Trần Minh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Minh Tông
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Trần
Trị vì 1314 - 1329
Tiền nhiệm Trần Anh Tông
Thái thượng hoàng Quang Nghiêu Duệ Vũ Thái thượng hoàng đế
Kế nhiệm Trần Hiến Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Hiến Từ Tuyên Thánh hoàng hậu
Minh Từ quý phi
Đôn Từ quý phi
Tên húy Trần Mạnh (陳奣)
Niên hiệu Đại Khánh (大慶; 1314 - 1323)
Khai Thái (開泰; 1324 - 1329)
Thụy hiệu Thể Thiên Sùng Hóa Khâm Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế
體天崇化欽明睿孝皇帝
Miếu hiệu Minh Tông (明宗)
Hoàng tộc Nhà Trần
Thân phụ Trần Anh Tông
Thân mẫu Chiêu Từ hoàng hậu
Sinh 21 tháng 8, 1300
Thăng Long
Mất 19 tháng 2, 1357
Bảo Nguyên cung, Thăng Long
An táng 11 tháng 11, Mục Lăng (穆陵)
Tôn giáo Phật giáo

Trần Minh Tông (chữ Hán: 陳明宗, 21 tháng 8, 1300 - 19 tháng 2, 1357), là vị hoàng đế thứ 5 của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi 15 năm (1314 - 1329) và làm Thái thượng hoàng 28 năm.

Trần Minh Tông tuy nối ngôi còn trẻ, nhưng vốn thông minh, tài trí, sự hưng thịnh đời Anh Hoàng tiếp tục được mở mang, làm rạng rỡ công nghiệp của Trần Thái Tông, là bậc quân chủ tài giỏi. Đối với Nhà Nguyên, Minh Tông tiếp tục đường lối giao hảo, nhường nhịn hết mực nhưng không hề tỏ ra yếu thế, chứng tỏ vị thế hàng đầu của Đại Việt. Bên trong ông tiếp tục trọng nông nghiệp, gia tăng đất canh tác, kỹ thuật sản xuất, thời kỳ hưng thịnh tiếp tục duy trì. Vì biết tôn trọng kẻ sĩ, nên Minh Tông đã có dưới trướng mình những hiền thần như Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An phụ giúp, thời cường thịnh trải suốt khi ông qua đời vào năm 1357.

Tuy nhiên, do quá tin vào gian thần Trần Khắc Chung cùng Văn Hiến hầu[1] nên năm 1328 đã giết Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn, một người đức cao vọng trọng. Trong dòng họ Huệ Vũ vương là ông chú ruột của Minh Tông, con thứ 2 của Trần Nhân Tông, em ruột của Anh Hoàng, đồng thời là cha của Hiến Từ Thái hậu.

Cũng như các đời vua trước, Minh Tông hay sáng tác thơ, văn. Dù lúc lâm chung hầu hết đã bị đốt theo ông, nhưng nay vẫn còn giữ lại được một số. Có thể nói, dưới những sắc thái khác nhau, thơ ông đã phản ánh trung thực tư tưởng, tình cảm và tính cách vủa ông. Qua thơ, Minh Tông tỏ ra là một vị hoàng đế có tinh thần chủ động, năng nổ với việc chính sự, ưu ái đối với các bề tôi giỏi, thương yêu dân chúng trong bờ cõi và cả dân chúng các nước láng giềng. Thơ Minh Tông hùng hồn, phóng khoáng, nhưng cũng tinh tế. Trong thơ Minh Tông không ngần ngại bộc bạch những tâm sự sâu kín, những lỗi lầm thời trẻ mà sau này ông mới nhận thức được.

Tác phẩm có Minh Tông thi tập, 1 quyển, nay đã mất. Hiện chỉ còn 25 bài thơ chép rải rác trong Toàn Việt thi lục, Trần triều thế phả hành trạng, Việt âm thi tập, Đại Việt sử ký toàn thưNam Ông mộng lục. Ngoài ra còn một bài tựa cho tập Đại hương hải ấn thi của Trần Nhân Tông.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Minh Tông tên húy là Trần Mạnh (陳奣), là người con trai duy nhất sống đến khi trưởng thành của Trần Anh Tông. Mẹ ông là Chiêu Từ hoàng hậu Trần thị (昭慈皇后陳氏), con gái Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng. Ông sinh ngày 21 tháng 8, năm 1300, một ngày sau khi Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mất (20 tháng 8 âm lịch năm 1300).[2] Bảo Nghĩa vương vốn là một người có huyết thống của Lê Đại Hành nhà Tiền Lê, nên ông mang trong mình 1 phần dòng máu của triều đại này.

Nguyên khi Hoàng Tử Mạnh mới sinh, bấy giờ các hoàng tử sinh ra đều khó nuôi nên khi hoàng tử Mạnh chào đời, Trần Anh Tông nhờ Thụy Bảo công chúa (瑞寶公主), cô ruột của Anh Tông, nuôi hộ. Công chúa cho rằng mình đang bị ách vận cho nên đã đưa Hoàng tử Mạnh nhờ anh ruột là Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật nuôi. Chiêu Văn Vương coi hoàng tử Mạnh không khác gì con mình. Ông nghĩ con trưởng mình là Thánh An (聖安), con gái là Thánh Nô (聖奴) nên mới đặt tên cho Hoàng tử Mạnh là Thánh Sinh (聖生). Hoàng tử được nuôi như vậy đến tận lúc lên ngôi.

Trần Minh Tông là vị hoàng đế mà có tới 4 người con trai làm Hoàng đế lần lượt sau ông: Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, Trần Duệ Tông, Trần Nghệ Tông.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 18 tháng 3, năm 1314, Trần Anh Tông truyền ngôi ông, khi ấy ông mới 14 tuổi, tự xưng là Ninh Hoàng (宁皇). Thượng hoàng Anh Tông vẫn giúp đỡ ông trông coi chính sự. Triều đại nhà Trần dưới thời Minh Tông tiếp tục duy trì sự thịnh vượng của các đời trước đã tạo nên. Suy tôn vua cha là Quang Nghiêu Duệ Vũ thái thượng hoàng đế, và tôn Thuận Thánh hoàng hậu làm Thuận Thánh Bảo Từ thái thượng hoàng hậu.Gặp khi ấy có sứ thần nhà Nguyên đến, có lời khen tặng nhà vua

Hình dáng nhẹ nhàng không khác gì một vị thần tiên.

Mùa hạ năm 1315, nhà vua ra lệnh cấm người trong họ không được kiện cáo nhau. Lúc đó Đỗ Khắc Chung giữ chức Hành khiển, bị Ngự sử hặc tội vì trong nước có đại hạn (là do tể tướng không biết điều hòa âm dương), Khắc Chung đáp việc đó là tại Long vương mà ra. Ít lâu sau, nước sông Hồng dâng, nhà vua thân đi xem sửa chữa đê, Ngự sử đài tâu rằng đắp đê là việc nhỏ mọn. Khắc Chung

Lúc dân gặp nước lụt hoặc đại hạn, người làm vua cần phải cứu giúp ngay. Đấy, việc sửa sang đức chính không còn gì trọng đại hơn việc ấy cả, chứ có phải đâu cứ ngồi chĩnh chện một chỗ, cố giữ tinh thần thật vững mới gọi là sửa sang đức chính?

Năm 1318, Tuyên Từ thái hoàng thái hậu (vợ thứ Nhân Tông, dì ruột Anh Tông) chết, Minh Tông theo lời trăn trối khi xưa của Thượng hoàng, đem hợp táng di thể bà vào Đức lăng. Các quan can rằng không nên đụng đến di thể tiên vương; Minh Tông đáp

Ta không dám trái lời di chúc của tiên đế, nếu có xảy ra sự không hay thì ta tự đảm đương lấy.[3].

Bấy giờ sau khi vua Chiêm Thành Chế Chí thua trận, nước Chiêm vẫn thường xuyên quấy phá. Năm 1318, Minh Tông sai Huệ Vũ vương Quốc Chẩn ra đánh; có Hiếu Túc hầu Lý Tất Kiến đánh nhau với quân Chiêm, bị chết. Phạm Ngũ Lão tung quân ra đánh tập hậu; đánh bại quân Chiêm, khiến Chiêm vương Chế Năng phải chạy ra Nam Dương. Huệ Vũ vương xin lập người tù trưởng nước Chiêm là A Nan làm vua, rồi rút quân về.

Mùa xuân năm 1320, thượng hoàng qua đời. Đến mùa đông, Điện soái thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão mất, vua nghỉ triều 5 ngày để tưởng niệm[3]. Mùa xuân năm 1321, Minh Tông tôn mẹ cả Thuận Thánh Bảo Từ thái thượng hoàng hậu làm hoàng thái hậu, mẹ đẻ Huy Tư hoàng phi làm hoàng thái phi. Trước đây, rước quan tài Thượng hoàng từ phủ Thiên Trường đi đường thủy về để ở cung Thánh Từ. Theo thể lệ thì thuyền của Bảo Từ được một đoàn tám chiếc kéo dây, thuyền của Huy Tư được một đoàn hai chiếc kéo dây; lính cấm quân có ý tâng công, đem dây kéo buộc thêm vào thuyền Huy Tư. Tướng quân là Trần Hựu nói không cho kéo. Nhà vua khen Trần Hựu là người trung thực.

Tháng 8 ÂL mùa thu năm 1323, nhân dịp thi Thái học sinh, nhà vua đến nhà Thái học. Bấy giờ có người trong quân Thiên Thuộc tên là Mặc ứng thí, được trúng cách; nhà vua hạ chiếu trả về quân tịch và cho sung vào làm chức lại điển trong quân Thiên Đinh (vua Tự Đức nhà Nguyễn đánh giá đây là hành động thiên lệch). Mùa hạ năm sau, phong thúc phụ (đồng thời là nhạc phụ) là Huệ Vũ vương Trần Quốc Chẩn làm Quốc phụ thượng tể, trên ngạch tể tướng.

Năm 1324, Nguyên Thái Định Đế lên ngôi, sai Mã Hợp MưuDương Tôn Thụy sang nước ta. Hợp Mưu cưỡi ngựa đến cái cầu ở ao Tây Thấu vẫn không xuống ngựa. Cuối cùng phải sai Thị ngự sử Nguyễn Trung Ngạn dùng lý lẽ bẻ bác, Hợp Mưu mới chịu xuống ngựa; cầm tờ chiếu đi bộ vào[3].

Năm 1326, Minh Tông bổ dụng Trần Khắc Chung làm Thiếu Bảo, gia hàm Đồng trung thư môn hạ bình chương sự. Cũng trong năm đó, Nguyễn Trung Ngạn sơ suất biên vào trong sổ thuyên tuyển, tội đáng giết (chứng tỏ pháp luật nhà Trần rất ác nghiệt), nhưng nhà vua thương tình nên chỉ giáng chức làm An phủ sứ Thanh Hóa. Cùng năm, vua sai Huệ Túc vương đánh Chiêm Thành nhưng không thu được thắng lợi[3].

Vụ án Huệ Vũ vương[sửa | sửa mã nguồn]

Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn (陳國瑱) là con trai thứ của Trần Nhân Tông, em của Anh Tông, ông chú của Minh Tông, có con gái là Huy Thánh công chúa được lập làm Hoàng hậu của Minh Tông, tức Hiến Từ Tuyên Thánh hoàng hậu.

Minh Tông giữ ngôi được 15 năm, tuổi đã cao mà chưa lập được Thái Tử. Quốc Chẩn có đề nghị đợi Hoàng hậu sinh con trai thì mới lập. Đây là lệ trước giờ của nhà Trần, khi không lập con của người khác họ lên ngôi mà đều là con của các Hoàng hậu, Hoàng phi có xuất thân trong dòng tộc, cốt là để tránh họa ngoại thích mà bản thân họ Trần đã dùng khi thay ngôi nhà Lý.

Đề nghị của Quốc Chẩn không được triều thần ủng hộ. Lợi dụng hoàn cảnh đó, Cương Đông Văn Hiến Hầu là con của Tá thánh Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật muốn đánh đổ Hoàng Hậu để lập Thái tử Vượng, mới đem của đút cho gia thần của Quốc Chẩn là Trần Nhạc khoảng 100 lạng vàng bảo Trần Nhạc vu cáo cho Quốc Chẩn có âm mưu làm phản.

Minh Tông cho là thật liền ra lệnh bắt giam ngay Quốc Chẩn vào chùa Tư Phúc ở kinh sư rồi đem việc ấy hỏi Thiếu bảo Trần Khắc Chung. Khắc Chung cùng cánh với Văn Hiến Hầu, lại cùng với mẹ thái tử Vượng là Quý phi Lê thị, đều là người Giáp Sơn (Kinh Môn) và đã từng làm thầy dậy thái tử Vượng, liền trả lời: "Bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó".

Minh Tông truyền bắt Quốc Chẩn phải tuyệt thực. Hoàng hậu lén vào thăm cha đã lấy áo nhúng nước mặc vào người rồi vắt ra cho cha uống. Trong khi đó Lê phi muốn cho Trần Quốc Chẩn chết sớm để con mình được lập làm Thái tử, liền cho người mang nước tẩm độc cho Quốc Chẩn uống. Quốc Chẩn chết, ngôi thái tử thuộc về Trần Vượng.

Thái thượng hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Trần Hiến Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 7 tháng 2, năm 1329, Trần Minh Tông xuống chiếu phong Trần Vượng làm Hoàng thái tử. Đến ngày 15 tháng 2, thì ông nhường ngôi cho thái tử Vượng, lên làm Thái thượng hoàng. Thái tử Vượng trở thành Trần Hiến Tông, tự xưng làm Triết Hoàng (哲皇). Tôn hiệu của Thượng hoàng là Chương Nghiêu Văn Triết Thái Thượng Hoàng Đế (章堯文哲太上皇帝), Hiến Tông tự quân còn nhỏ tuổi, Thái thượng hoàng vẫn nắm quyền triều chính.

Mùa đông năm 1329, người Ngưu Hống nổi dậy, chiếm đất cõi Đà Giang. Thượng hoàng thân chinh đi đánh dẹp, sai Thiêm tri Nguyễn Trung Ngạn đi theo để biên soạn thực lục.

Năm 1334, quân Ai Lao xâm lấn, Thượng hoàng đích thân đem quân đến Châu Kiềm (Nghệ An). Quân Ai Lao bỏ chạy. Thượng hoàng sai Nguyễn Trung Ngạn soạn bài bia ghi lại chiến thắng khắc lên núi đá. Lời bàn trong Cương mục

Chỉ làm nhọc quân lính thôi, chứ có công trạng gì đáng ghi chép. Nguyễn Trung Ngạn sao lại a dua thế?

Mùa thu năm đó, nghe tin Ai Lao kéo xuống xâm lấn ấp Nam Nhung thuộc Nghệ An, Thượng hoàng định thân chinh, nhưng lại bị đau mắt, có người xin hoãn lại. Thượng hoàng nói:

Việc này năm trước đã bàn rồi lại thôi, bây giờ nếu vì đau mà hoãn lại, thiên hạ sẽ cho ta là người rút rát; vạn nhất giặc phương Bắc kéo sang xâm lấn bao vây, thì ta sẽ trông cậy vào đâu?.

Bèn quyết ý thân chinh. Trong trận, Đoàn Nhữ Hài khinh suất ra quân nên bị thua trận và chết. Thượng hoàng khóc nói

Nhữ Hài nhân tình thế tất thắng, dùng mưu kế tất thắng, đã gần được công to mà lại bị mắc vào mồi của giặc, không phải vì y không liệu biết thế giặc, chỉ vì y dùng quá cái sức của mình đấy thôi! Thế mới biết sự mong muốn của người ta không thể quá hạn định được.

Vua Tự Đức bàn về lời khóc của Thượng hoàng

Sính dùng binh là sự không hay, tự kiêu căng tất bị thất bại. Thế thì việc đục đá ghi công lần trước tỏ ra là việc hảo huyền! Sụt sùi thương khóc cũng chẳng kịp.[3]

Không hiểu lí do tại sao mà mãi đến tháng 2 ÂL năm 1336, Thượng hoàng mới từ Ai Lao trở về. Mùa thu năm đó, quân Trần do Hưng Hiếu vương chỉ huy đánh thắng được quân Ngưu Hống. Khi về, vương xin thưởng cho cả người giữ thuyền. Thượng hoàng không theo.

Thời Trần Dụ Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 6, năm 1341, Hiến Tông hoàng đế qua đời khi mới 23 tuổi. Ngày 21 tháng 8, Thượng hoàng truyền ngôi cho con trai thứ 10 của ông là hoàng tử Trần Hạo mới lên 6 tuổi, tức là Trần Dụ Tông, tự xưng làm Dụ Hoàng (裕皇). Thượng hoàng vẫn nắm đại quyền triều đình, sai Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn làm biên soạn bộ Hoàng triều đại điển và khảo soạn bộ Hình thư để ban hành.

Năm 1342, Thượng hoàng bổ dụng người con trai lớn nhất (còn sống) của mình là Cung Tĩnh vương Trần Nguyên Trác làm Thái úy, phong Tôn Huệ Từ thái thượng hoàng hậu làm hoàng thái hậu. Việc này nói sao cũng chẳng hợp lẽ, bởi vì thượng hoàng còn sống thì vợ ông cũng chỉ được xưng là Thái thượng hoàng hậu, đến khi thượng hoàng băng mới có thể xưng là hoàng thái hậu. Không chỉ lần này, mà nhà Trần từ khi lập quốc, việc tôn phong phần nhiều cũng trái lẽ như vậy. Mùa thu cùng năm, bổ dụng Nguyễn Trung Ngạn làm Hành khiển, quản trị công việc viện Xu Mật. Từ đó lại có lệ Xu mật nắm giữ cấm quân[3].

Mùa xuân năm 1344, người huyện Trà Hương là bọn Ngô Bệ họp tập lực lượng nổi dậy nhưng nhanh chóng bị dẹp. Đây là mầm mống đầu tiên của phong trào nông dân khởi nghĩa cuối đời Trần, báo hiệu sự suy vong của triều đại này. Trong thời gian đó, Thượng hoàng cũng hạ chiếu truy phục lại quan tước cho Trần Quốc Chẩn[3].

Năm 1345, vì Chiêm Thành đã lâu không cống, triều đình cử sứ sang hỏi, Chiêm Thành chịu cống nhưng lễ vật sơ sài. Cùng năm đó, Ai Lao cướp ngoài biên giới. Nhà vua sai Bảo Uy vương là Hoàn đi đánh, phá tan được. Mùa hạ năm 1347, Bảo Uy vương vì ăn cắp áo mặc của vua, bị phát hiện. Thượng hoàng giận lắm, truất Hoàn ra ngoài biên trấn. Khi Hoàn đi đến sông Trinh Nữ[4], Thượng hoàng sai vũ sĩ chở chiếc thuyền nhỏ đuổi theo, giết đi.

Năm 1350, dùng Nguyễn Trung Ngạn làm Nhập Nội Hành Khiển, vẫn cứ giữ việc Xu mật viện, sau đó dùng Cung Định vương Trần Phủ làm Hữu tướng quốc, Cung Định vương Nguyên Trác làm Tả tướng quốc. Bấy giờ con vua Chiêm cũ là Chế Mỗ tranh quyền với vua Chiêm hiện tại, sang nhà Trần cầu cứu. Nhà Trần sai đưa Chế Mỗ về nước. Bộ binh đến Cổ Lũy, thủy quân tải lương không kịp, bèn trở về. Chế Mỗ ở lại nước ta, chưa được bao lâu thì chết[5].

Năm 1355, Tham chinh Trương Hán Siêu mất. Dùng Nguyễn Trung Ngạn làm Nhập nội hành khiển thượng thư hữu bật, kiêm tri Xu Mật viện sự, sung Kinh Diên đại học sĩ trụ quốc khai huyện bá. Mùa thu năm 1356, Thượng hoàng đến chơi đền Huệ Vũ Vương Quốc Trấn; lúc trở về, có con ong vàng đốt phải má bên trái, do đó nằm bệnh (có lẽ con ong vàng là hồn ma của Quốc Chẩn hiện về báo oán). Thái hậu thường phóng sinh các con vật để cầu cho Thượng hoàng khỏe lại. Thượng hoàng nói

Thân ta không có lấy con heo, con dê mà đổi được.

Ngày 19 tháng 2, năm 1357, Thượng hoàng Minh Tông qua đời tại cung Bảo Nguyên, hưởng thọ 58 tuổi. Ông được tôn thụy hiệuChương Nghiêu Văn Triết Hoàng Đế (章堯文哲皇帝). Mùa đông, ngày 11 tháng 11, năm 1357, Minh Tông đợc táng vào Mục Lăng, xã Yên Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ngày nay.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài thơ "Bạch Đằng Giang" của Trần Minh Tông trong đền Trần (Nam Định)

Tác phẩm của Trần Minh Tông có Minh Tông thi tập (1 quyển), nhưng nay đã mất. Một phần bị đốt theo yêu cầu của tác giả lúc lâm chung, một phần có lẽ do quân Minh hủy hoại khi sang xâm lược nước Việt.[6] Hiện chỉ còn 25 bài thơ chép rải rác trong Việt âm thi tập, Đại Việt sử ký toàn thưNam Ông mộng lục.

Nhìn chung, hầu như bài nào cũng nhẹ nhàng, êm ả; chỉ riêng có bài Bạch Đằng giang là tiếp tục truyền thống thơ "hùng hồn, mạnh mẽ, phóng khoáng" ở giai đoạn trước.[6] Ngoài ra, Trần Minh Tông còn có bài đề tựa tập thơ Đại hương hải ấn (Tập thơ ấn chứng của biển lớn nước thơm) của Trần Nhân Tông.

Bài Cam Lộ tự (甘露寺):

甘露寺
...
聳翠攢蒼入望多,
溪西月影轉簷斜。
隔林啼鳥尤岑寂,
一徑古松初墜花。
Cam Lộ tự
...
Tủng thuý toàn thương nhập vọng đa,
Khê tây nhật ảnh chuyển thiềm tà.
Cách lâm đề điểu vưu sầm tịch,
Nhất kính cổ tùng sơ truỵ hoa.
Chùa Cam Lộ
...
Màu thuý vòi vọi, màu xanh trập trùng tràn ngập trong tầm mắt,
Bóng mặt trời phía Tây dòng suối chênh chếch ngả vào mái hiên.
Chim kêu bên kia rừng càng thêm hiu quạnh,
Một ngõ thông già lác đác rụng hoa.

Hay như bài Dưỡng Chân Bình thôn tử Nhân Huệ vương trang (養真平村子仁惠王庄):

Chữ Hán
...
庄家幾簇倚岧嶢,
一枕高眠遠巿朝。
海角輿圖歸政化,
天涯人物樂漁樵。
溪聲寂寂潮來少,
棠影疏疏月上饒。
龍準何曾同鳥喙,
扁舟休泛五湖遙。
Phiên âm
...
Trang gia kỷ thốc ỷ thiều nghiêu,
Nhất chẩm cao miên viễn thị triều.
Hải giác dư đồ qui chính hoá,
Thiên nhai nhân vật lạc ngư tiều.
Khê thanh tịch tịch triều lai thiểu,
Đường ảnh sơ sơ nguyệt thướng nhiêu.
Long chuẩn hà tằng đồng điểu chuế,
Biên chu hưu phiếm Ngũ hồ dao.
Dịch nghĩa
...
Mấy dẫy nhà trong trang trại dựa vào núi cao chót vót,
Một chiếc gối nằm khểnh ở xa triều đình và thành thị.
Miền góc biển trên bản đồ đã theo giáo hoá của vua,
Nhân vật ở chân trời vui với việc câu cá hái củi.
Tiếng suối chảy lặng lẽ, vì nước triều ít dâng lên,
Bóng cây đường thưa thớt nên ánh trăng tràn ngập.
Mũi rồng đâu có giống mỏ chim,
Xin chớ thả thuyền lênh đênh trên Ngũ hồ xa xôi.

Quan điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn về những người dạy hoàng tử, Thượng hoàng chủ trương rằng:

Thiện ác đều phải nêu để đối chiếu, không thể bỏ một bên nào. Nếu con ta quả là hiền, thì nghe điều thiện tất phải theo mà học tập, nghe điều ác tất phải ghét mà tránh xa; thiện, ác đều có thể làm gương được cả. Nếu con ta không hiền, thì đợi gì thấy kẻ ác rồi mới làm điều ác? Như Thái Khang thất đức, là bởi các vua trước chơi bời mà bắt chước hay sao? Tùy Dạng Đế luôn mồm nói đến Nghiêu Thuấn, nhưng mọi việc làm của ông ta thì lại như Hạ Kiệt, Trụ Vương, có phải là ông ta thấy điều thiện mà bắt chước hay sao.

Đối với việc an táng, Trần Minh Tông tỏ ra là người ít tin vào duy tâm. Năm 1332, khi làm lễ an táng Thuận Thánh hoàng hậu vào Thái Lăng, ở Yên Sinh, Thượng hoàng Minh Tông sai các quan chọn ngày chôn cất. Có người bác đi cho rằng: Chôn năm nay tất hại người tế chủ. Thượng hoàng không đồng tình, cho rằng:

Lễ cát lễ hung phải chọn ngày là vì coi trọng việc đó thôi, chứ đâu có phải câu nệ họa phúc như các nhà âm dương.

Và ông vẫn cử hành lễ tang[7].

Thượng hoàng thường dạy các hoàng tử:

Ai mà trì khu làm giàu, co cỏm bỏn sẻn, thì không phải là con ta. Thà rằng hào phóng mà phải nghèo, dẫu không khỏi túng thiếu đấy thật, nhưng vẫn không phi tiếng là con nhà sang[5].

Lại thường nói:

Ông vua dùng người, không phải có thiên vị với ai đâu. Nếu ta thực là người hiền, thì những người mình dùng được cũng hiền; ấy như Nghêu, Thuấn với Tắc, Tiết, Quỳ, Long đấy. Nếu như không phải là người hiền, thì những người mình dùng cũng không phải là hiền; ấy như Kiệt, Trụ với Phi Liêm, Ác Lai đấy. Đó là cái lẽ thanh ứng khí cầu, loài nào đi thứ ấy, chứ có tây vị ai được đâu?

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá về Trần Minh Tông, sử thần Phan Phu Tiên viết

Minh Tông có tư chất nhân hậu, nối nghiệp thái bình, không thay đổi phép tắc của ông cha đã định. Khi bấy giờ có người học trò dâng sớ nói rằng: "Dân gian nhiều kẻ du thủ du thực, đến tuổi già vẫn không có tên trong sổ hộ, mà lại không đóng góp phú thuế và sưu dịch". Ngài bảo: "Nếu không như thế thì sao gọi là cảnh đời thái bình? Nhà ngươi lại muốn ta bắt chúng nó làm nên trò trống gì nữa!". Triều thần là Lê Bá QuátPhạm Sư Mạnh đều muốn thay đổi chế độ. Ngài nói: "Nước nhà đã có nền nếp sẵn rồi, nếu nghe mưu kế muốn cho lời mình được đắt của bạch diện thư sinh kia thì sẽ sinh rối ren đấy!". Có điều đáng tiếc là ngài nghe lời gian nịnh của Trần Khắc Chung mà giết Quốc Chẩn: đó là một điều làm vấp cho trí thông minh của ngài.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Trần Anh Tông (Trần Thuyên)
  • Mẹ: Chiêu Từ hoàng hậu Trần thị (昭慈皇后陳氏; ? - 1359), là con gái Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng, không xuất thân từ dòng dõi hoàng tộc nhà Trần như các vị Hoàng hậu tiền nhiệm. Khi Minh Tông kế vị, tấn tôn làm Huy Tư Hoàng thái phi (徽思太皇妃).
  • Hậu phi:
  1. Hiến Từ Tuyên Thánh hoàng hậu Trần thị (憲慈宣聖皇后陳氏; ? - 1370), chính cung của Minh Tông, con gái cả của Huệ Vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn, theo vai vế bà là em họ của Minh Tông.
  2. Minh Từ Quý phi Lê thị (明慈貴妃黎氏; ? - 1365). Có em gái cùng mẹ là Nguyễn phu nhân với Hiến Từ hoàng hậu, Lê quý phi là cô của Lê Quý Ly. Mẹ sinh Trần Hiến TôngTrần Nghệ Tông.
  3. Đôn Từ Quý phi Lê thị (敦慈貴妃黎氏? - 1347), em gái Minh Từ hoàng thái phi, mẹ sinh của Trần Duệ Tông.
  • Con:
  1. Trần Vượng [陳旺], Hiến Tông Chí Hiếu Hoàng đế (憲宗至孝皇帝), con của Minh Từ Hoàng thái phi.
  2. Cung Tĩnh Đại vương Trần Nguyên Trác [恭静大王陈元晫; 1319 - 1370].
  3. Trần Phủ [陳暊], Nghệ Tông Thuần Hiếu Hoàng đế (藝宗純孝皇帝), tước phong vốn là Cung Định Vương (恭定王), con trai thứ 2 của Minh Từ Hoàng thái phi.
  4. Cung Mẫn Vương Trần Nguyên Hú [恭敏王陈元煦? - 1347].
  5. Cung Giản Vương Trần Nguyên Thạch [恭簡王陈元石; ? - 1350].
  6. Cung Túc Vương Trần Nguyên Dục [恭肃王陳元昱; 1336 - 1364], con của Hiến Từ hoàng hậu.
  7. Cung Tín Vương Trần Thiên Trạch [恭信王陈善泽; ? - 1379].
  8. Trần Hạo [陳暭], Dụ Tông Quang Hiếu Hoàng đế (裕宗至孝皇帝), con của Hiến Từ hoàng hậu.
  9. Trần Kính [陳曔], Duệ Tông Khâm Hiếu Hoàng đế (睿宗欽孝皇帝), tước phong là Cung Tuyên Vương (恭宣王), con của Đôn Từ Hoàng thái phi.
  10. Thiên Ninh Công chúa [天宁公主], con của Hiến Từ hoàng hậu, lấy Chính Túc vương Trần Kham.
  11. Huy Ninh Công chúa [徽宁公主], trước lấy Nhân Vinh (? - 1370), sau lấy Lê Quý Ly.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Việt sử ký toàn thư dẫn cả 2 thuyết về Văn Hiến hầu: thuyết cho rằng người này là con, thuyết khác cho là em Trần Nhật Duật
  2. ^ Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Toàn Thư - Quyển VI: Kỷ Nhà Trần - Anh Tông Hoàng Đế, năm 1300
  3. ^ a ă â b c d đ Cương mục, chính biên quyển 9.
  4. ^ Tức sông Vạn Nữ xưa, bây giờ ở địa giới huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
  5. ^ a ă Cương mục, chính biên quyển 10.
  6. ^ a ă Theo GS. Nguyễn Huệ Chi, Từ điển văn học (bộ mới). Nxb Thế giới, 2004, tr. 1794.
  7. ^ [http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/dvsktt/dvsktt12.html Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 7

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]