Tiếng Mông Cổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tiếng Mông Cổ
Монгол хэл Mongol khel
ᠮᠣᠨᠭᠭᠣᠯ ᠬᠡᠯᠡ Mongɣol kele
Phát âm /mɔŋɢɔ̆ɮ xiɮ/
Sử dụng tại Mông Cổ, Trung Quốc
Khu vực Toàn Mông Cổ và Nội Mông; một phần của các tỉnh Liêu Ninh, Cát Lâm, Hắc Long GiangCam Túc tại Trung Quốc
Tổng số người nói 5,2 triệu
Ngữ hệ Mongol
  • Tiếng Mông Cổ
Ngôn ngữ tiền thân
Phân nhánh
Phương ngữ
Hệ chữ viết Các bản chữ cái tiếng Mông Cổ:
Chữ viết Mongol truyền thống
(tại Nội Mông),
Chữ Cyrillic (tại Mông Cổ),
Hệ chữ nổi tiếng Mông Cổ
Địa vị chính thức
Ngôn ngữ chính thức tại

 Mông Cổ
 Trung Quốc

Quy định bởi Mông Cổ:
Hội đồng Ngôn ngữ (Mông Cổ),[2]
Nội Mông:
Hội đồng Ngôn ngữ và Tác phẩm Văn học[3]
Mã ngôn ngữ
ISO 639-1 mn
ISO 639-2 mon
ISO 639-3 cả hai:
khk – Tiếng Mông Cổ Khalkha
mvf – Tiếng Mông Cổ ngoại biên
Glottolog mong1331
Topographic map showing Asia as centered on modern-day Mongolia and Kazakhstan. An orange line shows the extent of the Mongol Empire. Some places are filled in red. This includes all of Mongolia, most of Inner Mongolia and Kalmykia, three enclaves in Xinjiang, multiple tiny enclaves round Lake Baikal, part of Manchuria, Gansu, Qinghai, and one place that is west of Nanjing and in the south-south-west of Zhengzhou
Phạm vi phân bố địa lý của người Mông Cổ tại châu Á (đỏ)

Tiếng Mông Cổ (Chữ viết Mongol truyền thống: Monggol kele.svg,[4] Mongɣol kele; Chữ Cyrillic: Монгол хэл, Mongol khel) là ngôn ngữ chính thức của Mông Cổ và là thành viên nổi tiếng nhất của hệ ngôn ngữ Mongol. Số người nói tất cả các phương ngữ khác nhau lên tới hơn 10 triệu, gồm đa phần cư dân ở Mông Cổ và nhiều người Mông CổKhu tự trị Nội Mông Cổ.[5] Tại Mông Cổ, phương ngữ Khalkha, được viết bằng chữ Cyrillic (và có lúc bằng chữ Latinh trên mạng xã hội), chiếm ưu thế, còn ở Nội Mông có sự đa dạng về phương ngữ hơn và được viết bằng chữ viết Mongol truyền thống.

Một số học giả phân loại những ngôn ngữ Mongol khác như BuryatOirat như những phương ngữ của tiếng Mông Cổ, song cách phân loại này không tương đồng với cơ sở quốc tế hiện nay.

Tiếng Mông Cổ có hòa âm nguyên âm và cấu trúc âm tiết phức tạp cho phép những nhóm ba phụ âm nằm cuối âm tiết hiện diện. Đây là một ngôn ngữ chắp dính điển hình, dựa trên các chuổi hậu tố. Dù có cấu trúc cơ bản, thứ tự vị trí trong các cụm danh từ thì tương đối tự do, nên vai trò ngữ pháp phải được chỉ ra bởi một hệ thống gồm khoảng tám cách ngữ pháp. Có năm dạng. Động từ được xác định bởi dạng, thể, thì, và tình thái/evidentiality.

Tiếng Mông Cổ hiện đại phát triển từ tiếng Mông Cổ trung đại, thứ ngôn ngữ được nói tại Đế quốc Mông Cổ vào thế kỷ 13 và 14. Nhiều sự thay đổi đã diễn ra, một đợt biến đổi mẫu hình hòa âm nguyên âm xuất hiện, nguyên âm dài phát triển, hệ thống cách hơi biến đổi, và hệ thống gốc động từ được tái cấu trúc. Tiếng Mông Cổ có liên qua xa với tiếng Khiết Đan (Khitan). Nó thuộc về vùng ngôn ngữ Bắc Á, gồm ngữ tộc Turk, hệ ngôn ngữ Mongol, ngữ tộc Tungus, tiếng Hàn Quốctiếng Nhật Bản. Văn học tiếng Mông Cổ được lưu giữ tốt ở dạng viết, với những văn liệu từ đầu thế kỷ 13.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “China”. Ethnologue. 
  2. ^ “Törijn alban josny helnij tuhaj huul'”. MongolianLaws.com. Ngày 15 tháng 5 năm 2003. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2009.  The decisions of the council have to be ratified by the government.
  3. ^ "Mongγul kele bičig-ün aǰil-un ǰöblel". See Sečenbaγatur et al. 2005: 204.
  4. ^ Rendered in Unicode as ᠮᠣᠨᠭᠭᠣᠯ ᠬᠡᠯᠡ
  5. ^ Estimate from Svantesson et al. 2005: 141

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]