Hốt Tất Liệt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên Thế Tổ
元世祖
Tiết Thiện Hãn
薛禪汗
Hoàng đế Trung Hoa, Khả Hãn Mông Cổ (chi tiết...)
YuanEmperorAlbumKhubilaiPortrait.jpg
Hoàng đế Đại Nguyên
Tại vị18 tháng 12[1] năm 1271 - 18 tháng 2 năm 1294
(&0000000000000022.00000022 năm, &0000000000000062.00000062 ngày)
Tiền nhiệmSáng lập triều đại
Kế nhiệmNguyên Thành Tông
Khả Hãn Mông Cổ
Tại vị5 tháng 5 năm 1260 - 18 tháng 2 năm 1294
(&0000000000000033.00000033 năm, &0000000000000289.000000289 ngày)
Tiền nhiệmMông Kha hãn, A Lý Bất Ca hãn
Kế nhiệmHoàng Trạch Đốc hãn
Thông tin chung
Thê thiếpxem văn bản
Hậu duệxem văn bản
Tên đầy đủHốt Tất Liệt (Khubilai, Хубилай, 忽必烈)
Niên hiệuTrung Thống (中統; 1260 - 1264)
Chí Nguyên (至元; 1264 - 1294)
Thụy hiệuThánh Đức Thần Công Văn Vũ Hoàng đế
(聖德神功文武皇帝)
Miếu hiệuThế Tổ (世祖)
Thân phụĐà Lôi
Thân mẫuToa Lỗ Hòa Thiếp Ni
Sinh(1215-09-23)23 tháng 9, 1215
Mất18 tháng 2, 1294(1294-02-18) (78 tuổi)
Đại Đô (Khanbalic)

Hốt Tất Liệt (tiếng Mông Cổ: ᠬᠤᠪᠢᠯᠠᠢ ᠬᠠᠭᠠᠨ (Xubilaĭ Khaan), chữ Hán: 忽必烈; bính âm: Hūbìliè; 23 tháng 9, 1215[2] - 18 tháng 2, 1294[3]), Hãn hiệu Tiết Thiện Hãn (ᠰᠡᠴᠡᠨ ᠬᠠᠭᠠᠨ, Сэцэн хаан), là Đại khả hãn thứ năm của Đế quốc Mông Cổ, đồng thời là người sáng lập ra triều đại nhà Nguyên trong lịch sử Trung Quốc.

Năm 1260, Hốt Tất Liệt đã trở thành Đại hãn của đế quốc Mông Cổ sau khi anh trai ông là Đại hãn Mông Kha chết năm trước đó, mặc dù em trai ông là A Lý Bất Ca (Ariq Böke) cũng tự xưng là đại hãn tại kinh đô của đế quốc Mông Cổ vào thời điểm đó là Karakorum. Cuối cùng ông đã giành thắng lợi trước A Lý Bất Ca vào năm 1264, và mặc dù cuộc tranh giành quyền kế vị đã đánh dấu sự kết thúc của sự thống nhất chính trị trong nội bộ đế quốc Mông Cổ, nhưng đế quốc này về tổng thể vẫn là thống nhất và hùng mạnh.[4] Ảnh hưởng của Hốt Tất Liệt vẫn còn mạnh tại hãn quốc Y NhiKim Trướng hãn quốc, các phần phía tây của đế quốc Mông Cổ.[5]

Năm 1271, Hốt Tất Liệt thành lập nhà Nguyên, vào thời gian đó kiểm soát các khu vực ngày nay thuộc Mông Cổ, Hoa Bắc, phần lớn miền tây Trung Quốc và các khu vực cận kề, và ông có địa vị của một Hoàng đế Trung Hoa. Năm 1279, quân đội nhà Nguyên cuối cùng đã đánh bại Nam Tống và như thế Hốt Tất Liệt đã trở thành hoàng đế Trung Hoa một cách đầy đủ. Miếu hiệu của ông là Nguyên Thế Tổ (元世祖).

Dưới sự lãnh đạo của ông, đế quốc Mông Cổ đã đạt đỉnh điểm của sự hưng thịnh. Ông đã dời đô từ Hoa Lâm về Đại Đô tức Bắc Kinh ngày nay. Vào năm 1271 ông đã lập triều đại của người Mông Cổ mang tên nhà Nguyên. Năm 1279 quân đội của ông tiêu diệt nhà Nam Tống (1127-1279), thống nhất Trung Quốc.

Tất cả các vương quốc nằm cận kề với đế quốc Mông Cổ đều trở thành các nước chư hầu lệ thuộc. Hốt Tất Liệt còn có ước mộng thôn tính cả Nhật Bản, Đại Việt, BaganJava nhưng không thành. Mặc dù rằng Hốt Tất Liệt theo đạo Phật nhưng ông lại cũng để ý đến sự phát triển của đạo Kitô trên thế giới và đã mời các sứ giả truyền đạo này vào Trung Quốc. Ông cũng chú trọng đến việc phát triển các nghề thủ công, khoa học và nghệ thuật. Một trong những người ngoại quốc đã đến thăm triều đình này là Marco Polo.

Bức chân dung hoàng gia của Hốt Tất Liệt là một phần của một album về chân dung của các hoàng đế và hoàng hậu nhà Nguyên, hiện nằm trong bộ sưu tập của Bảo tàng Cố cung Quốc giaĐài Bắc. Màu trắng, màu trang phục hoàng gia của ông, là màu đế quốc của triều đại nhà Nguyên

Những năm đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Hốt Tất Liệt có tên nguyên là Kubilai, sinh năm 1215, là người con thứ tư của Đà Lôi và chính thê Toa Lỗ Hòa Thiếp Ni, cháu nội của hoàng đế sáng lập đế quốc Mông Cổ Thành Cát Tư Hãn[6].

Hốt Tất Liệt từ nhỏ thông minh mẫn tiệp, rất được ông nội Thành Cát Tư Hãn yêu quý. Có một lần trên đường về nhà sau cuộc chinh phạt của Mông Cổ ở Khwarezmia, Thành Cát Tư Hãn đã thực hiện một nghi lễ trên hai cháu trai của ông là Mông Kha và Hốt Tất Liệt sau chuyến đi săn đầu tiên vào năm 1224 gần sông Ili. Ông khi ấy chín tuổi và cùng với người anh cả của mình đã giết một con thỏ và một con linh dương. Sau khi Thành Cát Tư Hãn bôi mỡ từ những con vật bị giết lên ngón tay giữa của Hốt Tất Liệt theo truyền thống của người Mông Cổ, anh ta nói "Những lời của cậu bé này rất khôn ngoan, hãy chú ý đến chúng - hãy chú ý chúng bằng tất cả những gì chúng ta có." Thành Cát Tư Hãn chết ba năm sau sự kiện này vào năm 1227, khi Hốt Tất Liệt lên 12. Cha của ông, Đà Lôi sẽ làm nhiếp chính trong hai năm cho đến khi người kế vị của Thành Cát Tư Hãn là chú thứ ba của Hốt Tất Liệt, Oa Khoát Đài, lên ngôi hoàng đế.

Sau khi Mông Cổ tiêu diệt nhà Kim, vào năm 1236, Oa Khoát Đài đã trao đất Hà Bắc (gắn liền với 80.000 dân) cho gia đình Đà Lôi, người đã chết vào năm 1232. Hốt Tất Liệt nhận được một gia sản của riêng mình, bao gồm 10.000 dân. Bởi vì còn thiếu kinh nghiệm, ông cho phép các quan chức địa phương tự do phục hồi. Tham nhũng giữa các quan lại và sự đánh thuế mạnh của ông đã khiến một số lượng lớn nông dân Trung Quốc bỏ trốn, dẫn đến giảm doanh thu thuế. Hốt Tất Liệt nhanh chóng thay đổi chính sách của mình ở Hà Bắc và ra lệnh cải cách. Toa Lỗ Hòa Thiếp Ni đã gửi các quan lại mới để giúp ông và luật thuế đã được sửa đổi. Nhờ những nỗ lực đó, nhiều người đã bỏ trốn trở về.

Yếu tố có ảnh hưởng đáng kể và rõ nét nhất tới cuộc sống của Hốt Tất Liệt trong thời kỳ trẻ tuổi của ông là sự nghiên cứu và ưa thích nền văn hóa Trung Hoa đương thời. Hốt Tất Liệt đã mời Haiyun, nhà sư Phật giáo hàng đầu ở Bắc Trung Quốc, đến căn cứ của mình ở Mông Cổ. Khi gặp Haiyun ở Karakorum năm 1242, ông hỏi nhà sư về triết lý của Phật giáo. Haiyun đặt tên cho con trai của Hốt Tất Liệt, sinh năm 1243, Chân Kim. Haiyun cũng giới thiệu ông về Đạo giáo trước đây, và tại thời điểm đó, nhà sư Phật giáo, Liu Bingzhong. Liu là một họa sĩ, nhà thư pháp, nhà thơ và nhà toán học, và anh trở thành cố vấn của Hốt Tất Liệt khi Haiyun trở lại ngôi đền của mình ở Bắc Kinh hiện đại. Hốt Tất Liệt đã sớm bổ sung học giả Sơn Tây Zhao Bi vào đoàn tùy tùng của mình. Ông cũng thuê những người có quốc tịch khác, vì rất muốn cân bằng lợi ích của các dân tộc sống trong đế quốc, giữa Mông Cổ và Turk.

Thành công ở miền Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Hốt Tất Liệt khi còn trẻ

Năm 1251, anh trai ông là Mông Kha, một người theo Hồi giáo, trở thành Đại hãn của đế quốc Mông Cổ và Hốt Tất Liệt được giao quản lý các lãnh thổ phía nam của đế quốc. Trong những năm cai quản này, ông quản lý tốt vùng lãnh thổ đó, làm tăng sản lượng lương thực tại tỉnh Hà Nam và gia tăng các chi phí cho phúc lợi xã hội sau khi nhận thêm Tây An. Những hành động này nhận được sự ủng hộ lớn từ các lãnh chúa Trung Hoa và nó chính là nền tảng cơ bản cho việc xây dựng nhà Nguyên sau này.[7]Năm 1252, Hốt Tất Liệt chỉ trích Mahmud Yalavach, người không bao giờ được các cộng sự Trung Quốc đánh giá cao, về việc xử tử nghi phạm của mình trong một cuộc xem xét tư pháp, và Zhao Bi đã tấn công ông ta vì thái độ quá khích đối với ngai vàng. Mông Kha đã sa thải Mahmud Yalavach, người đã gặp phải sự kháng cự từ các quan chức đào tạo Nho giáo Trung Quốc.

Năm 1253, Hốt Tất Liệt được lệnh tấn công Vân Nam và ông đã tiêu diệt Vương quốc Đại Lý. Nhà cầm quyền nước này đã thể hiện sự chống đối và giết chết các sứ giả Mông Cổ được phái đến để dụ hàng. Quân Mông Cổ quyết định chia lực lượng của thành ba đạo. Một cánh tiến về phía đông vào lưu vực Tứ Xuyên. Cánh thứ hai dưới sự chỉ huy của con trai Subutai, Uryankhadai, đi một con đường hiểm trở vào vùng núi phía tây Tứ Xuyên. Hốt Tất Liệt đã đi về phía nam trên đồng cỏ và gặp cánh quân đầu tiên. Trong khi Uryankhadai đi dọc theo bờ hồ từ phía bắc, Hốt Tất Liệt đã chiếm kinh đô của Đại Lý và tha mạng cho các hoàng tộc nước Đại Lý mặc dù họ đã giết chết các sứ giả của mình. Bản thân vua Đại Lý Duan Xingzhi đã đầu hàng quân Mông Cổ, người đã sử dụng quân đội của mình để chinh phục phần còn lại của Vân Nam. Duan Xingzhi, vị vua cuối cùng của Đại Lý, được Mông Kha Khan bổ nhiệm làm người cai trị đầu tiên hoặc người cai trị địa phương; Duan chấp nhận đóng quân của một ủy viên bình định ở đó. Sau khi Hốt Tất Liệt rời khỏi nơi đóng quân, tình trạng bất ổn đã nổ ra giữa các phe phái nhất định. Vào năm 1255 và 1256, Duan Xingzhi đã được trình bày tại triều đình, nơi ông đưa ra bản đồ Vân Nam của Mông Kha và những lời khuyên về sự tan biến của các bộ lạc chưa đầu hàng. Duan sau đó đã lãnh đạo một đội quân đáng kể để làm người dẫn đường và tiên phong cho quân đội Mông Cổ. Đến cuối năm 1256, Uryankhadai đã hoàn toàn bình định Vân Nam.

Hốt Tất Liệt bị thu hút bởi khả năng của các nhà sư Tây Tạng là những người chuyên chữa bệnh. Năm 1253, ông trọng dụng Drogön Chögyal Phagpa của trường Tát-ca phái, một thành viên trong đoàn tùy tùng của ông. Phagpa ban cho ông và vợ, Chabi, một nghi thức trao quyền (nghi thức khởi đầu). Hốt Tất Liệt bổ nhiệm Lian Xixian của Vương quốc Qocho (1231-1280) người đứng đầu ủy ban bình định của ông vào năm 1254. Một số quan chức, những người ghen tị với thành công của Hốt Tất Liệt, nói rằng ông vượt lên chính mình và mơ ước có được đế chế của riêng mình bằng cách cạnh tranh đế chế của mình Thủ đô Karakorum của Mông Kha. Mông Kha đã gửi hai thanh tra thuế, Alamdar (bạn thân và thống đốc của A Lý Bất Ca ở Bắc Trung Quốc) và Liu Taiping, để kiểm toán các quan lại của Hốt Tất Liệt vào năm 1257. Họ đã tìm thấy lỗi, liệt kê 142 hành vi vi phạm quy định, buộc tội các quan lại Trung Quốc và xử tử một số người trong số họ. Ủy ban bình định mới của Hốt Tất Liệt đã bị bãi bỏ. Ông đã gửi một đoàn sứ hai người với những người vợ của mình và sau đó kêu gọi Mông Kha, người đã công khai tha thứ cho em trai và hòa giải với ông.

Người theo Đạo giáo đã có được sự giàu có và địa vị của họ bằng cách chiếm giữ các ngôi chùa Phật giáo. Mông Kha liên tục yêu cầu người Đạo giáo chấm dứt sự chê bai Phật giáo và ra lệnh cho Hốt Tất Liệt chấm dứt cuộc xung đột giáo sĩ giữa Đạo giáo và Phật giáo trong lãnh thổ của mình. Hốt Tất Liệt đã tổ chức một hội nghị của các nhà lãnh đạo Đạo giáo và Phật giáo vào đầu năm 1258. Tại hội nghị, yêu sách của Đạo giáo đã chính thức bị bác bỏ và Hốt Tất Liệt buộc phải chuyển đổi 237 ngôi đền Đạo giáo sang Phật giáo và phá hủy tất cả các bản sao của các văn bản Đạo giáo. Hốt Tất Liệt và nhà Nguyên rõ ràng ủng hộ Phật giáo, trong khi các nước khác như hãn quốc Sát Hợp Đài, hãn quốc Kim Trướnghãn quốc Y Nhi sau đó chuyển đổi sang Hồi giáo trong nhiều thời điểm khác nhau trong lịch sử.

"Hoàng đế Hốt Tất Liệt ngồi trên lưng voi trong ngày diễn ra trận chiến", tranh khắc của Pháp, thế kỷ 18.

Năm 1258, Mông Kha giao cho Hốt Tất Liệt làm chỉ huy cánh quân miền đông và yêu cầu ông hỗ trợ các cuộc tấn công vào Tứ Xuyên và một lần nữa vào Vân Nam. Khi bị bệnh gút, Hốt Tất Liệt được phép ở nhà, nhưng cuối cùng ông vẫn quyết định sẽ hỗ trợ Mông Kha. Trước khi Hốt Tất Liệt có thể tới đây vào năm 1259 thì ông nhận được tin là Mông Kha đã tử trận khi đánh Nam Tống. Ông tiếp tục tấn công Vũ Hán, nhưng ngay sau khi nhận được tin rằng em trai ông là A Lý Bất Ca đã tổ chức một kurultai tại kinh đô của đế quốc ở Karakorum và lên làm đại hãn. Phần lớn các hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn đều chọn A Lý Bất Ca làm đại hãn; tuy nhiên, hai người anh ruột của ông này là Hốt Tất Liệt và Húc Liệt Ngột (Hulegu) lại phản đối.

Nhà Tống muốn giảng hòa với Mông Cổ, liền sai sứ giả đến xin cống hàng năm 200.000 lượng bạc và 200.000 lụa, để đổi lấy thỏa thuận đình chiến của Mông Cổ và chọn sông Dương Tử là biên giới giữa hai nước. Hốt Tất Liệt nhanh chóng đạt được thỏa thuận đình chiến với quân đội Nam Tống và quay trở về vùng bình nguyên Mông Cổ ở phương bắc nhằm chống lại tuyên bố của A Lý Bất Ca về chức vụ đại hãn.

Tranh ngôi kế vị[sửa | sửa mã nguồn]

Những người Trung Quốc theo phe Hốt Tất Liệt đã khuyến khích ông lên ngôi, và hầu như tất cả các hoàng tử cao cấp ở Bắc Trung Quốc và Mãn Châu đều ủng hộ ông. Sau khi trở về vùng lãnh thổ của mình, Hốt Tất Liệt triệu tập kurultai của chính mình. Chỉ một lượng nhỏ các thành viên hoàng tộc ủng hộ tuyên bố của Hốt Tất Liệt về quyền thừa kế chức vụ và họ vẫn công bố ông là đại hãn, vào ngày 15 tháng 4 năm 1260, cho dù đã có tuyên bố dường như là hợp pháp của em trai ông (A Lý Bất Ca).

Hốt Tất Liệt được nhiều người ủng hộ chọn để trở thành Đại hãn tiếp theo tại Kurultai vào năm 1260.

Điều này sau đó dẫn tới nội chiến giữa hai anh em, dẫn tới sự phá hủy hoàn toàn kinh đô của đế quốc tại Karakorum. Ở Thiểm TâyTứ Xuyên, quân đội cũ của Mông Kha đã hỗ trợ A Lý Bất Ca. Hốt Tất Liệt phái Lian Xixian đến Thiểm Tây và Tứ Xuyên, nơi họ xử tử quản trị viên dân sự của A Lý Bất Ca, Liu Taiping và giành chiến thắng trước nhiều tướng lĩnh đang dao động. Để bảo đảm mặt trận phía nam, Hốt Tất Liệt đã cố gắng giải quyết ngoại giao và phái các sứ giả đến Hàng Châu, nhưng nhà Tống đã thất hứa và bắt giữ họ. Hốt Tất Liệt đã gửi Abishqa như một khả hãn mới đến Sát Hợp Đài. A Lý Bất Ca đã bắt Abishqa, hai hoàng tử khác và 100 người khác, và ông ta có người đàn ông của mình, Alghu, đăng quang khả hãn của lãnh thổ Sát Hợp Đài. Trong cuộc đụng độ vũ trang đầu tiên giữa A Lý Bất Ca và Hốt Tất Liệt, A Lý Bất Ca đã thua cuộc và chỉ huy của anh ta là Alamdar đã bị giết trong trận chiến. Để trả thù, A Lý Bất Ca đã xử tử Abishqa. Hốt Tất Liệt đã cắt nguồn cung cấp thực phẩm cho Karakorum với sự hỗ trợ của anh em họ Kadan, con trai của Oa Khoát Đài. Karakorum nhanh chóng rơi vào tay đội quân lớn của Hốt Tất Liệt, nhưng sau sự rút quân của ông, nó đã được A Lý Bất Ca tái chiếm tạm thời vào năm 1261. Chagatayid Khan Alghu, người được A Lý Bất Ca bổ nhiệm, đã tuyên bố trung thành với Hốt Tất Liệt và đánh bại một đội quân chinh phạt do A Lý Bất Ca thực hiện vào năm 1262. Ilkhan Hulagu cũng đứng về phía Hốt Tất Liệt và chỉ trích A Lý Bất Ca. Cuối cùng A Lý Bất Ca đã đầu hàng Hốt Tất Liệt tại Thượng Đô vào ngày 21 tháng 8 năm 1264. Những người cai trị của khã hãn ở phía Tây thừa nhận chiến thắng và sự cai trị của Hốt Tất Liệt ở Mông Cổ. Khi Hốt Tất Liệt triệu tập họ đến một Kurultai mới, khả hãn Alghu yêu cầu công nhận vị trí bất hợp pháp của anh ta từ Hốt Tất Liệt. Bất chấp căng thẳng giữa họ, cả Hulagu và Berke, khả hãn của Kim Trướng, lúc đầu chấp nhận lời mời của Hốt Tất Liệt. Tuy nhiên, họ sớm từ chối tham dự Kurultai. Hốt Tất Liệt đã ân xá A Lý Bất Ca, mặc dù ông đã xử tử những người ủng hộ chính của em trai mình. Hốt Tất Liệt chính thức nắm được đại quyền trong tay sau 4 năm tranh chấp với em trai, vào năm 1264. Tuy nhiên, sự kiện này cuối cùng đã đánh dấu sự kết thúc của đế quốc Mông Cổ thống nhất. Các hãn quốc miền tây trở thành độc lập trên thực tế (de facto), và hãn Hải Đô của hãn quốc Sát Hợp Đài (Chagatai hay Sát Hợp Đài là người cai trị phần lớn khu vực Tân CươngTrung Á ngày nay) còn tiếp tục chống đối ông cho tới tận khi ông này mất vào năm 1301.

Trong thời kỳ nội chiến với A Lý Bất Ca, người quản lý Ích Châu là Lý Đàn đã nổi dậy chống lại sự cai trị của người Mông Cổ vào tháng 2 năm 1262. Hốt Tất Liệt đã ra lệnh cho Sử Thiên Trạch và Shi Shu dẹp loạn Lý Đàn. Hai đội quân này đánh bại cuộc nổi dậy của Lý Đàn sau vài tháng và Lý Đàn bị tử hình. Wang Wentong, cha vợ của Lý Đàn, người từng được chỉ định làm Bình chương chính sự (tiếng Trung: 平章政事) của Trung thư tỉnh (tiếng Trung: 中書省) trong giai đoạn đầu thời kỳ trị vì của Hốt Tất Liệt và là một trong số các quan lại người Hán được tin cậy nhất của ông, cũng bị án tử hình. Sự kiện này đã làm Hốt Tất Liệt mất niềm tin vào người Hán. Sau khi trở thành hoàng đế, ông cấm chỉ việc giao các chức vụ quan trọng cho các lãnh chúa gốc Hán.

Hoàng đế nhà Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh vẽ Hốt Tất Liệt khi đi săn, của họa sĩ cung đình Lưu Quán Đạo (刘贯道), khoảng năm 1280.

Hốt Tất Liệt chấp nhận các mô hình chính trị và văn hóa Trung Hoa, cố gắng giảm thiểu ảnh hưởng của các lãnh chúa địa phương, những người đã nổi lên nắm quyền lực trong thời kỳ cuối của nhà Tống. Tuy nhiên, do mất niềm tin vào người Hán nên ông đã chỉ định người Mông Cổ, người Trung Á, người Hồi giáo và một ít người châu Âu vào các vị trí cao hơn người Hán. Hốt Tất Liệt bắt đầu nghi ngờ người Hán khi con rể của một vị bình chương chính sự người Hán lại nổi dậy chống lại ông trong khi ông đang phải quyết đấu với A Lý Bất Ca tại Mông Cổ[8] cho dù ông vẫn tiếp tục mời và sử dụng một số cố vấn người Hán như Lưu Bỉnh Trung, Hứa HànhDiêu Xu.

Năm Chí Nguyên thứ 8 (1271), Hốt Tất Liệt chính thức tuyên bố lập ra nhà Nguyên và đặt kinh đô tại Đại Đô (tiếng Trung: 大都; Wade-Giles: Ta-tu, nghĩa là "kinh đô lớn", ngày nay là Bắc Kinh) hay còn gọi là Hãn Bát Lý (Khanbaliq) vào năm sau đó. Kinh đô mùa hè của ông đặt tại Thượng Đô (tiếng Trung: 上都, nghĩa là "kinh đô trên", hay Xanadu, gần với Đa Luân (多伦) ngày nay). Để thống nhất Trung Quốc,[9] Hốt Tất Liệt bắt đầu một chiến dịch rộng lớn chống lại những lực lượng còn sót lại của Nam Tống vào năm Chí Nguyên thứ 11 (1274) và cuối cùng tiêu diệt Nam Tống vào năm Chí Nguyên thứ 16 (1279), thống nhất toàn bộ Trung Hoa.

Nội Trung Hoa và Mông Cổ[10][11] được chia thành 10 hành trung thư tỉnh (行中書省) hay hành tỉnh (行省) trong thời kỳ trị vì của ông với 1 hành thượng thư tỉnh và 1 hành thị lang tỉnh đứng đầu. Bên cạnh 10 hành tỉnh là khu vực trung tâm (tiếng Trung: 腹裏 = Phúc Lý), bao gồm phần lớn Hoa Bắc ngày nay, được coi là khu vực quan trọng nhất của nhà Nguyên và do trung thư tỉnh tại Đại Đô trực tiếp quản lý. Ngoài ra, Tây Tạng cũng do một cơ quan cấp cao khác là Tuyên chính viện (tiếng Trung: 宣政院) quản lý trực tiếp.

Ông quản lý điều hành công việc triều chính khá tốt, khuyến khích phát triển kinh tế với việc cho xây dựng lại Đại Vận Hà, sửa chữa các tòa nhà công và mở rộng đường đi lối lại. Tuy nhiên, chính sách đối nội của Hốt Tất Liệt cũng bao gồm một số khía cạnh của các truyền thống Mông Cổ cũ, và trong khi Hốt Tất Liệt tiếp tục công việc trị vì của mình thì những truyền thống này va chạm ngày càng thường xuyên hơn với kinh tế và văn hóa xã hội Trung Hoa truyền thống.

Niccolo và Maffeo Polo chuyển bức thư của Hốt Tất Liệt cho giáo hoàng Gregory X năm 1271.

Năm 1273, ông cho phát hành một loạt mới các giấy bạc được nhà nước bảo đảm, được sử dụng trong khắp đất nước, mặc dù cuối cùng do thiếu các kỹ năng, kỷ luật tài chính và lạm phát đã làm cho bước đi này trở thành thảm họa kinh tế đối với triều đại này trong những năm sau đó. Việc thanh toán được thực hiện bằng tiền giấy gọi là sáo. Để đảm bảo việc sử dụng nó, chính quyền Hốt Tất Liệt đã sung công vàng, bạc từ các cá nhân cũng như từ thương nhân ngoại quốc. Thay vì thế, các thương nhân được nhận giấy bạc do nhà nước ban hành theo tỷ lệ quy đổi. Điều này giải thích tại sao Hốt Tất Liệt được coi là người đầu tiên tạo ra tiền pháp định. Giấy bạc làm cho việc thu thuế và quản lý một đế quốc rộng lớn trở nên dễ dàng hơn trong khi làm giảm chi phí vận chuyển tiền kim loại.[12] Sau này Gaykhatu (Hải Hợp Đô) của hãn quốc Y Nhi cũng có ý định áp dụng hệ thống này tại Ba TưTrung Đông, nhưng đã hoàn toàn thất bại và ông này bị ám sát ngay sau đó.

Ông cũng cho phát triển các bộ môn nghệ thuật châu Á và chấp nhận những khác biệt về tôn giáo, ngoại trừ khi đề cập tới Đạo giáo. Một số người châu Âu đã từng đặt chân tới đây, đáng chú ý trong số này có Marco Polo trong thập niên 1270, người có thể đã từng nhìn thấy kinh đô mùa hè tại Thượng Đô.

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Hốt Tất Liệt buộc Cao Ly (Triều Tiên) phải trở thành chư hầu vào năm 1260. Nhà Nguyên giúp Nguyên Tông (원종) của Cao Ly bình ổn sự kiểm soát của ông này tại Triều Tiên vào năm 1271. Hốt Tất Liệt cũng có ý định thiết lập mối quan hệ triều cống với các quốc gia khác, nhưng bị cự tuyệt. Dưới áp lực từ các cố vấn người Mông Cổ, Hốt Tất Liệt quyết định xâm lăng Nhật Bản, Myanma, Đại ViệtJava. Ông cũng đã cố gắng chinh phục các vùng đất ngoại vi như Sakhalin, nơi người dân bản địa cuối cùng đã nộp cho người Mông Cổ vào năm 1308. Những cố gắng thất bại và tốn kém này, cùng với sự lưu thông tiền giấy đã gây ra lạm phát. Tuy nhiên, ông cũng đã buộc các lãnh chúa từ tây bắc và đông bắc phải đầu hàng, đảm bảo sự ổn định tại các khu vực này. Từ năm 1273 đến 1276, các cuộc chiến tranh trước nhà Tống và Nhật Bản đã khiến vấn đề tiền giấy mở rộng từ 110.000 ding lên 1.420.000 ding.

Sáp nhập Cao Ly[sửa | sửa mã nguồn]

Hốt Tất Liệt đã xâm chiếm Cao Ly (nằm trên Bán đảo Triều Tiên) và biến nó thành một quốc gia chư hầu phụ vào năm 1260. Sau một cuộc can thiệp khác của người Mông Cổ vào năm 1273, Cao Ly đã bị kiểm soát chặt chẽ hơn với nhà Nguyên. Cao Ly trở thành một căn cứ quân sự của người Mông Cổ, và một số mệnh lệnh của chế độ quân chủ đã được thiết lập ở đó. Triều đình của Cao Ly đã cung cấp quân đội nước này và một lực lượng hải quân đi biển cho các chiến dịch quân sự khác của Mông Cổ.

Xâm lược Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Samurai Suenaga đối mặt với cung tên của người Mông Cổ. Moko Shurai Ekotoba (蒙古襲来絵詞), khoảng năm 1293.

Hốt Tất Liệt hai lần có ý định xâm chiếm Nhật Bản; tuy nhiên, cả hai lần, người ta tin rằng thời tiết xấu hoặc các lỗi kỹ thuật trong chế tạo tàu thuyền đã phá hủy hạm đội thủy quân của ông. Ý định xâm chiếm thứ nhất diễn ra vào năm 1274, với hạm đội gồm 900 tàu thuyền. Lần xâm chiếm thứ hai diễn ra vào năm 1281, với hạm đội có trên 1.170 thuyền chiến lớn, mỗi chiếc dài tới 73 m (240 ft). Chiến dịch này được tổ chức không tốt và hạm đội của người Triều Tiên đã tới Nhật Bản trước hạm đội của nhà Nguyên khá lâu.

Tiến sĩ Kenzo Hayashida, một nhà khảo cổ học biển, người đứng đầu nhóm điều tra đã phát hiện ra các mảnh vỡ của hạm đội xâm chiếm lần thứ hai ngoài khơi miền tây Dokdo. Các vật tìm thấy của nhóm này chỉ ra rằng Hốt Tất Liệt rất vội xâm chiếm Nhật Bản và cố gắng xây dựng hạm đội hùng mạnh chỉ trong vòng 1 năm (một công việc mà đúng ra phải mất ít nhất 5 năm). Điều này buộc nhà Nguyên phải sử dụng mọi loại thuyền có thể, từ những thuyền nhỏ chuyên chạy trên sông, nhằm đạt được sự sẵn sàng sớm hơn. Quan trọng nhất, người Trung Quốc, khi đó dưới sự thống trị của Hốt Tất Liệt, buộc phải dựng ra nhiều tàu thuyền nhanh hơn nhằm đảm bảo góp đủ cơ số tàu thuyền cho cả hai lần xâm chiếm. Hayashida giả đinh rằng, nếu Hốt Tất Liệt sử dụng các tàu thuyền đi biển tiêu chuẩn, được chế tạo tốt, với sống thuyền cong để ngăn cản sự lật úp thì thủy quân của ông có thể đã vượt qua được cuộc hành trình dài này tới Nhật Bản và có thể đã có khả năng chiếm được đất nước này.

David Nicolle viết trong The Mongol Warlords rằng "Những mất mát lớn cũng phải gánh chịu khi nói về số thương vong và chi phí vô ích, trong khi huyền thoại về sự bất khả chiến bại của người Mông Cổ đã bị tiêu tan trong khu vực Đông Á". Ông cũng viết rằng Hốt Tất Liệt đã có ý định xâm chiếm lần thứ ba vào Nhật Bản, cho dù phải trả một giá đắt khủng khiếp cho nền kinh tế cũng như cho tiếng tăm của ông và của đội quân Mông Cổ thiện chiến trong 2 lần xâm lược đầu tiên và chỉ có cái chết của ông cùng sự nhất trí của các cố vấn về việc không xâm chiếm nữa mới ngăn được ý định lần thứ ba này.

Năm 1293, thủy quân nhà Nguyên bắt được 100 người Nhật từ Okinawa.

Xâm lược Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội nhà Nguyên cũng hai lần xâm chiếm Đại Việt. Lần xâm chiếm đầu tiên (lần thứ hai của đế quốc Mông Cổ) bắt đầu vào tháng 12 âm lịch năm 1284[13] khi quân đội Mông Cổ dưới sự chỉ huy của Trấn Nam vương Thoát Hoan (con trai thứ chín của Hốt Tất Liệt) và A Lý Hải Nha, vượt qua biên giới và nhanh chóng chiếm được Thăng Long (nay là Hà Nội) vào đầu tháng 1 âm lịch năm 1285 sau thắng lợi của đội quân do Ô Mã Nhi chỉ huy tại Vạn KiếpPhả Lại (đông bắc Thăng Long).[13] Cùng thời gian đó, đội quân do Toa Đô chỉ huy sau khi tấn công Chiêm Thành bằng đường qua Lão Qua cũng di chuyển về phía bắc và nhanh chóng tiến tới Nghệ An (phía bắc miền Trung Việt Nam ngày nay) vào cuối tháng 1 âm lịch,[13] tại đây đội quân nhà Trần dưới sự chỉ huy của Trần Kiện nhanh chóng đầu hàng. Tháng 2 âm lịch, Trần Bình Trọng đánh quân Nguyên tại bãi Đà Mạc, bị thua và bị giết. Tháng 3 âm lịch, Trần Lộng, Trần Ích Tắc và gia thuộc cũng đầu hàng quân Nguyên. Tuy nhiên, hai vua Trần và Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã thay đổi chiến thuật từ phòng ngự sang phản công và một lần nữa đánh bại quân Mông Cổ. Tháng 4 âm lịch, tướng Trần Nhật Duật giành thắng lợi trong trận Hàm Tử (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Tháng 5 âm lịch, tướng Trần Quang Khải đánh bại Toa Đô tại Chương Dương (nay thuộc Hà Nội) và sau đó các vua Trần đã giành thắng lợi trong trận chiến lớn tại Tây Kết nơi Toa Đô bị giết chết. Ô Mã Nhi trốn qua cửa sông Thanh Hoá, hai vua Trần đuổi theo nhưng không kịp, bắt được hơn 5 vạn dư đảng đem về, Ô Mã Nhi chỉ còn một chiếc thuyền vượt biển trốn thoát.[13] Trong khi đó, đội quân của Thoát HoanLý Hằng bị Trần Hưng Đạo đánh bại tại Vạn Kiếp, phải bỏ chạy về Tư Minh. Lý Hằng bị xạ tiễn bắn chết còn Thoát Hoan phải chui vào ống đồng mới thoát được.[13] Hốt Tất Liệt đã thất bại trong cố gắng đầu tiên của mình nhằm xâm chiếm Đại Việt.

Lần xâm chiếm thứ hai vào Đại Việt của quân đội nhà Nguyên diễn ra vào cuối năm 1287[13] và được tổ chức tốt hơn so với lần trước, với việc đưa vào lực lượng thủy quân lớn hơn và nhiều lương thực thực phẩm hơn. Quân đội Mông Cổ, dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan, tiến tới Vạn Kiếp và hội quân tại đây với quân đội của Ô Mã Nhi và quân Nguyên cũng nhanh chóng giành được thắng lợi ban đầu rồi xuôi dòng về phía đông. Thủy quân của nhà Nguyên nhanh chóng giành được thắng lợi tại Vân Đồn (thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay) nhưng thuyền chở lương thực, thực phẩm nặng nề đi sau lại bị tướng Trần Khánh Dư đánh tan.[13] Kết quả là quân Mông Cổ tại Thăng Long bị thiếu lương thực, thực phẩm trầm trọng. Không có lương thực, thực phẩm tiếp tế, Thoát Hoan buộc phải rút quân khỏi Thăng Long về Vạn Kiếp. Các nhóm bộ binh của nhà Trần được lệnh tấn công quân đội Mông Cổ tại Vạn Kiếp.

Đầu tháng 3 âm lịch năm 1288 thủy quân của Ô Mã Nhi tiến tới sông Bạch Đằng để đón thuyền lương do Trương Văn Hổ chỉ huy.[13] Một đội thủy quân nhỏ của Đại Việt ra khiêu chiến và nhanh chóng rút lui để nhử thủy quân nhà Nguyên vào bãi cọc nhọn. Quân Nguyên trúng kế và rơi vào trận địa mai phục sẵn của Đại Việt. Hàng nghìn thuyền nhẹ của Đại Việt từ hai bên bờ nhanh chóng xuất hiện, tấn công dữ dội và đánh tan sức kháng cự từ quân Nguyên. Quân đội Mông Cổ cố gắng rút lui ra biển trong sự hoảng loạn. Bị va phải cọc, thuyền của họ bị vỡ hay mắc kẹt, nhiều thuyền bị chìm. Quân Nguyên phải nhảy xuống sông để bơi vào bờ, bị chết đuối rất nhiều. Các tướng như Áo Lỗ Xích, Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ Ngọc, Sầm Đoàn, Phàn Tiếp v.v bị bắt sống. Cùng thời gian đó, quân đội Đại Việt liên tục tấn công và đánh tan đội quân của Thoát Hoan trên đường rút chạy qua Lạng Sơn. Cố gắng lần hai của Hốt Tất Liệt trong việc xâm chiếm Đại Việt cũng tan thành mây khói.

Mặc dù các thất bại này đã kết thúc giấc mơ của Hốt Tất Liệt trong việc mở rộng lãnh thổ về phía nam, đặc biệt nhằm để kiểm soát con đường gia vị. Tuy nhiên trong giai đoạn 1288-1293, các quốc gia như Đại Việt, Chiêm ThànhSukhothai đều lần lượt công nhận uy quyền tối cao của Hốt Tất Liệt để tránh xảy ra chiến tranh thêm nữa.

Xâm lược Miến Điện và Java[sửa | sửa mã nguồn]

Ba cuộc viễn chinh đánh Miến Điện, vào năm 1277, 1283 và 1287, đã đưa lực lượng Mông Cổ đến Đồng bằng sông Irrawaddy, sau đó họ chiếm được Bagan, kinh đô của triều Pagan và thành lập chính quyền của họ. Hốt Tất Liệt phải bằng lòng với việc thiết lập một sự tuyệt đối chính thức, nhưng cuối cùng Pagan đã trở thành một quốc gia triều cống, gửi các triều cống đến kinh đô nhà Nguyên cho đến khi quân Mông Cổ bị trục xuất khỏi Trung Quốc vào những năm 1360. Lợi ích của người Mông Cổ trong các lĩnh vực này là mối quan hệ thương mại và phụ lưu.

Trong những năm cuối cùng của triều đại, Hốt Tất Liệt đã phát động một cuộc viễn chinh chinh phạt hải quân gồm 20-30.000 người đánh Singhasari trên Java (1293), nhưng lực lượng Mông Cổ xâm lược đã buộc phải rút lui bởi Majapahit sau khi tổn thất đáng kể hơn 3000 quân. Tuy nhiên, đến năm 1294, năm Hốt Tất Liệt qua đời, các vương quốc Thái Lan bao gồm Sukhothai và Chiang Mai đã trở thành các quốc gia chư hầu của nhà Nguyên.

Quan hệ với châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới thời Hốt Tất Liệt, liên hệ trực tiếp giữa Đông Á và Châu Âu đã được thiết lập, nhờ sự kiểm soát của Mông Cổ đối với các tuyến thương mại trung tâm châu Á và được tạo điều kiện bởi sự hiện diện của các dịch vụ bưu chính hiệu quả. Vào đầu thế kỷ 13, người châu Âu và Trung Á - thương nhân, khách du lịch và nhà truyền giáo của các quốc gia khác nhau - đã đến Trung Quốc. Sự hiện diện của sức mạnh Mông Cổ cho phép một số lượng lớn người Trung Quốc, có ý định chiến tranh hoặc buôn bán, đi đến các bộ phận khác của Đế quốc Mông Cổ, đến tận Nga, Ba TưLưỡng Hà.

Cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh thổ nhà Nguyên khi Hốt Tất Liệt chết, năm 1294.

Hốt Tất Liệt ban đầu có ý định đưa con trai thứ hai là Chân Kim (真金) làm người kế vị ông. Chân Kim đã trở thành người đứng đầu của trung thư tỉnh và tích cực điều hành công việc triều chính theo kiểu Nho giáo. Thật không may, Chân Kim chết năm 1285, 9 năm trước khi Hốt Tất Liệt qua đời. Ngoài ra, ái thê của ông Hoàng hậu Sát Tất cũng qua đời trước đó vài năm (năm 1281). Con yêu cùng vợ yêu qua đời trong một thời gian ngắn, hẳn đã khiến Hốt Tất Liệt chấn động mạnh mẽ.

Mặt khác, Hốt Tất Liệt cũng bị bệnh gút nặng trong những năm cuối đời. Ông tăng cân nhanh vì ưa thích ăn các món đặc sản nguồn gốc động vật. Điều này làm gia tăng nhanh lượng purin trong máu của ông, dẫn tới việc làm trầm trọng thêm các vấn đề với bệnh gút và cuối cùng dẫn tới cái chết. Việc ăn quá nhiều của ông có thể có liên quan tới cái chết của bà vợ yêu quý nhất của ông cũng như của người ông đã chọn làm người kế vị là Chân Kim.

Trước khi chết, Hốt Tất Liệt đã chọn con trai của Chân Kim là Thiết Mộc Nhĩ làm Thái tử và ông này đã trở thành vị hoàng đế thứ hai của nhà Nguyên, tức là Nguyên Thành Tông.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh vẽ Đà Lôi cùng vợ Toa Lỗ Hòa Thiếp Ni.
Chân dung Hoàng hậu Sát Tất.
  1. Đại ca: Mông Kha, anh cả cùng mẹ, sau được truy tặng làm Nguyên Hiến Tông (元宪宗).
  2. Nhị ca: Hốt Đổ Đô (忽睹都).
  3. Tam ca và Ngũ đệ không biết tên.
  4. Lục đệ: Húc Liệt Ngột, Đại Hãn của Hãn quốc Y Nhi.
  5. Thất đệ: A Lý Bất Ca, tranh chấp giành lấy quyền lực Đại Hãn.
  6. Bát đệ: Bát Xước (拨绰).
  7. Cửu đệ: Mạt Ca (末哥).
  8. Thập đệ: Tuế Ca Đô (岁哥都).
  9. Thập nhất đệ: Tuyết Biệt Đài (雪别台).
  • Chị em:
  1. Độc Mộc Can (独木干), phong Triệu Quốc công chúa (赵国公主), hạ giá Niếp Cổ Đài, Sát Hốt.
  2. Dã Tốc Bất Hoa (也速不花), phong Lỗ Quốc công chúa (鲁国公主), hạ giá Oát Trần.
  3. Tiết Chỉ Can (薛只干), phong Lỗ Quốc công chúa, hạ giá Giáp Nạp Trần (em trai Oát Trần).
  • Thê thiếp:
  1. Đại hoàng hậu: Thiếp Cổ Luân (帖古伦).
  2. Đại Oát nhĩ đóa:
    1. Hoàng hậu Sát Tất, Hoằng Cát Liệt thị, lập năm 1260, mất 1281, thụy hiệu Chiêu Duệ Thuận Thánh hoàng hậu (昭睿顺圣皇后).
    2. Hoàng hậu Nam Tất, Hoằng Cát Liệt thị, lập năm 1283.
  3. Nhị Oát nhĩ đóa:
    1. Hoàng hậu Tháp Lạt Hải (塔剌海).
    2. Hoàng hậu Nô Hãn (奴罕).
  4. Tam Oát nhĩ đóa:
    1. Hoàng hậu Bá Yếu Ngột Chân (伯要兀真).
    2. Hoàng hậu Khoát Khoát Luân (阔阔伦).
  5. Tứ Oát nhĩ đóa:
    1. Phi Bát Bát Hãn (八八罕).
    2. Phi Tát Bất Hốt (撒不忽).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng tử
  1. Đóa Nhân Chỉ (朵儿只), mất sớm, mẹ Hoàng hậu Sát Tất.
  2. Chân Kim (真金), mẹ Hoàng hậu Sát Tất. Năm 1273 lập làm Thái tử. Mất năm 1286.
  3. Mang Ca Lạt (忙哥剌), mẹ Hoàng hậu Sát Tất, tước An Tây vương (安西王).
  4. Na Mộc Hãn (那木罕), mẹ Hoàng hậu Sát Tất, tước Bắc An vương (北安王).
  5. Hốt Ca Xích (忽哥赤), mẹ không rõ, tước Vân Nam vương (雲南王).
  6. Ái Nha Xích (爱牙赤), mẹ không rõ.
  7. Áo Đô Xích (奥都赤), mẹ không rõ, tước Tây Bình vương (西平王).
  8. Khoát Khoát Xuất (阔阔出), mẹ không rõ, tước Ninh vương (宁王).
  9. Thoát Hoan, mẹ không rõ, tước Trấn Nam vương (镇南王).
  10. Hốt Đô Lỗ Thiếp Mộc Nhân (忽都鲁帖木儿), mẹ không rõ.
  11. Thiết Miệt Xích (铁蔑赤), mẹ Hoàng hậu Nam Tất.
Hoàng nữ
  1. Nguyệt Liệt (月烈), phong Triệu Quốc đại trưởng công chúa (赵国大长公主), hạ giá Triệu Vũ Tương vương Ái Bất Hoa (爱不花).
  2. Ngô Lỗ Chân (吾鲁真), phong Xương Quốc công chúa (昌国公主), hạ giá Bột Hoa (孛花).
  3. Trà Luân (茶伦), phong Xương Quốc đại trưởng công chúa (昌国大长公主), hạ giá Thiếp Giam Can (帖监干).
  4. Hoàn Trạch (完泽), phong Lỗ Quốc trưởng công chúa (鲁国长公主), hạ giá Oát La Chân (斡罗真).
  5. Nang Gia Chân (囊家真), phong Lỗ Quốc đại trưởng công chúa (鲁国大长公主), hạ giá con trai của Thiết Mộc Nhân Man (铁木儿蛮).
  6. Hốt Đô Lỗ Kiên Mễ Thất (忽都魯揭里迷失), phong Tề Quốc đại trưởng công chúa (齐国大长公主), hạ giá Cao Ly Trung Liệt Vương.
  7. Một công chúa, khả năng là tông thất nữ, hạ giá Tống Cung Đế.

Tiểu thuyết hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Hốt Tất Liệt được tiểu thuyết hoá trở thành một nhân vật trong truyện Thần điêu hiệp lữ của Kim Dung.

Trong truyện này ông là người đứng ra chiêu nạp đám cao thủ võ lâm Kim Luân Pháp Vương, Tiêu Tương Tử, Doãn Khắc Tây,Sóng Gió Nguyên Triều v.v. âm mưu tiêu diệt các cao thủ Đại Tống.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Morgan David. The Mongols (Blackwell Publishers; Tái bản, tháng 4 năm 1990), ISBN 0-631-17563-6.
  • Rossabi Morris. Khubilai Khan: His Life and Times (Nhà in Đại học California (1-5-1990)) ISBN 0-520-06740-1.
  • Saunders J. J. The History of the Mongol Conquests (Nhà in Đại học Pennsylvania (1-3-2001)) ISBN 0-8122-1766-7.
  • Man John. "Kublai Khan"
  • Man John. "Genghis Khan"

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thành lập nhà Nguyên vào ngày này. Tuy nhiên, chưa thể kiểm soát miền nam Trung Quốc cho tới tận tháng 2 năm 1276, khi hoàng đế Nam Tống bị bắt. Những cuộc kháng cự cuối cùng ở đây còn kéo dài tới năm 1279.
  2. ^ Rossabi, Morris (1988). Khubilai Khan: His Life and Times. Nhà in Đại học California. tr. 13. ISBN 0-520-06740-1. 
  3. ^ Rossabi, Morris (1988). Khubilai Khan: His Life and Times. University of California Press. tr. 227–228. ISBN 0-520-06740-1. 
  4. ^ The Encyclopedia Britannica: A Dictionary of Arts, Sciences, Literature and General Information, trang 893
  5. ^ Mark Borthwick: Pacific Century, Nhà in Westview, 2007, ISBN 0-8133-4355-0
  6. ^ Nguyên sử: Bản kỷ, quyển 4, Thế Tổ nhất
  7. ^ Yule & Cordier 1923, ch. 5
  8. ^ John Man: Kublai khan, trang 131
  9. ^ Rossabi M. Khubilai Khan: His Life and Times, Nhà in Đại học California, trang 76
  10. ^ Rossabi M. "Khubilai Khan: His Life and Times", Nhà in Đại học California, trang 247
  11. ^ The Branch Secretariats of the Yuan Empire
  12. ^ Jack Weatherford: The history of Money, trang 127
  13. ^ a ă â b c d đ e Kỷ Nhà Trần: Nhân Tông hoàng đế
Hốt Tất Liệt
Sinh: , 1215 Mất: , 1294
Tước hiệu
Tiền vị
Mông Kha
Khả Hãn của Đế quốc Mông Cổ
1260–1294
Kế vị
Hoàn Trạch Đốc Hãn
(danh nghĩa)
Tiền vị
Không
(sáng lập triều đại)
Hoàng đế nhà Nguyên
1271-1294
Kế vị
Nguyên Thành Tông
Tiền vị
Tống Đế Bính
Hoàng đế Trung Hoa
1279-1294
Sửa Khả hãn của Đế quốc Mông Cổ
Thành Cát Tư Hãn (1206-1227) | Đà Lôi (nhiếp chính) (1227-1229) | Oa Khoát Đài (1229-1241) | Nãi Mã Chân (nhiếp chính) (1241-1245) | Quý Do (1246-1248) | Hải Mê Thất (nhiếp chính) (1248-1251)| Mông Kha (1251-1259) | Hốt Tất Liệt (1260-1294)