Trần Thái Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Thái Tông
陳太宗
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Hoàng đế Đại Việt
Trị vì 12251258
Tiền nhiệm Sáng lập triều đại
Nhiếp chính Trần Thừa
Trần Thủ Độ
Kế nhiệm Trần Thánh Tông
Thông tin chung
Vợ Chiêu Thánh hoàng hậu
Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu
Niên hiệu

  • Kiến Trung (建中; 1225 -1232)
  • Thiên Ứng Chính Bình (天應政平; 1232 - 1251)
  • Nguyên Phong (元豐; 1251 - 1258)
Thụy hiệu Thống Thiên Ngự Cực Long Công Mậu Đức Hiển Hòa Hựu Thuận Thần Văn Thánh Vũ Nguyên Hiếu Hoàng đế
(統天御極隆功茂德顯和佑順神文聖武元孝皇帝)
Miếu hiệu Thái Tông (太宗)
Triều đại Nhà Trần
Thân phụ Trần Thừa
Thân mẫu Lê thị
Sinh 9 tháng 7 năm 1218
Hương Tức Mặc (nay thuộc Nam Định)
Mất 5 tháng 5 năm 1277 (58 tuổi)
Điện Vạn Thọ, Thăng Long
An táng Chiêu Lăng (昭陵)
Tôn giáo Phật giáo

Trần Thái Tông (chữ Hán: 陳太宗; 9 tháng 7 năm 12185 tháng 5 năm 1277), là vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi từ năm 1225 tới năm 1258, sau đó làm Thái thượng hoàng cho đến khi qua đời.

Trần Cảnh sinh ra vào thời Lý và là cháu gọi quyền thần Trần Thủ Độ bằng chú họ. Năm 1225, Trần Thủ Độ buộc nữ hoàng Lý Chiêu Hoàng (7 tuổi) cưới và nhường ngôi cho Trần Cảnh, tức vua Trần Thái Tông. Thái Tông phong Chiêu Hoàng làm Chiêu Thánh hoàng hậu.[1] 12 năm sau, Thủ Độ ép Thái Tông phế Chiêu Thánh vì không sinh được người kế vị, và lập chị Chiêu Thánh là Thuận Thiên lên thay. Thuận Thiên vốn là vợ của anh Thái Tông là Trần Liễu, và khi ấy đang có thai với Trần Liễu 3 tháng. Việc này đã khiến Trần Liễu làm loạn ở sông Cái, nhưng cuối cùng bị thất thế và được Thái Tông tha chết.[2]

Cùng với cha - thượng hoàng Trần Thừa và chú - thái sư Trần Thủ Độ, Thái Tông đã tiến hành cải tổ luật pháp, hành chính, đồng thời khuyến khích nông, thương nghiệp và phát triển nền giáo dục Tam giáo đồng nguyên. Ông cũng xây dựng quân đội mạnh và ngăn chặn quân Chiêm Thành cướp phá mạn nam.[2] Trong thời gian đó, trên hướng bắc Đại Việt, dân tộc Mông Cổ đã trỗi dậy thành một đế quốc quân sự lớn. Năm 1258, tướng Mông Cổ Uriyangqatai đem quân tấn công Đại Việt. Trần Thái Tông trực tiếp lãnh đạo kháng chiến và cuối cùng đã đánh bại người Mông Cổ.[3] Ông còn là một thiền sư Phật giáo, đã truyền dạy kinh nghiệm tu hành của mình qua các tác phẩm Khóa hư lục, Thiền tông chỉ nam, Chú giải Kinh Kim cương Tam muộiLục thời sám hối khoa nghi. Ông được xem là người có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành Thiền phái Trúc Lâm – giáo hội thống nhất đầu tiên của đạo Phật tại Việt Nam – vào cuối thế kỷ 13.[4]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Thái Tông nguyên tên thật là Trần Bồ (陳蒲), sau đổi thành Trần Cảnh (陳煚), các sách sử Trung Quốc gọi là Trần Nhật Cảnh (陳日煚) hoặc Trần Quang Bính (陳光昺)[a], quê ở hương Tức Mặc (nay là huyện Mỹ Lộc, Nam Định).[5] Ông sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần, niên hiệu Kiến Gia thứ 8 thời Lý Huệ Tông (tức ngày 9 tháng 7 năm 1218), là con trai thứ hai của quan Nội thị phán thủ[6] Trần Thừa. Mẹ ông là người họ Lê. Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư mô tả ông có ngoại hình "mũi cao, mặt rộng, giống như Hán Cao Tổ".[5] Khi Trần Cảnh sinh ra, Trần Thừa cùng em là Thái úy Trần Tự Khánh đã nắm quyền thao túng triều đình nhà Lý.[7]

Sau khi Trần Tự Khánh mất (1223), em họ là Trần Thủ Độ được phong chức Điện tiền chỉ huy sứ, cai quản lực lượng cấm vệ hoàng cung. Năm 1225, Lý Huệ Tông truyền ngôi cho con gái 7 tuổi là Chiêu Thánh, tức vua Lý Chiêu Hoàng. Trần Thủ Độ tiến cử Trần Cảnh làm Chi hậu chính chi ứng cục hầu hạ trong cung. Trần Cảnh trạc tuổi với Chiêu Hoàng, được bà rất quý mến, gần gũi và hay trêu đùa.[8] Trần Thủ Độ đã lợi dụng điều này để dàn xếp hôn nhân giữa Chiêu Hoàng với Trần Cảnh, sau đó ép Chiêu Hoàng truyền ngôi cho chồng.[9] Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư kể rằng:[10]

Hoàng đế Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu (tức ngày 22 tháng 11 năm 1225), Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho Trần Cảnh.[10] Ngày mồng 1 tháng 12 năm ấy (tức 31 tháng 12 năm 1225), Chiêu Hoàng trao hoàng bào cho Trần Cảnh ở điện Thiên An. Nhà Lý chấm dứt sau 215 năm tồn tại. Trần Thái Tông lên ngôi, tự xưng là Thiện Hoàng (善皇), sau đổi thành Văn Hoàng (文皇) và được quần thần tặng tôn hiệu Khải Thiên Lập Cực Chí Nhân Chương Hiếu hoàng đế[10].

Ông cử Trần Thủ Độ làm Quốc thượng phụ (国尚父), nắm toàn quyền chấp chính. Trần Thủ Độ đang bận đánh dẹp ở bên ngoài, lại tự nghĩ rằng mình vốn mù chữ, nên thuyết phục nhà vua mời cha là Trần Thừa ra làm nhiếp chính.[1][11] Đề xuất này được triều đình đồng ý, và vào tháng 10 âm lịch năm 1226, Thái Tông tôn Trần Thừa làm Thái thượng hoàng.[12] Còn Trần Thủ Độ được giữ chức Thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sư.[13]

Dưới triều đại của mình, Trần Thái Tông đã sử dụng các niên hiệu Kiến Trung (建中; tháng 2 âm lịch năm 1225 – tháng 7 âm lịch năm 1237), Thiên Ứng Chính Bình (天應政平; tháng 7 âm lịch năm 1232 – tháng 2 âm lịch năm 1251) và Nguyên Phong (元豐; tháng 2 âm lịch năm 1251 – tháng 2 âm lịch 1258).[14][15]

Chính sách trị nước[sửa | sửa mã nguồn]

Trong 9 năm đầu thời vua Thái Tông, thượng hoàng Trần Thừa nắm quyền cai quản chính sự. Sau khi thượng hoàng mất (1234), Trần Thủ Độ được phong chức Thống quốc thái sư, trở thành người có ảnh hưởng lớn nhất đến các chính sách của hoàng đế.[16][17] Từ năm 1226 đến 1258, với sự giúp đỡ của thượng hoàng, thái sư và các đại thần, Trần Thái Tông đã ban hành nhiều biện pháp về kinh tế, nông nghiệp, giáo dục, văn hóa và luật pháp để củng cố nền cai trị của triều Trần.

Hành chính và nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 âm lịch năm 1242, nhà vua và Trần Thủ Độ chia Đại Việt làm 12 lộ; mỗi lộ gồm nhiều xã hợp thành. Triều đình đặt ra 2 chức quan văn là An phủ chánh, phó sứ trấn thủ các lộ. Dưới An phủ sứ có các chức đại tư xã (mang hàm từ ngũ phẩm trở lên), tiểu tư xã (hàm từ lục phẩm trở xuống) cai quản 3-4 xã; mỗi xã do quan xã chánh và xã giám quản lý.[18][19]

Đối với kinh đô, năm 1231, Trần Thái Tông chia Thăng Long làm 61 phường. Ông còn lập Ty Bình bạc làm cơ quan quản lý hành chính của kinh sư. Đồng thời, Thái Tông tu sửa vòng thành ngoài cùng của Thăng Long (thành Đại La) và giao việc canh gác 4 cửa thành cho quân Tứ sương. Bên trong Hoàng thành, nhà vua xây thêm nhiều cung điện mới ở hướng đông và hướng tây, tiêu biểu là cung Thánh Từ (nơi ở của thượng hoàng) và cung Quan triều (nơi ở của Hoàng đế).[20][21]

Tháng 8 âm lịch năm 1228, Thái Tông cho kiểm tra dân đinh tại Thanh Hóa.[22] Ông và Trần Thủ Độ duy trì chính sách của triều Lý, sai các quan địa phương lập sổ trường tịch để thống kê số lượng trai tráng, người già, người bệnh tật, người đi phiêu bạt, người đến định cư, người đã làm quan văn, quan võ, binh sĩ, thư lại ở mỗi làng.[23][19] Trong sổ trường tịch, bình dân được chia thành các thể loại như tiểu hoàng nam (nam giới 18-20 tuổi), đại hoàng nam (nam giới trên 20 tuổi), lão (người già 60 tuổi), long lão (người hơn 60 tuổi).[18] Chính sách này giúp triều đình nắm bắt dân số, tiện cho việc quản lý nhân khẩu, thuế má, tuyển mộ lính tráng và động viên cả nước chống ngoại xâm.[19]

Luật pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 âm lịch năm 1230, vua Thái Tông sai nghiên cứu luật pháp thời Lý, rồi soạn ra bộ luật Quốc triều thông chế gồm 20 quyển.[20] Ngày nay sách này đã bị thất truyền.[24] Tuy nhiên, theo ghi nhận trong sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, luật nhà Trần quy định các tội phạm trộm, cướp phải xăm lên trán 2 chữ "phạm đạo" và bồi thường cho nạn nhân; người nào tái phạm sẽ bị cắt tay, cắt chân hoặc cho voi giày.[25] Đại Việt Sử ký Toàn thư cũng chép việc nhà vua đề xuất hình phạt đối với người bị tội khổ sai, theo đó phạm nhân tội nhẹ hàng năm phải cày 3 mẫu ruộng công tại xã Nhật Cảo (nay thuộc Thái Bình) và dâng 300 thăng thóc; còn phạm nhân tội nhẹ phải đi nhổ cỏ tại Phượng Thành (Thăng Long) dưới sự giám sát của quân Tứ sương.[20][26]

Văn hóa-giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1227, vua Thái Tông khôi phục lệ hội thề đền Đồng Cổ (nay thuộc làng Yên Thái, Hà Nội) từ thời Lý. Theo đó ngày 4 tháng 4 âm lịch mỗi năm, tể tướng cùng bá quan phải tập trung trước đền thần Đồng Cổ để tuyên thệ rằng: "Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái thề này, thần minh giết chết". Những viên quan không dự phải đóng phạt 5 quan tiền.[22]

Trần Thái Tông còn là một cư sĩ mộ đạo của Phật giáo.[27] Năm 1231, ông và thượng hoàng hạ chiếu cho dựng tượng thờ Phật ở các quán trạm trong nước.[28] Sử gia Ngô Thì Sĩ trong sách Việt sử tiêu án đã lý giải nguồn gốc của việc này rằng: "Tục nước ta: vì nắng bức, nên lập ra nhiều đình quán ở dọc đường cho hành khách nghỉ ngơi, tránh nắng. Khi Vua còn hàn vi, thường vào nghỉ ở một cái đình, có thày tăng bảo rằng: "Cậu bé này ngày sau phải đại quý", nói rồi, không biết thày tăng ấy đi đâu mất, cho nên đến khi bấy giờ phàm chỗ nào có quán trạm đều tô vẽ tượng Phật". Nhà vua cũng sai tu sửa chùa Diên Hựu vào năm 1249.[26][29]

Mặc dù tôn sùng đạo Phật, Trần Thái Tông đã có nhiều đóng góp cho sự lớn mạnh của nền giáo dục Nho giáo. Vào các năm 1232 và 1239, ông tổ chức thi Thái học sinh để tuyển nho sĩ giỏi ra giúp nước. Những người thi đỗ được phân theo 3 hạng trong tam giáp (đệ nhất giáp, đệ nhị giáp và đệ tam giáp); chẳng hạn, kỳ thi năm 1232 có Trương Hanh và Lưu Diễm đỗ đầu, trúng đệ nhất giáp; Đặng Diễn và Trịnh Phẫu trúng đệ nhị giáp; Trần Chu Phổ trúng đệ tam giáo.[29][30] Đến năm 1247, Thái Tông đặt lệ thi lấy Tam khôi gồm 3 người đỗ đầu là trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa (trên thái học sinh) và quy định cứ 7 năm mở 1 khoa thi. Tháng 2 âm lịch năm 1247, nhà vua mở khoa thi Tam khôi đầu tiên, lấy được trạng nguyên Nguyễn Hiền, bảng nhãn Lê Văn Hưu, thám hoa Đặng Ma La cùng 48 thái học sinh.[29] Mùa xuân nắm 256, Thái Tông mở khoa thi Tam khôi thứ hai, đồng thời đặt lệ lấy 2 trạng nguyên: 1 kinh trạng nguyên dành cho các lộ phía bắc và 1 trại trạng nguyên dành cho Thanh HóaNghệ An để khuyến khích việc học ở phương nam. Khoa này chấm đỗ 47 người.[31]

Bên cạnh việc tiến hành các khoa thi Nho học, Trần Thái Tông cũng tổ chức thi Tam giáo vào tháng 8 âm lịch năm 1247, để chọn người am hiểu 3 đạo Phật, Nho và Lão làm quan.[32][33] Ngô Thì Sĩ đã nhận xét về nền khoa cử thời vua Thái Tông rằng: "điều lệ khoa thi ngày thêm đầy đủ, ân điển ngày một long trọng, ở đó mới sản xuất lắm nhân tài, so với triều Lý thịnh hơn nhiều.".[34]

Tháng 6 âm lịch năm 1253, Trần Thái Tông sai dựng Quốc học viện làm nơi giảng kinh sách Nho giáo. Ông còn cho xây tượng thờ Chu Công Đán, Khổng Tử, Mạnh Tử và Thất thập nhị hiền (72 môn sinh của Khổng Tử).[35][36]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Để cải thiện nền kinh tế Đại Việt vốn đã suy thoái từ cuối thời Lý, vua Thái Tông ban hành một loại thuế mới (thuế thân), được đánh dựa trên diện tích ruộng của mỗi người dân.[37][38] Mức thuế thân được quy định là 3 quan tiền đối với người có 1-2 mẫu ruộng (tức khoảng từ 3600 đến 7200 m2), 2 quan đối với người có 3-4 mẫu, và 3 quan đối với người có ít nhất 5 mẫu. Triều đình còn thu thuế ruộng ở các mức độ khác nhau tùy theo phân loại ruộng (ruộng tư nhân; ruộng công - gồm ruộng quốc khốruộng thác điền). Thuế các loại ruộng thường được tính bằng thóc, chẳng hạn mức thuế ruộng tư nhân là 100 thăng thóc trên một mẫu.[36] Ngoài ra, sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục còn viện dẫn An Nam tức sự (tập thơ của sứ giả nhà Nguyên Trần Phu mô tả chuyển đi Đại Việt năm 1293) cho biết triều Trần áp thuế với trầu cau, dầu thơm và mọi mặt hàng rau quả, thủy sản.[37]

Cuối năm 1226, triều đình Thái Tông quy định "cho dân gian dùng tiễn "tỉnh bách" mỗi tiễn là 69 đỗng. Tiền nộp cho nhà nước (tiễn "thượng cung") thì mỗi tiễn là 70 đồng" (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư).[39] Đây được xem là lần đầu tiên sử sách Việt Nam ghi lại quan hệ giữa các đơn vị tiền tệ.[40]

Nhà vua và Trần Thủ Độ rất chú trọng đến thủy lợi-nông nghiệp. Mùa xuân năm 1231, ông sai hoạn quan Nguyễn Bang Cốc đôn đốc quân bản phủ đào kênh Trầm, kênh Hào từ Thanh Hóa tới Diễn Châu. Bang Cốc đã hoàn tất công việc và được Thái Tông phong tước Phụ Quốc thượng hầu.[41] Năm 1248, Thái Tông sai đào sông Mã, sông Lễ và đục núi Chiếu Bạch ở Thanh Hóa, tạo thành một con kênh chạy dài theo hướng bắc nam, dài hơn 8 km từ sông Hoạt (chỗ sát Cầu Cừ) đến sông Lèn (làng Bình Lâm) nhằm tiêu nước từ Tống Giang (Hà Trung, Thanh Hóa). Đến năm 1256, nhà vua sai vét sông Tô Lịch để hỗ trợ giao thông, đồng thời tạo nguồn tưới tiêu cho các địa phương quanh kinh thành.[42]

Công tác đê điều đã đạt được bước phát triển mới trong thời Trần Thái Tông. Trước đây nhà Lý đã quan tâm đắp đê nhưng chưa có quy hoạch quy mô, nên nhiều lần nước vẫn tràn vào kinh thành. Năm 1238 và 1243, nước lại tràn vào cung điện. Tháng 3 âm lịch năm 1248, Thái Tông truyền cho các lộ đắp đê suốt từ đầu nguồn ra tới bờ biển để chống nước lũ dâng tràn, gọi là đê đỉnh nhĩ (quai vạc). Ông lập ra cơ quan Hà đê, có chánh sứ, phó sứ phụ trách đê điều trong cả nước.[33] Nếu có đoạn đê lấn vào ruộng tư nhân, triều đình sẽ đền tiền cho chủ ruộng.[43]

Mỗi khi trong nước có hạn hán, triều đình thường ban hành luật miễn thuế khóa, mở lương thóc rồi đại xá. Các chính sách kinh tế-xã hội của thượng hoàng Trần Thừa, thái sư Trần Thủ Độ và vua Trần Thái Tông đã khiến quốc lực mau chóng khôi phục, Đại Việt lại trở nên phồn thịnh và thái bình. Toàn thư có mô tả tình hình Địa Việt thời Trần Thái Tông là "quốc gia vô sự, nhân dân yên vui".[29][44][45]

Đánh dẹp ở phía bắc và Chiêm Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Thái Tông cũng quan tâm đến việc kén chọn tinh binh, xây dựng quân đội hùng mạnh để bảo vệ quốc gia.[18][2][46] Tháng 8 âm lịch năm 1253, ông thành lập Giảng Võ đường để huấn luyện cho quan võ.[47][48] Sử gia Ngô Thì Sĩ đã khen ngợi chính sách xem trọng văn, võ của vua sáng lập triều Trần:[2]

Dưới thời Thái Tông, một số cuộc xung đột đã xảy ra trên biên giới phía Bắc và Nam của Đại Việt. Ở phía Bắc, Nam Tống đang chịu sức ép tấn công từ đế quốc Mông Cổ. Do vậy, quan lại của Tống kiểm soát biên giới phía Nam rất lỏng lẻo, tạo điều kiện cho các toán cướp người Mán liên tục hoành hành. Điều này đã làm cản trở cho việc đi lại giữa Đại Việt với Tống.[49] Sách Cương mục còn cho biết: "Sứ bộ nhà Trần phái sang bên Tống, được đi độ bốn người, chỉ được đem giấy tờ đi theo, còn lễ cống thì niêm phong lại đưa đến biên giới, do quan địa phương chuyển đệ về triều, nhưng cũng không lần nào đệ về được đầy đủ."[50]

Tháng 10 âm lịch năm 1240, dân Thổ Mán từ nước Tống kéo sang Đại Việt, cướp phá Lạng Giang. Thái Tông cử thị thần Bùi Khâm lên biên giới giải quyết tình hình.[51]

Mùa đông năm 1241, người dân tộc nước Tống lại quấy phá biên giới Đại Việt. Thái Tông sai đốc tướng Phạm Kính Ân mang quân dẹp loạn, phá được quân Thổ, Mán.[51]

Cuối năm 1241, Thái Tông thân chinh đánh vào đất Tống, hòng truy diệt các toán cướp Thổ Mán và nối lại đường giao thông giữa Đại Việt với Tống. Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư đã thuật lại cuộc hành quân này rằng:[18]

"Vua [Thái Tông] thân hành cầm quân đi đánh các trại Vĩnh An, Vĩnh Bình của nước Tống phía đường bộ, vượt qua châu Khâm, châu Liêm, tự xưng là Trai Lang, bỏ thuyền lớn ở trong cõi, chỉ đi bằng các thuyền nhỏ Kim Phụng, Nhật Quang, Nguyệt Quang. Người châu ấy không biết là vua, đều sợ hãi chạy trốn. Đến sau biết là vua mới chăng xích sắt giữa sông để chặn đường thủy. Khi trở về, vua sai nhổ lấy vài chục cái neo đem về."

Sau khi về nước, tháng 4 âm lịch năm 1242, vua Thái Tông lại sai Thân vệ tướng quân Trần Khuê Kình đưa quân lên đóng tại biên ải Việt-Tống. Trần Khuê Kính thúc quân đánh chiếm lộ Bằng Tường (Trung Quốc), từ đây các tuyến giao thông giữa Đại Việt với Tống hoàn toàn được khôi phục.[50]

Ở phía Nam, kể từ cuối thời Lý, Chiêm Thành thường xua quân cướp phá vùng ven biển của Đại Việt. Sau khi nhà Trần thành lập, vua Thái Tông đã sai sứ sang thông hiếu với Chiêm. Người Chiêm một mặt dâng triều cống, mặt khác cho quân đánh phá Đại Việt và đòi vua Trần trả lại lãnh thổ bị mất năm 1069.[35][46] Để chấm dứt tình trạng đấy, tháng 1 âm lịch năm 1252, Thái Tông thân chinh cầm quân tấn công Chiêm Thành. Quân Đại Việt đã giành chiến thắng lớn,[52] bắt được vương hậu Bố Da La cùng nhiều thê thiếp, quân dân của vua Chiêm. Tháng 12 âm lịch năm 1252, vua Thái Tông đem quân về nước.[35] Thất bại này khiến Chiêm Thành phải chính thức thần phục nhà Trần; sử Việt và thư từ ngoại giao giữa vua Trần với vua Mông Cổ đều xác định từ năm 1252 đến năm 1285, Chiêm Thành đã nhiều lần sai sứ sang triều cống (thậm chí vào năm 1279, nhiều sứ thần Chiêm còn xin ở lại làm quan cho vua Trần), và không gây một cuộc chiến nào với Đại Việt.[53][54][55][56][57]

Phế lập Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa xuân năm 1226, sau khi được vợ là Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi, Trần Thái Tông đã phong Chiêu Hoàng làm Chiêu Thánh hoàng hậu.[5] Chiêu Thánh có thai sinh ra một hoàng tử cho Thái Tông vào năm 1233, đặt tên là Trần Trịnh (陳鄭), nhưng không may lại chết yểu ngay khi sinh.[16] Thái sư Trần Thủ Độ cùng vợ là Thiên Cực công chúa bèn tính chuyện lập một người khác làm hoàng hậu, để đảm bảo có con nối dõi cho Thái Tông.

Khoảng năm 1236-1237, thấy Thuận Thiên công chúa (chị của Chiêu Thánh và cũng là vợ Hoài vương Trần Liễu - anh Thái Tông) đang mang thai Trần Quốc Khang 3 tháng, Trần Thủ Độ ép nhà vua phế Chiêu Thánh xuống làm công chúa, rồi lấy Thuận Thiên làm hoàng hậu mới. Trần Liễu không chịu mất vợ, bèn tập hợp binh lực nổi dậy trên sông Cái.[58] Điều này làm cho Thái Tông khó xử, và vào một đêm ông bí mật rời Thăng Long lên núi Yên Tử, xin tu theo thiền sư Đạo Viên. Khi thiền sư hỏi ông có nhu cầu gì mà lên núi, nhà vua bày tỏ: "Trẫm còn thơ ấu vội mất hai thân, bơ vơ đứng trên sĩ dân không chỗ nương tựa. Lại nghĩ sự nghiệp các bậc đế vương đời trước, thạnh suy không thường, cho nên Trẫm đến núi này chỉ cầu làm Phật, chớ không cầu gì khác". Sư Đạo Viên trả lời:[59]

"Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng mà biết gọi là Chân Phật. Nay Bệ hạ nếu ngộ tâm này thì tức khắc thành Phật, không nhọc tìm cầu bên ngoài."

Sau đó, Trần Thủ Độ đưa các quan lên núi Yên Tử năn nỉ Thái Tông trở lại kinh đô. Sư Đạo Viên cũng khuyên rằng:[27][59]

"Phàm làm đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón Bệ hạ trở về, Bệ hạ không về sao được. Song phần nghiên cứu nội điển, mong Bệ hạ đừng xao lãng."

Nghe lời sư Đạo Viên và Trần Thủ Độ, Trần Thái Tông cùng bách quan trở về kinh đô, tiếp tục trị nước. Hai tuần sau, Trần Liễu nhận thấy quân mình yếu thế và không thể chống lại triều đình. Trần Liễu chờ lúc Thái Tông đi thuyền qua sông Cái, rồi Liễu cải trang làm người đánh cá, đi thuyền độc mộc đến chỗ thuyền ngự để đầu hàng. Trần Thủ Độ rút gương toan chém Trần Liễu, nhưng Thái Tông lấy thân mình bảo vệ cho Trần Liễu, rồi khuyên Trần Thủ Độ thu quân. Nhà vua còn cấp cho Trần Liễu đất thái ấp ở Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên HưngYên Bang (nay thuộc Quảng Ninh), ngoài ra tặng Liễu tước Yên Sinh vương (安生王). Các sử gia như Ngô Sĩ LiênPhan Phu Tiên đã chỉ trích Thái Tông là "cướp vợ của anh" và quy cho ông là đặt tiền đề cho các hành vi trái "tam cương ngủ thường" của vua tôi triều Trần:[60][58]

Cũng sau lần gặp thiền sư Đạo Viên ở Yên Tử năm 1236, Trần Thái Tông bắt đầu chuyên tâm tu tập theo Thiền tông Phật giáo. Mặc dù bận việc coi chính sự và học Khổng giáo, ông vẫn dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu, áp dụng các triết lý trong kinh điển Đại thừa cùng những giáo huấn của Tổ sư Thiền. Nhà vua tu học với sự hỗ trợ của các thiền sư như Đạo Viên ở Yên Tử, Ứng Thuận, Tức Lực và Đại Đăng ở Thăng Long, cùng các vị tăng người Tống là Đức Thành, Thiên Phong.[27] Theo cuốn Thánh đăng ngữ lục (một tác phẩm khuyết danh về việc tu học Thiền tông của 5 vua đầu thời Trần, được viết vào khoảng thế kỷ 14), Thái Tông đọc kinh Kim Cương đến câu "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" thì ngộ đạo.[61] Sau đó, khoảng năm 1247-1252, ông viết sách Thiền tông chỉ nam ca (Bài ca về yếu chỉ của Thiền tông) để truyền bá cho hậu sinh về kinh nghiệm giác ngộ của mình. Thiền sư Đạo Viên khi đọc được tác phẩm này đã nhận xét: "Tâm của chư Phật ở cả trong này", và khuyến khích nhà vua lưu hành rộng rãi trong nước.[27][59] Ngoài ra, Thái Tông còn dựng chùa Tư Phúc trong nội đô Thăng Long, để trao đổi thêm kiến thức với các cao tăng, đồng thời giảng dạy Thiền học cho lớp hậu sinh. Thánh đăng ngữ lục kể rằng "hằng ngày vua cúng trai tăng cho hơn 500 vị, độ làm đệ tử hơn 30 người".[61]

Kháng chiến chống Mông Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi Đại Việt hưng thịnh dưới triều Trần, ở phương Bắc, nhà Tống phải rút xuống phía nam trước sự xâm lấn từ nước Kim của người Nữ Chân. Phía tây bị nước Tây Hạ chia cắt. Tới đầu thế kỷ 13, người Mông Cổ ở phía bắc nước Kim thống nhất dưới quyền Thành Cát Tư Hãn, trở nên lớn mạnh. Mông Cổ đánh xuống phía nam, tiêu diệt Tây Hạ (1227) và Kim (1234). Mặc dù đã mở rộng bờ cõi bao la sang phía tây, diệt nhiều nước Tây Á và đánh sang châu Âu, người Mông Cổ tiếp tục tiến xuống phía nam để tiêu diệt Nam Tống. Trước thế tấn công của Mông Cổ, tháng 2 âm lịch năm 1257, thổ quan châu Tư Minh của Tống là Hoàng Bính đem gia quyến sang nội thuộc Đại Việt. Trần Thái Tông nhận, lấy con gái Bính là Huệ Túc phu nhân.[15]

Năm 1253, quân Mông Cổ do thái soái Uriyangqatai chỉ huy chinh phục nước Đại Lý (Vân Nam ngày nay). Sau đó, năm 1257, khắc hãn Mông Cổ là Mông Kha lên kế hoạch sai Uriyangqatai đem quân từ Đại Lý xuống chiếm Đại Việt, hòng tạo thế "gọng kìm" đánh quặt lên các châu Ung (nay là Nam Ninh, Quảng Tây) và Quế (nay là Quế Lâm, Quảng Tây) của Tống.[62][63] Uriyangqatai đã 3 lần gửi sứ sang đòi Đại Việt thần phục; nhưng vua Thái Tông không những từ chối mà còn bắt các sứ giả giam vào ngục. Thái Tông cũng khẩn trương chuẩn bị kháng chiến; theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, tháng 9 âm lịch năm 1257, ông sai Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn huy động quân thủy bộ trấn thủ biên giới, sau đó, tháng 11 âm lịch năm 1257, ông kêu gọi quân dân cả nước sửa soạn khí giới. Các vương hầu, tôn thất cũng chiêu mộ gia nô, dân binh, thổ binh… làm lực lượng cần vương, phối hợp chiến đấu với quân chính quy của triều đình.[15][64][63]

Tháng 12 âm lịch năm 1257, Uriyangqatai dẫn gần 3 vạn quân tiến vào Đại Việt.[63] Ngày 12 tháng 12 âm lịch năm 1257 (tức ngày 17 tháng 1 năm 1258), quân Mông Cổ chạm trán với quân Đại Việt do Trần Thái Tông trực tiếp chỉ huy tại Bình Lệ Nguyên, nay là huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc. Sử cũ ghi nhận nhà vua và tướng Lê Phụ Trần đã chiến đấu rất cam đảm, nhưng không thể đánh bại quân Mông Cổ. Khi quan quân thất thế, có người khuyên Thái Tông ở lại tử thủ nhưng Lê Phụ Trần kiên quyết ngăn cản.[15] Thái Tông thu quân đến bến Lãnh Mỹ, sau đó xuống thuyền đi về Phù Lỗ. Uriyanqatai sai Cacakdu tiến quân nhanh ra bến, hòng cướp thuyền, bắt sống vua quan nhà Trần, nhưng không thành công.[63][62][65] Cương mục chép: "Nhà vua... lui quân đóng ở sông..., Phụ Trần đi sau cùng để vén quân. Lúc ấy quân Mông Cổ đuổi gấp, bắn tứ tung, Phụ Trần lấy cái sạp thuyền che đỡ cho nhà vua được thoát nạn".[66] Thất bại trong việc đuổi bắt bộ chỉ huy nhà Trần và kết thúc sớm chiến tranh đã khiến cho Cacakdu bị Uriyanqatai trách phạt dữ dội, và phải uống thuốc độc tự tử.[63][63]

Sang ngày hôm sau, ngày 18 tháng 1 năm 1258, vua Trần Thái Tông dàn quân chặn địch bên sông Cà Lồ ở Phù Lỗ. Quân Mông Cổ vượt sang sông Cà Lồ và đánh bại quân Đại Việt. Vua Trần lại chủ động rút quân về phía Thăng Long. Uriyangqatai tung quân truy kích tới bến Đông Bộ Đầu (nay là phố Hòe Nhai, Hàng Than, Hà Nội) trên hướng đông Thăng Long. Để thoát khỏi tình thế nguy ngập, bộ chỉ huy Đại Việt quyết định di tản lực lượng khỏi kinh đô, và lui về sông Thiên Mạc (nay thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên).[63] Tại đây vua Thái Tông đã thảo luận với Lê Phụ Trần những vấn đề cơ mật, hầu như không người nào được nghe. Nhà vua cũng đi thuyền nhỏ tới thuyền của thái úy Trần Nhật Hiệu (chỉ huy quân Tinh Cương) để xin ý kiến về kế sách giữ nước. Nhật Hiệu đưa ngón tay xuống chấm nước rồi ghi hai chữ "nhập Tống" (tức là nên trốn sang nước Tống) trên mạn thuyền. Thái Tông lại hỏi về tình hình quân Tinh Cương thì Nhật Hiệu chỉ đáp: "Không gọi được chúng đến". Sau đó Thái Tông tìm đến tham vấn thái sư Trần Thủ Độ, và được thái sư khích lệ: "Đầu thần chưa rơi xuống đất, Bệ hạ đừng lo gì khác".[15][63]

Quân Mông Cổ chiếm được kinh thành Thăng Long, song gặp nhiều khó khăn do thiếu lương thực trầm trọng. Mông Cổ phải chia quân đi cướp bóc ở vùng ngoại vi và phụ cận, nhưng bị dân Đại Việt chặn đánh quyết liệt.[63] Quân Mông Cổ chịu tổn thất nặng nề.[67] Trong khi đó, quân chủ lực Đại Việt đã được chỉnh đốn và hồi sức sau những thất bại đầu tiên. Ngày 28 tháng 1 năm 1258, vua Trần Thái Tông cùng thái tử Trần Hoảng thúc quân phản kích vào bến Đông Bộ Đầu, đánh tan tác quân Mông Cổ. Uriyangqatai phải rút quân khỏi Thăng Long và tháo chạy về Vân Nam. Trên đường chạy, quân Mông Cổ lại bị một thổ quan người TàyHà Bổng tập kích, đánh tan tại Quy Hóa (vùng Lào Cai, Yên Bái). Quân Mông Cổ rút lui, không hề cướp phá, nên dân Việt gọi là "giặc Phật". Uriyangqatai kéo quân về thành Áp Xích (Đại Lý), không thể sang Tống theo đường Đại Việt. Ngày mùng một Tết năm 1258, Trần Thái Tông tổ chức định công, phạt tội cho quan tướng tại Thăng Long. Lê Phụ Trần lãnh chức Nhập nội phán thủ, tước Bảo Văn hầu và được gả công chúa Chiêu Thánh (vợ cũ Thái Tông); Trần Khánh Dư được ban chức Thiên tử nghĩa nam; Hà Bổng cũng thụ phong tước hầu.[15][63][62]

Bang giao sau cuộc chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thất bại của cuộc tấn công Đại Việt năm 1258, đế quốc Mông Cổ vẫn không bỏ ý định thôn tính phương Nam. Lúc này Mông Cổ đang phải tập trung lực lượng đánh Nam Tống, nên họ chưa thể phát binh đánh Đại Việt lần hai, và tạm sử dụng biện pháp ngoại giao để thuyết phục vua Trần thần phục. Theo các sách Kinh thế đại điển tự lục và Nguyên sử (phần Hiến Tông bản kỷAn Nam truyện), ngay sau khi lui quân về Vân Nam, thái soái Mông Cổ Uriyangqatai đã gửi 2 sứ giả sang dụ vua Trần tới chầu. Trần Thái Tông trói hai sứ giả và trục họ về nước. Đồng thời ông vẫn duy trì quan hệ hữu hảo với Nam Tống.[68][63][69] Nhưng một thời gian sau, thấy Mông Cổ còn rất mạnh và tiếp tục lấn vào đất Tống, triều đình Thái Tông nhận định Nam Tống không còn khả năng ảnh hưởng tới Đại Việt và chính Mông Cổ mới là mối đe dọa lớn nhất. Nhà vua bèn thay đổi phương sách ngoại giao; mùa xuân năm 1258, ông cử một phái bộ gồm Lê Phụ Trần làm chánh sứ, Chu Bác Lãm làm phó sứ sang thông hiếu với Mông Cổ. Sứ bộ này lấy danh nghĩa sang dâng cống vật cho Uriyanqatai tại Vân Nam; nhưng thực chất là đi thăm dò thực lực cũng như các động thái của Mông Cổ.[63][69][68]

Sau khi sứ bộ của Lê Phụ Trần về nước, hãn Mông Cổ sai Nur-ud-Dīn đi sứ sang Đại Việt, đem theo bức thư đòi Thái Tông đích thân đến chầu. Trong thư có đoạn: "Trước đây ta sai sứ sang thông hiếu, các ngươi bắt giữ không cho về, vì thế ta mới có cuộc xuất quân năm trước, khiến quốc chủ ngươi phải chạy ra nơi thảo dã. Lại lệnh hai sứ đến chiêu an, trả nước, ngươi lại bắt trói sứ ta rồi đuổi về. Nay đặc sai sứ đến dụ, nếu bọn ngươi có lòng thề nội phụ thì quốc chủ phải đích thân đến, nhược bằng không sửa lỗi, hãy báo cho ta rõ". Thái Tông không chấp thuận, chỉ trả lời bằng lời lẽ tế nhị: "Tiểu quốc thành tâm thờ bề trên, vậy đại quốc đối đãi thế nào?". Chuyến đi sứ của Nur-ud-Dīn hoàn toàn thất bại; nhưng sau đó, Mông Kha lại sai Nur-ud-Dīn sang Đại Việt với mục đích tương tự lần trước. Vua Trần vẫn không nhượng bộ, nhưng cũng trấn an sứ giả rằng "Đợi đức âm ban xuống sẽ lập tức sai con em sang làm con tin". Trên thực tế, việc này không bao giờ được thực hiện. Cuộc đấu tranh ngoại giao giữa hai nước tiếp tục diễn ra quyết liệt cho đến thời Trần Nhân Tông, khi Mông Cổ xâm lược Đại Việt lần thứ hai (1285).[63][68]

Đánh giá về tầm vóc của cuộc thắng lợi năm 1258 của Trần Thái Tông và quân dân Đại Việt, các tác giả phương Tây Peter D. Sharrock và Vũ Hồng Liên (người Anh gốc Việt) viết:[45]

Thái thượng hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 2 năm Nguyên Phong thứ 8 (tức ngày 30 tháng 3 dương lịch năm 1258), Trần Thái Tông truyền ngôi cho Thái tử Trần Hoảng, tức vua Trần Thánh Tông. Trần Thái Tông lui về cung Thánh Từ làm Thái thượng hoàng, được Thánh Tông dâng tôn hiệu Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế (顯堯聖壽太上皇帝).

Từ đây, nhà Trần theo lệ truyền ngôi sớm cho thái tử, thứ nhất để tránh việc tranh giành ngôi báu giữa các con (do đã sớm được định đoạt), thứ nữa là rèn luyện cho vị hoàng đế mới cai trị đất nước càng sớm càng tốt.[70][71] Trên cương vị là Thượng hoàng, Trần Thái Tông vẫn hỗ trợ, hướng dẫn con mình lãnh đạo đất nước, đồng thời quan tâm theo dõi tình hình phương Bắc.[72] Sách Việt sử tiêu án đã kể lại: "Thượng hoàng ban yến cho quần thần ở điện Diên Hiền, có sao chổi hiện ra ở phận vị sao Liễu, sáng rực trời; Thượng hoàng ra coi, bảo rằng: "Sao Liễu là địa phận Lâm An, không phải là thiên tai ở nước ta"... tháng 10 năm ấy thì vua nhà Tống mất".[64][53] Thượng hoàng cũng đích thân đón tiếp sứ bộ Mông Cổ do Trương Lập Đạo (Trương Hiền Khanh) làm chánh sứ vào năm 1265.[72][44] Theo Nguyên sử, An Nam chí lược và Toàn thư, trong thời gian này, hai vua một mặt giao hảo với Nam Tống (năm 1262, Tống Lý Tông sắc phong Trần Thánh Tông làm An Nam Quốc vương, Thái Tông làm An Nam Quốc Đại vương, và tặng vàng, gấm vóc cho hai vua Trần), mặt khác chấp nhận triều cống Mông Cổ 3 năm 1 lần, nhưng từ chối mọi yêu sách nhằm biến Đại Việt thành một thuộc quốc của Mông Cổ.[73][74][75]

Đền Thái ViHành cung Vũ Lâm (Ninh Bình) nơi các vua Trần xuất gia

Sau khi nhường ngôi vua cho con, Trần Thái Tông có nhiều thời gian hơn cho việc nghiên cứu, giảng dạy Thiền tông. Thượng hoàng đã dựng chùa Phổ Minh tại Thiên Trường (Nam Định) và am Thái Vi tại hành cung Vũ Lâm (Hoa Lư, Ninh Bình) để tu tập, đồng thời chỉ đạo việc khai hoang, mở ấp trong vùng Vũ Lâm.[27][76] Thượng hoàng còn viết thêm nhiều sách dạy Phật học, trong đó có Khóa hư lục (Tập bài giảng về lẽ hư vô), Lục thì sám hối khoa nghi (Nghi thức sám hối vào sáu thời khắc trong một ngày), Kim Cương Tam Muội Chú Giải (Chú giải kinh Kim Cương Tam Muội, ngày nay đã thất lạc, chỉ còn bài tựa in trong quyển Khóa hư lục), Bình đẳng lễ sám văn (Bình đẳng sám hối) cùng một số bài luận giảng về việc tọa thiền, việc niệm Phật và một bài răn về tửu sắc....[27][77][78] Trong bài Phổ thuyết sắc thân (Nói rộng về sắc thân) thuộc bộ Khóa hư lục, Thái Tông có giảng về sự vô thường, giả tạm của thân người và sự không thể tránh khỏi của cái chết:[79]

Sáng tác của thượng hoàng trong giai đoạn này được hòa thượng Thích Nhất Hạnh nhận xét là "còn chín chắn hơn Thiền Tông Chỉ Nam mà hồi viết vua chỉ mới trên 30 tuổi".[27]

Trần Thái Tông còn là một nhà thơ, đã để lại tập Trần Thái Tông ngự tập (1 quyển), được Phan Huy Chú khen là "lời thơ thanh nhã, đáng đọc".[80] Ngày nay tập thơ này đã thất lạc, chỉ còn lại 2 bài Kỷ Thanh Phong am tăng Đức Sơn (Gửi nhà sư Đức Sơn ở am Thanh Phong) và Tống Bắc sứ Trương Hiền Khanh (Tiễn Bắc sứ Trương Hiền Khanh) chép trong Việt âm thi tậpToàn Việt thi lục.[27][44]

Ngày 1 tháng 4 âm lịch (5 tháng 5 dương lịch) năm 1277, Thượng hoàng Trần Thái Tông qua đời tại điện Vạn Thọ, thọ 58 tuổi.[81] Trong Thánh đăng ngữ lục có thuật lại những cuộc đàm đạo Phật pháp cuối cùng của ông:[61]

"Vua bệnh, Thánh Tông thăm bệnh, nhân đó hỏi:
– Chân không và ngoan không là đồng hay khác?
Vua đáp:
– Hư không là một, nhưng do tự tâm mê ngộ nên thành có chân và ngoan sai khác. Ví như phòng nhà, mở ra thì sáng, đóng lại thì tối, sáng và tối chẳng đồng, và phòng nhà là một.
Ngày hôm sau, Quốc sư Đại Đăng vào thăm hỏi:
– Bệ hạ bệnh chăng?
Vua đáp:
– Tứ đại là bệnh, cái này xưa nay sanh tử không can hệ, mà dính kẹt trong bệnh hoạn sao?
Khoảng mấy ngày sau, Thái Tông lặng thinh không nói, đuổi hết kẻ hầu hạ, đem việc nước dặn dò Thánh Tông. Thánh Tông muốn nhờ hai Quốc sư Phù Vân (Đạo Viên) và Đại Đăng nói pháp xuất thế cho Thái Tông nghe. Thái Tông gằn giọng bảo: “Đến trong đây, bớt một mảy tơ dường trên thịt khoét thương, thêm một mảy tơ như trong mắt để bụi. Ba đời chư Phật, bốn mắt nhìn nhau, sáu đời Tổ sư thối thân có phần. Dù Phù Vân nói huyền, Đại Đăng thuyết diệu đều là lời thừa, có ích gì đối với cái này?”
Nói xong Ngài lặng lẽ thị tịch..."

Ngày 4 tháng 10 âm lịch (31 tháng 10 dương lịch) năm 1277, triều đình làm lễ mai táng Thái Tông tại Chiêu Lăng thuộc phủ Long Hưng (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình ngày nay). Ông được tôn miếu hiệuThái Tông (太宗), thụy hiệuThống Thiên Ngự Cực Long Công Mậu Đức Hiển Hòa Hựu Thuận Thần Văn Thánh Vũ Nguyên Hiếu hoàng đế (統天御極隆功茂德顯和佑順神文聖武元孝皇帝).[81]

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Một góc Đền Trần ở quê hương Nam Định

Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư đã đánh giá về Trần Thái Tông:[12]

Lê Tắc, một sử gia người gốc Việt của Đại Nguyên, đã viết trong sách An Nam chí lược rằng Trần Thái Tông là người "khoan nhân thông tuệ, văn võ toàn tài, lấy tư cách con rể nhà Lý kế vị quốc vương."[74]

Trong bộ Việt giám thông khảo tổng luận (biên soạn vào thời Hậu Lê), sử gia Lê Tung có lời bàn:[82]

Sử gia Ngô Thì Sĩ nhận định trong Việt sử tiêu án:[83]

Trần Nhân Tông - hoàng đế thứ ba của triều Trần - có bài thơ Ngày xuân thăm Chiêu Lăng (Xuân nhật yiết Chiêu Lăng - Chiêu Lăng là tên lăng của Trần Thái Tông), trong đó bài tỏ sự tự hào đối với ông nội mình là Trần Thái Tông, cũng như với chiến thắng của quân dân Đại Việt do Thái Tông lãnh đạo trước quân Mông Cổ năm 1258.[84][85] Bài thơ đã được chép lại trong sách Thơ văn Lý-Trần (tập II, quyển thượng) do Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh, Đỗ Văn Hỷ và Trần Tú Châu biên soạn:[84]

春日謁昭陵
...
貔虎千門肅,
衣冠七品通。
白頭軍士在,
往往說元豐。
Xuân nhật yết Chiêu Lăng
...
Tì hổ thiên môn túc
Y quan thất phẩm thông
Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong
Ngày xuân thăm Chiêu Lăng
...
Nghìn cửa, nghiêm tì hổ,
Bảy phẩm, đủ cân đai.
Lính bạc đầu còn đó,
Chuyện Nguyên Phong, kể hoài.
Bản dịch của Trần Lê Văn

Vua thứ 7 của triều Trần, Trần Dụ Tông, cũng làm bài thơ so sánh công đức của Trần Thái Tông với Đường Thái Tông:[86]

裕宗賛太宗詩
...
唐越開基两太宗,
彼稱貞觀我元豐。
建成誅死安生在,
廟號雖同德不同。
Dụ Tông tán Thái Tông thi
...
Đường Việt khai cơ lưỡng Thái Tông,
Bỉ xưng Trinh Quán, ngã Nguyên Phong.
Kiến Thành tru tử, An Sinh tại,
Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng.
Thơ tán tụng của Dụ Tông đối với Thái Tông
...
Sáng nghiệp Việt Đường hai Thái Tông,
Kia xưng Trinh Quán, ta Nguyên Phong.
Kiến Thành bị giết, Yên Sinh sống,
Miếu hiệu như nhau, đức chẳng đồng.
Bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam trong Đại Việt Sử ký Toàn thư (1993)

Trần Thái Tông còn được xem là một thiền sư-cư sĩ lớn của Phật giáo, người đã đặt nền móng về tư tưởng cho việc hợp nhất 3-4 dòng thiền có mặt tại Đại Việt thời bấy giờ thành một giáo hội thống nhất – Thiền phái Trúc Lâm. Vị tổ thứ nhất của thiền phái này chính là Điều ngự Trần Nhân Tông, cháu nội của ông. Hòa thượng Thích Nhất Hạnh đã nhận xét về Trần Thái Tông trên vai trò là một thiền sư Phật giáo:[4][87]

Trần Thái Tông hiện được đúc tượng và thờ phụng ở các đền Trần (Thái Bình), đền Trần (Nam Định)đền Thái ViNinh Bình. Ngày nay ở nhiều thành phố Việt Nam có tên đường Trần Thái Tông như ở Hà Nội có phố Trần Thái Tông ở quận Cầu Giấy. Các thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đà Lạt, thành phố Thái Bình, thành phố Nam Định, thành phố Hạ Long... đều có đường phố mang tên ông.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Trần Thừa, được truy tôn là Trần Thái Tổ (陳太祖)
  • Mẹ: Lê thị (黎氏; ? - 1230)
  • Anh chị em:
  1. Yên Sinh vương Trần Liễu [安生王陳柳], anh trai.
  2. Khâm Thiên Đại vương Trần Nhật Hiệu [欽天大王陳日晈], em trai.
  3. Hoài Đức Vương Trần Bà Liệt [懷德王陳婆列], em trai.
  4. Thụy Bà Công chúa [瑞婆公主], chị gái, mẹ nuôi của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn.
  • Hậu phi:
  1. Chiêu Thánh Hoàng hậu (昭聖皇后; 1218 - 1278), húy Lý Thiên Hinh (李天馨), con gái Lý Huệ TôngTrần Thị Dung. Năm 1237, bà bị truất ngôi hoàng hậu; đến năm 1258 được Thái Tông gả cho Lê Phụ Trần.
  2. Thuận Thiên hoàng hậu Lý thị (順天皇后李氏; 1216 - 1248), húy Oanh (鶯), nguyên là vợ của Trần Liễu. Năm 1237, bà bị ép bỏ Trần liễu, trở thành hoàng hậu của Thái Tông. Có con với Trần Liễu là Vũ Thành Vương Trần Doãn, Tĩnh Quốc Đại vương Trần Quốc Khang, với Thái Tông là Trần Thánh Tông, Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải.
  3. Huệ Túc Phu nhân Hoàng thị (惠肅夫人黃氏); con gái thổ quan nhà Tống Hoàng Bính.
  4. Nhiều phi tần không rõ danh tính, Trần Ích Tắc, Trần Nhật Duật, An Tư công chúa đều sinh ra sau khi Hiển Từ Hoàng hậu qua đời (1248).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Sử sách không ghi chép cụ thể số con của Trần Thái Tông, nhưng có đề cập một số người:

  • Hoàng tử:
  1. Hoàng thái tử Trần Trịnh [皇太子陳鄭; 1233], chết yểu, mẹ là Lý Phế hậu.
  2. Tĩnh Quốc Đại vương Trần Quốc Khang [靖國大王陳國康], thực tế là con của Khâm Minh đại vương Trần LiễuHiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu.
  3. Hoàng thái tử Trần Hoảng [陳晃], tức hoàng đế Trần Thánh Tông (陳聖宗), mẹ là Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu.
  4. Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải [昭明大王陳光啟], mẹ là Thuận Thiên hoàng hậu.
  5. Bình Nguyên vương Trần Nhật Vĩnh [平原王陳日永].
  6. Vũ Uy vương Trần Duy [武威王陈維].
  7. Chiêu Đạo vương Trần Quang Xưởng [昭道王陈光昶], anh em cùng mẹ với Chiêu Quốc vương.
  8. Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc [昭國王陳益稷].
  9. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật [昭文王陳日燏].
  10. Minh Hiến vương Trần Uất [明宪王陈蔚].[88]
  • Hoàng nữ:
  1. Thiên Thành Công chúa [天城公主] (?)
  2. Thiều Dương công chúa [韶陽公主; ? - 4/1277], húy là Thúy, lấy Thượng vị Văn Hưng hầu, mất ngay khi Trần Thái Tông qua đời.
  3. Thụy Bảo công chúa [瑞寶公主], chị em cùng mẹ với Thiều Dương Công chúa, lấy Uy Văn vương Toại, sau lấy Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng.
  4. An Tư công chúa [安姿公主], lấy Trấn Nam Vương Thoát Hoan.

Chú giải[sửa | sửa mã nguồn]

• a)^ Các sử gia hiện đại không đồng nhất trong việc xác định tên gọi một số vua Trần trong cổ sử Trung Hoa. Nhà sử học Nhật Bản Yamamoto Tatsuro trong bộ An Nam sử nghiên cứu (1950) lập luận rằng Trần Nhật Cảnh và Trần Quang Bính đều là tên gọi Trần Thái Tông trong các văn thư ngoại giao, dựa trên các chi tiết trong sử Trung Quốc như "Qua năm Mậu-Ngọ (1258) Vương [Trần Nhật Cảnh] đổi tên là Quang-Bính, khiến bồi-thần dâng biểu nạp khoản..." (An Nam chí lược) và "(Chí Nguyên) năm thứ 14 (1277), Quang Bính mất, người trong nước lập thế tử Nhật Huyên, sai Trung thị đại phu Châu Trọng Ngạn, Trung lượng đại phu Ngô Đức Thiệu đến chầu" (Nguyên sử, An Nam truyện).[74][89][90] Ghi chép này của Nguyên sử trùng khớp với thời điểm Trần Thái Tông mất (1277) được mô tả trong Đại Việt Sử ký Toàn thư.[89] Tuy nhiên, sử gia Lê Mạnh Thát, tác giả cuốn Trần Thái Tông toàn tập (2004) lại khẳng định rằng Trần Nhật Cảnh là tên gọi của Thái Tông, còn Quang Bính là tên của Thánh Tông trong văn thư với Mông Cổ; Lê Mạnh Thát viện dẫn các trích đoạn trong Nguyên sử, An Nam chí lược như "Mậu Ngọ năm thứ 8 (1258) tháng 2, Nhật Cảnh truyền nước cho con trưởng là Quang Bính, cải nguyên Thiệu Long" (Nguyên sử, An Nam truyện), "Năm Đinh Tỵ (1257), An Nam bắt đầu thần phục... năm Canh Thân (1260), Quốc vương An Nam Trần Nhật Cảnh sai sứ dâng biểu chúc mừng, cống phương vật. Năm sau, chiếu phong Quang Bính làm An Nam quốc vương..." (An Nam chí lược, Đại Nguyên phụng sứ - chi tiết này, theo Lê Mạnh Thát, cho thấy sau năm 1258 Thái Tông vẫn dùng tên Nhật Cảnh, và Nhật Cảnh với Quang Bính là hai người khác nhau) và An Nam truyện của Nguyên sử, sau khi chép về việc Quang Bính mất năm 1277, lại ghi thêm việc năm 1278, "An Nam quốc vương Quang Bính sai sứ dang biểu đến cống" (Lê Mạnh Thát lý giải rằng dữ liệu cho thấy Quang Bính có lẽ còn sống sau năm 1277, và vì vậy đây là Trần Thánh Tông). Ngoài ra, Lê Mạnh Thát cũng lập luận rằng các hoạt động của Quang Bính ghi lại trong Nguyên sử, An Nam chí lược hoàn toàn trùng khớp với ghi chép về Trần Thánh Tông trong Toàn thư.[89]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 157-158.
  2. ^ a ă â b Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 60-72.
  3. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 51-52.
  4. ^ a ă Nguyễn Lang 1979, chương IX: "Nền tảng của Phật giáo đời Trần"
  5. ^ a ă â Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 159.
  6. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 185.
  7. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 155-156.
  8. ^ Ngô Thì Sĩ 2009, tr. 66.
  9. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 187.
  10. ^ a ă â Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 157.
  11. ^ Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 66.
  12. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 158-160.
  13. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 189.
  14. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 158-163.
  15. ^ a ă â b c d Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 170-174.
  16. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 164.
  17. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 48-49..
  18. ^ a ă â b Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 166-168..
  19. ^ a ă â Việt sử toàn thư, bản điện tử, các trang 163-164
  20. ^ a ă â Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 162.
  21. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 193.
  22. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 161.
  23. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 49.
  24. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 81-82..
  25. ^ Việt sử toàn thư, bản điện tử, trang 169
  26. ^ a ă Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 69.
  27. ^ a ă â b c d đ e Nguyễn Lang 1979, chương X: "Trần Thái Tông - Tuổi trẻ và chí nguyện học đạo "
  28. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 163.
  29. ^ a ă â b Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 166-168.
  30. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 194.
  31. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 172.
  32. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 180.
  33. ^ a ă Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 203.
  34. ^ Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 70.
  35. ^ a ă â Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 171.
  36. ^ a ă Trần Trọng Kim 1971, tr. 50.
  37. ^ a ă Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 199.
  38. ^ Chapuis 1995, tr. 80.
  39. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 160.
  40. ^ Lục Đức Thuận & Võ Quốc Kỵ 2009, tr. 59.
  41. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 162-163..
  42. ^ Nhiều tác giả 1997, tr. 206.
  43. ^ Nhiều tác giả 1997, tr. 199-202.
  44. ^ a ă â Nhiều tác giả 1988, tr. 19-22..
  45. ^ a ă Peter D. Sharrock; Vũ Hồng Liên (2014). Descending Dragon, Rising Tiger: A History of Vietnam (bằng tiếng Anh). Reaktion Book. ISBN 1780233884. 
  46. ^ a ă Trần Trọng Kim 1971, tr. 50-51..
  47. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 206.
  48. ^ Nhiều tác giả 1997, tr. 212.
  49. ^ Taylor 2013, tr. 123-124..
  50. ^ a ă Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 200.
  51. ^ a ă Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 198.
  52. ^ Tống Trần Tùng (2014). “Về những vị thần được thờ trong đình Trung Cần”. Văn hóa Nghệ An. Truy cập 13 tháng 3 năm 2017. 
  53. ^ a ă Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 215.
  54. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 186..
  55. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 215-219..
  56. ^ Lê Tắc 1961, tr. 19.
  57. ^ Lê Mạnh Thát 1999, Phần II: "Tác phẩm Trần Nhân Tông"
  58. ^ a ă Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 196.
  59. ^ a ă â Hòa thượng Thích Thanh Từ 1996, phần 3: "Tựa Thiền tông chỉ nam"
  60. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 165.
  61. ^ a ă â Hòa thượng Thích Thanh Từ (phiên dịch) (1999). Thánh Đăng Lục Giảng Giải (PDF). Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh. tr. 15-16. Truy cập 16 tháng 3 năm 2017. 
  62. ^ a ă â Lê Tắc 1961, tr. 37.
  63. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm 1972, tr. 66-88..
  64. ^ a ă Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 75.
  65. ^ Taylor 2013, tr. 124.
  66. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 209.
  67. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 84.
  68. ^ a ă â Phạm Văn Ảnh (2013). “Văn thư ngoại giao thời Trần: Nội dung và nghệ thuật”. Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Truy cập 18 tháng 12 năm 2016. 
  69. ^ a ă Lê Mạnh Thát 2004, tr. 97-100..
  70. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 175.
  71. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 52.
  72. ^ a ă Lê Mạnh Thát 2004, tr. 115-120..
  73. ^ Lê Tắc 1961, tr. 19-20..
  74. ^ a ă â Lê Tắc 1961, tr. 105.
  75. ^ Trần Xuân Sinh 2003, tr. 105-106..
  76. ^ Hòa thượng Thích Thanh Từ 1996, phần 2: "Tiểu sử Trần Thái Tông - Ông vua Thiền sư (1218-1277)"
  77. ^ Hòa thượng Thích Thanh Từ 1996, phần 15: "Tựa Bình đẳng sám hối"
  78. ^ Theo GS. Nguyễn Huệ Chi, mục từ "Trần Cảnh" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004, tr. 1775-1776.
  79. ^ Hòa thượng Thích Thanh Từ 1996, phần 6: "Nói rộng sắc thân"
  80. ^ Trích trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, phần "Văn tịch chí".
  81. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 183.
  82. ^ Lê Tung. Việt giám thông khảo tổng luận. Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm. tr. 13a-13b. 
  83. ^ Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 74.
  84. ^ a ă Nhiều tác giả 1988, tr. 452-453..
  85. ^ Lê Mạnh Thát 2004, tr. 93-94..
  86. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 184.
  87. ^ Hòa thượng Thích Nhất Hạnh. “Thiền phái Trúc Lâm”. Truyền thống sinh động của thiền tập. Truy cập 17 tháng 3 năm 2017. 
  88. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 223.
  89. ^ a ă â Lê Mạnh Thát 2004, tr. 110-112..
  90. ^ Thạc sĩ Phạm Văn Ánh (2014). “Khảo biện văn thư ngoại giao của Trần Nhân Tông”. Giác Ngộ Online. Truy cập 25 tháng 3 năm 2017. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngô Sĩ Liên (1993). Đại Việt sử ký toàn thư. Nội các quan bản. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. 
  • Ngô Thì Sĩ; Hội Việt Nam Nghiên cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu (phiên dịch) (1991). Việt sử tiêu án. Nhà xuất bản Văn Sử. 
  • Lê Tắc; Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam (phiên dịch) (1961). An Nam chí lược. Viện Đại Học Huế. 
  • Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục 
  • Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, Sài Gòn: Trung tâm Học liệu Xuất bản thuộc Bộ Giáo dục 
  • Phạm Văn Sơn, Việt sử toàn thư (bản điện tử)
  • Nguyễn Lang (1979). Việt Nam Phật giáo sử luận 1. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học. 
  • Nguyễn Huệ Chi; Trần Thị Băng Thanh; Đỗ Văn Hỷ; Trần Tú Châu (1988). Thơ văn Lý Trần (PDF). II—Quyển thượng. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. 
  • Hà Văn Tấn; Phạm Thị Tâm (1972). Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII. Bản in lại năm 2003. Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân. 
  • Hòa thượng Thích Thanh Từ (1996). Khóa hư lục giảng giải. Thư viện Hoa Sen. 
  • Đinh Xuân Lâm; Trương Hữu Quýnh; Lê Mậu Hãn (1997). Đại cương lịch sử Việt Nam 1. Nhà xuất bản Giáo dục. 
  • Lê Mạnh Thát (1999). Trần Nhân Tông: Con người và tác phẩm. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh. 
  • Lê Mạnh Thát (2004). Toàn tập Trần Thái Tông. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh. 
  • Trần Xuân Sinh (2006), Thuyết Trần, Nhà xuất bản Hải Phòng 
  • Lục Đức Thuận; Võ Quốc Kỵ (2009). Tiền cổ Việt Nam. Nhà xuất bản Giáo dục. 
  • Chapuis, Oscar (1995), A history of Vietnam: from Hong Bang to Tu Duc, Greenwood Publishing Group, ISBN 0-313-29622-7 
  • Taylor, K. W. (2013), A History of the Vietnamese, Cambridge University Press, ISBN 1107244358 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Việt sử ký, Lê Văn Hưu
  • Viện sử học (2007), Lịch sử Việt Nam (tập 3) Nhà xuất bản Khoa học xã hội
  • Đại Việt thông sử, Lê Quý Đôn
  • Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, Các triều đại Việt Nam, Nhà xuất bản Thanh niên, 2007