Trần Thái Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Thái Tông
Hoàng đế Đại Việt (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Trần
Trị vì 12261258
Nhiếp chính Trần Thừa
Trần Thủ Độ
Kế nhiệm Trần Thánh Tông
Thông tin chung
Vợ
Niên hiệu Kiến Trung (1225-1237)
Thiên Ứng Chính Bình (1238-1350)
Nguyên Phong (1251-1258)
Thụy hiệu Thống Thiên Ngự Cực Long Công Mậu Đức Hiển Hòa Hựu Thuận Thần Văn Thánh Vũ Nguyên Hiếu Hoàng đế
Miếu hiệu Thái Tông
Triều đại Nhà Trần
Thân phụ Trần Thừa
Thân mẫu Lê thị
Sinh 9 tháng 7 năm 1218
Hương Tức Mặc (nay thuộc Nam Định)
Mất 2 tháng 4, 1277 (58 tuổi)
Điện Vạn Thọ, Thăng Long
Tôn giáo Phật giáo

Trần Thái Tông (chữ Hán: 陳太宗; 9 tháng 7 năm 12181 tháng 4 năm 1277), tên húy Trần Cảnh (陳煚), là vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi từ năm 1226 tới năm 1258, sau đó làm Thái thượng hoàng cho đến khi qua đời.

Trần Cảnh sinh ra vào thời Lý và là cháu gọi bằng chú họ của quyền thần Trần Thủ Độ. Năm 1226, Thủ Độ buộc nữ hoàng Lý Chiêu Hoàng (7 tuổi) cưới và nhường ngôi cho Trần Cảnh, tức vua Trần Thái Tông. Thái Tông phong Chiêu Hoàng làm Chiêu Thánh hoàng hậu.[1] 12 năm sau, Thủ Độ ép Thái Tông phế Chiêu Thánh vì không sinh được người kế vị, và lập chị Chiêu Thánh là Thuận Thiên lên thay. Thuận Thiên vốn là vợ của anh Thái Tông là Trần Liễu, và khi ấy đang có thai với Trần Liễu 3 tháng. Việc này đã khiến Trần Liễu làm loạn ở sông Cái, nhưng cuối cùng bị thất thế và được Thái Tông tha chết.[2]

Cùng với cha - thượng hoàng Trần Thừa và chú - thái sư Trần Thủ Độ, Thái Tông đã tiến hành cải tổ luật pháp, hành chính, đồng thời khuyến khích nông, thương nghiệp và phát triển nền giáo dục Tam giáo đồng nguyên. Ông cũng xây dựng quân đội mạnh để bảo vệ đất nước.[2] Trong thời gian đó, ở phía bắc Đại Việt, dân tộc Mông Cổ đã trỗi dậy thành một đế quốc quân sự lớn. Năm 1258, quân Mông Cổ do Uriyangqatai chỉ huy tấn công Đại Việt. Thái Tông trực tiếp lãnh đạo kháng chiến và cuối cùng đã đánh bại được người Mông.[3] Trần Thái Tông còn là một thiền sư Phật giáo, đã truyền dạy kinh nghiệm tu hành của mình qua các tác phẩm Khóa hư lục, Thiền tông chỉ nam, Chú giải Kinh Kim cương Tam muộiLục thời sám hối khoa nghi. Ông được xem là người có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành Thiền phái Trúc Lâm – giáo hội thống nhất đầu tiên của đạo Phật tại Việt Nam – vào cuối thế kỷ 13.[4]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Thái Tông nguyên tên thật là Trần Bồ (陳蒲), sau đổi thành Trần Cảnh (陳煚), quê ở hương Tức Mặc (nay là huyện Mỹ Lộc, Nam Định).[5] Ông sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần, niên hiệu Kiến Gia thứ 8 thời Lý Huệ Tông (tức ngày 9 tháng 7 năm 1218), là con trai thứ hai của quan Nội thị phán thủ[6] Trần Thừa. Mẹ ông là người họ Lê. Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư mô tả ông có ngoại hình "mũi cao, mặt rộng, giống như Hán Cao Tổ".[5] Khi Trần Cảnh sinh ra, Trần Thừa cùng em là Thái úy Trần Tự Khánh đã nắm quyền thao túng triều đình nhà Lý.[7]

Sau khi Trần Tự Khánh mất (1223), em họ là Trần Thủ Độ được phong chức Điện tiền chỉ huy sứ, cai quản lực lượng cấm vệ hoàng cung. Năm 1225, Lý Huệ Tông truyền ngôi cho con gái 7 tuổi là Chiêu Thánh, tức vua Lý Chiêu Hoàng. Trần Thủ Độ tiến cử Trần Cảnh làm Chi hậu chính chi ứng cục hầu hạ trong cung. Trần Cảnh trạc tuổi với Chiêu Hoàng, được bà rất quý mến, gần gũi và hay trêu đùa.[8] Trần Thủ Độ đã lợi dụng điều này để dàn xếp hôn nhân giữa Chiêu Hoàng với Trần Cảnh, sau đó ép Chiêu Hoàng truyền ngôi cho chồng.[9] Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư:[10]

Hoàng đế Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu (tức ngày 22 tháng 11 năm 1225), Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho Trần Cảnh.[10] Ngày mồng 1 tháng Chạp năm ấy (tức 31 tháng 12 năm 1225), Chiêu Hoàng trao hoàng bào cho Trần Cảnh ở điện Thiên An. Nhà Lý chấm dứt sau 215 năm tồn tại. Trần Thái Tông lên ngôi, tự xưng là Thiện Hoàng (善皇) và được quần thần tặng tôn hiệu Khải Thiên Lập Cực Chí Nhân Chương Hiếu Hoàng Đế.[10] Ông cử Trần Thủ Độ làm Quốc thượng phụ (国尚父), nắm toàn quyền chấp chính. Tuy nhiên, Thủ Độ đang bận đánh dẹp ở bên ngoài, lại tự nghĩ rằng mình vốn mù chữ, nên thuyết phục nhà vua mời cha là Trần Thừa ra làm nhiếp chính.[1][11] Đề xuất này được triều đình đồng ý, và vào tháng 10 âm lịch năm 1226, Thái Tông tôn Trần Thừa làm Thái thượng hoàng.[12] Còn Trần Thủ Độ được giữ chức Thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sư.[13]

Dưới triều đại của mình, Trần Thái Tông đã sử dụng các niên hiệu Kiến Trung (建中; tháng 2 âm lịch năm 1225 – tháng 7 âm lịch năm 1237), Thiên Ứng Chính Bình (天應政平; tháng 7 âm lịch năm 1232 – tháng 2 âm lịch năm 1251) và Nguyên Phong (元豐; tháng 2 âm lịch năm 1251 – tháng 2 âm lịch 1258).[14][15]

Chính sách cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trần Thủ Độ

Trong 9 năm đầu thời Trần Thái Tông, thượng hoàng Trần Thừa là người quyết định mọi việc chính sự. Sau khi thượng hoàng mất (1234), Trần Thủ Độ được phong chức Thống quốc thái sư, trở thành người có ảnh hưởng lớn nhất đến các quyết định của hoàng đế. Từ năm 1226 đến 1258, Thái Tông với sự hỗ trợ của cha và chú đã ban hành nhiều chính sách về kinh tế, giáo dục, văn hóa… để củng cố nền cai trị của nhà Trần:

  • Mở khoa thi Tam giáo (Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo) sau nhiều năm bị gián đoạn do loạn lạc cuối thời Lý. Định đặt luật pháp, soạn ra bộ Quốc triều hình luật gồm 20 quyển để định tội danh trong nước. Đáng tiếc bộ sách này đã bị thất truyền.
  • Lại mở rộng phía ngoài thành Đại La, bốn cửa thành giao cho quân Tứ sương thay phiên nhau canh giữ. Sửa đổi quan chức các phủ lộ. Đặt 2 viên An phủ sứAn phủ phó sứ. Trong thành dựng cung, điện, lầu, các và nhà lang vũ ở hai bên phía đông và tây. Bên tả là cung Thánh Từ (nơi Thái thượng hoàng ở), bên hữu là cung Quan Triều (nơi Hoàng đế ở). Chép công việc của quốc triều làm bộ Quốc triều thường lễ, 10 quyển.
  • Thủy lợi cũng được coi trọng. Năm 1231, sai hoạn quan Nguyễn Bang Cốc chỉ huy binh lính phủ mình đào vét kênh Trầm và kênh Hào[16] từ phủ Thanh Hóa đến địa giới phía nam Diễn Châu. Việc xong, thăng Bang Cốc làm Phụ Quốc thượng hầu.
  • Bắt đầu định luật hành chính. Chia đất nước làm 12 lộ. Đặt các chức quan cai trị. Làm đơn sổ hộ khẩu, con trai lớn gọi là đại hoàng nam, con trai nhỏ gọi là tiểu hoàng nam, 60 tuổi gọi là lão, già lắm thì gọi là long lão. Nhân đinh có ruộng đất thì nộp tiền thóc, người không có ruộng đất thì miễn cả. Có 1, 2 mẫu ruộng thì nộp 1 quan tiền, có 3, 3 mẫu thì nộp 2 quan tiền, có từ 5 mẫu trở lên thì nộp 3 quan tiền. Tô ruộng mỗi mẫu nộp 100 thăng thóc.
  • Bắt đầu thông thương nơi biên giới, để có thể giao thương với nhà TốngGiang Nam. Khi Nguyên Thái Tông mất, thì cửa ải thường không thông. Nếu có sứ mệnh thì chỉ có hai viên chánh phó sứ và hai bọn người đi theo, còn sản vật tiến cống có bao nhiêu thì gói bọc đưa đến địa đầu biên giới, quan địa phương nhận giữ và chuyển nộp. Sứ thần đến kinh, chỉ dâng biểu tâu thôi, các vật tiến cống không đến nơi cả được. Đến bây giờ, sai tướng chống giữ, đánh chiếm mới thông hiếu được với nước Tống.

Mỗi khi có dịp hạn hán, triều đình thường ban hành luật miễn thuế khóa, mở lương thóc rồi đại xá. Cho nên quốc lực mau chóng khôi phục, Đại Việt lại trở nên phồn thịnh như thời nhà Lý. Trong ĐVSKTT có ghi chép:..Bấy giờ quốc gia vô sự, nhân dân yên vui, người làm quan giữ mãi một chức, người ở quán, các 10 năm mới được xuất thân, người ở sảnh, cục 15 năm mới được xuất thân, chức tể tướng thì chọn người hiền năng trong tôn thất, có đạo đức, tài nghệ, thông hiểu thi thư thì cho làm.

Năm 1252, Thái Tông ông dẫn binh đi đánh Chiêm Thành. Khi nhà Lý suy, Chiêm Thành thường hay xua binh công phá ở vùng Nghệ An, dân chết vô số, nay vua lên ngôi mà không sang thông hiếu nên rất giận, dẫn quân đi đánh và bắt được nhiều thần thiếp, cướp được nhiều của cải. Uy danh Đại Việt đối với Chiêm Thành lại được thiết lập.

Phế lập Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lý Chiêu Hoàng

Lý hoàng hậu có thai sinh ra một Hoàng tử cho Thái Tông vào năm 1233, đặt tên là Trần Trịnh (陳鄭), nhưng không may lại chết yểu ngay khi sinh. Thái sư Trần Thủ Độ bèn bàn với Quốc mẫu, lập một người khác làm Hoàng hậu để có con nối dõi cho Thái Tông.

Năm 1237, do sức ép của Trần Thủ Độ, ông ra chỉ phế Lý hoàng hậu xuống làm Chiêu Thánh công chúa (昭聖公主), và lấy Thuận Thiên công chúa, phu nhân của anh trai ông là Hoài vương Trần Liễu, đương có thai 3 tháng, lập làm Kế Hoàng hậu.

Vì thế, Trần Liễu đem quân bản bộ ra sông Cái chống lại. Điều này làm cho Trần Cảnh khó xử và ông đã bỏ kinh đô lên núi Yên Tử, gặp sư Phù Vân vốn là bạn cũ. Thái sư Trần Thủ Độ phải đích thân lên núi mời, cộng với lời khuyên của sư Phù Vân, ông mới quay lại kinh đô. Hai tuần sau, Trần Liễu thế cô, không đối địch được, mới đi thuyền độc mộc giả làm người đánh cá, đến chỗ thuyền ngự của Trần Cảnh mà xin hàng. Trần Thủ Độ định chém Trần Liễu, nhưng Trần Cảnh đã lấy thân mình che đỡ cho Trần Liễu nên Trần Thủ Độ không làm gì được. Sau đó lấy đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang (nay thuộc Quảng Ninh) để ban cho Trần Liễu làm ấp thang mộc. Vì tên đất được phong, mà Trần Liễu có tên hiệu là Yên Sinh vương (安生王).

Vi hành qua Tống[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc này, Thái Tông đã trưởng thành, tự mình có thể đảm đương việc đất nước. Năm 1241, ông thân hành cầm quân đi đánh các trại Vĩnh An, Vĩnh Bình của nước Tống phía đường bộ, vượt qua châu Khâm, châu Liêm. Vào địa phận nước Tống, tự xưng là Trai Lang, bỏ thuyền lớn ở trong cõi, chỉ đi bằng các thuyền nhỏ Kim Phụng, Nhật Quang, Nguyệt Quang.

Người châu ấy không biết là ai, đều sợ hãi chạy trốn. Đến sau biết là Hoàng đế Đại Việt, mới chăng xích sắt giữa sông để chặn đường thủy. Khi trở về, ông sai nhổ lấy vài chục cái neo đem về, rồi ung dung đi tiếp đường cũ mà không sợ hãi lúng túng.

Triệu tập Nguyễn Hiền[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nguyễn Hiền

Nguyễn Hiền là trạng nguyên trẻ tuổi nhất trong nền khoa bảng Việt Nam. Ông mồ côi cha từ nhỏ, bà mẹ đã cho ông theo học sư cụ chùa Hà Dươnglàng Dương A. Năm 11 tuổi, Hiền đã nổi tiếng và được mệnh danh là "thần đồng", đã đỗ trạng nguyên tại khoa thi tháng 2 năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 (1247) thời vua Trần Thái Tông. Nhưng Thái Tông cho là Hiền còn quá nhỏ, cần về quê để học thêm.

Tương truyền sứ thần Trung Hoa đem một bài thơ ngụ ngôn sang thử nhân tài nước Nam. Bài thơ như sau:

Dịch là:

Quan gia và các quan trong triều không ai giải nghĩa được là gì. Một viên quan tâu với Thái Tông xin mời trạng nguyên Nguyễn Hiền đến để hỏi nghĩa. Các quan đến quê mời gặp lúc Nguyễn Hiền đang nô đùa với chúng bạn, Nguyễn Hiền nói với các quan:

"Trước đây vua nói ta chưa biết lễ, thì nay chính vua cũng không biết lễ. Không ai đi mời trạng nguyên về kinh lại không có lễ nghĩa.

Quan về tâu lại với vua, rồi đem đồ lễ và xe ngựa đến đón, Nguyễn Hiền mới chịu về kinh.

Về đến kinh đô, Thái Tông đưa bài thơ của sứ Tàu ra, trạng Hiền liền giải thích như sau:

Câu thứ nhất nghĩa là hai chữ "nhật" đều bằng đầu nhau. Câu thứ hai "Tứ sơn điên đảo sơn" là 4 chữ "sơn", ngược xuôi cũng đều là chữ "sơn" cả. Câu thứ ba "Lưỡng vương tranh nhất quốc", nghĩa là chữ "vương" hai vua tranh một nước. Câu thứ tư "Tứ khẩu tung hoành gian", có nghĩa là 4 chữ "khẩu" ngang dọc cũng đều thành chữ "khẩu" cả. Tóm lại tất cả 4 câu thơ chỉ nói đến chữ "Điền".

Nguyễn Hiền được giữ vào triều. Vua tuyển ông vào học tiếp Tam giáo chủ khoa, tức đạo Lão, đạo Phật, đạo Khổng và bổ nhiệm làm quan đến chức Thượng thư bộ Công.

Ngày 14 tháng 8 năm Bính Tý (1255), trạng nguyên Nguyễn Hiền lâm bệnh nặng và qua đời, thọ 21 tuổi. Thái Tông thương tiếc truy phong ông là Đại vương thành hoàng và tôn làm thần ở 32 nơi, trong đó có đình Lại Đàxã Đông Hội - huyện Đông Anh, Hà Nội ngày nay.

Chiến tranh với Mông Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Ở phương bắc, Nhà Tống phải rút xuống phía nam trước sự xâm lấn của nước Kim của người Nữ Chân. Phía tây bị nước Tây Hạ chia cắt. Tới đầu thế kỷ 13, người Mông Cổ ở phía bắc nước Kim thống nhất dưới quyền Thành Cát Tư Hãn, trở nên lớn mạnh. Mông Cổ đánh xuống phía nam, tiêu diệt Tây Hạ (1227) và Kim (1234). Mặc dù đã mở rộng bờ cõi bao la sang phía tây, diệt nhiều nước Tây Á và đánh sang châu Âu, người Mông Cổ tiếp tục tiến xuống phía nam để tiêu diệt Nam Tống.

Năm 1254, quân Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lý (Vân Nam ngày nay), muốn đánh chiếm Đại Việt để tạo thế "gọng kìm" bao vây Nam Tống. Các đoàn ngoại giao của Mông Cổ được phái sang Đại Việt đề nghị mở đường cho quân đội Mông Cổ đi qua để lên đất Tống. Nhưng các vua Trần không những từ chối lại còn cho bắt giam các nhà ngoại giao Mông Cổ.

Chiến tranh nổ ra vào năm 1258, khi Ngột Lương Hợp Thai cùng con trai là Aju đem 3 vạn quân Mông Cổ và 1,5 vạn quân Đại Lý tấn công Đại Việt. Quân Mông Cổ mau chóng giành được thắng lợi, chiếm được kinh đô Thăng Long, nhưng rồi cũng mau chóng bị quân Đại Việt đánh bật, đặc biệt tại trận Đông Bộ Đầu. Cuộc chiến này chỉ diễn ra trong vòng khoảng nửa tháng, cuối tháng 1 năm 1258.

Truyền ngôi và qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 2 năm 1258, ông truyền ngôi cho Thái tử Trần Hoảng, lui về làm Thái thượng hoàng, được tôn làm Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế (顯堯聖壽太上皇帝). Trần Hoảng lên ngôi tức Trần Thánh Tông. Lệ Thái thượng hoàng của nhà Trần từ đây thành truyền thống, thứ nhất tránh việc tranh giành ngôi báu giữa các con do đã sớm được định đoạt, thứ nữa là rèn luyện cho vị Hoàng đế mới cai trị đất nước càng sớm càng tốt.

Ngày mồng 1 tháng 4 năm Đinh Sửu (tức 5 tháng 5 năm 1277), Thái thượng hoàng mất tại Vạn Thọ điện, thọ 58 tuổi, táng tại Chiêu Lăng thuộc phủ Long Hưng (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình ngày nay).

Ông được dâng miếu hiệuThái Tông (太宗), thụy hiệuThống Thiên Ngự Cực Long Công Mậu Đức Hiển Hòa Hựu Thuận Thần Văn Thánh Vũ Nguyên Hiếu hoàng đế (統天御極隆功茂德顯和佑順神文聖武元孝皇帝).

Về việc qua đời của Thái Tông hoàng đế, sử sách ghi lại rằng:

Sử thần Ngô Sĩ Liên bàn về việc này như sau:

Điềm lành hay tai họa, chỉ có người thành tâm mới biết trước được. Vì thế, Đại truyện trong kinh dịch có nói: "Hình dung sự vật thì biết được vật thực, chiêm đoán sự vật thì mới biết được tương lai". Nhưng tất là phải sau khi đã suy xét trong lòng, nghiền ngẫm trong óc. Thái Tông biết được việc tương lai là chiêm đoán sự vật đấy. Nhưng nếu không phải là người lý sáng, lòng thành, mà cứ thấy việc là phỏng đoán mò để rồi khẳng định, thì chưa bao giờ không chuốc lấy tai họa về sau. Đó là chỗ khác nhau giữa cái học sấm ký thuật số với cái học thánh hiền chăng?.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm của Trần Thái Tông có:

  • Khóa hư lục (Tập bài giảng về lẽ hư vô).
  • Thiền tông chỉ nam ca (Bài ca về yếu chỉ của thiền tông), nhưng nay chỉ còn lại bài tựa.
  • Lục thì sám hối khoa nghi (Nghi thức sám hối vào sáu thời khắc trong một ngày).
  • Trần Thái Tông ngự tập (1 quyển), được Phan Huy Chú khen là "lời thơ thanh nhã, đáng đọc",[17] nhưng nay đã không còn, chỉ còn lại 2 bài chép trong Việt âm thi tậpToàn Việt thi lục.

Ngoài ra ông còn đề tựa kinh Kim Cương, viết một số bài bình luận về việc tọa thiền, việc niệm Phật và một bài răn về tửu sắc....[18]

Theo GS. Trần Văn Giáp thì ông còn viết:

  • Quốc triều thông chế.
  • Kiến trung thường lễ.[19]

Tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Về sau, Dụ Tông Quang Hiếu hoàng đế đã làm bài thơ, so sánh công đức của Trần Thái Tông so sánh với Đường Thái Tông:

裕宗賛太宗詩
...
唐越開基两太宗,
彼稱貞觀我元豐。
建成誅死安生在,
廟號雖同德不同。
Dụ Tông tán Thái Tông thi
...
Đường Việt khai cơ lưỡng Thái Tông,
Bỉ xưng Trinh Quán, ngã Nguyên Phong.
Kiến Thành tru tử, An Sinh tại,
Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng.
Thơ tán tụng của Dụ Tông đối với Thái Tông
...
Sáng nghiệp Đường Việt hai Thái Tông,
Kia xưng Trinh Quán, ta Nguyên Phong[20].
Kiến Thành bị giết, An Sinh sống[21],
Miếu hiệu như nhau, đức chẳng đồng.

Trần Thái Tông hiện được đúc tượng và thờ phụng ở các đền Trần (Thái Bình), đền Trần (Nam Định)đền Thái ViNinh Bình. Ngày nay ở nhiều thành phố Việt Nam có tên đường Trần Thái Tông như ở Hà Nộiphố Trần Thái Tôngquận Cầu Giấy. Các thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đà Lạt, thành phố Thái Bình, thành phố Nam Định, thành phố Hạ Long... đều có đường phố mang tên ông.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Một góc Đền Trần ở quê hương Nam Định
Đền Thái ViHành cung Vũ Lâm (Ninh Bình) nơi các vua Trần xuất gia
  1. Khâm Minh Đại vương Trần Liễu [欽明大王陳柳], anh trai.
  2. Khâm Thiên Đại vương Trần Nhật Hiệu [欽天大王陳日晈], em trai.
  3. Hoài Đức Vương Trần Bà Liệt [懷德王陳婆列], em trai.
  4. Thụy Bà Công chúa [瑞婆公主], chị gái, mẹ nuôi của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn.
  • Hậu phi:
  1. Lý Phế hậu (李廢后; 1218 - 1278), húy Thiên Hinh (天馨), con gái Lý Huệ TôngLinh Từ Quốc mẫu, sinh ta Hoàng thái tử Trần Trịnh. Năm 1237, bà bị giáng làm Chiêu Thánh công chúa (昭聖公主). Năm 1258, cải giá lấy Lê Phụ Trần.
  2. Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu Lý thị (顯慈順天皇后李氏; 1216 - 1248), húy Oanh (鶯), chị gái Lý Phế hậu. Năm 1237, bà bị ép bỏ Hoài vương Trần Liễu, trở thành Hoàng hậu của Thái Tông thay cho em gái là Lý hoàng hậu vừa bị phế truất. Có con với Trần Liễu là Vũ Thành Vương Trần Doãn, Tĩnh Quốc Đại vương Trần Quốc Khang, với Thái Tông là Trần Thánh Tông, Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải.
  3. Lệ Trinh Nguyên phi Lê thị (丽贞元妃黎氏; 1219 - 1290), húy Tuyết (雪)[22]; thuộc gia tộc Thuận Từ hoàng hậu; người xã Mai Sơn (nay là huyện Ý Yên, Nam Định), không con. Năm 1255, bà xin Thái Tông cho dựng hành cung Lan Hoa tại làng Phù Hoa, hành đô Thiên Trường.
  4. Huệ Túc Phu nhân Hoàng thị (惠肅夫人黃氏); con gái Tống triều di thần Hoàng Bính.
  5. Nhiều phi tần không rõ danh tính, Trần Ích Tắc, Trần Nhật Duật, An Tư công chúa đều sinh ra sau khi Hiển Từ Hoàng hậu qua đời (1248).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Sử sách không ghi chép về số Hoàng tử, Hoàng nữ của Trần Thái Tông; một số được đề cập:

  • Hoàng tử:
  1. Hoàng thái tử Trần Trịnh [皇太子陳鄭; 1233],[23], chết yểu, mẹ là Lý Phế hậu.
  2. Tĩnh Quốc Đại vương Trần Quốc Khang [靖國大王陳國康],[23] thực tế là con của Khâm Minh đại vương Trần LiễuHiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu.
  3. Hoàng thái tử Trần Hoảng [陳晃], tức Thánh Tông Tuyên Hiếu hoàng đế [聖宗宣孝皇帝], mẹ là Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu.
  4. Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải [昭明大王陳光啟], mẹ là Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu.
  5. Bình Nguyên vương Trần Nhật Vĩnh [平原王陳日永].
  6. Vũ Uy vương Trần Duy [武威王陈維].
  7. Chiêu Đạo vương Trần Quang Xưởng [昭道王陈光昶], anh em cùng mẹ với Chiêu Quốc vương.
  8. Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc [昭國王陳益稷].
  9. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật [昭文王陳日燏].
  10. Minh Hiến vương Trần Uất [明宪王陈蔚].[24].
  • Hoàng nữ:
  1. Thiên Thành Công chúa [天城公主] (?)
  2. Thiều Dương công chúa [韶陽公主; ? - 4/1277], húy là Thúy, lấy Thượng vị Văn Hưng hầu, mất ngay khi Trần Thái Tông qua đời.
  3. Thụy Bảo công chúa [瑞寶公主], chị em cùng mẹ với Thiều Dương Công chúa, lấy Uy Văn vương Toại, sau lấy Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng.
  4. An Tư công chúa [安姿公主], lấy Trấn Nam Vương Thoát Hoan.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 157-158.
  2. ^ a ă Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 60-72.
  3. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 51-52.
  4. ^ Nguyễn Lang (1999). “Chương IX: Nền tảng của Phật giáo đời Trần”. Việt Nam Phật giáo sử luận 1. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học. Truy cập 10 tháng 12 năm 2016. 
  5. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 159.
  6. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 185.
  7. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 155-156.
  8. ^ Ngô Thì Sĩ 2009, tr. 66.
  9. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 187.
  10. ^ a ă â Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 157.
  11. ^ Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 66.
  12. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 158-160.
  13. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 189.
  14. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 158-163.
  15. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 170-174.
  16. ^ chú là tên hai con kênh, thuộc huyện Ngọc Sơn (nay là tỉnh Gia), tỉnh Thanh Hóa.
  17. ^ Trích trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, phần "Văn tịch chí".
  18. ^ Theo GS. Nguyễn Huệ Chi, mục từ "Trần Cảnh" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004, tr. 1775-1776.
  19. ^ Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2003, tr. 845.
  20. ^ Niên hiệu của Đường Thái Tông là Trinh Quán (貞觀). Còn niên hiệu nổi tiếng của Trần Thái Tông là Nguyên Phong (元豐), ý của Dụ Tông hoàng đế là kỷ nguyên thời Trần Thái Tông thì nước Việt rực rỡ như nhà Đường thời kỳ Trinh Quán
  21. ^ Kiến ThànhLý Kiến Thành, bị Đường Thái Tông giết hại trong Sự biến Huyền Vũ môn
  22. ^ Theo http://thanhpho.namdinh.gov.vn/front-end/index.asp?website_id=39&menu_id=2219&parent_menu_id=2219&article_id=16630&fuseaction=DISPLAY_SINGLE_ARTICLE&hide_menu=0
  23. ^ a ă Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ, Quyển V, trang 7b
  24. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ, Quyển VI, xem năm 1312

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]