Trần Minh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Minh Tông
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Hoàng đế Đại Việt
Trị vì 13141329
Tiền nhiệm Trần Anh Tông
Thái thượng hoàng Trần Anh Tông
Kế nhiệm Trần Hiến Tông
Thông tin chung
Hậu phi
Tên húy Trần Mạnh (陳奣)
Niên hiệu Đại Khánh (13141323)
Khai Thái (13241329)
Thụy hiệu Thể Thiên Sùng Hóa Khâm Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế
Miếu hiệu Minh Tông
Hoàng tộc Nhà Trần
Thân phụ Trần Anh Tông
Thân mẫu Chiêu Từ hoàng hậu
Sinh 4 tháng 9 năm 1300
Thăng Long
Mất 10 tháng 3 năm 1357
Cung Bảo Nguyên, Thăng Long
An táng 22 tháng 12 năm 1357Mục Lăng
Tôn giáo Phật giáo

Trần Minh Tông (chữ Hán: 陳明宗, 4 tháng 9 năm 130010 tháng 3 năm 1357), là vị hoàng đế thứ năm của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi từ tháng 4 năm 1314 đến tháng 3 năm 1329, sau đó làm Thái thượng hoàng từ năm 1329 đến khi qua đời.

Minh Tông là con thứ tư của Trần Anh Tông, được vua cha truyền ngôi khi mới 14 tuổi. Minh Tông được sử cũ khen ngợi là một hoàng đế sáng suốt (dù không phải là không có tỳ vết), đã trọng dụng những hiền tài như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Đoàn Nhữ Hài, Phạm Sư Mạnh và duy trì sự hưng thịnh về kinh tế – xã hội từ thời Anh Tông.[1][2] Về đối ngoại, Minh Tông giữ được quan hệ ổn định với Nguyên-Mông; nhưng ở phương Nam, quan hệ Việt-Chiêm căng thẳng và chiến tranh đã xảy ra hai lần vào các năm 1318-1326.[3][2]

Năm 1329, Minh Tông nhường ngôi cho thái tử Trần Vượng (tức Trần Hiến Tông) rồi trở thành Thái thượng hoàng. Đến năm 1341, Hiến Tông mất và thượng hoàng lập con áp út là Trần Dụ Tông lên ngôi. Trong 12 năm tại vị của Hiến Tông và 16 năm đầu thời Dụ Tông, thượng hoàng Minh Tông vẫn quyết định mọi việc triều chính. Tình hình Đại Việt vẫn tương đối ổn định, mặc dù cuộc nổi dậy của người Ngưu Hống tại Đà Giang cùng với các đợt xâm lấn của Ai Lao ở phía Tây đã gây nhiều áp lực cho Minh Tông. Sau khi thượng hoàng mất, Dụ Tông bỏ bê chính sự, ăn chơi sa đọa và nhà Trần đến hồi suy vong.[4]

Cũng như các đời vua trước, Minh Tông ưa chuộng Phật giáo[5] và hay sáng tác thơ, văn. Tuy nhiên, trong lúc lâm chung, ông đã sai đốt hầu hết các tập thơ của mình, và ngày nay chỉ còn 25 bài thơ chép rải rác trong Toàn Việt thi lục, Trần triều thế phả hành trạng, Việt âm thi tập, Đại Việt sử ký toàn thưNam Ông mộng lục. Ngoài ra, ông cũng viết bài tựa cho tập Đại hương hải ấn thi của Trần Nhân Tông.[6]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Minh Tông có tên húy Trần Mạnh (陳奣), sinh ngày 21 tháng 8 âm lịch năm 1300[7] (tức 4 tháng 9 năm 1300[6]), một ngày sau khi Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn qua đời. Ông là con thứ 4, và cũng là người con trai duy nhất sống đến khi trưởng thành của Trần Anh Tông. Mẹ ông là Huy Tư hoàng phi (徽思皇妃) họ Trần, con gái Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng.[8] Trần Bình Trọng vốn là một người có huyết thống của Lê Đại Hành,[9] nên Trần Mạnh mang trong mình một phần dòng máu nhà Tiền Lê.

Do các hoàng tử sinh ra trước đó đều khó nuôi, sau khi Trần Mạnh chào đời, Anh Tông đã nhờ Thụy Bảo công chúa (瑞寶公主; em gái của Trần Thánh Tông) nuôi hộ. Thụy Bảo cho rằng mình đang gặp vận rủi, nên đã trao Trần Mạnh cho anh là Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật nuôi. Theo sử cũ, Trần Nhật Duật đã chăm nuôi hoàng tử Mạnh rất chu đáo.[7][6] Nhật Duật còn đặt tên cho hoàng tử là Thánh Sinh (聖生) để giống với con trai mình là Thánh An (聖安), và con gái là Thánh Nô (聖奴).[7] Ngoài ra, Trần Mạnh cũng nhận được sự giáo dục nghiêm khắc từ vua cha; trong sách Đại Việt Sử ký Toàn thư, sử quan nhà Lê Ngô Sĩ Liên ghi lại: "[Minh Tông] đang tuổi ấu thơ, có lần nghịch làm chiếc giá đèn bằng tre, Anh Tông đòi xem, sợ không dám dâng. Hôm khác, vào hầu tẩm điện Anh Tông đang rửa mặt, nhân hỏi đến trò nghịch cũ, Anh Tông giận lắm, cầm ngay cái chậu rửa mặt ném vua. Vua nấp vào cánh cửa tránh được, chậu rơi trúng cánh cửa vỡ tan".[10] Từ sự việc này, Ngô Sĩ Liên nhận định:[10]

"Cái đức của Minh Tông mà nên được, tuy là do thiên tư tốt đẹp, còn là do sức dạy bảo của vua cha".

Tháng 1 âm lịch năm 1305, Trần Mạnh được vua cha tấn phong làm Hoàng thái tử. Anh Tông còn tặng cho thái tử một bài giáo huấn mang tên Dược thạch châm, do nhà vua tự soạn. Trong lịch sử nhà Trần, Trần Mạnh là thái tử kế vị đầu tiên không phải do vợ chính của vua cha sinh ra, trong khi các vua Thánh Tông, Nhân Tông và Anh Tông đều là con của chính thất hoàng hậu.[11]

Hoàng đế Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 18 tháng 3 âm lịch năm Giáp Dần (tức ngày 3 tháng 4 năm 1314), Trần Mạnh được vua cha truyền ngôi khi ông mới 14 tuổi, trở thành hoàng đế Trần Minh Tông. Minh Tông tự xưng là Ninh Hoàng (宁皇), tôn Anh Tông làm Quang Nghiêu Duệ Vũ Thái thượng hoàng đế và tôn Thuận Thánh hoàng hậu (chính cung của Anh Tông) làm Thuận Thánh Bảo Từ thái thượng hoàng hậu.[12] Thượng hoàng Anh Tông vẫn giúp đỡ ông trông coi chính sự. Sứ thần nhà Nguyên đến dự lễ đăng quang của Minh Tông, đã khen ông có hình dáng nhẹ nhàng như thần tiên.[13]

Trong thời trị vì của mình, Trần Minh Tông đã dùng các niên hiệu Đại Khánh (大慶; 3 tháng 4 năm 1314 – 27 tháng 1 năm 1324) và Khai Thái (開泰; 27 tháng 1 năm 1324 – 15 tháng 2 năm 1329).[14][15]

Chính sách trị nước[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 âm lịch năm 1315, Trần Minh Tông ra lệnh cấm cha con, vợ chồng và gia nhân kiện tụng nhau.[16] Theo Ngô Sĩ Liên, quyết định này xuất phát từ sự trân trọng của ông đối với tổ tiên, cha mẹ và bà con: " Vua vốn nhân hậu với họ hàng, nhất là đối với bậc bề trên mà hiển quý lại càng tôn kính. Kẻ thần hạ hễ ai cùng tên (với họ hàng nhà vua) đều phải đổi cả, như Độ đổi thành Sư Mạnh vì là cùng tên với thượng phụ, Tung đổi thành Thúc Cao vì là cùng tên với Hưng Ninh Vương... Lại các tên của chú bác, cô cậu, khi nói đến vẫn kiêng cả. [Vua] có quyển sổ nhỏ biên những chữ húy không được nói đến, trao cho các hoàng tử và cung phi".[8]

Về giáo dục-khoa cử, Minh Tông đã hai lần tổ chức thi Thái học sinh (lần đầu vào tháng 10 âm lịch năm 1314; lần tiếp theo là tháng 8 âm lịch năm 1323) để tìm người tài giúp nước. Những thí sinh đỗ đạt được giữ chức Bạ thư lệnh. Nhà vua sai Cục chính viên Nguyễn Bính tập huấn cho các bạ thư lệnh, sau đó mới bổ nhiệm họ vào những chức vụ cao cấp.[12][15][17][18] Ngoài ra, vào tháng 10 âm lịch năm 1321, Minh Tông tổ chức kỳ thi tuyển tu sĩ Phật giáo, lấy kinh Kim Cương làm nội dung thi.[19]

Trần Minh Tông cũng chú trọng việc thúc đẩy nông nghiệp phát triển.[6] Mùa hạ năm 1315, nước sông Hồng dâng cao, Minh Tông đến tận nơi xem sửa chữa đê. Quan ngự sử đã khuyên ông chỉ nên ở cung mà "tu dưỡng đức hạnh", nhưng nhà vua không nghe.[8][16] Minh Tông còn tích cực ngăn chặn người quyền thế chiếm ruộng của dân.[18][6] Toàn thư có ghi lại: Trần Thị Thái Bình là một cung nữ của Anh Tông, đã nhiều lần xâm chiếm đất ruộng của nông dân. Một trong những người mất ruộng đã đệ đơn kiện lên Minh Tông. Để tránh gây mất mặt cho Thái Bình (vì bà này là thiếp của tiên đế), nhà vua không sai cơ quan tư pháp xét xử; thay vì đó, ông xuống chiếu cho con rể Thái Bình là Uy Giản hầu trả ruộng đất cho người kiện. Uy Giản đã chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh. Sau khi Trần Thị Thái Bình mất, Minh Tông và Uy Giản phục hồi toàn bộ số ruộng bị cưỡng chiếm cho các chủ cũ.[20] Cũng theo Toàn thư, Minh Tông đã ban bố các chính sách như "những người tranh nhau ruộng đất, nếu khám xét thấy không phải của mình mà cố tranh bậy thì bị truy tố, tính giá tiền ruộng đất, bắt đền gấp đôi. Nếu làm văn khế giả, thì bị chặt một đốt ngón tay bên trái" (tháng 10 âm lịch năm 1320[21]) và "khi tranh ruộng mà ruộng có lúa, thì hãy chia làm 2 phần, bồi thường cho người cày 1 phần, còn 1 phần lưu lại" (1323).[18]

Năm 1323, Trần Minh Tông quy định quân đội phải tuyển người béo trắng; từ đây, binh lính Đại Việt không còn xăm hình rồng ở đùi và lưng nữa.[18][17]

Tiếp nối đường lối của vua cha, Minh Tông đã thu dụng, cất nhắc những hiền thần như Đoàn Nhữ Hài, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Chu Văn An, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu v.v…[22][4] Thời kỳ trị vì của Minh Tông được sử gia Ngô Thì Sĩ đánh giá là "lúc nhân tài thịnh nhất hơn triều các vua khác".[23] Bản thân nhà vua cũng tuân thủ nghiêm chỉnh luật lệ nhà nước. Mùa xuân năm 1320, thượng hoàng Trần Anh Tông mất.[24] Linh cữu thượng hoàng được rước từ phủ Thiên Trường (Nam Định) về cung Thánh Từ (Thăng Long) theo đường thủy. Theo phép tắc nhà Trần, Bảo Từ thái hậu là chính cung của Anh Tông, nên được đi thuyền có 8 dây kéo; trái lại, mẹ Minh Tông là Huy Tư hoàng phi chỉ được đi thuyền có 2 dây. Để lấy lòng Minh Tông, viên chỉ huy quân cấm vệ đã buộc thêm dây vào thuyền Huy Tư.[21] Tướng Trần Hựu ngăn lại và rút gươm chém đứt dây kéo. Minh Tông không những không phạt, mà còn khen Trần Hựu là người trung nghĩa.[19]

Chiến tranh với Chiêm Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu triều Trần Minh Tông, bang giao giữa Đại Việt và Nguyên-Mông khá ổn định; song ở phía Nam, quan hệ với Chiêm Thành diễn ra căng thẳng. Trong chiến dịch tấn công Chiêm năm 1312, Trần Anh Tông đã bắt sống vua Chiêm Chế Chí, rồi lập em Chế Chí là Chế Năng làm vua chư hầu nhà Trần.[25][26] Năm 1314, nhân lúc Minh Tông lên ngôi, Chế Năng lập mưu chiếm lại hai Thuận, Hóa (mà người Chiêm gọi là Ô, Lý) và thoát sự lệ thuộc vào Đại Việt.[27][26] Quân Chiêm Thành thường kéo sang quấy phá biên giới.[25]

Năm 1318, Trần Minh Tông sai Huệ Vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn mở chiến dịch tấn công Chiêm Thành. Quân Đại Việt ban đầu bị thất lợi; tôn thất nhà Lý là Hiếu Túc hầu Lý Tất Kiến thiệt mạng.[28] Nhưng sau đó, đạo quân Thiên Thuộc do Phạm Ngũ Lão chỉ huy đã đột kích vào lưng địch, đánh tan tác quân Chiêm và buộc Chế Năng phải trốn sang đảo Java (Indonesia). Trần Quốc Chẩn xin Minh Tông lập tù trưởng Chế A Nan làm vua chư hầu ở Chiêm, rồi đem quân trở về.[26] Sau chiến thắng, Minh Tông ban tước Quan nội hầu và tặng binh phù hình rùa (phi ngư phù) cho Phạm Ngũ Lão, rồi phong con Phạm Ngũ Lão làm quan.[28]

Sau khi quân nhà Trần rút lui, Chế A Nan tăng cường cống nạp cho nhà Nguyên, đồng thời thuyết phục vua Nguyên hỗ trợ Chiêm giành tự chủ khỏi Đại Việt. Năm 1324, Nguyên Anh Tông sai sứ sang dụ Minh Tông phải tôn trọng chủ quyền của Chiêm Thành.[26] Lo sợ mất chư hầu về tay nhà Nguyên, Minh Tông sai Huệ Túc vương Trần Đại Niên tấn công Chiêm lần hai năm 1326. Quân của Chế A Nan đã đánh bại được quân Trần Đại Niên.[27][26] Mặc dù nhà Trần không chính thức thừa nhận, thắng lợi này đã giúp Chiêm Thành giành quyền tự trị, không còn bất cứ sự liên đới nào với Đại Việt.[26] Theo Toàn thư, Minh Tông đã quy trách nhiệm thất bại cho chính bản thân mình; ông nói:[29]

"Tiên đế tắm mưa gội gió mới bắt được chúa nước nó. Quốc phụ là một trọng thần, phụng mệnh đi đánh, khiến chúa nước giặc là Chế Năng phải chạy sang nước khác… Nay Huệ Túc chỉ là một vương thôi, uy vọng không thể sánh với Quốc phụ, thế mà ta cứ ở yên trong cung, trao cho chuyên việc đánh dẹp, muốn bắt sống chúa nó thì làm nổi chăng?".

Vụ án Trần Quốc Chẩn[sửa | sửa mã nguồn]

Huệ Vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn (陳國瑱) là con trai thứ của Trần Nhân Tông, em của Anh Tông và là ông chú của Minh Tông. Không những thế, Quốc Chẩn có con gái là Huy Thánh công chúa được lập làm hoàng hậu của Minh Tông, tức Hiến Từ Tuyên Thánh hoàng hậu. Tháng 4 âm lịch năm 1324, Minh Tông bổ nhiệm Trần Quốc Chẩn làm Quốc phụ thượng tể, trên cả ngạch tể tướng.[30][31]

Năm 1328, Minh Tông đã làm vua được 15 năm, tuổi khá cao mà chưa lập được Thái tử.[30] Mặc dù các thứ phi đã sinh được các hoàng tử Trần Vượng, Trần Nguyên Trác, Trần Phủ nhưng Hiến Từ hoàng hậu vẫn chưa sinh được con trai. Triều đình bấy giờ chia làm hai phái: phe của Trần Quốc Chẩn muốn Minh Tông đợi bằng được đến khi hoàng hậu sinh con trai, rồi mới lập Thái tử.[30][32][31] Đây là lệ trước giờ của nhà Trần, vốn không lập con của người khác họ lên ngôi, mà đều lập con của các hoàng hậu, hoàng phi có xuất thân trong hoàng gia, cốt là để tránh họa ngoại thích mà bản thân họ Trần đã dùng khi thay ngôi nhà Lý. Trái lại, phe của Cương Đông Văn Hiến hầu (con hoặc em của Tá thánh Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật) và Thiếu bảo Trần Khắc Chung ủng hộ lập con của Quý phi Lê thị là Vượng làm thái tử. Khắc Chung cùng quê Giáp Sơn (Kinh Môn) với quý phi họ Lê, và từng là thầy học của hoàng tử Vượng.[30][32][31]

Để hạ bệ Hiến Từ hoàng hậu, Cương Đông Văn Hiến hầu đã đưa 100 lạng vàng cho gia nô của Quốc Chẩn là Trần Phẫu, rồi xúi giục Phẫu tố giác với Minh Tông rằng Quốc Chẩn có ý mưu phản.[30][32][31] Ngay lập tức, nhà vua truyền lệnh bắt giam Quốc Chẩn vào chùa Tư Phúc (Thăng Long), rồi xin ý kiến của Trần Khắc Chung về vấn đề này.[30][32][31] Khắc Chung đã thuyết phục Minh Tông rằng "bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó". Nghe lời Khắc Chung, Minh Tông truyền bắt Quốc Chẩn phải tuyệt thực. Tháng 3 âm lịch năm 1328, Trần Quốc Chẩn chết, hàng trăm người khác cũng bị bắt vì có liên quan với Quốc Chẩn. Từ đây, ngôi thái tử thuộc về Trần Vượng.[30][32][31]

Thái thượng hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Trần Hiến Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 7 tháng 2 âm lịch năm Kỷ Tỵ (tức ngày 7 tháng 3 năm 1329), Trần Minh Tông xuống chiếu phong Trần Vượng (10 tuổi) làm Thái tử. Đến ngày 15 tháng 3 thì ông nhường ngôi cho thái tử Vượng, tức vua Trần Hiến Tông. Hiến Tông tự xưng là Triết Hoàng (哲皇), tôn vua cha làm Thái thượng hoàng với hiệu là Chương Nghiêu Văn Triết Thái Thượng Hoàng Đế (章堯文哲太上皇帝). Minh Tông lui về phủ Thiên Trường, nhưng vẫn nắm quyền quyết định mọi việc trong nước.[30][32][31]

Sau khi Hiến Tông vừa lên ngôi, vào mùa đông năm 1329, dân Ngưu Hống nổi dậy ở miền tây bắc, chiếm giữ toàn bộ vùng Đà Giang.[30] Minh Tông đốc suất đại quân đi dẹp loạn, và sai Thiêm tri Nguyễn Trung Ngạn đi theo để biên soạn thực lục.[33] Trước ngày xuất quân, Trần Khắc Chung đã khuyên thượng hoàng nên đánh Chiêm Thành thay vì Ngưu Hống, viện lẽ rằng Đà Giang "vốn có tiếng là đất lam chướng, lại nhiều ghềnh thác chảy xiết, không lợi cho việc hành quân". Thượng hoàng từ chối, bảo rằng ông có nghĩa vụ phải cứu giúp nhân dân ở bất cứ nơi nào có loạn, không được "so đo khó dễ lợi hại".[30] Sau một số tổn thất ban đầu, Minh Tông đã đánh bật quân Ngưu Hống vào rừng núi, nhưng chưa diệt hẳn được họ.[33][34]

Năm 1334, quân Ai Lao xâm lấn biên giới phía tây. Thượng hoàng lại thân chinh đi đánh dẹp. Khi đại quân của ông tới Châu Kiềm (Nghệ An), quân Ai Lao lập tức tháo chạy. Thượng hoàng sai Nguyễn Trung Ngạn soạn bài bia ghi lại chiến thắng khắc lên núi đá, rồi đem quân trở về.[35][36]

Năm 1335, quân Ai Lao lại kéo vào đánh phá ấp Nam Nhung thuộc Châu Kiềm (Nghệ An), Thượng hoàng định thân chinh, nhưng lại bị đau mắt, có người xin hoãn lại. Minh Tông không đồng tình, vì cho rằng thiên hạ sẽ bảo mình nhát và quyết tâm thân chinh.[35] Đến Nghệ An, Thượng hoàng cử Đoàn Nhữ Hài làm chỉ huy quân Thần Vũ, Thần Sách và quân Nghệ An, tấn công trại Ai Lao trên sông Tiết La (có lẽ là một đoạn sông Lam gần Cửa Rào). Đoàn Nhữ Hài khinh suất ra quân nên đúng lúc gặp sương mù bị rơi vào phục kích, bị thua trận và chết đuối. Thượng hoàng khóc thương tiếc và không coi đó là lỗi của Nhữ Hài.[37][38] Tháng 2 âm lịch năm 1336, Minh Tông rút quân về Thăng Long.[39]

Mùa thu năm 1337, Minh Tông sai Hưng Hiếu vương đi tiễu trừ tàn dư quân Ngưu Hống ở Đà Giang. Hưng Hiếu vương tấn công vào trại Trình Kỳ, tiêu diệt quân Ngưu Hống và chém chết tù trưởng Xa Phần.[39][40] Về Thăng Long, các binh tướng có công đều được trọng thưởng. Hưng Hiếu vuơng xin thưởng cho cả người giữ thuyền, như Trần Khánh Dư đã làm khi chinh chiến ở Nam Nhung ngày trước. Thượng hoàng từ chối, vì xét thấy "Khánh Dư đi đánh Nam Nhung, từ Nghệ An đi bộ mấy ngày, đến sông Nam Nhung mới đục gỗ làm thuyền. Đó là giữ thuyền trong đất của giặc, chứ không phải là giữ thuyền ở Nghệ An. Người giữ thuyền lần này thì khác thế. Vả lại... nếu người giữ thuyền muốn nhờ ở chiến thắng để lấy thưởng, giả sử người đi đánh bị chết thì người giữ thuyền cũng chịu chết chăng?" Gia nô của Hưng Hiếu vương là Phạm Ngải có đóng góp vào chiến thắng, song Minh Tông tuân theo lệ đời trước, nên không cho Ngải làm quan và chỉ tặng Ngải 5 phần suất ruộng.[39][40]

Thời Trần Dụ Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 6 năm Tân Tỵ (tức ngày 24 tháng 7 năm 1341), vua Hiến Tông mất khi mới 23 tuổi. Lúc này, bà Hiến Từ đã sinh cho Minh Tông 2 hoàng tử Trần Nguyên Dục và Trần Hạo. Nguyên Dục là trưởng nam, nhưng bị Thượng hoàng xem là "người ngông cuồng" và không chọn làm vua.[41][42] Ngày 21 tháng 8 âm lịch (tức ngày 2 tháng 10) năm 1341, Thượng hoàng lập Trần Hạo lên ngôi, tức vua Trần Dụ Tông, lấy niên hiệu là Thiệu Phong. Dụ Tông mới 6 tuổi nên Thượng hoàng vẫn cai quản mọi việc triều chính. Cuối năm 1341, Minh Tông sai Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán Siêu biên soạn bộ Hoàng triều đại điển và khảo soạn bộ Hình thư để ban hành.[41][42]

Trong thời Thiệu Phong, một vài đợt hạn hán, mất mùa lớn đã xảy ra, dẫn đến đói kém và bạo loạn ở nhiều nơi. Một số cuộc nổi dậy nông dân đã bùng phát, như của Ngô Bệ năm 1344 và Tề năm 1354.[42][43] Ngoài ra còn có những cuộc bạo động khác của người Lạng SơnThái Nguyên năm 1351.[44] Minh Tông cho tăng cường quân đội ở các lộ để trấn áp. Trừ cuộc nổi dậy của Ngô Bệ tới năm 1360 mới bị dẹp, các cuộc nổi dậy khác đều nhanh chóng bị dập tắt. Bên cạnh đó, Minh Tông cũng ban hành những biện pháp như "giảm một nửa thuế nhân đinh" (1343), "soát tù, giảm tội bọn tội phạm" (1345) và "giảm một nửa tô ruộng" (1354) nhằm cải thiện dân tình.[45]

Năm 1345, Thượng hoàng mở khoa thi Thái học sinh để tuyển chọn nhân tài cho quốc gia. Cũng trong thời gian này, ông ra lệnh khôi phục chức tước cho Huệ Vũ Đại vương Quốc Chẩn.[45]

Năm 1345, vì Chiêm Thành đã lâu không cống, hai vua Trần cử sứ sang hỏi, Chiêm Thành chịu cống nhưng chỉ dâng lễ vật sơ sài.[45] Tháng 5 âm lịch năm đó, người Ai Lao lại sang quấy nhiễu biên giới. Minh Tông sai Bảo Uy vương là Hoàn đi đánh, phá tan quân Ai Lao và "bắt được rất nhiều người và súc vật" (theo Toàn thư). Từ đây đến khi nhà Trần cáo chung (1400), quân Ai Lao không còn xâm lấn Đại Việt nữa. Hai năm sau (tháng 6 âm lịch năm 1347), Thượng hoàng giết Bảo Uy vương vì tội tư thông với cung nữ và ăn cắp áo của Dụ Tông.[45]

Sau khi vua Chiêm Chế A Nan chết, hai con rể là Trà HòaChế Mỗ tranh đoạt quyền kế vị. Năm 1351, Chế Mỗ sang Đại Việt, dâng cống thú lạ và cầu viện vua Trần. Minh Tông sai đại quân đưa Chế Mỗ về nước. Bộ binh đến Cổ Lũy (Quảng Ngãi), thủy quân tải lương không kịp, bèn rút lui về. Chiến dịch đánh Chiêm 1351 thất bại, và Chế Mỗ ở lại Đại Việt cho tới khi chết.[45]

Tháng 9 âm lịch năm 1353, Trà Hòa xua quân đánh phá châu Hóa (Thừa Thiên-Huế ngày nay). Quân Đại Việt bị thiệt hại nặng nề. Phải đến khi hai vua (Minh Tông và Dụ Tông) cử Trương Hán Siêu làm chỉ huy quân Thần Sách tại châu Hóa, tình hình mới ổn định trở lại.[45][46]

Mùa thu năm 1356, Minh Tông đến chơi đền Huệ Vũ Vương Quốc Chẩn ở Chí Linh (Hải Dương); lúc trở về, Minh Tông bị một con ong vàng đốt ở má bên trái, do đó ông nằm bệnh. Vương hầu, quan lại định lập đàn chay cầu đảo, nhưng ông không cho phép. Khi Hiến Từ thái hậu sai phóng sinh gia súc để cầu mong Thượng hoàng hết bệnh, ông cũng ngăn lại: "Thân ta không thể lấy con lợn, con dê mà đổi đuợc". Ông còn từ chối sử dụng thuốc do ngự y Trâu Canh sắc dâng (theo Toàn thư, Minh Tông vốn không ưa Canh vì người này "ra vào cung cấm, hay dùng những câu kỳ lạ, những kế quỷ quyệt để huyễn hoặc Dụ Hoàng" - xem thêm bài Trần Dụ Tông).[45][46]

Ngày 19 tháng 2 âm lịch (10 tháng 3 dương lịch) năm 1357, Thượng hoàng Minh Tông qua đời tại cung Bảo Nguyên, hưởng thọ 58 tuổi. Ông được tôn thụy hiệuChương Nghiêu Văn Triết Hoàng Đế (章堯文哲皇帝). Ngày 11 tháng 11 âm lịch (22 tháng 12 dương lịch) năm đó, Minh Tông được mai táng vào Mục Lăng, xã Yên Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ngày nay..[45][46]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm của Trần Minh Tông có Minh Tông thi tập (1 quyển), nhưng nay đã mất. Một phần bị đốt theo yêu cầu của ông lúc lâm chung, một phần có lẽ bị người Minh hủy hoại trong thời Bắc thuộc 1407-1427.[47] Hiện chỉ còn 25 bài thơ chép rải rác trong Việt âm thi tập, Đại Việt sử ký toàn thưNam Ông mộng lục. Ngoài ra, Trần Minh Tông còn có bài đề tựa tập thơ Đại hương hải ấn (Tập thơ ấn chứng của biển lớn nước thơm) của Trần Nhân Tông.[6][47]

Bài thơ "Bạch Đằng Giang" của Trần Minh Tông trong đền Trần (Nam Định)

Trong sách Thơ văn Lý Trần (tập 2, quyển thượng), các tác giả Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh, Đỗ Văn Hỷ và Trần Tú Châu nhận xét thơ của Minh Tông "đã phản ánh trung thực tư tưởng, tình cảm và tính cách của ông. Qua thơ, Minh Tông tỏ ra là một vị vua có tinh thần chủ động, năng nổ với việc nước, ưu ái đối với các bề tôi giỏi, thương yêu dân chúng trong bờ cõi và cả dân chúng các nước láng giềng. Thơ Minh Tông hùng hồn, phóng khoáng, nhưng cũng bình dị, tự nhiên, tinh tế. Nhà thơ không ngần ngại bộc bạch những tâm sự sâu kín, những lỗi lầm thời trẻ mà sau này ông mới nhận thức được".[6]

Cuốn Thơ văn Lý-Trần đã ghi lại một số thi phẩm của vua Minh Tông, như:

甘露寺
聳翠攢蒼入望多,
溪西月影轉簷斜。
隔林啼鳥尤岑寂,
一徑古松初墜花。
Cam Lộ tự
Tủng thuý toàn thương nhập vọng đa,
Khê tây nhật ảnh chuyển thiềm tà.
Cách lâm đề điểu vưu sầm tịch,
Nhất kính cổ tùng sơ truỵ hoa.
Chùa Cam Lộ
Trập trùng núi biếc non xanh,
Bóng chiều bên suối chênh chênh rọi thềm.
Bên rừng càng quạnh tiếng chim,
Thông già một lối im lìm rụng hoa.
Bản dịch của Nam Trân[48]
白藤江
挽雲劍戟碧巑岏,
海唇吞潮捲雪瀾。
綴地花鈿春雨霽,
撼天松籟晚霜寒。
山河今古雙開眼,
胡越贏輸一倚欄。
江水渟涵斜日影,
錯疑戰血未曾乾。
Bạch Đằng giang
Vãn vân kiếm kích bích toàn ngoan,
Hải thẩn thôn triều quyển tuyết lan.
Xuyết địa hoa điền xuân vũ tễ,
Hám thiên tùng lại vãn sương hàn.
Sơn hà kim cổ song khai nhãn,
Hồ Việt doanh thâu nhất ỷ lan.
Giang thuỷ đình hàm tà nhật ảnh,
Thác nghi chiến huyết vị tằng can.
Sông Bạch Đằng
Chạm mây gươm giáo, xanh von vót,
Sóng tuyết khi đầy lại lúc vơi.
Mưa tạnh hoa phô vàng mặt đất,
Sương lừa thông réo tiếng vang trời.
Non sông kim cổ hai lần dậy,
Hồ Việt hơn thua, một thoáng thôi.
Chan chứa dòng sông ngầu bóng xế,
Ngỡ là máu giặc hãy còn tươi.
Bản dịch của Đào Phương Bình và Nam Trân[49]

Trong Thánh đăng ngữ lụcThơ văn Lý-Trần cũng chép lại một bài kệ Minh Tông sáng tác trước khi mất, tựa Tương tịch ký Kim Sơn thiền sư (將寂寄金山禪師其二; được dịch nghĩa là Sắp mất gửi Thiền sư Kim Sơn):[50]

Chữ Hán
蓄藥欲治病,
無病安用藥。
今有無米飯,
無口人咬著。
Phiên âm Hán-Việt
Súc dược dục trị bệnh,
Vô bệnh an dụng dược?
Kim hữu vô mễ phạn,
Vô khẩu ngân giáo trước.
Dịch thơ
Tích thuốc nhằm chữa bệnh,
Không bệnh, thuốc đâu cần?
Như có cơm "không gạo",
Cho người "không miệng" ăn.
Bản dịch của Huệ Chi[51]

Quan điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Minh Tông thường dặn các con tìm hiểu về các nhân vật lịch sử, để biết điều đúng mà noi theo, biết điều sai mà tránh làm.[10] Khi Uy Túc công Văn Bích khuyên ông không nên kể về các bạo chúa (vì sợ các hoàng tử bắt chước), nhà vua phản bác rằng:[52]

Đối với việc an táng, Trần Minh Tông tỏ ra là người ít tin vào duy tâm. Năm 1332, khi làm lễ an táng Thuận Thánh hoàng hậu vào Thái Lăng, ở Yên Sinh, Thượng hoàng Minh Tông sai các quan chọn ngày chôn cất. Có người bác đi cho rằng: Chôn năm nay tất hại người tế chủ. Thượng hoàng không đồng tình, cho rằng:[53]

Lễ cát lễ hung phải chọn ngày là vì coi trọng việc đó thôi, chứ đâu có phải câu nệ họa phúc như các nhà âm dương.

Và ông vẫn cử hành lễ tang.[53]

Thượng hoàng thường dạy các hoàng tử:[46]

Ai mà trì khu làm giàu, co cỏm bỏn sẻn, thì không phải là con ta. Thà rằng hào phóng mà phải nghèo, dẫu không khỏi túng thiếu đấy thật, nhưng vẫn không phi tiếng là con nhà sang.

Ông cũng hay nói:[46]

Mặc dù tin dùng các nho sĩ, Trần Minh Tông còn là một Phật tử mộ đạo. Năm 1304, tại Thăng Long, ông cùng với vua cha Trần Anh Tông đã được Điều ngự Trần Nhân Tông (Sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm và cũng là ông nội của Minh Tông) trao tâm giới Bồ tát tại gia. Từ đó, ông thường nghiên cứu, học hỏi về Thiền học. Sau khi lên ngôi vua, Minh Tông đã thiết lập quan hệ tích cực với Trúc Lâm Đệ nhị tổ Pháp Loa và Tam tổ Huyền Quang.[5] Theo Thánh đăng ngữ lục, nhà vua đã khuyến khích các thiền sư Pháp Loa, Huyền Quang, Pháp Cổ, Kim Sơn và Cảnh Huy giảng kinh sách của Phật và các Tổ Thiền tông ở hai kinh đô: Thăng Long và Thiên Trường. Minh Tông cũng cống hiến nhiều tiền, vàng và nhân công cho việc xây dựng Bảo tháp Viên Thông (nơi chứa nhục thân của Pháp Loa sau khi ông viên tịch) và chùa Đại Tư Quốc – đều ở Hải Dương.[5] Toàn thư cũng ghi lại một lần Minh Tông bảo vệ lập trường trước Huệ Túc vương Trần Đại Niên, một người bài xích đạo Phật:[54]

"Lại một hôm, [thượng hoàng] mời Huệ Túc Vương vào tẩm điện, bảo ông ngồi. Thượng hoàng đang ăn chay. Huệ Túc Vương... nhân nói:
"Thần không biết ăn chay thì có ích lợi gì?".
Thượng hoàng đoán biết ý ông, liền dụ rằng:
"Ông cha ta ngày xưa thường ăn cơm chay, cho nên ta bắt chước đó thôi, còn ích lợi gì thì ta không biết".
Huệ Túc im lặng rồi lui ra."

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá về Trần Minh Tông, các tác giả Đại Việt Sử ký Toàn thư chép rằng:[8]

Sử gia thế kỷ 15 Phan Phu Tiên cũng bình luận:[46]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Trần Anh Tông Trần Thuyên.
  • Mẹ: Chiêu Từ hoàng hậu Trần thị (昭慈皇后陳氏; ? - 1359), được Minh Tông tấn tôn làm Huy Tư Hoàng thái phi (徽思太皇妃).
  • Hậu phi:
  1. Hiến Từ Tuyên Thánh hoàng hậu Trần thị (憲慈宣聖皇后陳氏; ? - 1370), chính cung của Minh Tông, con gái cả của Huệ Vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn, theo vai vế bà là em họ của Minh Tông.
  2. Minh Từ Quý phi Lê thị (明慈貴妃黎氏; ? - 1365). là em gái cùng mẹ (Nguyễn phu nhân) khác cha với Hiến Từ hoàng hậu, Lê quý phi là cô của Lê Quý Ly. Mẹ sinh Trần Hiến TôngTrần Nghệ Tông.
  3. Đôn Từ Quý phi Lê thị (敦慈貴妃黎氏? - 1347), em gái Minh Từ hoàng thái phi, mẹ sinh của Trần Duệ Tông.
  • Con:
  1. Trần Hiến Tông Trần Vượng [陳旺], con của Minh Từ Hoàng thái phi.
  2. Cung Tĩnh Đại vương Trần Nguyên Trác [恭静大王陈元晫; 1319 - 1370].
  3. Trần Nghệ Tông Trần Phủ [陳暊], tước phong vốn là Cung Định Vương (恭定王), con trai thứ hai của Minh Từ Hoàng thái phi.
  4. Cung Mẫn vương Trần Nguyên Hú [恭敏王陈元煦? - 1347].
  5. Cung Giản vương Trần Nguyên Thạch [恭簡王陈元石; ? - 1350].
  6. Cung Túc vương Trần Nguyên Dục [恭肃王陳元昱; 1336 - 1364], con của Hiến Từ hoàng hậu.
  7. Cung Tín vương Trần Thiên Trạch [恭信王陈善泽; ? - 1379].
  8. Trần Dụ Tông Trần Hạo [陳暭], con của Hiến Từ hoàng hậu.
  9. Trần Duệ Tông Trần Kính [陳曔], tước phong là Cung Tuyên Vương (恭宣王), con của Đôn Từ Hoàng thái phi.
  10. Thiên Ninh công chúa [天寕公主], con của Hiến Từ hoàng hậu, lấy Chính Túc vương Trần Kham (陈堪).
  11. Huy Ninh công chúa [徽寕公主], trước lấy Nhân Vinh (? - 1370), sau lấy Lê Quý Ly.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 27.
  2. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 229-235.
  3. ^ Lê Tắc 1961, tr. 107.
  4. ^ a ă Trần Trọng Kim 1971, tr. 67-69.
  5. ^ a ă â Hòa thượng Thích Thanh Từ (phiên dịch) (1999). Thánh Đăng Lục Giảng Giải (PDF). Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh. Truy cập 15 tháng 12 năm 2016.  các trang 93-99.
  6. ^ a ă â b c d đ Nhiều tác giả 1988, tr. 779-780.
  7. ^ a ă â Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 215.
  8. ^ a ă â b Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 227.
  9. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 192.
  10. ^ a ă â Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 254.
  11. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 218.
  12. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 225.
  13. ^ Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 91.
  14. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 233-237.
  15. ^ a ă Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 261.
  16. ^ a ă Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 262.
  17. ^ a ă Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 266.
  18. ^ a ă â b Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 232.
  19. ^ a ă Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 265.
  20. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 228.
  21. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 230.
  22. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 233.
  23. ^ Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 93.
  24. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 264.
  25. ^ a ă Trần Trọng Kim 1971, tr. 66-67.
  26. ^ a ă â b c d Maspéro 2002, tr. 90.
  27. ^ a ă Cœdès1966, tr. 204.
  28. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 229.
  29. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 235-236.
  30. ^ a ă â b c d đ e ê g Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 236-239.
  31. ^ a ă â b c d đ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 267-269.
  32. ^ a ă â b c d Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 94.
  33. ^ a ă Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 270-271.
  34. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 67.
  35. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 244.
  36. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 273.
  37. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 274.
  38. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 68.
  39. ^ a ă â Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 245.
  40. ^ a ă Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 275.
  41. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 246-247.
  42. ^ a ă â Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 277-276.
  43. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 283.
  44. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 281.
  45. ^ a ă â b c d đ e Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 247-255.
  46. ^ a ă â b c d Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 283-285.
  47. ^ a ă Theo GS. Nguyễn Huệ Chi, Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004, tr. 1794.
  48. ^ Nhiều tác giả 1988, tr. 783.
  49. ^ Nhiều tác giả 1988, tr. 795-796.
  50. ^ Nhiều tác giả 1988, tr. 816-817.
  51. ^ Nhiều tác giả 1988, tr. 815-816.
  52. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 237.
  53. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 243.
  54. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 238.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngô Sĩ Liên (1993). Đại Việt sử ký toàn thư. Nội các quan bản. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. 
  • Ngô Thì Sĩ; Hội Việt Nam Nghiên cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu (phiên dịch) (1991). Việt sử tiêu án. Nhà xuất bản Văn Sử. 
  • Lê Tắc; Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam (phiên dịch) (1961). An Nam chí lược. Viện Đại Học Huế. 
  • Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục 
  • Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, Sài Gòn: Trung tâm Học liệu Xuất bản thuộc Bộ Giáo dục 
  • Nguyễn Lang (1979). Việt Nam Phật giáo sử luận 1. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học. 
  • Nguyễn Huệ Chi; Trần Thị Băng Thanh; Đỗ Văn Hỷ; Trần Tú Châu (1988). Thơ văn Lý Trần (PDF). II—Quyển thượng. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. 
  • Cœdès, George (1966), The Making of South East Asia, University of California Press, ISBN 0520050614 
  • Chapuis, Oscar (1995), A history of Vietnam: from Hong Bang to Tu Duc, Greenwood Publishing Group, ISBN 0-313-29622-7 
  • Maspéro, Georges (2002), The Champa Kingdom: The History of an Extinct Vietnamese Culture, White Lotus Press, ISBN 9747534991 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]