Cộng hòa Altai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hòa Altai
Республика Алтай (tiếng Nga)
Алтай Республика (tiếng Altay)
—  Cộng hòa  —

Quốc kỳ

Quốc huy
Bài hát: Quốc ca Cộng hòa Altai
Toạ độ: 50°55′B 86°55′Đ / 50,917°B 86,917°Đ / 50.917; 86.917Tọa độ: 50°55′B 86°55′Đ / 50,917°B 86,917°Đ / 50.917; 86.917
Địa vị chính trị
Quốc gia Liên bang Nga
Vùng liên bang Siberi[1]
Vùng kinh tế Tây Siberi[2]
Thành lập 1 tháng 7, 1922
Thủ đô Gorno-Altaysk[3]
Chính quyền (tại thời điểm tháng 9, 2010)
 - Nguyên thủ[5] Alexander Berdnikov[4]
 - Cơ quan lập pháp Hội đồng Nhà nước—El Kurultai[5]
Thống kê
Diện tích (theo điều tra năm 2002)[6]
 - Tổng cộng 92.600 km2 (35.800 sq mi)
 - Xếp thứ 35th
Dân số (điều tra 2010)[7]
 - Tổng cộng 206.168
 - Xếp thứ thứ 79
 - Mật độ[8] 2,23 /km2 (5,8 /sq mi)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
 - Thành thị 27,6%
 - Nông thôn 72,4%
Múi giờ KRAT (UTC+07:00)[9]
ISO 3166-2 RU-AL
Biển số xe 04
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Nga;[10] Tiếng Altay[11]
http://www.altai-republic.ru

Cộng hòa Altai (tiếng Nga: Респу́блика Алта́й, Respublika Altay, Phát âm tiếng Nga: [rʲɪˈspublʲɪkə ɐlˈtaj]; Altay: Алтай Республика, Altay Respublika[12]) là một chủ thể liên bang của Nga (một nước cộng hòa). Cộng hoà Altai là một phân cấp hành chính khác với Vùng Altai. Thủ đô của Cộng hòa Altai là Gorno-Altaysk.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Nước cộng hòa này nằm ở trung tâm châu Á ở điểm nối giữa taiga Siberi, các thảo nguyênKazakhstan và vùng bán sa mạcMông Cổ. Rừng chiếm 25% lãnh thổ vùng.

Sông ngòi và ao hồ[sửa | sửa mã nguồn]

Sông Katun ở phía bắc nước cộng hòa Altai

Có hơn 20.000 nhánh sông chảy qua vùng rừng núi tại Altai, với chiều dài tổng cộng của các nhánh sông lên đến 60.000 km. Con sông lớn nhất của nước cộng hòa này là KatunBiya, điểm nối giữa hai con sông hình thành nên sông Ob, một trong những con sông dài nhất Siberi, chảy theo hướng bắc ra Bắc Băng Dương.

Nguồn của sông Biya là hồ Teletskoye, đây là con hồ lớn của vùng. Sông Katun có đầu nguồn là sông băng Gebler, con sông nằm ở ngọn núi cao nhất vùng, núi Belukha. Sông Katun có vai trò quan trọng trong cuộc sống của người dân Altai bản địa cũng như những người Nga sống ở đây.

Hệ thống thủy văn của vùng bao gồm 7.000 hồ, với tổng diện tích lên đến 700 km². Hồ lớn nhất là hồ Teletskoye, dài 80 km và rộng 5 km, có diện tích 230,8 km², chiều sâu tối đa là 325 m. Các hồ ở vùng núi ở Altai có lượng dự trữ nước sạch lớn với nguồn nước tinh khiết do nằm cách xa nơi sinh sống của con người. Riêng hồ Teletskoye chứa 40 km³ nước sạch.

Dự trữ nước ngầm ước tính 22 triệu m³ một ngày, trong khi hiện nay mới chỉ khai thác 44.000m³ một ngày.

Hồ Shavlo ở Dãy Chuysky Bắc

Núi[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những đặc điểm địa lý nổi bật của Cộng hòa Altai là địa hình núi. Nước cộng hòa này nằm trong hệ thống dãy núi Altay, bao phủ phần lớn nước cộng hòa và trải dài sang Kazakhstan, Mông CổTrung Quốc. Vùng này thường trải qua các cơn địa chấn định kỳ, điều này biểu hiện qua chiều cao điển hình của các dãy núi cũng như hình thồ ghồ ghề của các ngọn núi. Điểm cao nhất tại nước cộng hòa này là núi Belukha (4.506m), ngọn núi cao nhất ở Siberi.

Tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tài nguyên nước là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng của vùng. Các suối nước khoáng và suối nước nóng cũng là những địa điểm nghỉ dưỡng cho khách du lịch. Thêm vào đó, những dòng sông băng Altai có lượng lớn nước sạch. Lượng nước trung bình cho các sông băng Altai đã được đăng ký là 57 km³, trong đó 52 km³ là nước.

Nguồn khoáng sản bao gồm vàng, bạc, sắt ore, liti. Thành phố Barnaul của Vùng Altai từng là trung tâm chế biến khoáng sản từ vùng Altai, hiện nay ngành khai thác khoáng sản đã bị thu hẹp hơn so với trong quá khứ.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Altai republic map.png

Nước cộng hòa này có khí hậu ôn đới lục địa với mùa hè ngắn và nóng (Tháng Sáu-Tháng Tám), mùa đông dài và lạnh.

  • Nhiệt độ trung bình: +1 °C tới -6.7 °C;
  • Nhiệt độ tháng Một: từ -9.2 °C tới -31 °C;
  • Nhiệt độ tháng Bảy: từ +11 °C tới +19 °C;
  • Lượng mưa trung bình: 100–1000 mm.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Altai là một vùng đa phần là nông nghiệp. Tuy nhiên nơi đây cũng có một vài ngành công nghiệp như chế biến thực phẩm, luyện kim, hóa chất, khai thác vàng, sản xuất bơ, chế biến gỗ. Du lịch cũng đang dần góp phần cho nền kinh tế, nhiều khách sạn và khu nghỉ dưỡng đang ngày càng mọc lên ở đây.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Президент Российской Федерации. Указ №849 от 13 мая 2000 г. «О полномочном представителе Президента Российской Федерации в федеральном округе». Вступил в силу 13 мая 2000 г. Опубликован: "Собрание законодательства РФ", №20, ст. 2112, 15 мая 2000 г. (Tổng thống Liên bang Nga. Sắc lệnh #849 of 13-5-2000 Về đại diện toàn quyền của Tổng thống Liên bang Nga tại Vùng liên bang. Có hiệu lực từ  13-5-2000.).
  2. ^ Госстандарт Российской Федерации. №ОК 024-95 27 декабря 1995 г. «Общероссийский классификатор экономических регионов. 2. Экономические районы», в ред. Изменения №5/2001 ОКЭР. (Gosstandart của Liên bang Nga. #OK 024-95 27-12-1995 Phân loại toàn Nga về các vùng kinh tế. 2. Các vùng kinh tế, as amended by the Sửa đổi #5/2001 OKER. ).
  3. ^ Official website of the Altai Republic
  4. ^ Official website of the Altai Republic. Biography of Alexander Vasilyevich Berdnikov
  5. ^ a ă Constitution, Article 8
  6. ^ “Территория, число районов, населённых пунктов и сельских администраций по субъектам Российской Федерации” [Diện tích, số huyện, điểm dân cư và đơn vị hành chính nông thôn theo Chủ thể Liên bang Nga]. Всероссийская перепись населения 2002 года (Điều tra dân số toàn Nga năm 2002) (bằng tiếng Nga). Федеральная служба государственной статистики (Cục thống kê nhà nước Liên bang). 21 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2011. 
  7. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên 2010Census
  8. ^ Giá trị mật độ được tính bằng cách chia dân số theo điều tra năm 2010 cho diện tích chỉ ra trong mục "Diện tích". Lưu ý rằng giá trị này có thể không chính xác do diện tích ghi tại đây không nhất thiết phải được diều tra cùng một năm với điều tra dân số.
  9. ^ Правительство Российской Федерации. Федеральный закон №107-ФЗ от 3 июня 2011 г. «Об исчислении времени», в ред. Федерального закона №271-ФЗ от 03 июля 2016 г. «О внесении изменений в Федеральный закон "Об исчислении времени"». Вступил в силу по истечении шестидесяти дней после дня официального опубликования (6 августа 2011 г.). Опубликован: "Российская газета", №120, 6 июня 2011 г. (Chính phủ Liên bang Nga. Luật liên bang #107-FZ of 2011-06-31 Về việc tính toán thời gian, as amended by the Luật Liên bang #271-FZ of 2016-07-03 Về việc sửa đổi luật liên bang "Về việc tính toán thời gian". Có hiệu lực từ  6 ngày sau ngày công bố chính thức.).
  10. ^ Ngôn ngữ chính thức trên toàn lãnh thổ Nga theo Điều 68.1 Hiến pháp Nga.
  11. ^ Constitution, Article 13
  12. ^ Name used in internal passports according to law ПОСТАНОВЛЕНИЕ Правительства Республики Алтай от 17.07.2001 N 208 "О ТИПОВОМ ОБРАЗЦЕ БЛАНКА-ВКЛАДЫША РЕСПУБЛИКИ АЛТАЙ К БЛАНКУ ПАСПОРТА ГРАЖДАНИНА РОССИЙСКОЙ ФЕДЕРАЦИИ"

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]