Trần Dụ Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Dụ Tông
陳裕宗
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Trần
Trị vì 1341 - 1369
Tiền nhiệm Trần Hiến Tông
Thái thượng hoàng Chương Nghiêu Văn Triết Thái thượng hoàng đế
Kế nhiệm Hôn Đức công
Trần Nghệ Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Huy Từ Tá Thánh hoàng hậu
Tên húy Trần Hạo (陳暭)
Niên hiệu Thiệu Phong (紹豐; 1341 - 1357)
Đại Trị (大治; 1358 - 1369)
Thụy hiệu Thống Thiên Thể Đạo Nhân Minh Quang Hiếu Hoàng Đế
統天體道仁明光孝皇帝
Miếu hiệu Dụ Tông (裕宗)
Triều đại Nhà Trần
Thân phụ Trần Minh Tông
Thân mẫu Hiến Từ hoàng hậu
Sinh 19 tháng 10 năm 1336
Mất 25 tháng 5, 1369 (32 tuổi)
Quang Triều cung, Thăng Long
An táng Tháng 11 năm 1369
Phụ Lăng (阜陵)
Tôn giáo Phật giáo

Trần Dụ Tông (chữ Hán: 陳裕宗; 19 tháng 10, 133625 tháng 5, 1369), là vị hoàng đế thứ 7 của triều đại nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, cai trị 28 năm, từ năm 1341 đến năm 1369.

Ông lên ngôi Hoàng đế khi còn thơ ấu, và Minh Hoàng nắm mọi quyền bính, do đó đất nước ổn định. Nhưng, sau khi Minh Hoàng qua đời, Dụ Tông đích thân chấp chính và triều đại của ông đánh dấu sự mở đầu của quá trình suy yếu nền chính trị của họ Trần về sau[1][2]. Lúc này, Nhà Nguyên đang đại loạn, Minh Thái Tổ dấy binh đánh với Trần Hữu Lượng, có đem sứ giả sang nhờ triều đình nhà Trần cứu viện nhưng thấy chiến sự hỗn loạn nên không tham gia, tuy nhiên ông vẫn cho quân lính phòng ngự ở biên giới để tránh bạo loạn[2]. Ở phía Nam, Chiêm Thành trở nên không thông hiếu, nhiều lần qua cướp các vùng Thanh Hóa, Hóa Châu, làm hại dân lành, Dụ Tông ra sức sai quân lính bảo vệ biên cương, nhưng vẫn ở thế giằng co.

Tuy hăng hái về chính sự, nhưng Dụ Tông lại thích hưởng lạc nhiều, xây dựng nhiều cung điện, thích đánh bạc, nuôi chim thú lạ khắp nơi, trong cung lại hiện ra khung cảnh hào hoa tráng lệ khác thường. Vì mải chơi bời nên sức khỏe kém, mất mà không có con nối, đến nỗi truyền ngôi cho kẻ gian là Dương Nhật Lễ, làm họ Trần suýt mất nếu không có Nghệ Hoàng.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Dụ Tông hoàng đế tên thật là Trần Hạo (陳暭), là con trai thứ 10 của Minh Tông Duệ Hiếu hoàng đế, mẹ ông là Hiến Từ Tuyên Thánh hoàng hậu, con gái của Huệ Vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn[2]. Ông là con út do Hiến Từ Tuyên Thánh hoàng hậu sinh ra, trên ông có Cung Túc vương Trần Nguyên DụcThiên Ninh công chúa. Theo thân phận, ông thuộc dòng Hoàng đích tử, thân phận cao quý hơn Trần Hiến Tông, Trần Nghệ TôngTrần Duệ Tông, vốn đều do các phi tần sinh ra.

Năm 1339, khi mới 4 tuổi, ông đã bị ngã xuống nước suýt chết đuối hôm rằm trung thu. Thầy thuốc Trâu Canh (vốn gốc Hoa, có cha là ngự y của Hốt Tất Liệt) cứu sống được nhưng nói rằng hoàng tử Hạo sẽ bị liệt dương.

Năm 1341, Trần Hiến Tông qua đời khi mới 22 tuổi, không có con nối dõi. Anh trưởng của ông là Cung Túc vương có thái độ ngông cuồng cho nên Minh Hoàng nghĩ là Cung Túc không thể nào gánh vác việc nước và không lập cho làm Hoàng đế kế nhiệm. Thượng hoàng quyết định chọn Trần Hạo, khi đó mới 6 tuổi.[2][3]

Ngày 21 tháng 8, cùng năm, Minh Hoàng ra chỉ lập Trần Hạo lên nối ngôi, tự xưng làm Dụ Hoàng (裕皇)[2]. Vì lên ngôi còn nhỏ, mọi việc đều do Minh Hoàng quyết định.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Niên hiệu Thiệu Phong[sửa | sửa mã nguồn]

Vào niên hiệu Thiệu Phong (紹豐), quyền bính phần nhiều đều do Minh Hoàng quản lý vì bấy giờ Dụ Tông còn nhỏ, việc chính trị được Minh Hoàng duy trì tiếp tục hưng thịnh[2][4]. Theo lệnh của Triều đình, các danh thần Trương Hán SiêuNguyễn Trung Ngạn đã bắt tay vào việc biên soạn các bộ "Hoàng triều đại điển" và "Hình thư".[2] Năm 1342, Trung Ngạn chọn đinh tráng các lộ bổ sung các ngạch thiếu của Cấm vệ quân, định thành sổ sách. Khu mật viện có phần quản lãnh Cấm quân bắt đầu từ Trung Ngạn.

Mùa hè tháng 4 năm 1342, anh khác mẹ của Dụ Tông là Cung Tĩnh Đại Vương Trần Nguyên Trác[5] được phong làm Thái úy, nắm hết binh quyền trong triều đình, việc bấy giờ là truyền thống của họ Trần khi để hoàng thân nắm hết các chức vụ trọng yếu của triều đình. Cung Tĩnh đại vương là con trai thứ 2 của Minh Hoàng, bấy giờ sau khi Hiến Tông hoàng đế không còn thì là Trưởng tử trong các con của Minh Hoàng[3].

Mùa xuân, năm Thiệu Phong thứ 4 (1344), Hiến Tông hoàng đế được mai táng tại An LăngKiến Xương. Theo lời bình của sử thần Ngô Sĩ Liên: "Thiên tử mất 7 tháng thì chôn. Ngày xưa Chu Hoàn Vương mất đến 7 năm mới chôn là vì nhà Chu khi ấy có loạn Tử Nghi và Hắc Kiên. Hiến Tông đến nay đã mất 4 năm rồi mới táng, vẫn chưa biết lý do vì sao. Có lẽ còn thượng hoàng nên phải theo lệnh chăng? Nhưng lúc ấy cũng không thấy ai đem lẽ ra bàn cãi cả."[2]

Vào thời gian này, có vài đợt hạn hán và mất mùa lớn xảy ra, Minh Hoàng ra chỉ miễn thuế và cứu đói nhiều lần, lại ra chỉ soát tù, giảm tội cho các phạm nhân. Một số cuộc khởi nghĩa của nông dân bùng phát như Ngô Bệ năm 1344, Tề năm 1354. Ngoài ra còn có những cuộc nổi dậy khác của người Lạng Sơn và Thái Nguyên năm 1351. Trừ cuộc nổi dậy của Ngô Bệ tới năm 1360 mới bị dẹp, các cuộc nổi dậy khác đều nhanh chóng bị trấn áp.

Phía tây, Ai Lao sau nhiều lần thua trận không sang cướp phá nữa. Phía bắc, nhà Nguyên đã suy yếu. Tuy nhiên phía Nam, nước Chiêm Thành tiếp tục tình trạng lục đục nội bộ. Năm 1342, tháng 5, chúa Chiêm thành Chế A Nan chết, con rể là Trà Hòa Bố Đề tự lập làm Quốc vương, sai sứ thần sang thông hiếu. Đến năm 1346, triều đình sai sứ sang khiển trách về việc không thông hiếu hằng năm, đánh dấu việc rạn nứt mối quan hệ Chiêm Thành và Đại Việt.

Năm 1351, Ngự y Trâu Canh thấy Dụ Tông bị liệt dương, bèn dâng phương thuốc nói rằng giết đứa bé con trai, lấy mật hòa với dương khởi thạch mà uống và thông dâm với chị hay em ruột của mình thì sẽ hiệu nghiệm. Dụ Tông làm theo, thông dâm với chị ruột là Thiên Ninh Trưởng công chúa Ngọc Tha, quả nhiên công hiệu. Canh từ đấy được yêu quý hơn, được ngày đêm luôn ở trong hậu cung hầu hạ thuốc thang, Canh nhân đó liền thông dâm với cung nữ. Việc phát giác, Minh Hoàng định bắt Canh chết, nhưng vì có công chữa khỏi bệnh cho Dụ Tông nên được tha.

Năm 1357, ngày 19 tháng 2, Minh Hoàng băng hà tại Bảo Nguyên cung. Đến ngày 11 tháng 11 năm ấy, táng ở Mục lăng. Bấy giờ sau khi Minh Hoàng băng, Dụ Tông đã trưởng thành, tự coi chính sự.

Niên hiệu Đại Trị[sửa | sửa mã nguồn]

Suy trị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1358, Dụ Tông đổi niên hiệu là Đại Trị (大治), bắt đầu tự thân chuyên chính. Bấy giờ, Huệ Vũ vương Trần Quốc Chẩn (thân phụ của Hiến Từ Thái hậu, mẹ ruột của Dụ Tông) đã được minh oan, Dụ Tông truy phong ông ngoại làm Đại vương để vinh danh.

Vào đầu năm này, hạn hát, sâu cắn lúa, thiên tai xảy ra khiến nhiều người chết đói. Dụ Tông ban chỉ khuyến khích các nhà giàu ở các lộ bỏ thóc ra chẩn cấp dân nghèo. Các quan ở địa phương tính xem số thóc bỏ ra là bao nhiêu trả lại bằng tiền.

Ngô Bệ tiếp tục đem quân tụ họp ở núi Yên Phụ, dựng cờ lớn ở trên núi, tiếm sưng vị hiệu, yết bảng nói cứu giúp dân nghèo. Từ Thiên Liêu đến Chí Linh, Bệ chiếm giữ cả. Dụ Tông bèn xuống chiếu cho An phủ sứ các lộ đem quân các đội phong đoàn đi bắt giặc cướp, đến năm 1360 thì Bệ bị giết, đồng đảng hơn 30 người đều bị xử tử.

Tháng 4 năm Thiệu Phong thứ 7 (1357), ông phong cho người anh là Trần Thiên Trạch tước Cung Tín Vương.[2] Thời gian này, Dụ Tông cho xây nhiều cung điện và vườn tược trong hậu cung, rất nhiều cung điện nguy nga được dựng lên.

Các gian thần kéo bè kết đảng lũng đoạn triều chính. Thấy triều chính hỗn loạn, danh nho Chu Văn An dâng Thất trảm sớ xin chém 7 gian thần nhưng Dụ Tông không nghe, liền bỏ quan về dạy học. Các vị quan khác như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát tuy có năng lực nhưng không can gián được Dụ Tông bớt hưởng lạc mà chú tâm vào chính sự[6].[2]. Vốn Chu Văn An yêu thích núi Chí Linh nên ông về cư ngụ tại đó, chỉ khi nào có buổi thiết triều quan trọng thì mới tới kinh sư. Dụ Tông muốn giao cho Chu Văn An đại quyền, thế nhưng Chu Văn An một mực khước từ không nhận. Thấy vậy, Hiến Từ Thái hậu đã khuyên can: "Ông ta là người không thể nào bắt làm tôi được, ta sai bảo thế nào được ông ta?". Và, khi nhà vua ban áo mũ cho Chu Văn An thì danh nho này chỉ đa tạ thôi chứ không nhận lấy.[2]

Dụ Tông say mê đàn hát, tuồng chèo, thường sai các Vương hầu và Công chúa bày tiệc đóng trò hát tuồng cho vui, ai diễn hay thì được thưởng. Mặc dù phép tắc nhà Trần rất nghiêm khắc với tội đánh bạc nhưng Trần Dụ Tông lại thích trò này, chiêu tập các nhà giàu vào cung đánh bạc cùng[7]. Sử cũ chép rằng, có người đã xàm tấu với ông rằng Thái úy Cung Tĩnh vương Trần Nguyên Trác đã yểm bùa hại ông,[3] Hoàng đế chút nữa là sát hại Nguyên Trác, nhưng Hiến Từ Hoàng thái hậu đã can ngăn.

Năm 1363, Dụ Tông cho dân phu đào hồ ở vườn ngự trong hậu cung. Trong hồ xếp đá làm núi, bốn mạch đều khai ngòi cho chảy thông nhau. Trên bờ hồ trồng thông, tre và các thứ hoa thơm cỏ lạ. Lại nuôi chim quý, thú lạ trong đó. Phía tây hồ trồng hai cây quế, dựng điện Song Quế. Lại gọi tên điện là điện Lạc Thanh, tên hồ là hồ Lạc Thanh. Dụ Tông lại sai đào một hồ nhỏ khác. Sai người Hải Đông chở nước mặn chứa vào đó, đem các thứ hải vật như đồi mồi, cua, cá nuôi ở trong hồ. Lại sai người Hóa Châu chở cá sấu đến thả vào đó. Lại có hồ Thanh Ngư để thả cá thanh phụ (cá diếc). Đặt chức khách đô để trông coi.

Tháng 6 năm 1366, Dụ Tông ngự thuyền chơi đêm, khi về bị mất ấn và gươm báu. Ông biết mình không sống thọ, càng chơi bời quá độ.

Dụ Tông nghiện rượu, thích rủ các quan cùng uống thi. Ai uống thắng được ông thăng chức. Chính chưởng phụng ngự cung Vĩnh An là Bùi Khoan dùng mẹo uống dối được trăm thăng, Dụ Tông tin là thật, thưởng tước hai để dự thăng trật[2][7]. Quan gia thích chơi bời, các quý tộc cũng hưởng ứng theo quan gia khiến triều đình rối nát. Bên ngoài xảy ra mất mùa trong nhiều năm, Dụ Tông chỉ có các biện pháp khắc phục tạm thời như sai các nhà hào phú bỏ thóc lúa chu cấp cho người nghèo để chống đói và thưởng chức tước cho họ để trả công; ông không chú trọng việc đắp đê và làm thủy lợi để phát triển nông nghiệp lâu dài[6].

Phan Phu Tiên nói: Luật pháp nhà Trần nghiêm cấm đánh bạc đến như vậy, thế mà đến đời Dụ Tông lại công nhiên làm bậy, gọi là những người giàu vào cung đánh bạc, rồi sau người trong nước bắt chước cái dở ấy, không thể ngăn cấm được nữa. Cuối cùng vì tệ đánh bạc mà rồi mất nước.

Giặc Chiêm[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc này, Chiêm Thành ở phía nam thừa cơ đánh cướp.

Tháng 3 năm 1361, quân Chiêm Thành vượt biển đến cướp dân ở cửa biển Dĩ Lý[8]. Quân nhà Trần đánh tan quân Chiêm. Tháng 3 năm 1362, quân Chiêm Thành lại tiến đánh Hóa Châu, bắt dân rồi rút lui. Trần Dụ Tông sai Đỗ Tử Bình duyệt bổ quân ở Lâm Bình, Thuận Hóa và đắp thành Hóa Châu.

Tháng giêng năm 1365, quân Chiêm Thành tiến đến đánh úp, bắt dân Hóa Châu mang về nước. Sang tháng 3 năm 1366, quân Chiêm lại đến cướp phủ Lâm Bình. Quan phủ là Phạm A Song đánh bại được quân Chiêm. Trần Dụ Tông bèn phong cho A Song làm Đại tri phủ Lâm Bình.

Vào tháng 2 năm 1367, người Chiêm Thành sang đòi lại đất ở Hóa Châu[2]. Cuối năm ấy, Trần dụ Tông sai Trần Thế Hưng làm chánh tướng, Đỗ Tử Bình làm phó tướng, đi đánh Chiêm Thành. Quân Trần bị quân Chiêm mai phục bắt sống Thế Hưng, còn Tử Bình trốn thoát.

Khi ấy, do thấy binh thế Đại Việt suy yếu, nên Chiêm Thành tỏ ra coi thường người Việt. Trong năm Mậu Thân (1368), họ cử sứ giả sang Đại Việt để buộc nhà Trần phải cống cho đất Hóa Châu. Sử sách không chép nhiều về sự kiện này.[9]

Truyền ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kỷ Dậu (1369), Dụ Tông băng hà ở Quang Triều cung, thọ 34 tuổi. Ông cai trị tất cả 28 năm, được an táng tại Phụ Lăng (阜陵). Thụy hiệuThống Thiên Thể Đạo Nhân Minh Quang Hiếu Hoàng Đế (統天體道仁明光孝皇帝).

Dụ Tông không có con kế vị[2]. Trước khi mất ông để lại di chiếu lập con người anh Cung Túc vương Trần Nguyên Dục là Nhật Lễ lên kế vị, Cung Túc Vương vốn đã qua đời vào năm 1364[2].

Sử thần Ngô Sĩ Liên có lời bàn về chiếu trao ngôi đại thống cho Nhật Lễ của Dụ Tông như sau:

Trong triều, hoàng tộc muốn lập người anh khác của Dụ Tông là Cung Định vương Trần Phủ[3] lên kế vị nhưng Hiến Từ hoàng thái hậu nhất định đòi lập người con của Cung Túc vương Trần Nguyên Dục là Dương Nhật Lễ lên ngôi, vì bà cho rằng Nhật Lễ là con của người con trai lớn, cháu đích tôn của bà, nên lên kế vị là hợp lý.

Nguyên mẹ Nhật Lễ là một đào hát, lấy một kép hát bội là Dương Khương có thai rồi mới bỏ Dương Khương mà lấy Cung Túc vương sinh ra Nhật Lễ. Triều thần không tán thành vì cho rằng Nhật Lễ là người họ Dương, nhưng Hiến Từ hoàng thái hậu cho Nhật Lễ là con Nguyên Dục nên lập là hợp lẽ.

Cuối cùng Nhật Lễ được lập vào tháng 6 năm 1369. Nhưng hơn 1 năm sau, các tông thất nhà Trần hội nhau khởi binh về bắt giết Nhật Lễ rồi rước Cung Định vương về lên kế vị, tức Trần Nghệ Tông.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Sử gia Ngô Sĩ Liên bàn về Trần Dụ Tông trong sách Đại Việt sử ký toàn thư như sau[2]:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nghiên cứu lịch sử, Số phát hành 387-392, Viện sử học (Việt Nam), trang 66
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 7
  3. ^ a ă â b Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên, quyển thứ X, xem năm 1369.
  4. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 348
  5. ^ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
  6. ^ a ă Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 350
  7. ^ a ă Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 349
  8. ^ Tưc cửa biển Dĩ Lý ở xã Lý Hoà, huyện Bố Trạch, nay thuộc tỉnh Quảng Bình
  9. ^ Việt Nam Sử Lược [1]
  10. ^ Tức là Hiến Từ Thái hoàng Thái Hậu và Trần Nguyên Trác - con thứ của vua Trần Minh Tông đồng thời là quan Thái tể dưới triều vua Nhật Lễ.[2] [3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]