Nam Ông mộng lục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Nam Ông mộng lục (chữ Hán: 南翁夢錄, Chép lại những giấc mộng của Nam Ông), là tập hồi ký chữ Hán đầu tiên và là tác phẩm đầu tiên mở đường cho khuynh hướng viết về "người thực, việc thực" trong văn xuôi tự sự Việt Nam [1]. Tác phẩm do Hồ Nguyên Trừng (hiệu Nam Ông) soạn trong thời gian bị bắt đưa sang Trung Quốc vào thế kỷ XV.

Tác giả[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hồ Nguyên Trừng

Hồ Nguyên Trừng (1374-1446)[2], nguyên họ Lê, tên tự: Mạng Nguyên, biệt hiệu: Nam Ông); là người huyện Vĩnh Phúc, lộ Thanh Hoa (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa). Ông là con trai cả của vua Hồ Quý Ly, và là anh của vua Hồ Hán Thương trong lịch sử Việt Nam.

Dưới triều nhà Trần, Hồ Nguyên Trừng từng giữ chức Thượng Lân tự, Tư đồ. Đầu năm 1400, cha ông truất ngôi Trần Thiếu Đế, tự lên ngôi vua, lập nên nhà Hồ. Sau đó, Hồ Nguyên Trừng được cử làm Tả tướng quốc.

Năm 1406, lấy cớ "Phù Trần diệt Hồ", vua nhà Minh sai Trương PhụMộc Thạnh mang 80 vạn quân sang đánh nước Việt. Nhiều lần, Hồ Nguyên Trừng được giao nhiệm vụ cầm quân chống lại.

Ngày 12 tháng 5 (âm lịch) năm Đinh Hợi (1407), cả ba cha con ông và người cháu là Hồ Nhuế (con Hồ Hán Thương) đều bị quân nhà Minh bắt tại Kỳ La (Kỳ Anh, Hà Tĩnh), rồi bị áp giải về Kim Lăng (Nam Kinh, Trung Quốc). Kể từ đó, nhà Hồ mất ngôi, cả nước Việt rơi vào ách thống trị của nhà Minh.

Biết được Hồ Nguyên Trừng (và Hồ Nhuế) có tài năng, vua Minh Anh Tông cho ân xá, nhưng buộc phải đổi họ khác (vì không thừa nhận gia đình ông là dòng dõi Ngu Thuấn[3]). Vì vậy ở sách Nam Ông mộng lục, tác giả đề tên là Lê Trừng (đổi lại họ Lê như cũ).

Sau, ông chế tạo được súng thần công, nên lại được làm quan ở Bộ Công, thăng đến chức Tả thị lang như lời ông đề ở cuối bài Tựa trong quyển Nam Ông mộng lục[4].

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Giới thiệu sơ lược[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù phải sống lưu vong ở nước người, Hồ Nguyên Trừng vẫn tưởng vọng về cố quốc, nên tự gọi là Nam Ông (Ông già nước Nam). Bằng hồi ức của mình, tác giả đã viết lại các mẩu chuyện về những con người tài đức ở nước Nam mà mình không còn được nhìn thấy nữa, và ông coi đó như là một giấc mộng, nên đặt cho tên sách là Nam Ông mộng lục.[5]

Tác phẩm gồm 31 thiên, trong một số văn bản chỉ ghi 28 thiên (ba thiên thiếu đều nằm sau thiên 23, đó là: Mệnh thông thi triệu, Thi chí công danh, Tiểu thi lệ cú).

Sách được in lần đầu vào năm 1442Trung Quốc (năm này tương ứng với thời Lê sơViệt Nam), nằm trong Tập IX của bộ Tùng thư Hàm lâu bí kíp.

Trong sách có bài tựa của Hồ Huỳnh (người nhà Minh, làm Thượng thư đồng triều với tác giả), viết năm 1440); thứ đến bài tựa của tác giả đề năm 1438. Cuối sách có bài hận tự của Tống Chương (người Việt Nam, làm quan cho triều Minh), viết năm 1442. Sau cùng là bài bạt của Tôn Dục Tú, viết năm 1440, nói về việc xuất bản sách này.

Nội dung sách ghi chép về các sử thoại và một số chuyện về những nhân vật nước Nam thời - Trần, gồm đủ loại: nhà Nho, thầy thuốc, đạo sĩ, nhà thơ, thầy tu, tướng sĩ, các vua đời Trần, hoặc bà con thân thích với tác giả. Đối với Hồ Nguyên Trừng, đó là những sự kiện và những con người tiêu biểu của nước Nam.

Năm 1999, Nam Ông mộng lục đã được Ưu Đàm và La Sơn cùng dịch, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và chú giải, nhà xuất bản Văn học (Hà Nội) ấn hành.

Bài Tựa[sửa | sửa mã nguồn]

Giới thiệu bài Tựa sách Nam Ông mộng lục do chính tác giả viết như sau (bản dịch):

Mục lục[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Nam Ông mộng lục không chia số quyển, trong mục lục có đề 31 thiên mục, nhưng chỉ còn 28 thiên mục như đã nói trên. Sau đây là mục lục của sách:

  • 1.Nghệ vương thủy mạt: Chuyện vua Trần Nghệ Tông.
  • 2.Trúc Lâm thị tịch: Chuyện về sự băng hà của vua Trần Nhân Tông, hiệu Trúc Lâm.
  • 3.Tổ linh định mệnh: Chuyện về linh hồn của ông là vua Trần Nhân Tông quyết truyền ngôi cho cháu là Trần Minh Tông.
  • 4.Đức tất hữu vị: Chuyện vua Trần Minh Tông lên làm vua.
  • 5.Phụ đức trinh minh: Chuyện vợ vua Trần Duệ Tông đi tu.
  • 6.Văn táng khí tuyệt: Chuyện về vua Trần Thái Tông qua đời.
  • 7.Văn Trinh ngạnh trực: Sự cương trực của Chu Văn An.
  • 8.Y thiện dụng tâm: Thầy thuốc giỏi ở tấm lòng.
  • 9.Dũng lực thần dị: Chuyện Lê Phụng Hiểu dùng sức mạnh lạ thường phá giặc.
  • 10.Phu thê tử tiết: Chuyện hai vợ chồng Ngô Miễn cùng tử tiết dưới áp lực quân nhà Minh, đời Vĩnh Lạc.
  • 11.Tăng đạo thần thông: Chuyện thi tài chống yêu quái giữa Phật tăng Giác Hải và đạo sĩ Thông Huyền.
  • 12.Tấu chương minh nghiệm: Tờ tâu lên thiên đình có ứng nghiệm.
  • 13.Áp lãng chân nhân: Chuyện đạo sĩ họ La (không rõ tên) đem pháp thuật dẹp sóng biển cho vua Lý Thái Tông.
  • 14.Minh Không thần dị: Chuyện thần dị của nhà sư Nguyễn Minh Không.
  • 15.Nhập mộng liệu bệnh: Chuyện nhà sư Quán Viên chữa mắt cho vua Trần Anh Tông trong giấc mộng.
  • 16.Ni sư đức hạnh: Chuyện ni sư tu đắc đạo.
  • 17.Cảm khích đồ hành: Cảm kích mà đi bộ, kể chuyện Trần Đạo Tái (con tướng Trần Quang Khải) hăng hái đi bộ.
  • 18.Điệp tự thi cách: Nói về bài thơ lối điệp tự của vua Trần Thánh Tông.
  • 19.Thi ý thanh tân: Phẩm bình thơ hay của vua Trần Nhân Tông trong tập Đại Hương Hải ấn.
  • 20.Trung trực thiện chung: Chuyện hai anh em Phạm Ngộ, Phạm Mại trung thực mà giữ được trọn vẹn tiết tháo.
  • 21.Thi phúng trung gián: Bài thơ dùng lời trung để can gián (chuyện Trần Nguyên Đán làm thơ can vua Trần Nghệ Tông không được bèn bỏ về).
  • 22.Thi dụng tiền nhân cảnh cứ: Làm thơ lại dùng câu thơ cũ của thi nhân mà khen thi nhân ấy (chuyện Nguyễn Trung Ngạn làm thơ viếng Trần Toại hiệu Sầm Lâu, tác giả Sầm Lâu tập).
  • 23.Thi ngôn tự phụ: Lời thơ khoe khoang của Nguyễn Trung Ngạn.
  • 24.Thi tửu kinh nhân: Chuyện Hồ Tông Thốc uống rượu khỏe, làm thơ nhiều.
  • 25.Thi triệu dư khương: Chuyện Nguyễn Thánh Huấn (ông ngoại Hồ Quý Ly) giỏi thơ.
  • 26.Thi xứng tướng chức: Thơ của hai anh em vua Trần Nghệ Tông tiễn sứ nhà Nguyên, làm khi chưa lên làm vua.
  • 27.Thi thán chí quân: Kể việc Trần Nguyên Đán làm thơ tự thán để can gián vua.
  • 28.Quý khách tương hoan: Kể việc tướng Mạc Ký, người Đông Triều, làm thơ xướng họa khi đi tiễn sứ nhà Nguyên là Hoàng Thường.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Cuốn sách là một tập ghi chép về các mẩu chuyện "người thiện", "người tài" của đất nước Đại Việt. Những mẩu chuyện này được hồi ức lại như là một giấc mơ về dĩ vãng của Hồ Nguyên Trừng.
Sách được viết, được in và lưu hành ở Trung Quốc nên không khỏi có những hạn chế do những điều kiện chính trị và xã hội ở nơi nó ra đời...Tuy vậy, qua 28 thiên truyện còn lại, ta không hề thấy tác giả có lời nào nhằm biểu dương công ơn "khai hóa" của "thiên triều" đối với người Nam (tức Đại Việt). Trái lại, điều tác giả muốn gửi gắm là: "nước Nam vốn cũng có những con người rất đẹp, tiêu biểu cho đạo đức, phẩm chất và tài năng, có thể đem ra làm gương cho đọc giả phương Bắc (ý chỉ Trung Quốc) cùng soi"...
Xét mặt khác, do chỗ phải dùng trí nhớ để ghi lại, chứ không có tài liệu, nên nhiều truyện khá ngắn ngủi. Tất nhiên hiệu quả cũng bị giảm sút, nhất là nếu đem so sánh chúng với những truyện mang nội dung tương đương trong Lĩnh Nam chích quái.[7]
Mặc dù đã thoát nạn chết, lại được làm quan cao, bổng lộc hậu dưới triều Minh; Nguyên Trừng vẫn không quên tổ quốc, tên quyển sách này đủ chứng tỏ lòng quyến luyến quê hương của ông... Sách chép theo lối cũ, tuy đầy tư tưởng phong kiến đời Trần... Nhưng gạt bỏ những hạn chế, ta vẫn có thể khảo sát được nhiều nét về đời sống xã hội của nước Việt lúc bấy giờ.[8]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, mục từ "Nam Ông mộng lục" (bản điện tử) và Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (Tập 1, tr. 137).
  2. ^ Các sách dùng để tham khảo đều ghi không rõ. Ở Wikipedia tiếng Trung Quốc ghi ông sinh năm 1374 và mất năm 1446 tại Trung Quốc, có lẽ căn cứ vào Minh sử. Xem chi tiết ở trang Hồ Nguyên Trừng.
  3. ^ Chi tiết này căn cứ theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 277). Thông tin thêm: Lê Quý Ly sở dĩ đổi sang họ Hồ vì tự nhận mình là dòng dõi vua Thuấn. Xem chi tiết ở trang Hồ Quý Ly.
  4. ^ Phần tiểu sử tổng hợp từ các sách ghi ở mục sách tham khảo.
  5. ^ Theo Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (Tập 1), tr. 138.
  6. ^ Xem nguyên tác trong sách Thơ văn Lý Trần (Tập III). Nhà xuất bản Khoa học Xã hội,1976.
  7. ^ Nguyễn Huệ Chi, Từ điển văn học (bộ mới), tr. 638-639.
  8. ^ Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tr. 63-64.

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (Tập 1 và Tập 2 in chung). Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003.
  • Nguyễn Huệ Chi, mục từ " Hồ Nguyên Trừng " trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
  • Trần Thị Băng Thanh (chủ biên), Văn học thế kỷ XVII. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004.
  • Nguyễn Đăng Na, Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (Tập 1). Nhà xuất bản Giáo dục, 1997.
  • Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, mục từ "Hồ Nguyên Trừng". Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992.
  • Trương Hữu Quýnh (Chủ biên)-Phan Đại Doãn-Nguyễn Cảnh Minh, Đại cương lịch sử Việt Nam (Tập I). Nhà xuất bản Giáo dục, 2007.