Nguyên Thái Định Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên Thái Định Đế
元泰定帝
Dã Tôn Thiết Mộc Nhi Hãn
也孫鐵木兒汗
Hoàng đế Trung Hoa, Khả Hãn Mông Cổ (chi tiết...)
Yesun.jpg
Chân dung Nguyên Thái Định Đế.
Hoàng đế Đại Nguyên
Trị vì4 tháng 10, 1323 – 15 tháng 8, 1328
(&0000000000000004.0000004 năm, &0000000000000316.000000316 ngày)
Đăng quang4 tháng 10 năm 1323 tại Đại đô
Tiền nhiệmNguyên Anh Tông
Kế nhiệmNguyên Thiên Thuận Đế
Khả Hãn Mông Cổ (danh nghĩa)
Tại vị4 tháng 10, 1323 – 15 tháng 8, 1328
(&0000000000000004.0000004 năm, &0000000000000316.000000316 ngày)
Tiền nhiệmCách Kiên hãn
Kế nhiệmA Tốc Cát Bát
Thông tin chung
Thê thiếpBabukhan Khatun
Tên đầy đủBột Nhi Chỉ Cân Dã Tôn Thiết Mộc Nhi (孛兒只斤也孫鐵木兒, Borjigin Yesüntemür, ᠶᠢᠰᠦᠨᠲᠡᠮᠦᠷ)
Niên hiệuThái Định (泰定): 1324 - tháng 2, 1328
Trí Hòa (致和): tháng 2, 1328 - tháng 9, 1328
Thụy hiệuKhân Nhân Đại Hiếu Hoàng đế (欽仁大孝皇帝)
Miếu hiệuTấn Tông(晉宗) hay Hưng Tông(興宗)
Thân phụGammala
Thân mẫuBuyan Kelmish của Khunggirat
Sinh28 tháng 11, 1293
Mất15 tháng 8, 1328(1328-08-15) (34 tuổi)
Thương Đô

Nguyên Thái Định Đế (1293 - 1328) hay Nguyên Tấn Tông, tên thật là Borjigin Yesun Temur (Hán Việt: Bột Nhi Chỉ Cân Dã Tôn Thiết Mộc Nhi). Là vị hoàng đế thứ sáu của nhà Nguyên và là đại hãn thứ 10 của đế quốc Mông Cổ. Ông là chắt của Nguyên Thế Tổ và là con của tướng Cam Ma Thích. Lên kế vị sau khi Nguyên Anh Tông bị ám sát.

Ở Trung Quốc, Dã tôn Thiết Mộc Nhi là người rất thích cách truyền thống của người Mông Cổ. Ông được gọi là Hoàng đế Tấn Tông từ tên thời đại của ông. Tên của ông có nghĩa là "Khã hãn sắt số 9" trong tiếng Mông Cổ.

Ông có lẽ là hoàng đế được viếng thăm bởi tu sĩ Phanxicô Odoric, người đã để lại một kỷ lục tuyệt vời về chuyến đi của ông.

Trước khi làm vua[sửa | sửa mã nguồn]

Dã Tôn Thiết Mộc Nhi là con trưởng của Cam Ma Thích và là cháu nội của Chân Kim - người từng được Hốt Tất Liệt lựa chọn kế vị. Cha ông trước kia làm Tấn Vương và có nhiệm vụ trấn giữ vùng biên giới phía Bắc, tức Mạc Bắc. Đến năm 1302, Cam Ma Thích qua đời và Dã Tôn Thiếp Mộc Nhi lên nối nghiệp tiếp quản công việc. Tuy sống ở Mạc Bắc nhưng Dã Tôn Thiết Mộc Nhi vẫn luôn theo dõi sát sao mọi hành động của kinh thành.

Dưới thời các vua Vũ Tông, Nhân Tông và Anh Tông, Dã Tôn Thiết Mộc Nhi là người có một lực lượng quân đội đông đảo và hùng mạnh ở Mông Cổ, đã trở thành một trong những hoàng tử được triều đình kính trọng nhất và nổi lên như một nhà lãnh đạo không thể chối cãi trong các hoàng tử ở vùng thảo nguyên.

Tháng 8 năm 1323, gian thần Thiết Thất bày mưu với Dã Tôn Thiết Mộc Nhi lật đổ Nguyên Anh Tông để đưa Dã Tôn Thiết Mộc Nhi lên ngôi. Sợ kế hoạch không thành hoặc bị bại lộ, Dã Tôn Thiết Mộc Nhi bí mật phái người tới Đại Đô báo cáo cho Nguyên Anh Tông biết để trị tội Thiết Thất. Tuy nhiên khi người mà Dã tôn Thiết Mộc Nhi phái đi chưa đến nơi thì lại phải quay về, vì Anh Tông đã bị sát hại.

Lên ngôi hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

"Đế quốc là một gia đình mà Hoàng đế là cha."
Dã Tôn Thiết Mộc Nhi , c. 1324, Nguyên sử[1]

Sau đó Thiết Thất lập Dã Tôn Thiết Mộc Nhi lên ngôi ở bờ sông Kherlen ở Mông Cổ vào ngày 4 tháng 10 năm 1323, lấy niên hiệu là Thái Định, tức Nguyên Tấn Tông, còn Thiết Thất làm tri khu mật viện sự. Tấn Tông lúc mới lên ngôi đã bị nhiều đại thần nghi kị là đã tham gia vào vụ ám sát Anh Tông. Để tội lỗi của mình tránh bị phát hiện, đầu năm 1324, Tấn Tông hạ lệnh hành quyết Thiết Thất và đồng bọn. Sau đó vua gửi một toán quân đến Đại Đô và Thượng Đô để giết sạch hết những thế lực chống đối để củng cố lại địa vị hoàng đế Đại Nguyên mà các ngoại thích đã tranh giành từ cuối thời Nguyên Vũ Tông. Năm hoàng tử có liên quan đã bị đày đến Vân Nam, Hải Nam và những nơi xa xôi khác.

Là một nhà cai trị đã chiếm đoạt ngai vàng bởi mưu đồ và bạo lực, Tấn Tông đã cố gắng tìm sự hỗ trợ rộng nhất có thể. Để đảm bảo sự ủng hộ Hoàng đế từ dân chúng, ông đã cho thấy sự kính trọng của ông đối với truyền thống Nho giáo từ khi ông bắt đầu triều đại. Tuy nhiên, các quan chức Hồi giáo và Mông Cổ từ thảo nguyên (người đi cùng với ông từ Mông Cổ) đã chiếm đa số các thánh chỉ trong triều đình trong giai đoạn này. Kumeijil và Tas Temur phục vụ như những hội đồng lớn ở phe cánh hữu; Đảo Thích Sa là người quản lý các vấn đề chính phủ của Ban Thư ký Trung ương (中書省), sau đó là kiểm duyệt trưởng, và cuối cùng là hội đồng lớn của phe cánh tả; và Andachu, quản lý của Cục Quân sự.

Ngoài Đảo Thích Sa, có hai người Hồi giáo, Ubaidullah và Bayanchar, là người quản lý các vấn đề của chính phủ trong Ban thư ký. Mahumud Shah và Hasan Khoja quản lý Cục Quân sự. Ngược lại với người Hồi giáo, các quan chức Trung Quốc ít gây ảnh hưởng đến chính quyền. Điểm cao của các hoạt động của đối tác Mông Cổ thuộc quyền sở hữu của hoàng đế, chính quyền đã miễn trừ các Kitô hữu và người Hồi giáo từ bất kỳ khoản thanh toán nào và đảm bảo khoản thanh toán khổng lồ được hứa hẹn bởi giới quý tộc Mông Cổ để đổi lấy hàng xa xỉ (тансаг).

Nguyên Tấn Tông lên án sự lãng phí của triều đình trong việc mua đá quý đắt tiền, được nhập khẩu bởi các thương gia nước ngoài, và được bán với giá gấp mười lần giá trị của họ, trong khi những người dân lại còn nghèo đói. Năm 1326, khả hãn Ozbeg của hãn quốc Kim Trướng đã tặng một con báo săn cho vua Nguyên, người đã trả lại các khoản tài trợ vàng, bạc, tiền mặt và lụa.

White page with black Phagspa characters and two seals, one being in the middle of and one on the right sight of the text. All lines start at the top of the page
Đạo luật của Nguyên Thái Định Đế

Trong triều đại của mình, Tấn Tông đã chia đế chế thành 18 phòng ban được kiểm soát bởi một hội đồng gọi là "Lãnh chúa của các tỉnh"; trước đây nó được chia thành 12 đơn vị. Các báo cáo được trình bày về tình trạng của các tỉnh có rất nhiều những lời phàn nàn về các Lạt ma, những người được trang bị những con dấu vàng của họ, áp bức các tỉnh làm cho họ trở nên ngoại lệ về pháp luật và đối xử với người dân một cách đáng xấu hổ. Họ ở nhà riêng, đuổi chủ nhân ra, đồi trụy với phụ nữ và làm khá nhiều những chuyện xấu mà họ muốn. Nỗi sợ hãi của người Mông Cổ đã lên đến đỉnh điểm và các Lạt ma đã ngăn cản vua làm bất cứ điều gì có hiệu quả lúc đầu. Cuối cùng, ông cấm các Lạt-ma vào Trung Quốc. Bên cạnh Phật giáo, Dã Tôn Thiết Mộc Nhi đã bỏ bê việc thờ cúng cổ xưa của người Mông Cổ.

Nguyên Tấn Tông nhìn chung rất chăm lo triều chính, yêu mến nhân dân. Trong 5 năm ở ngôi, ông đã đưa ra nhiều chính sách để cải thiện dân tình. Tuy vậy ông lại không tiếp thu ý kiến của các đại thần, trung thần,... Do vậy nên con đường cải cách chính trị của ông gặp nhiều khó khăn.

Nguyên Tấn Tông đã chọn chính sách khoan dung quá mức nên chính sự, kỷ cương ngày càng lỏng lẻo. Những tên địa chủ lợi dụng sự tin tưởng của triều đình mà cướp bóc của cải, chiếm đoạt ruộng đất của dân nghèo. Những kẻ cướp bóc luôn làm quấy rối đời sống xã hội.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tấn Tông đã rời bỏ quyền quản trị của đế chế cho hai trợ thủ của ông là Đảo Thích Sa và Khatun Babukhan khi ông đột nhiên qua đời tại Thượng Đô vào ngày 15 tháng 8 năm 1328 trong một chuyến tuần du bất thường. Con trai ông là A Tốc Cát Bát đã được Đảo Thích Sa lập làm vua, nhưng thế lực của ông đã nhanh chóng bị đánh bại bởi Nguyên Văn Tông ba tháng sau đó trong chiến tranh của hai đô.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Henry Hoyle Howorth. History of the Mongols: From the 9th to the 19th Century (new edition). Cosimo, Inc.