Nguyên Chiêu Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên Chiêu Tông
元昭宗
Tất Lý Khắc Đồ Hãn
必里克图汗
Khả Hãn Mông Cổ
Ayushirdari.jpg
Chân dung Nguyên Chiêu Tông
Hoàng đế Bắc Nguyên
Tại vịngày 27 tháng 5 năm 1370 – ngày 10 tháng 5 năm 1378
Tiền nhiệmNguyên Huệ Tông
Kế nhiệmNguyên Ích Tông
Thông tin chung
Thê thiếpQuyền hoàng hậu
Hậu duệMãi Đích Lý Bát Lạt
Tên đầy đủAyusiridara (愛猷識理達臘, Ái-du-thức-lý-đạt-lạp, ᠠᠶᠣᠰᠢᠷᠢᠳᠠᠷ)
Niên hiệuTuyên Quang (1371 - tháng 6 1379)
Thụy hiệuVũ Thừa Hòa Hiếu hoàng đế 武承和孝皇帝 Tất Lý Khắc Đồ Hãn (Bilig-tü qaγan, ᠪᠢᠯᠢᠭ ᠲᠦ ᠬᠠᠭᠠᠨ, Билигт хаан)
Miếu hiệuChiêu Tông (昭宗)
Thân phụNguyên Huệ Tông
Thân mẫuKỳ Hoàng hậu
Sinhngày 23 tháng 1 năm 1340[1]
Đại Đô
Mấtngày 10 tháng 5 năm 1378

Biligtü Khan hay Nguyên Chiêu Tông (元昭宗), trước khi lên ngôi tên là Ayusiridara (愛猷識理答臘/ Ái Du Thức Lý Đạt Lạp), là vị hoàng đế thứ hai của triều đại Bắc Nguyên Mông Cổ, sau khi nhà Nguyên đã bị đẩy lùi bởi Chu Nguyên Chương, khôi phục địa vị thống trị Trung Hoa của người Hán. Kế vị ngai vàng của vua cha Nguyên Huệ Tông, ông đã đẩy lui cuộc xâm lăng của quân đội nhà Minh năm 1372 và tái thiết lập sự thống trị của mình lên một số vùng đất đã từng mất vào tay nhà Minh.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ayusiridara là con trai của hoàng đế Nguyên Huệ Tông và Ki Hoàng hậu. Thời niên thiếu, từ năm 10 tuổi, ông được vua cha cho đến học tại nhà của thừa tướng Toktog (Thoát Thoát), được giáo dục nền văn hóa Trung Hoa từ nhỏ. Hoàng hậu đầu tiên của Huệ Tông, Baya'ud Danashri chỉ hạ sinh được duy nhất một người con trai, nhưng vị hoàng tử này đã không thể sống đến tuổi trưởng thành. Tuy nhiên, ông lại không hề nhận được sự quan tâm từ hội đồng Na Nhan Mông Cổ, bởi gốc gác thấp kém và nguồn gốc của mẹ ông (Kỳ Hoàng hậu từng làm cung nữ phục vụ trà được tiến cống tới nước Nguyên từ Cao Ly). Điều này chỉ thay đổi, sau khi gia tộc của hoàng hậu Baya'ud Danashri bị thanh trừng và cái chết của Bá Nhan. Sau đó, ông và mẹ của ông mới được chính thức thừa nhận trong triều đình Mông Cổ. Được sự thuyết phục của Kỳ Hoàng hậu, Nguyên Huệ Tông từng dự định sắc phong ông làm người kế vị vào năm 1353. Tuy nhiên, phe đối lập với ông, thừa tướng Thoát Thoát đã ngăn chặn và làm trì hoãn việc này rất lâu sau đó. Kỳ Hoàng hậu, vì muốn đưa con trai lên ngôi hoàng thái tử, đã lập ra một âm mưu, với sự giúp sức của một người học trò cũ của Togtok là Hama, cáo buộc Togtok tội tham nhũng và những chính lệnh hà khắc mà ông này đã áp dụng trong thời gian trấn áp quân Khăn đỏ năm 1354. Âm mưu này đã khiến cho Togtok dù từng có công trạng trấn áp quân khởi nghĩa, cũng bị phế và bị đưa đi lưu đày tại Hoài Nam.

Sau khi Togtok bị phế truất khỏi chức thừa tướng, Hama đã được cất nhắc lên giữ chức này và quyền lực dần tập trung vào tay ông ta. Ở đỉnh cao quyền lực, Hama dự định dùng ảnh hưởng của mình để đưa Ayusiridara lên làm hoàng thái tử. Ngày tháng vinh quang của Hama không kéo dài được lâu khi âm mưu năm xưa của ông ta với Togtok bị phát giác vào năm 1356. Hama bị bãi chức và bị đưa đi lưu đày, trước khi bị những kẻ thù của ông ta thắt cổ chết. Ayusiridara lại may mắn không bị truy tội trong vụ việc lần này. Trong khi ông được tấn phong hoàng thái tử vào năm 1353, biến loạn đã diễn ra trong cung đình nhà Nguyên giữa phe ủng hộ và phe chống đối Thái tử. Năm 1360, Thái tử và Hoàng hậu đã cố thuyết phục thừa tướng đương chức lúc bấy giờ, Tai-ping, để ông này dâng tấu lên hoàng đế xin nhường ngôi cho Thái tử. Tai-ping đã không đồng ý với đề nghị của Thái tử và Hoàng hậu, kết cục của ông là bị ép từ chức, trong khi phe đảng của ông ta bị đầu độc.

Năm 1364, một tướng quân của phe đối lập là Bolad-Temür đã đem quân chiếm lấy kinh thành. Trước tình hình nguy cấp, hoàng đế cho gọi Ayusiridara từ đất phong về kinh đô. Trước mệnh lệnh của vua cha, ông lại không thực hiện vì cảm thấy lực lượng của mình chưa đủ mạnh để khống chế được quân đội của Bolad-Temür. Do đó, thay vì trở về kinh đô, ông đã chạy tới chỗ của đại tướng quân Vương Bảo Bảo (Köketemür). Khi biết tin Thái tử đang gây dựng lực lượng của mình, Bolad-Temür đã bắt Kỳ Hoàng hậu phải ra lệnh triệu hồi con trai về kinh thành. Âm mưu của Bolad-Temür còn chưa được thực hiện thì ông ta bị ám sát bởi một thành viên hoàng tộc được bí mật ra lệnh bởi Nguyên Huệ Tông. Tướng Vương Bảo Bảo sau đó đánh bại quân đội của Bolad-Temür năm 1365. Nhân chiến thắng này, Ayusiridara lại ép Vương Bảo Bảo phải yêu cầu hoàng đế thoái vị. Huệ Tông không thuận theo yêu cầu này, bù lại, bổ nhiệm Thái tử một chức vụ trong quân đội. Vương Bảo Bảo không đồng tình với hành động của Hoàng đế, sau đó thì bị bãi chức.

Năm 1368, nhà Nguyên đã hoàn toàn bị đánh bại bởi đội quân khởi nghĩa của Chu Nguyên Chương, Nguyên Huệ Tông đã phải từ bỏ Đại Đô để tháo chạy đến Thượng Đô và tiếp tục trị vì đất đai còn lại ở phía Bắc của triều Nguyên, tức là triều Bắc Nguyên. Hai năm sau, Huệ Tông băng hà trong lúc quân Minh thực hiện cuộc tiến công lên phía bắc và con trai của ông là Maidarbal bị bắt làm tù binh. Sau đó, Maidarbal đã trốn thoát an toàn về Karakorum và Ayusiridara đã chính thức đăng cơ làm Khả hãn của Mông Cổ với tước vị là Biligtü Khan (Tất Lý Khắc Đồ hãn).

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chính thức đăng cơ, Chiêu Tông dời đô về Karakorum và đặt niên hiệu mới là Tuyên Quang (宣光, 1371–1378). Đế quốc Nguyên lúc này sau khi bị nhà Minh đánh đuổi khỏi Trung Quốc, vẫn còn tàn dư tại quê nhà Mông Cổ và vẫn còn duy trì một thế lực khá mạnh, lãnh thổ trải dài từ miền Bắc Trung Hoa tới khu vực Tân Cương. Cùng lúc đó, Chiêu Tông bổ nhiệm Vương Bảo Bảo làm tổng tư lệnh quân đội của Bắc Nguyên.

Trong những năm đầu sau khi nhà Nguyên mất đi Trung Quốc, sự đe dọa của nhà Minh là rất thường trực. Hoàng đế Hồng Vũ (Minh Thái Tổ) đã nhiều lần đề nghị nhà Nguyên triệt thoái lực lượng quân sự của mình nhưng không thành công. Đến năm 1372, hoàng đế nhà Minh đã đưa 15 vạn quân đến xâm lấn vào lãnh thổ Bắc Nguyên. Chiêu Tông đối phó cuộc tấn công của quân Minh bằng cách sai Vương Bảo Bảo đem quân đánh trực diện vào đạo trung quân của quân Minh. Đạo quân này của quân Minh đã tiến đến sông Kuul chỉ trong vòng 20 ngày, tuy nhiên đã bị Vương Bảo Bảo đánh bại, viên tướng Minh chỉ chạy thoát cùng với rất ít quân sĩ của mình. Cánh quân phía đông tiến tới sông Khắc Lỗ Luân (Kherlen), cướp bóc dọc đường, nhưng đã bị đánh bại và phải triệt thoái về Orkhon và tại đây một trận chiến đẫm máu khác đã diễn ra. Đạo quân Minh này đã lại bị đánh bại và sau đó hoàn toàn thất bại trong trận chiến cuối cùng ở gần kinh đô Karakorum. Đạo quân phí tây tuy giành được một số chiến thắng không đáng kể, nhưng sau những tin tức chiến bại gửi về từ hai đạo quân khác, cánh quân này cũng đã phải rút lui.

Trong trận chiến lần này, Chiêu Tông cũng đã gửi thư tới quốc vương nước chư hầu Cao Ly Cung Mẫn Vương, đề nghị Cao Ly gửi quân cùng tham chiến với quân Nguyên. Trong bức thư này có viết:

" Ôi quốc vương, người cũng là một hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn như trẫm. Cho nên, trẫm mong người hãy cùng chúng ta thiết lập công lí và sự thật ở trần thế này."

Đối nghịch với thái độ của Chiêu Tông, Cung Mẫn Vương từ chối giúp đỡ và bắt đầu thi hành chính sách ngoại giao đối địch với vương triều Bắc Nguyên, lấy lại đất đai của Cao Ly vốn nằm trong sự kiểm soát của nhà Nguyên từ thập niên 1270. Phái thân Mông Cổ trong triều đình Cao Ly do Lý Nhân Nhậm (Yi Im-in) đứng đầu không đồng tình và đã giết chết Cung Mẫn Vương vào năm 1374. Họ phái sứ giả Cao Ly đến Liêu Dương để cầu phong cho vị vua mới U Vương - con bù nhìn của Lý Nhân Nhậm và Chiêu Tông nhanh chóng thừa nhận sự hợp pháp ngôi vị của U Vương. Sau khi đã công nhận vị vua mới của Cao Ly, Chiêu Tông một lần nữa đề nghị nước này gửi quân đến tham chiến để mở một cuộc tấn công vào các pháo đài của quân Minh ở biên giới nhưng một lần nữa triều đình Cao Ly từ chối lời đề nghị của nhà Nguyên.

Quân Bắc Nguyên đã giành một số chiến thắng quân sự đáng kể sau đó khi chinh phục được một số vùng đất tại Liêu NinhHà Bắc năm 1373, đẩy lùi quân Minh khỏi Liêu Đông. Nạp Cáp Xuất, một viên quan Mông Cổ tại tỉnh Liêu Dương đã xua quân vào bán đảo Liêu Đông nhằm mục đích khôi phục tầm ảnh hưởng của người Mông Cổ lên Cao Ly và thành công với sự giúp sức của những người Nữ Chân. Triều đình nhà Minh đã phải ngưng thực hiện những cuộc tấn công vào nhà Bắc Nguyên. Năm 1375, viên tướng giỏi nhất và nhiều công trạng của Chiêu Tông, Vương Bảo Bảo đã qua đời. Sau đó ba năm, Chiêu Tông cũng băng hà, ở ngôi được 8 năm, hưởng dương 38 tuổi. Em trai của ông là Thoát Cổ Tư Thiếp Mộc Nhi đăng cơ, tức là Nguyên Hậu chủ hay Ô Tát Cáp Nhĩ Hãn.

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên Chiêu Tông đã được diễn viên Kim Jin-hoo và Lee Shi-woo thể hiện trong bộ phim Hàn Quốc của đài MBC TV - Hoàng hậu Ki (năm 2013-2014).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 元昭宗具体出生时间1340年1月23日的考证,详细可参见2000年7月发表于《内蒙古大学学报》的论文《北元昭宗爱猷识理达腊生年考辨》(作者:喜蕾)《北元昭宗爱猷识理达腊生年考辨》