Đà Lôi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Đà Lôi
Tolui Khan
Tolui Khan.jpg
Tranh vẽ hãn Đà Lôi của Rashid-al-Din Hamadani, đầu thế kỷ 14.
Nhiếp chính Đế quốc Mông Cổ
Tại vị25 tháng 8 năm 1227 – 13 tháng 9 năm 1229
Tiền nhiệmThành Cát Tư Hãn
Kế nhiệmOa Khoát Đài
Sorghaghtani trưởng quản gia tộc Đà Lôi.
Thông tin chung
Phối ngẫuSorghaghtani Beki
Saruk Khatun
Lingkun Khatun
Nayan Khatun
Doquz Khatun
Hậu duệMông Kha (1209–1259)
Hốt Tất Liệt (1215–1294)
Húc Liệt Ngột (1217–1265)
A Lý Bất Ca (1219–1266)
Tên đầy đủ
Đà Lôi (Tolui, Тулуй)
Thụy hiệu
Anh Vũ Hoàng đế (英武皇帝, truy tôn năm 1251),
Cảnh Tương Hoàng đế (景襄皇帝, đổi năm 1266),
Nhân Thánh Cảnh Tương Hoàng đế (仁圣景襄皇帝, truy thêm năm 1310)
Miếu hiệu
Duệ Tông (睿宗, truy tôn năm 1251)
Hoàng tộcBột Nhi Chỉ Cân
Thân phụGenghis Khan
Thân mẫuBột Nhi Thiếp
Sinh1192
Mất1232 (40 tuổi)
Mông Cổ
Tôn giáoTengri giáo
Đà Lôi với người vợ theo Kitô giáo Sorghaghtani, tranh của Rashid al-Din, đầu thế kỷ XIV.

Đà Lôi (tiếng Mông Cổ: ᠲᠤᠯᠤᠢ, Chuyển tự Latinh: Tului, Chữ Mông Cổ: Тулуй; chữ Hán: 拖雷; khoảng 1193 – 1232) là con trai út của Thành Cát Tư Hãn với Quang Hiếu hoàng hậu Bột Nhi Thiếp. Ông không ở ngôi Hãn nhưng là cha của vua hãn quốc Y NhiHúc Liệt Ngột và 2 đại hãn của đế quốc Mông CổMông KhaHốt Tất Liệt. Năm Chí Nguyên thứ 3 (1266) con trai ông là Hốt Tất Liệt truy thụy hiệu cho ông là Cảnh Tương hoàng đế, miếu hiệu Duệ Tông.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Đà Lôi vẫn còn rất nhỏ tuổi để phò tá Thành Cát Tư Hãn trong thời kỳ phụ hãn của ông thống nhất Mông Cổ. Đà Lôi thậm chí suýt bị sát hại bởi kẻ thù Thát Đát (Tatar) lúc ông mới 5 tuổi, nhưng may mắn được cứu sống bởi người chị gái Altani cùng 2 cận vệ của Thành Cát Tư Hãn[1]. Năm 1203, ông đính ước với cháu gái của một người bạn thân thiết với tổ phụ Dã Tốc Cai, tên là Sorghaghtani Beki, lúc ông chỉ 10 tuổi.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1213, Đà Lôi phò tá Thành Cát Tư Hãn trong chiến dịch nam hạ chống lại nhà Kim. Đến năm 1221,ông lập được thêm nhiều chiến công trong cuộc tây chinh thôn tính đế chế Hoa Thích Tử Mô (Khwarezm). Đặc biệt, chính ông đã chỉ huy chiếm giữ và thảm sát tại 2 thành phố lớn ở Trung ÁNishapurMerv, khi họ nổi dậy chống lại người Mông Cổ.

Khi Thành Cát Tư Hãn phải quyết định người kế vị ngôi đại hãn, ông đã cân nhắc việc lựa chọn giữa Đà Lôi và Oa Khoát Đài. Mặc dù Đà Lôi là một chỉ huy quân sự xuất sắc trên chiến trường giống như vua cha, nhưng cuối cùng Thành Cát Tư Hãn đã chọn Oa Khoát Đài do ông này lại có năng lực tốt chính trị vượt trội hơn Đà Lôi.

Sau khi Thành Cát Tư Hãn băng hà năm 1227, Đà Lôi làm giám quốc trong 2 năm, xưng hiệu Dã khả na nhan (chữ Mông Cổ:ᠶᠡᠬᠡ ᠨᠣᠶᠠᠨ; chuyển tự La Mã: Yeqe noyan; chuyển tự Cyrill: Их ноён).

Đến năm 1229, ông cùng các anh em trai triệu tập các quý tộc Mông Cổ tại hội nghị Hốt lý lặc thai (phiên âm Hán: 蒙古语, Kurultai) để bàn việc tuyển chọn người kế vị ngôi Khả hãn. Hầu hết các quý tộc Mông Cổ đã tôn Đà Lôi làm khả hãn mới, vì theo tục lệ Mông Cổ, con út được kế thừa sản nghiệp của cha còn con lớn ra ngoài lập nghiệp. Ulus (đất đai di sản thừa kế) của ông vào thời điểm năm 1227, là các vùng đất tại thảo nguyên Mông Cổ. Một lý do khác là vì lúc bấy giờ Đà Lôi đang nắm phần lớn binh lực của đế quốc. Vào thời điểm Thành Cát Tư Hãn băng hà, tổng quân doanh Mông Cổ có 13 vạn quân, thì có đến 10 vạn quân tinh nhuệ nằm dưới sự thống suất của Đà Lôi.

Mặc dù nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ, nhưng Đà Lôi đã từ chối quyết định của Hốt lý lặc thaivà cùng với người anh trai thứ hai là Sát Hợp Đài (Chagadai) kiên quyết tuân theo ý nguyện của cha, tôn anh trai thứ ba Oa Khoát Đài lên ngôi Khả hãn.

Năm 1231, Oa Khoát Đài lại tiếp tục khởi binh phạt Kim để hoàn tất tâm nguyện còn dang dở của Thành Cát Tư Hãn. Trong chiến dịch này, Đà Lôi được giao một cánh quân, đi vòng qua Thiểm Tây để tập kích hậu phương quân Kim tại Biện Kinh[2]. Tuy nhiên, chiến dịch chưa được hoàn thành thì khỏang một năm sau, tháng 9 (âm lịch) năm 1232, Đà Lôi ốm nặng và chết ở vùng thảo nguyên Mông Cổ.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Nguyên sử, Đà Lôi có cả thảy 11 người con trai:

  1. Möngke (Mông Ca), Khả hãn thứ tư của Đế quốc Mông Cổ
  2. Qutughtu (Hốt Đổ Đô)
  3. Khuyết danh
  4. Kublai (Hốt Tất Liệt), Khả hãn thứ năm của Đế quốc Mông Cổ và Hoàng đế khai quốc nhà Nguyên
  5. Khuyết danh
  6. Hulagu (Húc Liệt Ngột), Hãn đầu tiên của hãn quốc Ilkhanate (hãn quốc Y Nhi)
  7. Ariq Böke, (A Lý Bất Ca), người tranh ngôi Khả hãn Mông Cổ với Kublai.
  8. Bujek (Bát Xước)
  9. Mukha (Mạt Ca)
  10. Jurikha (Tuế Ca Đô)
  11. Satukhtai (Tiết Biệt Đài)

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc đời của Đà Lôi quá ngắn ngủi, dù ông có giữ vị trí quan trọng trong việc tôn Oa Khoát Đài lên ngôi Khả hãn, nhưng vẫn không để lại dấu ấn đặc biệt. Có lẽ điều quan trọng nhất là vai trò của gia đình ông trong sự hình thành và phát triển của đế quốc Mông Cổ. Người vợ chính thất của ông, Sorghaghtani Beki đã sinh ra Mông Ca, Hốt Tất Liệt, Húc Liệt NgộtA Lý Bất Ca, đưa ông trở thành tổ tiên của các đại hãn cuối cùng cai trị đế quốc Mông Cổ (Mông Kha và Hốt Tất Liệt), và sau này là nhà Nguyên tại Trung Quốc (do Hốt Tất Liệt sáng lập), cũng như của hãn quốc Y Nhi (Ilkhanate,do Húc Liệt Ngột lập ra).

Sự bất hòa của gia tộc Đà Lôi với hậu duệ của Oa Khoát Đài và Truật Xích gây ra nội chiến ngầm trong từ sau khi Khả hãn Oa Khoát Đài băng hà đến tận khi con trai của ông này là Quý Do trị vì, từ đó khiến đế quốc Mông Cổ bị phân ly thành các Hãn quốc nhỏ hơn.

Mâu thuẫn thậm chí cũng xảy ra giữa các con của Đà Lôi, chẳng hạn như nội chiến gia tộc Đà Lôi giữa Hốt Tất Liệt và A Lý Bất Ca trong 4 năm (1260 - 1264) đã làm chia rẽ lực lượng của đế quốc, khiến cho các hãn quốc chống đối lẫn nhau trong thời kỳ đầu thập niên 1260.

Tiểu thuyết hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Đà Lôi được tiểu thuyết hoá trở thành một nhân vật trong truyện Anh hùng xạ điêu của Kim Dung.

Trong truyện này, Đà Lôi kết nghĩa an đáp (kết nghĩa huynh đệ) với nhân vật chính Quách Tĩnh. Ông cũng là người đầu tiên đem quân tấn công thành Tương Dương nhưng do Thành Cát Tư Hãn đột nhiên ốm nặng nên đành rút quân về.

Gia phả[sửa | sửa mã nguồn]

 
 
 
 
Dã Tốc Cai
 
 
 
 
 
Nguyệt Luân thái hậu
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Biệt Lặc Cổ Đài
 
Biệt Khắc Thiếp Nhi
 
Thiết Mộc Ca Oát Xích Cân
 
Hợp Xích Ôn
 
Chuyết Xích Cáp Tát Nhi
 
Thiết Mộc Chân (Thành Cát Tư Hãn)
 
Bột Nhi Thiếp
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Truật Xích
 
 
Sát Hợp Đài
 
 
 
Oa Khoát Đài
 
 
Đà Lôi

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Mông Cổ bí sử”. 
  2. ^ The Cambridge History of China: Volume 6, Alien Regimes and Border States, 710–1368. Cambridge University Press. page 233. ISBN 978-0-521-24331-5.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Đà Lôi
Sinh: , khoảng 1190 Mất: , 1232
Hiệu
Tiền vị
Thành Cát Tư Hãn
Nhiếp chính của Đế quốc Mông Cổ
1227–1229
Kế vị
Oa Khoát Đài
Sửa Khả hãn của Đế quốc Mông Cổ
Thành Cát Tư Hãn (1206-1227) | Đà Lôi (nhiếp chính) (1227-1229) | Oa Khoát Đài (1229-1241) | Nãi Mã Chân (nhiếp chính) (1241-1245) | Quý Do (1246-1248) | Hải Mê Thất (nhiếp chính) (1248-1251)| Mông Kha (1251-1259) | Hốt Tất Liệt (1260-1294)