Trữ quân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Vị Trữ quân cuối cùng của lịch sử Việt Nam - Nguyễn Phúc Bảo Long.

Trữ quân (chữ Hán: 儲君), hoặc Tự quân (嗣君) hay Quốc Bổn (國本)[1], là cách gọi trung lập tước vị dành cho người đã được chính thức chọn lựa để sau này nối ngôi Hoàng đế hay Quốc vương.

Tên gọi khác[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí kế vị của một Hoàng đế gọi là Hoàng trữ (皇儲), của Quốc vương gọi là Vương trữ (王儲).

Do thường là con trai của vị vua đang trị vì, nên chức Trữ quân hay gọi là Thái tử (đối với Hoàng đế) và Thế tử (đối với Vương). Tuy nhiên, người kế vị không nhất thiết lúc nào cũng là con trai của vị vua đang trị vì.

Do đó còn có nhiều cách gọi khác, ví dụ:

  • Chú của Hoàng đế/Vương được chọn làm người nối ngôi thì gọi là Hoàng thái thúc (皇太叔)/ Vương thế thúc (王世叔).
  • Em của Hoàng đế/Vương được chọn làm người nối ngôi thì gọi là Hoàng thái đệ (皇太弟)/ Vương thế đệ (王世弟).
  • Con gái của Hoàng đế/Vương được chọn làm người nối ngôi thì gọi là Hoàng thái nữ (皇太女)/ Vương thế nữ (王世女).
  • Cháu nội Hoàng đế/Vương được chọn làm người nối ngôi thì gọi là Hoàng thái tôn (皇太孫)/ Vương thế tôn (王世孫).

Quy định lập Trữ quân[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Á[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia khối Đông Á như Nhật Bản, Triều TiênViệt Nam đều chịu quan niệm lập Trữ quân tương tự Trung Quốc, đó là ưu tiên chọn con trai trưởng. Con gái về cơ bản không có quyền thừa kế ngai vị.

Trung Quốc cổ đại xã hội kế tục chế độ là ["Đích trưởng tử kế thừa chế"; 嫡長子繼承製], tức là con trai lớn nhất của vợ cả (Hoàng hậu, Vương hậu, Vương phi) được ưu tiên lập làm Trữ quân. Tuy nhiên, đây dần trở thành thông lệ hơn là luật pháp, vì đôi khi vị trí Trữ quân cũng được chọn không phải cho con trai con vợ cả, mà tùy vào ý niệm của quân chủ quốc gia đó.

Quy tắc "Đích trưởng tử kế thừa chế" xác nhận người thừa kế nguyên tắc cơ bản là: [Lập đích lập trưởng; 立嫡立長]. Trong trường hợp này, con vợ cả ("Đích xuất"; 嫡出) là được ưu tiên nhất, hơn nữa phải là con trưởng. Nếu không có con do vợ cả sinh ra, thì mới xét "người con trai lớn nhất" trong nhà, tức là các con vợ lẽ ("Thứ xuất"; 庶出). Trong lịch sử Đông Á không thiếu việc Trữ quân lại là Thứ xuất.

Ngoài ra, cũng có trường hợp con vợ cả mất sớm, thì đứa con (là cháu của vị quân chủ tại vị) được chọn làm Trữ quân, như Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương lập con của Thái tử Chu TiêuMinh Huệ Đế; Triều Tiên Anh Tổ lập cháu là Lý Toán, con trai của Tư Điệu Thế tử làm Trữ quân.

Thân phận người mẹ có quyết định quan trọng trong trường hợp này. Như Hán Vũ Đế Lưu Triệt từng là con vợ lẽ, khi sinh mẫu ông Hiếu Cảnh Vương hoàng hậu lúc đó chỉ là hầu thiếp của Hán Cảnh Đế. Tuy nhiên sau khi Vương thị được lập Hoàng hậu, Lưu Triệt trở thành "Đích tưởng tử", danh chính ngôn thuận được lập làm Hoàng thái tử dù vị trí của ông còn tới mấy người anh trai khác. Đường Mục Tông vốn là con thứ ba của Đường Hiến Tông, sinh mẫu ông Quách Quý phi tuy là nguyên phối, song không được lập làm Hoàng hậu, do vậy ông không có thân phận Đích trưởng tử, mà anh ông là Lý Ninh được chọn làm Thái tử. Sau khi Lý Ninh qua đời, Đường Mục Tông mới được chọn làm Thái tử.

Ngoại trừ "Lập đích lập trưởng", còn có [Lập tử dĩ Hiền; 立子以賢], tức là vị quân chủ sẽ nhìn trong những đứa con của mình, ai có đủ đức hạnh thì sẽ lập làm Trữ quân. Việc dùng hình thức này khiến nguy cơ tranh đấu giữa các người con trai trở nên gay gắt hơn bao giờ hết, nên thường được xem là hạ sách, tối kị hàng đầu của các triều đại.

Theo Hoàng Minh tổ huấn (皇明祖訓) thời nhà Minh quy định:"Phàm triều đình không có Hoàng tử, thì các anh em của Hoàng đế kế thừa. Cần lập người có thân phận con vợ cả. Nếu không có con vợ cả, thì lấy con cả của con vợ lẽ". Quy định nhà Minh gắt gao như vậy, phần nhiều Trữ quân phải có thân phận con vợ cả mới được ưu tiên lập, tuy triều đại này từng có Quốc Bổn chi tranh (國本之爭) rất căng thẳng thời Minh Thần Tông Vạn Lịch Đế, nhưng nhìn chung nhà Minh chấp hành rất nghiêm túc tổ huấn này.

Triều đại nhà Thanh, sau thời Thanh Thế Tông Ung Chính Đế, đã chấp hành một thể lệ gọi là [Bí mật kiến Trữ chế; 秘密建儲制]: Hoàng đế sẽ đem người được chọn làm Hoàng thái tử viết vào di chiếu, để sau bức biển ["Chính Đại Quang Minh"; 正大光明] trong Cung Càn Thanh. Khi Hoàng đế qua đời, các Cố mệnh Đại thần sẽ lấy di chiếu ra công bố thiên hạ. Tuy nhiên, Càn Long Đế vào năm thứ 60, đã công bố trước thiên hạ chọn Vĩnh Diễm làm Hoàng thái tử, thoái vị trở thành Thái thượng hoàng. Do đó Vĩnh Diễm đã có mấy tháng dùng thân phận Hoàng thái tử điều hành triều đình.

Nếu Hoàng đế không có con thừa kế, thì đã bước vào giai đoạn phải chọn hậu duệ của nhánh hoàng tộc khác làm con, để nối vị và mang danh nghĩa nối tiếp dòng chính thống đang cai trị, đấy gọi là biện pháp [Thừa tự; 承嗣]. Với hình thức này, người tông thất được chọn trên thực tế phải mang danh nghĩa ["Là con của Hoàng đế kế nhiệm, hoặc Hoàng đế kế nhiệm trước đó"] thì mới có danh phận kế thừa, tương tự kiểu nhận con nuôi, cha mẹ tranh pháp lý mới khiến cho con nuôi có quyền thừa kế. Chính điều này dĩ nhiên sẽ hạn chế Hoàng đế kế tự ấy truy phong vị hiệu cho cha mẹ ruột của mình.

Thời Tây Hán, Xương Ấp vương Lưu Hạ cùng Hán Tuyên Đế Lưu Tuân là những trường hợp đầu tiên như vậy, cả hai đều là thừa tự của Hán Chiêu Đế. Song do Hán Tuyên Đế là cháu nội của Lệ Thái tử Lưu Cứ, nên việc truy phong có diễn ra đặc biệt hơn, cha ruột của ông là Lưu Tiến đã có thể được tôn làm ["Hoàng khảo"; 皇考], mẹ là Vương Ông Tu có thể làm ["Hậu"; 后], điều này là tiền lệ cho các Hoàng đế kế tự thời Đông Hán như Hán An Đế đã có thể truy tôn cho cha và mẹ ruột. Thời nhà Tống, quy tắc gắt gao, các Hoàng đế dòng bên không thể thậm chí truy phong cha ruột làm "Hoàng" như thời Hán. Sang đến thời nhà Minh, có Đại lễ nghị chính là thảo luận dâng tôn thế nào thời Minh Thế Tông, đối với cha ruột của ông là Chu Hữu NguyênTừ Hiếu Hiến hoàng hậu. Sang thời nhà Thanh, 2 vị Hoàng đế Quang TựTuyên Thống đều là con thừa kế từ dòng bên nhập qua, Quang Tự Đế lấy danh nghĩa là con của Hàm Phong, còn Phổ Nghi là của cả Đồng Trị lẫn Quang Tự. Cha ruột của hai người, Thuần Hiền Thân vương Dịch Hoàn cùng Thuần Thân vương Tái Phong đều chỉ có thể tiếp tục cúi đầu xưng thần, không có gì ưu đãi trừ việc ai cũng biết họ là cha ruột của Hoàng đế.

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Xã hội Châu Âu về cơ bản cũng là theo hình thức chọn con trưởng làm người thừa kế. Người con trưởng, cả nam lẫn nữ đều được ưu tiên hơn hẳn. Ngoài ra, những người con ngoài giá thú tức là không theo hôn nhân đều không có quyền thừa kế. Nữ vương Elizabeth I của Anh từng mất quyền kế vị vì từng bị tuyên bố là con hoang.

Chế độ kế vị ở Châu Âu phần nhiều tùy vào từng quốc gia mà quy định. Như ở nước Anh là phải thuộc Kháng Cách sau thời đại Henry VIII của Anh. Ngoài ra, sự môn đăng hộ đối cũng là yêu cầu bắt buộc. Theo Quý tiện kết hôn, là thông luật do giới quý tộc Châu Âu áp dụng trong cách thức kế thừa tước hiệu cũng như tài sản khi một người đàn ông trong giới quý tộc lấy một người đàn bà thường dân. Theo phép đó thì con cái của người đàn ông đó tuy được thừa nhận nhưng không thuộc trong danh sách gia tộc khi xét đến thừa hưởng tài sản và tước hiệu.

Ở Châu Âu còn có Đạo luật Salic cũng ảnh hưởng rất lớn đối với quy định thừa kế ở Châu Âu. Điểm đáng nói là bộ luật này không công nhận quyền kế vị của phụ nữ trong bất kì trường hợp nào, kể cả dòng dõi xa. Do sự ảnh hưởng của Francia và việc liên hôn, phần đông các quốc gia ở Châu Âu, đều theo đạo luật này. Chiến tranh Kế vị ÁoChiến tranh Kế vị Tây Ban Nha phát sinh là do sự tranh luận quyền kế vị giữa "nam giới thuộc dòng thứ" với "nữ giới thuộc dòng chính".

Cuộc Chiến tranh trăm năm giữa AnhPháp phát sinh chính là về vấn đề thừa kế vương vị. Khi đó, Charles IV của Pháp qua đời mà không có người thừa kế nào. Edward III của Anh đã nhân đó yêu cầu quyền kế vị ngai vàng Pháp, do ông là con trai của em gái Charles IV của Pháp tức Isabella của Pháp. Tuy nhiên, theo "Đạo luật Salic", khả năng thừa kế Vương vị không được công nhận thông qua dòng dõi nữ giới, nên triều đình Pháp bác bỏ tư cách của Edward III của Anh, mà thay vào đó là sự lên ngôi của Philippe VI của Pháp. Edward III của Anh tuy rằng thỏa hiệp, nhưng mầm móng trực tiếp của cuộc chiến tranh đã hình thành.

Tuy nước Anh chấp nhận nữ giới kế thừa vương vị, nhưng Vương quốc Hanover lại không nên Nữ vương Victoria khi đăng vị Nữ vương nước Anh, nhưng lại không có quyền thừa kế Vương quốc Hanover (gốc tích của vương tộc Hanover), mà phải truyền cho người chú là Ernest Augustus.

Chức tước[sửa | sửa mã nguồn]

Các triều đại tại Đông Á (Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên) trước đây thường phong các tước vị khác nhau cho các Trữ quân, đôi khi có tước vị Hoàng thái tử rồi nhưng vẫn được phong Vương tước. Trong khi đó, có nhiều triều đại tại châu Âu chỉ dùng một hay vài tước nhất định cho các Trữ quân của họ.

Một vài tước của các Trữ quân là:

Những Trữ quân trên thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《唐大诏令集·册遂王为皇太子文》:“建立储嗣,崇严国本。”
    《宋史·理宗纪》:“ 景献太子薨, 宁宗以国本未立,选太祖十世孙年十五以上者教育。”

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]