  • Lamb, Harold (1927). Genghis Khan: The Emperor of All Men. New York, NY: R. M. McBride & company.
  • Lister, R. P. (2000). Genghis Khan. Lanham, Maryland: Cooper Square Press. ISBN 978-0-8154-1052-2.
  • Man, John (1999). Gobi: Tracking the Desert. London, England; New Haven, CT: Weidenfeld & Nicolson; Yale University Press. ISBN 978-0-7538-0161-1.
  • Martin, Henry Desmond (1950). The Rise of Chingis Khan and his Conquest of North China. Baltimore: Johns Hopkins Press.
  • May, Timothy (2001). “Mongol Arms”. Explorations in Empire: Pre-Modern Imperialism Tutorial: The Mongols. San Antonio College History Department. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008.
  • Smitha, Frank E. “Genghis Khan and the Mongols”. Macrohistory and World Report. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2005.
  • Stevens, Keith. “Heirs to Discord: The Supratribal Aspirations of Jamukha, Toghrul, and Temüjin” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008.
  • Stewart, Stanley (2001). In the Empire of Genghis Khan: A Journey among Nomads. London, England: Harper Collins. ISBN 978-0-00-653027-5.
  • Turnbull, Stephen (2003). Genghis Khan & the Mongol Conquests 1190–1400. Oxford, England: Osprey Publishing. ISBN 978-1-84176-523-5.
  • Valentino, Benjamin A. (2004). Final Solutions: Mass Killing and Genocide in the Twentieth Century. Ithaca, NY: Cornell University Press. ISBN 978-0-8014-3965-0.
  • Cable, Mildred (1943). The Gobi Desert. Luân Đôn: Landsborough Publications. Đã bỏ qua tham số không rõ |coauthors= (gợi ý |author=) (trợ giúp)
  • Man, John (1997). Gobi: Tracking the Desert. Luân Đôn: Weidenfield & Nicolson. Sách bìa mềm bởi Phoenix, Orion Books.
  • Stewart, Stanley (2001). In the Empire of Genghis Khan: A Journey among Nomads. Luân Đôn: HarperCollinsPublishers. ISBN 0-00-653027-3.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Cát Tư Hãn
Sinh: , khoảng 1162 Mất: , 1227
Tước hiệu
Tiền nhiệm
(Không)
Khả Hãn của Đế quốc Mông Cổ
1206–1227
Kế nhiệm
Đà Lôi
(nhiếp chính)
Sửa Khả hãn của Đế quốc Mông Cổ
Thành Cát Tư Hãn (1206-1227) | Đà Lôi (nhiếp chính) (1227-1229) | Oa Khoát Đài (1229-1241) | Nãi Mã Chân (nhiếp chính) (1241-1245) | Quý Do (1246-1248) | Hải Mê Thất (nhiếp chính) (1248-1251)| Mông Kha (1251-1259) | Hốt Tất Liệt (1260-1294)