Lê Thánh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Lê Thánh Tông
黎聖宗
Vua Việt Nam (chi tiết...)
206ThoiLe LeThanhTong.jpg
Tranh thờ Lê Thánh Tông ở Lam Kinh (Thanh Hóa).
Hoàng đế Đại Việt
Trị vì 14601497
Tiền nhiệm Lê Nghi Dân
Kế nhiệm Lê Hiến Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Trường Lạc hoàng hậu
Nhu Huy hoàng hậu
Hậu duệ
Tên húy Lê Tư Thành (黎思誠)
Tước hiệu Thiên Nam động chủ (天南洞主)
Niên hiệu
Thụy hiệu Sùng Thiên Quảng Vận Cao Minh Quang Chính Chí Đức Đại Công Thánh Văn Thần Vũ Đạt Hiếu Thuần Hoàng đế
(崇天廣運高明光正至德大功聖文神武達孝淳皇帝)
Miếu hiệu Thánh Tông (聖宗)
Thân phụ Lê Thái Tông
Thân mẫu Ngô Thị Ngọc Dao
Sinh 25 tháng 8, 1442(1442-08-25)
Chùa Huy Văn (nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội)
Mất 3 tháng 3, 1497 (54 tuổi)
Điện Bảo Quang, Đông Kinh (nay là Hà Nội)
An táng Chiêu lăng (昭陵), Lam Kinh
Tôn giáo Tân Nho giáo

Lê Thánh Tông (chữ Hán: 黎聖宗; 25 tháng 8 năm 14423 tháng 3 năm 1497), là hoàng đế thứ năm của hoàng triều Lê nước Đại Việt. Ông trị vì từ năm 1460 đến năm 1497, tổng cộng 38 năm, là vị hoàng đế trị vì lâu nhất thời Hậu Lê – giai đoạn Lê sơ trong lịch sử Việt Nam.

Lê Thánh Tông tên thật là Lê Tư Thành (黎思誠), là con thứ tư của Lê Thái Tông. Cuối năm 1442, Hoàng đế Thái Tông mất, Thái tử Lê Bang Cơ lên ngôi tức Lê Nhân Tông, phong Tư Thành làm Bình Nguyên vương. Năm 1459, người con cả của Thái Tông là Lê Nghi Dân giết vua Nhân Tông và cướp ngôi. Nghi Dân chỉ ở ngôi được 6 tháng. Ngày 6 tháng 6 âm lịch năm 1460, các tể phụ Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Niệm làm binh biến, bức tử Nghi Dân. Hai ngày sau, họ thấy Tư Thành có năng lực, nên bàn nhau lập ông làm vua. Lê Thánh Tông lên ngôi Hoàng đế, xưng làm Thiên Nam động chủ (天南洞主), đặt niên hiệu là Quang Thuận (sau đổi thành Hồng Đức).

Trong 38 năm trị quốc, Lê Thánh Tông đã ban bố rất nhiều chính sách mang tính Nho giáo nhằm hoàn thiện bộ máy quan chế, hành chính, giáo dục, luật pháp, kinh tế, xã hội, làm nước Đại Việt ổn định. Ông còn xây dựng quân đội hùng hậu, mở rộng lãnh thổ về phía Nam và phía Tây sau các cuộc chinh phục Chiêm Thành năm 1471, LàoBồn Man năm 1478. Các thành tựu về nội trị và đối ngoại của Lê Thánh Tông đã đưa Đại Việt trở thành một cường quốc lớn mạnh trong khu vực Đông Nam Á. Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư (bộ quốc sử được khởi soạn từ thời Lê Thánh Tông và hoàn tất vào thời Lê trung hưng) có lời nhận định của sử gia Nho thần đời sau về ông: "Vua sáng lập chế độ văn vật khả quan, mở mang đất đai, cõi bờ khá rộng, thực là bậc vua anh hùng tài lược, dẫu Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không thể hơn được. Nhưng công trình thổ mộc vượt quá quy mô xưa, tình nghĩa anh em thiếu hẳn lòng nhân ái. Đó là chỗ kém vậy".[1][2]

Lê Thánh Tông còn là một nhà thơ, nhà văn lớn, ước tính có hàng ngàn sáng tác bằng chữ Hánchữ Nôm, trong đó thơ chữ Hán ngày nay còn hơn 350 bài.[3]

Thân thế và niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Ông có tên húy Lê Tư Thành (思誠), tên sử dụng trong các văn kiện ngoại giao với Trung Quốc là Lê Hạo (黎灝),[4] hiệu Thiên Nam động chủ (天南洞主), Đạo Am chủ nhân (道庵主人), Tao Đàn nguyên súy (騷壇元帥), là con trai thứ tư của Lê Thái Tông. Mẹ của ông là Ngô Thị Ngọc Dao, người làng Động Bàng, huyện Yên Định, phủ Thanh Hóa. Cha bà là Ngô Từ, gia thần của Lê Thái Tổ, làm đến chức Thái bảo. Chị gái Ngô Thị Ngọc Dao tên Xuân, vào hầu Lê Thái Tông ở hậu cung. Ngô Thị Ngọc Dao theo chị vào nội đình, vua Lê Thái Tông thấy liền gọi vào cho làm cung tần.[5]

Tháng 6, năm Đại Bảo thứ nhất (1440), Ngô thị nhập cung khi 14 tuổi, được phong làm Tiệp dư (婕妤), ở tại cung Khánh Phương. Sinh thời Ngô Tiệp dư sùng Phật giáo thường cầu tự, một hôm mộng thấy thượng đế ban cho một vị tiên đồng, bèn có mang. Bà sinh Lê Tư Thành vào ngày 20 tháng 7 âm lịch (25 tháng 8 dương lịch) năm Đại Bảo thứ 3 (1442) [5].

Khi Lê Tư Thành sinh ra, ông được sách Đại Việt sử ký toàn thư miêu tả: "Thiên tư tuyệt đẹp, thần sắc khác thường, vẻ người tuấn tú, nhân hậu, rạng rỡ, nghiêm trang, thực là bậc thông minh xứng đáng làm vua, bậc trí dũng đủ để giữ nước". [6]

Ngày 27 tháng 7 âm lịch năm 1442, Lê Thái Tông đi tuần về miền Đông thì bị bệnh mất ở tuổi 20. Các quan nhận di chiếu tôn thái tử Bang Cơ (con thần phi Nguyễn Thị Anh) lên ngôi, tức vua Lê Nhân Tông. Năm 1445, Lê Nhân Tông hạ chiếu phong Lê Tư Thành được phong làm Bình Nguyên vương (平原王), làm phiên vương vào ở kinh sư, học cùng các vương khác ở Kinh diên. Các quan ở Kinh diên như Trần Phong thấy Bình Nguyên vương dáng điệu đường hoàng, thông minh hơn hẳn người khác, nên họ cho ông là bậc khác thường. Bình Nguyên vương lại càng sống kín đáo, không lộ vẻ anh minh ra ngoài, chỉ vui với sách vở cổ kim, nghĩa lý thánh hiền, ưa điều thiện, thích người hiền, chăm chỉ không biết mệt mỏi. Bình Nguyên vương được thái hậu Nguyễn Thị Anh yêu mến như con đẻ, và được vua Nhân Tông coi như người em hiếm có[7]

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 3 tháng 10 âm lịch năm 1459, niên hiệu Diên Ninh thứ 6, con đầu lòng của Lê Thái Tông là Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân đang đêm bắc thang lên tường thành, rồi chia làm ba đường lẻn vào cung cấm làm binh biến. Vua Lê Nhân Tông và Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh bị giết, Lê Nghi Dân lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Thiên Hưng (天興). Lê Nghi Dân phong Bình Nguyên vương Tư Thành làm Gia vương (嘉王), và sai dựng phủ Gia Hưng bên trái nội cung để Tư Thành ở [8][9].

Vua Lê Nghi Dân lên ngôi, tin dùng các nịnh thần, sát hại bề tôi cũ và thay đổi pháp chế, cho nên không được lòng dân và các đại thần, văn võ[10]. Một nhóm các trọng thần là Lê Ê, Lê Thụ, Đỗ Bí, Lê Ngang muốn binh biến lật đổ Lê Nghi Dân nhưng việc bị bại lộ, tất cả đều bị giết[11]

Sau đó, các huân hựu đại thần gồm Thái phó Á quận hầu Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Nhập nội kiểm hiệu Á thượng hầu Lê Lăng, Tư mã tham dự triều chính Đình thượng hầu Lê Niệm, Tổng tri ngự tiền hậu quân Á hầu Lê Nhân Thuận, Tổng tri ngự tiền trung quân Quan nội hầu Lê Nhân Khoái, Tổng tri ngự tiền thiện trạo doanh quân Quan phục hầu Trịnh Văn Sái, Thiêm tri Bắc đạo quân dân bạ tịch Trịnh Đạc, Điện tiền ty đô chỉ huy Nguyễn Đức Trung, thiết đột tả quân đại đội trưởng Nguyễn Yên, Nhập nội đại hành khiển Lê Vĩnh Trường,....cùng bàn với nhau làm binh biến, lật đổ Lê Nghi Dân[12]

Ngày 6 tháng 6, năm Canh Thìn (1460), các quan vào ngồi ở nghị sự đường ngoài cửa Sùng vũ. Nguyễn Xí, Đinh Liệt xướng nghĩa giết hai người cầm đầu là Đồn, Ban trước Nghị sự đường. Sau đó, hai ông sai đóng các cửa, mỗi người đem cấm binh dẹp nội loạn, giết bè đảng của Trần Lăng hơn 100 người. Binh biến thành công, nhóm đại thần bức tử Lê Nghi Dân, rồi bàn với nhau rằng:[13]

Ngày 8 tháng 6 âm lịch năm 1460, Gia vương Lê Tư Thành lên ngôi ở điện Tường Quang, lấy niên hiệu là Quang Thuận (光順) và ban chiếu đại xá thiên hạ. Ông xử tử tướng cai quản cấm binh là Lê Đắc Ninh vì tiếp tay cho Nghi Dân đảo chính cướp ngôi, đồng thời truy phong Nội quan Đào Biểu (người đã tử tiết cùng Nhân Tông trong đêm đảo chính) tước 1 tư và ban 5 mẫu ruộng công để cúng tế. Thánh Tông cũng đặt miếu hiệu, thụy hiệu cho mẹ con Lê Nhân Tông và lập bài vị thờ hai người họ trong Thái miếu.[14]

Tháng 7 âm lịch năm 1460, Lê Thánh Tông muốn đảm bảo an ninh trong nội cung, đề phòng sự tái diễn của vụ ám sát Lê Nhân Tông, nên ông ban lệnh cho quan lại, nhân viên ở Nội mật viện cùng các cung nhân rằng: "Từ nay về sau, nếu thấy chiếu chỉ và các việc cung thì không được lén lút tiết lộ ra trước cho người ngoài và con thân thích".[15][16]

Ngày 11 tháng 10 âm lịch năm 1460, Lê Thánh Tông đã thăng quan chức cho những người thực hiện đảo chính Lê Nghi Dân thành công để đưa Lê Thánh Tông lên ngôi như Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Niệm,... Nhà vua còn ban tặng ruộng đất cho 30 công thần của cuộc đảo chính, trong đó, sử sách cho biết Nguyễn Xí và Đinh Liệt đều nhận 350 mẫu ruộng, Lê Lăng được nhận 300 mẫu, Lê Niệm nhận 200 mẫu, Lê Nhân Thuận nhận 150 mẫu, Lê Thọ Vực, Nguyễn Sư Hồi và Lê Nhân Khoái đều nhận 130 mẫu.[17] Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư có lời bàn về những quyết định của Lê Thánh Tông ngay sau khi lên ngôi:

Tuy nhiên, với những người tham gia vụ đảo chính Nghi Dân trước đó bị thất bại và bị Nghi Dân giết như Lê Ê, Lê Thụ, Đỗ Bí, Lê Ngang, khi Nguyễn Xí đề nghị truy phong tiết liệt cho họ thì Lê Thánh Tông không chấp thuận, ngược lại vào tháng 10 năm 1460, ông còn ban ý chỉ coi việc họ binh biến thất bại như tội thần:[19]

"Đã xem hết tờ tâu, trong ấy có xin cho bọn Lê Ê, Lê Thụ, Đỗ Bí, Lê Ngang theo như lệ công thần đã mất, nhưng câu ấy còn có thể bẻ lại được, là vì khoảng năm Diên Ninh, Đỗ Bí, Lê Ê ở chức cao nhất vào hàng tể thần; Lê Ngang, Lê Thụ tay cầm cấm quân, giữ việc an nguy, đáng lẽ phải dẹp yên giặc loạn, chuyển nguy thành an mới phải, thế mà chỉ biết sắp gà vào trong nồi mà để cá kình lọt ra ngoài lưới. Đến sau mưu việc không kín, đến nỗi phải phơi thây ở bên đường. Đó lại thêm một tội khác trong các tội của bọn Bí, Ngang, có khác gì tội giết vua của Triệu Thuẫn ngày xưa, sau được để cùng với những công thần đã mất?"

Với công thần Lê Lăng tham gia cùng Nguyễn Xí, sau khi biết Lăng từng có ý lập con thứ hai của Lê Thái Tông là Cung vương Khắc Xương, Lê Thánh Tông cũng kết án xử tử Lê Lăng vào năm 1462.[20]

Đời vua Lê Thánh Tông dùng hai niên hiệu, đầu tiên là Quang Thuận (1460 – 1469), sau đổi là Hồng Đức (洪德; 1470 – 1497).[21]

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Quan chế – hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Quan chế nhà Lê sơ

Đầu thời Lê, triều đình sử dụng lại quan chế thời Trần, đứng đầu các quan là Tả, Hữu Tướng quốc Bình chương quân quốc trọng sự, dưới là Lễ Bộ, Lại Bộ, Nội các viện, Trung thư, Hoàng môn, ba sở Môn hạ, ngoài ra còn đặt chức Hành khiển ở 5 đạo để quản lý quân dân ngoài kinh đô. Năm 1459, vua Lê Nghi Dân đặt thêm bốn bộ là Binh, Hộ, Hình, Công và sáu khoa gồm Trung thư khoa, Hải khoa, Đông khoa, Tây khoa, Nam khoa, Bắc khoa.[22][23][24] Sau khi lên ngôi, Lê Thánh Tông ban hành những chính sách mới để hoàn thiện bộ máy quan chế-hành chính Đại Việt.

Tháng 10 âm lịch năm 1462, Lê Thánh Tông cho các quan văn, võ ở độ tuổi 65 và các thư lại, giám sinh ở độ tuổi 60 được đệ đơn với Lại Bộ để xin trí sĩ.[25] Ông còn bãi bỏ luật cha truyền con nối cho các gia đình có công - công thần. Tháng 12 âm lịch năm 1464, nhà vua có chỉ dụ:[26]

Rồng đá Điện Kính Thiên được xây thời Lê Thánh Tông

Tháng 3 âm lịch năm 1465, Lê Thánh Tông bỏ 6 bộ, đặt ra 6 viện, mỗi viện đều có Thượng thư và Tả, hữu thị lang đứng đầu. Theo bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí do Phan Huy Chú biên soạn đời Nguyễn, 6 viện này gồm Viện Nghi lễ, Viện Khâm hình, Viện Ty bình, 3 viện còn lại không rõ tên. Các khoa Trung thư khoa, Hải khoa, Đông khoa, Nam khoa, Tây khoa, Bắc khoa lần lượt được tổ chức lại thành Lại khoa, Hộ khoa, Lễ khoa, Binh khoa, Hình khoa, Công khoa; mỗi khoa do một viên Đô sự cấp trung đứng đầu, được một viên Cấp sự trung trợ thủ.[24][27] Sáu khoa có nhiệm vụ giám sát công việc của sáu bộ tương ứng và báo cáo trực tiếp với nhà vua.[28] Nhà vua cũng đổi cơ quan Hành khiển 5 đạo thành các ty Tuyên chính sứ, mỗi ty gồm các chức Tuyên chính sứ. Tham chính, Tham nghị và Chủ sự (theo thứ tự từ cao xuống thấp).[24][27]

Tháng 4 âm lịch năm 1466, vua Lê Thánh Tông lại đổi 6 viện thành 6 bộ như trước năm 1465, mỗi bộ vẫn do Thượng thư và Tả hữu thị lang cai quản. Dưới các chức này, Lê Thánh Tông đặt chức Lang trung, Viên ngoại lang, Tư vụ. Thánh Tông cũng lập ra sáu tự để phụ việc cho sáu bộ; sáu tự gồm Đại lý tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Thái bộc tự, Hồng lô tự, Thượng bảo tự. Mỗi tự do các quan Tự khanh, Thiếu khanh, Tự thừa phụ trách.[29][30] Trong sáu tự, Đại lý tự bổ trợ cho Bộ Hình, bốn tự Thượng bảo tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Hồng lô tự phụ việc Bộ Lễ. Đối với Thái bộc tự, không rõ cơ quan này bổ trợ cho bộ nào, nhưng sử gia K. W. Taylor phỏng đoán rằng Thái bộc tự ít ra đã phải cộng tác với Bộ Binh, Bộ Hộ và Bộ Lễ.[28]

Năm 1467, Lễ bộ thượng thư Phạm Công Nghị tâu với Thánh Tông xin bỏ lệ ban họ vua cho công thần, bởi vì: "Cái sai của việc ban tên họ có quan hệ rất lớn. Vì người làm tôi mà cùng họ với vua thì bất kính, người làm con mà quên mất gốc thì bất hiếu. Làm sao có kẻ bất kính bất hiếu mà làm nên việc được? Nên sửa bỏ lệ ấy đi. Tất cả bề tôi đã được ban cho họ nhà vua đều cho đổi lại theo họ cũ của ông cha để cho tông phái nhà vua được phân minh, cội gốc các họ được rõ ràng". Thánh Tông y theo.[31]

Mùa thu năm 1471, sau khi chinh phục Chiêm Thành, vua Thánh Tông ban bố Hoàng triều quan chế, khẳng định rằng: "Đất đai bờ cõi ngày nay so với trước kia khác nhau nhiều lắm, không thể không thân hành nắm quyền chế tác, làm trọn đạo biến thông", cho nên phải thay đổi, mở rộng bộ máy quan lại, hành chính.[32] Theoo đó nhà vua bỏ các chức Tướng quốc, Bình chương và Bộc xạ; đặt Thái sư, Thái úy, Thái phó, Thái bảo, Thiếu sư, Thiếu úy, Thiếu phó, Thiếu bảo làm các chức quan đầu triều, coi cả văn lẫn võ. Dưới các chức này, ban văn trong triều có các cơ quan sáu bộ, sáu tự, sáu khoa, Ngự sử đài, Hàn lâm viện, Đông các, Quốc tử giám, Quốc sử viện, Phủ doãn, Cung sư phủ, Tư thiên giám, Thái y viện, Bí thư giám, Trung thư giám, Hoa văn giám,..., ở các thừa tuyên, phủ, nhiệm, châu có các nha môn, các quan Khuyến nông, Hà đê; bên võ có các cơ quan: năm phủ, hai vệ, bốn vệ Hiệu lực, bốn vệ Thần võ (tiền, hậu, tả hữu), sáu vệ Điện tiền, bốn vệ Tuần tượng, bốn vệ Mã nhàn,... lo việc bảo vệ hoàng cung, chăm sóc voi, ngựa; ngoài ra còn có các vệ, sở, đô ty, giang hải tuần kiểm... đóng ở các địa phương.[33][34] Các cải tổ của Lê Thánh Tông đã giúp bộ máy chính quyền được mở rộng đáng kể; theo sử gia Đào Duy Anh, tổng sổ quan văn, võ phục vụ dưới thời Thánh Tông có đến 5370 người, gồm 2755 quan triều đình và 2645 quan địa phương.[35][36] Sử gia Tạ Chí Đại Trường viết trong sách Sơ thảo: Bài sử khác cho Việt Nam về bộ máy hành chính thời Lê Thánh Tông:[37]

Tổ chức chi li như thế khiến phát sinh nhiều chức quan – nói như ngày nay là “hệ thống thư lại cồng kềnh”, nhưng chính quyền cũng tính đến việc không phải tổn phí nhiều vì “trước kia quan ít, tước to” nay thì “quan nhiều mà lương ít, trật thấp”. Chi tiết thứ bậc cũng được xác định từ trong hoàng tộc, triều đình ra đến các địa phương từ lớn tới nhỏ với các danh xưng rành rẽ. Về mặt quyền lợi thực tế thì rõ ràng có sự cách biệt rất lớn giữa tầng lớp vương hầu và quan lại – tất nhiên chưa kể đến dân chúng bên dưới. Ấy thế mà triều đình cũng đã thoáng thấy tình trạng “quan viên quá nhiều, tiêu phí lộc kho” nên có lệnh chọn thải bớt người (1481) để đỡ gánh nặng cho nhà nước.

Lê Thánh Tông cũng đề cao ý kiến của các quan; nhiều sáng tạo về hành chính của ông có xuất phát từ sự gợi ý của quan lại. Ông đã ra nhiều chỉ dụ yêu cầu triều thần phải trung thực và thẳng thắn khi trình bày quan điểm với hoàng đế, không được nói nước đôi, hai nghĩa.[38] Ông còn đặt phép tắc về việc bàn luận của quan viên: khi có thánh chỉ xuống, thì theo thứ tự, Lục khoa và Ngự sử đài bàn bạc trước, sau đó đến Lục bộ, Lục tự, rồi tới lượt công, hầu, bá, đô đốc năm phủ. Các quan đều phải trình bày rõ ý kiến của mình, không được giữ im lặng, trốn tránh hoặc a dua theo người khác. Quan nào vi phạm luật lệ này, sẽ bị ngự sử trách hỏi rồi tâu lên vua.[33][39]

Năm 1485, Lê Thánh Tông xử tử Thái tử thiếu bảo Ngự sử đài đô ngự sử Trần Phong vì khi Trần Phong làm kinh diên cho Nhân Tông thì "yêu quý Lệ Đức [Lê Nghi Dân], rất khinh miệt ta [Thánh Tông]" và khi làm quan thời Hồng Đức, từng phê bình nhà vua "đặt quan hiệu của nhà Minh mà làm trái thông chế của quốc triều".[40]

Theo sử gia Mỹ John K. Whitmore, các cải cách của Lê Thánh Tông đã được mô phỏng theo cách tổ chức nhà nước của Minh Thái Tổ, hoàng đế khai quốc nhà Minh của Trung Quốc. Mục đích của Lê Thánh Tông là giảm sự chi phối từ các đại thần võ tướng đã cộng sự với Lê Thái Tổ trong cuộc kháng chiến chống Minh, và thay họ bằng đội ngũ quan liêu được tuyển chọn qua các kỳ thi Nho học. Lê Thánh Tông còn áp dụng lối văn phong các chiếu chỉ thời Minh Thái Tổ vào các chiếu chỉ của chính mình. Sử Việt chép tháng 12 âm lịch năm 1467, ông đặt ra ấn "Thiên Nam Hoàng đế chi bảo" (天南皇帝之寶), thể hiện ý muốn của ông coi Đại Việt là một Thiên triều phía Nam độc lập, có đầy đủ những gì Thiên triều phía Bắc (nhà Minh - Trung Quốc) có, và có sức mạnh chính trị, văn hiến không thua kém Bắc quốc.[41][42] Bên cạnh đó, sử gia K. W. Taylor nhận xét Lê Thánh Tông có thể đã lấy cảm hứng từ nhà Minh để cải cách cơ cấu nhà nước, nhưng không rập khuôn hẳn theo nhà Minh. Theo Taylor, lời chỉ trích Lê Thánh Tông được gán cho Trần Phong chỉ mang tính nông cạn, có thể bộc lộ sự hoài niệm về các triều đại bất ổn của Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông.[43]

Tháng 3 âm lịch năm 1493, vua Lê Thánh Tông đặt lệ về thứ tự đứng chầu của đình thần: đối với các quan cùng phẩm, thì người lớn tuổi và làm việc lâu năm đứng trước, người trẻ và làm việc chưa lâu đứng sau. Với các chức quan cai quản thì: "người phẩm thấp mà chức cao, như tam phẩm làm Đô đốc thì đứng vào ban nhị phẩm; thất, bát phẩm làm Lang trung thì đứng vào ban lục phẩm. Nếu phẩm cao mà chức thấp, như nhị phẩm làm Vệ quan thì đứng vào ban tam phẩm; từ, ngũ phẩm làm Viên ngoại lang thì đứng vào ban lục phẩm; còn lại cứ theo thế mà suy ra".[33][44]

Lê Thánh Tông rất quan tâm tiến cử, phong thưởng những quan viên có tài đức, giáng chức người bất tài, tham ô. Ông đã nhiều lần dụ các bộ triều đình, 3 ty Đô, Thừa, Hiến các xứ, phải xem xét "người nào liêm khiết hay được xét các quan lại trong bộ thuộc của mình, người nào liêm khiết hay tham ô, chuyên cần hay lười biếng, cùng các quan nho học dạy dỗ nhân tài, hằng năm có người được sung cống sĩ hay không, nhiều hay ít, đều ghi tên tâu lên để định việc thăng hay giáng", hay "các quan cai quản quân dân trong kinh ngoài trấn, trong đó có người liêm khiết, cũng có kẻ tham nhũng, nếu không phân biệt nêu lên thì khuyên răn thế nào được? Trong thi Đô đốc năm phủ, ngoài thì đường quan ba ty Đô, Thừa, Hiến, các quan hãy công bằng mà bảo cử các quan vệ, phủ, huyện, châu trong ngoài, người nào liêm khiết, người nào tham nhũng đều phải khai rõ sự thực, hẹn trong 3 tháng kể từ ngày sắc chỉ đưa tới, làm bản tâu lên, giao cho Ngự sử đài xét lại mà thi hành khu xử để tỏ rõ cách khuyên răn và để nới sức cho quân dân". Ông cũng ban hành hàng loạt sắc lệnh, cảnh báo và nghiêm cấm các quan tham ô, hối lộ, gian dối, biếng nhác, trễ nải, thu thuế chậm chạp, không hoàn tất công việc đúng kỳ hạn, sống phóng đãng, chìm đắm tửu sắc, thông dâm với vợ người, gia đạo không nghiêm, cưới người đàn bà ở nơi mình trấn nhậm, mặc triều phục không đúng quy chế, lễ lạc quá đà, nhổ trầu, vứt bã trầu lung tung trong sân điện,...[28][45][46] Ngay cả khi Nguyễn Xí (một công thần lớn từng phò Thái Tổ đánh Minh và lập Thánh Tông lên ngôi) cùng con là Nguyễn Sư Hồi nhận 80 lạng bạc do Ngô Tây hối lộ, Thánh Tông sai Tư lễ giám Nguyễn Áng đến bắt cha con Nguyễn Xí phải nộp lại 80 lạng bạc đó.[47] Sự quản lý chặt chẽ này đã khiến bá quan phải cẩn thận với hành vi của mình.[28] Trong sách Việt Nam sử lược, sử gia Trần Trọng Kim viết: "Ngài [Lê Thánh Tông] lại lập ra quan chế và lễ-nghi theo như bên Tàu. Các quan văn võ có phần ruộng đất, lại được tiền tuế bổng. Nhưng ai mà làm điều gì nhũng-lạm thì đều phải nghiêm trị".[1] Bên cạnh đó, sử gia Tạ Chí Đại Trường ghi nhận quy chế "đặt quan đều là lương ít trật thấp" theo Hoàng triều quan chế cũng khiến cho quan viên rất nghèo, nhận lương không đủ cho sinh hoạt; quan thanh liêm như Nguyễn Trực, làm việc tại Viện Hàn lâm thời Thánh Tông, đến lúc mất chỉ có vài sào ruộng của vợ. Điều này khiến cho các quan phải xoay xở để trục lợi, tệ tham ô vẫn cứ tồn tại sang các triều vua sau.[48]

Quy định về tước hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 âm lịch năm 1471, Lê Thánh Tông ban bố quy định về việc phong tước cho tôn thất, quan lại: hoàng tử hoặc con cả của hoàng tử được lãnh tước Vương, đối với hoàng tử (tức thân vương) thì lấy chữ trong tên phủ mà đặt hiệu (chẳng hạn như Kiến Hưng vương lấy từ tên của phủ Kiến Hưng), với con trưởng của hoàng tử (tức tự thân vương) thì dùng tên huyện làm hiệu (chẳng hạn như hiệu Hải Lăng vương lấy từ tên của huyện Hải Lăng). Các con thứ của hoàng thái tử và thân vương thì được giữ tước Công, dùng mỹ tự (từ hoa mỹ) làm tên hiệu, chẳng hạn Triệu Khang công. Con trưởng của tự thân vương hoặc tôn thất có tước Công thì được trao tước Hầu, cũng dùng mỹ tự làm tên hiệu, ví dụ như Vĩnh Kiến hầu. Ngoài ra còn có tước Bá được dành cho hoàng thái tôn, các con thứ của tôn thất có tước Công, con trưởng của thân công chúa; tước Tử được đặt tương đương với chánh nhất phẩm, dành cho con thứ của thân công chúa, con trưởng của tôn thất mang tước Hầu, tước Bá; tước Nam tương đương với tông nhất phẩm, dành cho con trưởng của thân công chúa được truy tặng, con thứ của tôn thất mang tước Hầu, tước Bá, cả ba tước này đều lấy tên hiệu theo mỹ tự (tỷ như Tĩnh Cung bá, Kiến Xương tử, Quảng Trạch nam,...).[49][50]

Lê Thánh Tông còn đặt lệ cho các công thần được phong tước quốc công, quận công, hầu, bá. Những người không có đức độ, công lao rõ ràng đối với triều đại, thì không được xem như công thần và không được phong các tước đó. Đối với người mang tước quốc công, quận công thì lấy một chữ trong tên phủ, huyện để đặt hiệu (chẳng hạn Tĩnh quốc công Lê Niệm, Phủ quốc công Lê Thọ Vực); với người mang tước hầu, tước bá thì lấy cả hai chữ trong tên xã để đặt hiệu (ví dụ tước Nam Xương hầu đặt theo tên xã Nam Xương, tước Diên Hà bá đặt theo tên xã Diên Hà).[50]

Lê Thánh Tông cũng ban hành rất nhiều chính sách về việc đặt cấp bậc cho quan, tướng có đại công, được mô tả chi tiết trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (quyển XVII - Quan chức chí (V) - Tước ấm và đường xuất thân khác nhau).[50] Đại Việt Sử ký Toàn thư chép đại lược rằng:[49]

"Về cấp bậc của người có công lao thì bên văn từ Thượng trụ quốc đến Tu thận thiếu doãn gồm 5 phẩm, đều có chánh, tòng. Bên võ từ Thượng trụ quốc đến Thiết kỵ úy gồm 5 phẩm cũng có chánh, tòng. Tản quan bên văn, từ chánh nhất phẩm, sơ thụ Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, cho đến chánh cửu phẩm sơ thụ Tướng sĩ thứ lang, gồm 9 phẩm, đều có chánh, tòng. Tản quan bên võ từ chánh nhất phẩm sơ thụ Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân đến tòng lục phẩm, sơ thụ Quả cảm tướng quân gồm 6 phẩm, đều có chánh tòng. Nội quan tản từ Thị trung lệnh chánh tam phẩm đến Phó lịch sứ tòng cửu phẩm gồm 7 bậc, cũng có chánh, phó. Về thông tư thỉ thượng trật 24 tư đến hạ liệt 1 tư gồm 19 bậc. Về công thần được vinh phong thì từ chữ "suy trung" đến chữ "tuyên lực", gồm 24 chữ. Đại để các quan văn võ có công thì ban đầu được phong từ 2 chữ đến 8 chữ. Người nào đáng được phong chữ nào thì tới lúc đó sẽ đặc xét gia phong."

Sử gia Phan Huy Chú đã ca ngợi các chính sách phân chia cấp tước của Lê Thánh Tông:

Sự phân biệt về tước cấp, từ thời Hồng Đức đã quy định từng hạng rõ ràng. Trong những bậc tản quan, thông tư, vinh phong, đều có phép sẵn, các đời noi theo không thay đổi. Đó là thể lệ phong tước bái quan, trong hơn 300 năm nhà Lê vẫn theo như thế, nên nay chép cả ra đây.[50]

Phân chia hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Đời vua Lê Thái Tổ, Đại Việt được chia làm 5 đạo, các đơn vị hành chính dưới đạo là phủ, lộ, trấn, châu, huyện, xã. Quan cai trị đạo là Hành khiển, Tuyên phủ chánh phó sứ; cai trị phủ là Tri phủ; cai trị lộ là An phủ sứ; cai trị trấn là Trấn phủ sứ; cai trị huyện là Chuyển vận sứ, Tuần sát sứ; cai trị xã là Xã quan.[1] Đến thời Lê Thánh Tông, năm 1466, nhà vua chia nước thành 12 đạo thừa tuyên và Trung đô phủ, lại đặt các ty Đô, Thừa để cai quản. Thánh Tông đổi lộ thành phủ, trấn thành châu, đổi chức An phủ thành Tri phủ, Trấn phủ thành Đồng tri phủ, Chuyển vận sứ thành Tri huyện, Tuần sát sứ thành Huyện thừa, Xã quan thành Xã trưởng.[33]

An Nam quốc đồ thời Hồng Đức (1490)

Năm 1469, Lê Thánh Tông đổi phủ Trung đô làm phủ Phụng Thiên, quản lĩnh 2 huyện Quảng Đức, Thọ Xương.[51]

Năm 1471, sau khi chinh phục Chiêm Thành, Lê Thánh Tông lập đạo thừa tuyên Quảng Nam, nâng số thừa tuyên của Đại Việt lên 13.[33] Ông còn lập thêm ty Hiến, chia nhau cùng các ty Đô, Thừa cai quản thừa tuyên. Ty Đô do chánh phó Đô tổng binh đứng đầu, nắm việc quân sự; ty Thừa do Thừa chính chánh phó sứ đứng đầu, nắm việc hành chính; còn ty Hiến do Hiến sát chánh phó sứ đứng đầu, coi việc luật pháp.[1] 13 thừa tuyên thời Lê Thánh Tông (năm 1490 đổi làm xứ) bao gồm:

  1. Nam Sách gồm (Hải Dương, Hải Phòng ngày nay), quản lĩnh 4 phủ, 18 huyện;
  2. Thiên Trường (Sơn Nam) gồm (Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên ngày nay), quản lĩnh 11 phủ, 42 huyện;
  3. Quốc Oai (Sơn Tây) gồm Hà Tây, Sơn Tây, Vĩnh Phúc ngày nay), quản lĩnh 6 phủ, 24 huyện;
  4. Bắc Giang (Kinh Bắc) gồm (Bắc Giang, Bắc Ninh ngày nay), quản lĩnh 4 phủ, 19 huyện;
  5. An Bang là (Quảng Ninh ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 3 huyện, 4 châu;
  6. Tuyên Quang gồm (Tuyên Quang, Hà Giang ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 2 huyện, 5 châu;
  7. Hưng Hóa gồm (Phú Thọ, Yên Bái ngày nay), quản lĩnh 3 phủ, 4 huyện, 17 châu;
  8. Lạng Sơn gồm (Lạng Sơn ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 7 châu;
  9. Thái Nguyên (Ninh Sóc) gồm (Thái Nguyên, Bắc Kạn và Cao Bằng ngày nay), quản lĩnh 3 phủ, 8 huyện, 7 châu;
  10. Thanh Hóa gồm (Thanh Hóa, Ninh Bình ngày nay), quản lĩnh 4 phủ, 16 huyện, 4 châu;
  11. Nghệ An gồm (Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay), quản lĩnh 8 phủ, 18 huyện, 2 châu;
  12. Thuận Hóa gồm (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế ngày nay), quản lĩnh 2 phủ, 7 huyện, 4 châu;
  13. Quảng Nam gồm (Bình Định, Quảng NgãiQuảng Nam ngày nay)

Tháng 6 âm lịch năm 1467, vua Lê Thánh Tông dụ các thừa tuyên xem xét, tìm hiểu địa thế núi, sông và các sự tích trong địa phương mình, để vẽ địa đồ nơi đó, rồi trình lên cho Bộ Hộ tổng hợp thành bản đồ hoàn chỉnh của Đại Việt.[52] Ngày 5 tháng 4 âm lịch năm 1490 (tức ngày 24 tháng 4 dương lịch), bộ bản đồ Đại Việt được hoàn tất, gọi là bản đồ Hồng Đức (Hồng Đức bản đồ sách, 洪德版圖冊). Bản đồ ghi nhận nước Việt có 13 thừa tuyên, 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường, 6851 xã, 322 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguồn, 30 trường.[53]

Tháng 9 âm lịch năm 1471, Lê Thánh Tông đặt chức Giám sát ngự sử 13 đạo để giám sát công việc của quan lại các đạo, ngăn không cho họ nhũng lạm.[1][54]

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thánh Tông cũng ban bố rất nhiều chính sách nhằm củng cố, mở rộng sức mạnh quân đội Đại Việt. Ngay sau khi lên ngôi, vào tháng 7 âm lịch năm 1460, ông đã chỉ thị cho các tổng quản, chỉ huy các vệ quân năm đạo và quân các phủ, trấn:[15]

Khoảng năm 1465-1470, Lê Thánh Tông ban hành chính sách tuyển quân: cứ 3 năm một lần làm lại hộ khẩu gọi là "tiểu điển", 6 năm một lần gọi là "đại điển. Cứ 6 năm 1 lần, các xã trưởng mang sổ hộ khẩu của mình tới Đông Kinh chiếu vào viết lại trong chính thư của triều đình về số dân hiện tại trong xã.[55][56] Cũng định kỳ 6 năm một lần, triều đình cử một số nội thần và quan văn, võ, về địa phương dựng lập trường tuyển, sau đó duyệt tân binh. Trừ các hàng chức sắc, quan lại, các dân đinh từ 18 tuổi trở lên đều phải đăng ký vào hộ tịch và được chia làm các bậc: tráng hạng, quân hạng, dân hạng, lão hạng, cố hạng, cùng hạng. Khi cần điều động, sẽ đưa tráng đinh làm lính, dâng tráng sung vào hạng quân ở nhà làm ruộng. Khi nào thải người già yếu, thì chiếu theo thứ tự lấy bổ sung vào. Lệ tuyển dân đinh vào làm lính như sau: nhà có 3 dân đinh thì 1 người vào hạng lính tráng, 1 người vào hạng quân, 1 người vào hạng dân; nhà có bốn người thì bổ 2 người hạng dân; nhà từ 5 đinh trở lên thì 2 người bổ hạng lính, 1 người bổ hạng quân ứng vụ.[56] Sử gia hiện đại Tạ Chí Đại Trường có nhận xét về cách tuyển quân này:[57]

Trước đây Lê Thái Tổ đã chia quân đội (ngoài cấm quân) làm năm vệ quân: Bắc đạo, Nam đạo, Đông đạo, Tây đạo và Hải Tây đạo, trấn giữ năm đạo hành chính trong nước. Sang thời Thánh Tông, năm 1466 nhà vua đổi vệ quân năm đạo thành quân năm phủ, bao gồm: Bắc quân phủ đóng ở mạn Kinh Bắc, Lạng Sơn; Trung quân phủ cai quản vùng Thanh Hóa-Nghệ An; Đông quân phủ cai quản vùng Hải Dương, Yên Bang; Tây quân phủ cai quản vùng Tam Giang, Hưng Hóa; Nam quân phủ cai quản các vùng Sơn Nam, Thuận Hóa, Quảng Nam. Riêng mạn Thái Nguyên, Tuyên Quang có quân Phụng trực trấn thủ. Mỗi quân có phủ đô đốc chỉ huy; chức quan cao nhất trong phủ này là Tả Hữu Đô đốc. Biên chế mỗi quân có 6 vệ, mỗi vệ có 5-6 sở, mỗi sở có 20 đội, mỗi đội gồm 20 người. Sử gia Trần Trọng Kim ước tính cả năm phủ đô đốc cộng lại là 6-7 vạn quân.[58][59] Cùng năm 1466, Lê Thánh Tông lần lượt đổi tên các chức chánh ngũ trưởng, phó ngũ trưởng, đội sử thành tổng kỳ, tiểu tổng kỳ, quân lại.[58]

Đối với cấm quân, năm 1470, Lê Thánh Tông lập các vệ quân Kim ngô, Cẩm y. Vệ Kim ngô được hợp thành từ 2 ty Tráng sĩ, Thần tý; vệ Cẩm y được hợp thành từ 2 ty Binh mã, Nghi vệ. Nhà vua còn lập thêm bốn vệ Hiệu lực, bốn vệ Thần vũ (đều được chia làm tiền, hậu, tả, hữu), 6 vệ Điện tiền (gồm vệ quân Vũ lâm, Tuyên trung, Thiên uy, Thủy quân, Thần sách, Ứng thiên), 4 vệ Tuần tượng cùng 4 vệ Mã nhàn. Năm 1490, Lê Thánh Tông mở rộng biên chế các vệ Kim ngô, Cẩm y, Thần vũ, Điện tiền; từ đây vệ Cẩm y có tới 20 ty, vệ Kim ngô có tới 100 ty.[58]

Sử gia Phan Huy Chú đã nhận xét về cách tổ chức quân đội thời Lê Thánh Tông:[58]

Cuối năm 1465, Lê Thánh Tông đặt ra phép tập trận đồ quân thủy bộ. Đối với thủy quân, ông ban các trận đồ: Trung hư, Thường sơn xà, Mãn thiên tinh, Nhạn hàng, Liên châu, Ngư đội, Tam tài, Thất môn, Yển nguyệt, cùng 32 điều quân lệnh về thủy trận. Bộ quân thì có các trận đồ: Trương cơ, Tương kích, Cơ binh, và 32 điều quân lệnh về tượng trận, 27 điều quân lệnh về mã trận, 42 điều về bộ trận dành cho quân Kinh vệ (về sau, tháng 3 âm lịch năm 1484, ông còn ban bố điều lệnh Hồng Đức quân vụ, gồm 27 điều)[46].[60][61] Mùa xuân năm 1467, Thánh Tông đi tuần nhiều nơi, tổ chức nhiều đợt diễn tập lớn cho quân đội: ngày 20 thủy quân tập trận đồ Trung hư trên sông Lỗ, ngày 23 tập trận đồ Tam tài, Nhất môn trên sông Vĩ, ngày 26 lại tập trận đồ Ngư đội, Nhạn hàng trên sông An Cha, tập trận đồ Thường sơn trên ngã ba sông Bạch Hạc. Kỷ luật tập trận rất nghiêm ngặt: trong cuộc diễn tập trên sông Vĩ ngày 23, Thánh Tông đã bắt trói Tây quân đô đốc Lê Thiệt và thuộc hạ vì bất tuân lệnh vua (về sau được tha).[62]

Lê Thánh Tông còn đặt lệ tổ chức thi võ 3 năm 1 lần ở kinh sư; những người mang tước công, hầu, bá, tử, nam và mọi quan võ trong triều, ngoài địa phương đều phải dự thi. Các quan, tướng thi đạt đều được phong thưởng, người thi không đạt phải bị xử phạt. Thể lệ thi được ghi lại trong Đại Việt Sử ký Toàn thư: "Mỗi người thi bắn cung tên 5 phát, ném thủ tiễn 4 chiếc, đấu mộc 1 tao. Trúng được từ 8 đến 10 là thượng cấp; từ 7 sáu đến 7 là trung cấp, từ 4 đến 5 là hạ cấp; đều được thưởng theo thứ bậc khác nhau. Nếu trúng từ 2 đến 3 thì không được thưởng cũng không bị phạt; trúng từ 1 đến không trúng thì phải phạt tiền cũng theo thứ bậc khác nhau".[59][63]

Theo một số sử gia hiện đại (trong đó có Sun Laichen - người Trung Quốc), thì vũ khí quân sự dưới thời Lê Thánh Tông đã có những tiến bộ vượt bậc, do vốn có các kỹ thuật và sáng chế cùng kĩ năng chế tạo vũ khí cực kì tinh xảo của Đại Việt thời nhà Hồ về vũ khí tầm xa như hỏa thương, hỏa hổ, súng thần công,... hợp với số vũ khí khá tân tiến thu được trước đây trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã tạo nên cho Đại Việt một kho vũ khí đa dạng và hùng mạnh, có thể vượt xa so với vũ khí châu Âu cùng thời về sát thương và chất lượng.[64]

Lê Thánh Tông rất chú ý đến việc tích trữ lương thảo ở các vùng biên cương để sử dụng cho quân lương khi cần thiết. Một nghệ thuật làm lương khô thời Lê Thánh Tông được sử sách ghi lại là một kỹ thuật đặc biệt của Đại Việt, đó là đồ (hấp) thóc chín và sấy khô.[65] Loại lương khô này có thể cất giữ vài năm không bị mất phẩm chất và rất tiện cho việc vận chuyển và sử dụng trong chiến tranh, đặc biệt là dùng cho quân đội viễn chinh.

Dưới thời vua Lê Thánh Tông, nước Đại Việt tương đối yên ổn. Có vài lần ông phải điều binh đánh Bồn Man, Lan Xang quấy rối phía Tây (1460, 1467, 1469), quân của Sầm Tổ Đức, Lý Lân nước Minh (1467), quân Sơn Man từ châu Bằng Tường bên Minh quấy nhiễu phía Bắc (1473, 1474), nhưng chỉ khi chinh phục Chiêm Thành (1471) và Bồn Man, Lan Xang (1478-80) mới dùng đến đại quân.[66][59][67][68] Các chính sách quân sự của Thánh Tông đã góp phần củng cố nền cai trị của triều Lê, và đưa Đại Việt trở thành cường quốc ở bán đảo Trung-Ấn[69].

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thánh Tông còn đặc biệt quan tâm các chính sách nhằm phát triển kinh tế như: sửa đổi luật thuế khóa, điền địa, khuyến khích nông nghiệp, mở đồn điền, kêu gọi người phiêu tán về quê,đặt ra luật quân điền chia đều ruộng đất cho mọi người. Ngay từ khi mới lên ngôi, tháng 3 âm lịch năm 1461, ông đã ra sắc chỉ cho các quan, huyện, lộ, trấn xã nhằm tối đa hoá sản xuất: "Từ nay về sau, trong việc làm ruộng, phải khuyến khích quân dân đều chăm nghề nghiệp sinh nhai, để đủ ăn mặc, không được bỏ gốc theo ngọn, hoặc kiếm chuyện buôn bán, làm trò du thủ du thục. Người nào có ruộng đất mà không chăm cày cấy, thì quan cai trị bắt trình trị tội".[70] Những nỗ lực nhằm xây dựng phát triển Đại Việt của Lê Thánh Tông đã được kiểm chứng qua các bài chiếu, chỉ dụ do ông trực tiếp chấp bút và ban bố, như Chiếu khuyến nông, Chiếu định quan chế, v.v...

Lê Thánh Tông đã lập các chức quan Hà đê, Khuyến nông để dễ chăm lo việc nông tang. Ông còn ra lệnh cho Bộ Hộ và các quan địa phương báo cho ông biết nơi nào có đất hoang, rồi ông dụ phủ huyện đôn đốc dân đi khai hoang, mở ruộng.[1] Năm 1466, theo lời tâu của Tuyên chính sứ Tây đạo Trần Phong, Lê Thánh Tông tuyên bố các văn tự cầm bán ruộng đất từ thời Trần, Hồ và thời thuộc Minh hết hiệu lực và không được chuộc lại, nhưng nếu từ sau năm 1428 thì cho phép chuộc lại.[60] Ông cũng đặt ra những quy định về quyền tư hữu ruộng đất, nghiêm trị những người cưỡng đoạt, lấn chiếm ruộng của người khác, hoặc chặt cây và tre trong ruộng của người khác. Theo sử gia Mỹ K. W. Taylor, triều đình Lê Thánh Tông quan tâm đến đời sống làng xã hơn bất kỳ một triều vua nào trước. Điều này xuất phát từ sự gia tăng số lượng quan chức ở làng xã và từ cách quản lý sâu sát của Lê Thánh Tông.[71] Ngoài ra, năm 1481, nhà vua cho lập 42 sở đồn điền trong cả nước, chia thành 3 bậc thượng, trung, hạ, nhằm "dùng hết tiềm lực của nghề nông, mở rộng nguồn trích trữ cho nhà nước".[1][46] Chính sách của Thánh Tông đã khiến cho việc canh nông trôi chảy, như các quan Bộ Lễ từng mô tả: "thời tiết thuận hòa, mùa màng bội thu, dân chúng yên vui, muôn vật dồi dào".[72]

Bên cạnh đó, thời Thánh Tông trị vì có một số lần hạn hán, đói kém xảy ra (1467, 1468, 1473, 1476, 1489-1490, 1492), ông đều giải quyết mạnh mẽ. Chẳng hạn như năm 1467 có sâu cắn lúa, nhà vua cử Lễ bộ thượng thư, Lại bộ thượng thư và các đạo sĩ đi tế thần linh để diệt trừ sâu lúa. Ông còn giảm tô ruộng và thuế nhân đinh sau khi nghe Bộ Hộ tâu là mùa màng kém. Tháng 9 âm lịch năm này, một cơn bão hoành hành ở phủ ven biển là Nam Sách, Giáp Sơn, Thái Bình, Kiến Xương, làm nước biển dâng cao, đê điều tan vỡ, ruộng lúa bị ngập và nhiều người chết đói. Thánh Tông lập tức ban lệnh ngừng xây dựng cung thất, lại cho quân sĩ vùng ven biển hoãn thao luyện để dồn sức khôi phục các đê ven biển và giảm thiểu thiệt hại của bão. Đồng thời ông sai Giám sát Đinh Nhân Phủ, Thiều Duy Tinh chia nhau đi đôn đốc việc xây lại đê điều. Cùng thời gian này, giá gạo ở kinh đô tăng vọt, nhà vua thấy giá gạo ở Nghệ An rẻ hơn nên sai quan thừa tuyên Nghệ An vận chuyển gạo về kinh sư.[71][72] Hoặc như trong năm 1489-90 có đại hạn, Thánh Tông ban bố lệnh đại xá gồm 45 điều, rồi truyền Hàn lâm viện cùng các Khoa, Đài, Cẩm y vệ hiệu uý chia nhau đến các phủ huyện, phát thóc công để cứu đói cho dân.[73] Sử cũ còn ghi năm 1496, thấy trời không mưa, Thánh Tông tự mình cầu đảo, cuối cùng trời có mưa.[36][74]

Các ngành nghề thủ công nghiệp và xây dựng ngay từ đầu thời Lê Thánh Tông đã phát triển mạnh mẽ và "đã vượt lên trên mức độ của thời Trần mạt" (theo lời sử gia Đào Duy Anh).[75] Nghề in và làm giấy ở Đại Việt đạt một trình độ cao của thế giới thời bấy giờ. Số lượng sách in thời này khá đồ sộ. Đặc biệt nhất thời kỳ này là thành tựu trong công nghệ chế tạo vũ khí và đồ sắt chiếm ưu thế. Đồ gốm, sứ thời Lê sơ phát triển đạt được độ tinh xảo và hoa văn đẹp. Việc giao thương buôn bán đã chắp cánh cho đồ gốm thời này đi xa và hiện nay bộ sư tập về đồ gốm Lê sơ cũng rất phong phú. Trong bộ Việt sử tiêu án, danh sĩ đời Lê trung hưng Ngô Thì Sĩ có ca ngợi vua quan thời Hồng Đức vì ưu tiên dùng hàng quốc nội, không lệ thuộc vào đồ dùng Trung Hoa:[76]

Thương mại và giao dịch buôn bán với các lân bang phát triển mạnh, cùng với bước chân viễn chinh xa xôi của đội quân đế chế Đại Việt. Để tạo thuận tiên cho việc mua bán Lê Thánh Tông đã từng khuyến dụ các quan rằng:

Có thể dưới thời Lê Thánh Tông, phiên chợ được mở mang nhiều.

Chính nhờ sự quan tâm đến việc phát triển thương nghiệp nên nền nông nghiệp đã phát triển mạnh mẽ. Các nghề thủ công như: Dệt lụa, ươm tơ, dệt vải, nghề mộc, nghề chạm, nghề đúc đồng cũng phát triển. Đế đô Đông Kinh 36 phố phường sầm uất, nhộn nhịp tồn tại phát triển đến tận ngày nay. Phường Yên Thái làm giấy, Phường Nghi Tàm dệt vải lụa, Phường Hà Tân nung vôi, Phường Hàng Đào nhuộm điều, Phường Ngũ Xá đúc đồng, Phường gạch và gốm sứ Bát Tràng và nhiều phường khác nữa, v.v...

Nhờ những cải cách tích cực này mà nền kinh tế Đại Việt nhanh chóng dược phục hồi và phát triển.

Luật pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Luật Hồng Đức

Sau khi đánh bại quân Minh, vua Lê Thái Tổ đã bắt đầu soạn thảo luật pháp.[77] Đến năm 1483, vua Thánh Tông sai các đình thần sửa đổi, biên soạn lại các điều luật cũ, làm thành bộ Quốc triều hình luật (còn gọi là Luật Hồng Đức). Bộ luật gồm 6 quyển, 722 điều, và được sử dụng suốt từ thời Hồng Đức đén hết thế kỷ XVIII. Trong việc biên soạn bộ luật này, triều đình có tham khảo các bộ luật nhà Đường, nhà Minh bên Trung Quốc. Tuy nhiên, bộ luật của Lê Thánh Tông chứa đựng những sáng tạo đáng kể khiến nó gần gũi hơn với các đặc điểm xã hội, tôn giáo của Đại Việt. Trong số 722 điều của Quốc triều Hình luật, có đến 342 điều hoàn toàn không tương ứng với các điều luật của Trung Quốc. Trong các điều luật còn lại thì 200 điều chịu ảnh hưởng một mức độ nào đó luật nhà Đường, chỉ có 14 điều mô phỏng trực tiếp từ luật nhà Minh.[78][79] Với bộ luật này, Đại Việt đã hình thành một nhà nước pháp quyền sơ khởi và thuộc loại sớm trên thế giới.[80],

Bộ luật Hồng Đức thời Lê có nội dung cơ bản như sau:

  • Giữ cho đất nước luôn ở thế chủ động đối phó với sự xâm lược từ bên ngoài;
  • Giữ nghiêm kỷ cương, phép nước;
  • Chấn hưng nông nghiệp, coi nông nghiệp là nền tảng của sự ổn định kinh tế xã hội;
  • Mở rộng giao lưu khuyến khích thủ công nghiệp, thương nghiệp lành mạnh;
  • Bảo vệ quyền sở hữu tài sản của muôn dân, chống tham nhũng triệt để, chống sự lạm quyền và ức hiếp dân chúng.
  • Khuyến khích nuôi dưỡng thuần phong mỹ tục và phát triển kinh tế
  • Bênh vực và bảo vệ quyền lợi phụ nữ (khác với luật pháp Trung Hoa đương thời, luật Hồng Đức cho phép phụ nữ có quyền ly hôn, con gái trong gia đình có quyền thừa kế tương đương với con trai, con gái lấy chồng không nhất thiết phải qua sự cho phép của cha mẹ)[36][81]
  • Bảo vệ quyền lợi của vua và quan lại, bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị địa chủ phong kiến

Đánh giá về 1 khía cạnh trong bộ luật Hồng Đức, sử gia Hàn Quốc Yu Insun viết: "luật về quyền thừa kế gia tài và chế độ hương hoả ở bộ Luật nhà Lê là đặc thù cho xã hội Việt Nam. Theo quy định, 1/20 tài sản thờ cúng tổ tiên, phần còn lại chia đều cho các con, bất kể trai, gái (17; 93-94)".[82]

Lê Thánh Tông là người thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật đã ban hành. Một lần, ông đã thu lại quyền chỉ huy của tổng quân đô đốc Lê Thiệt vì con trai Lê Thiệt là Bá Đạt phóng ngựa trên đường phố giữa ban ngày và dung túng gia nô đánh người.[83] Lê Thánh Tông thường bảo với các quan rằng:

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thánh Tông đã lập nhà Tế sinh để chữa bệnh giúp dân. Ông còn quy định, ở địa phương nào có dịch bệnh xảy ra, các quan nơi này được phép trích tiền thuế để mua thuốc trị bệnh cho dân.[1][84]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng với việc xây dựng thiết chế mới, Lê Thánh Tông rất chú trọng việc mở mang giáo dục, bồi dưỡng nhân tài. Triều đình thời ông có Hàn lâm viện, Đông các viện, Quốc sử viện, Quốc Tử Giám, nhà Thái học là những cơ quan chuyên phụ trách văn hóa-giáo dục trong nước.[59][85]

Tháng 3 âm lịch năm 1467, vua Thánh Tông thấy học sinh Quốc Tử Giám đa số học Kinh Thi, Kinh Thư, ít chịu học Kinh Lễ, Kinh DịchXuân Thu, nên ông đặt chức Ngũ kinh bác sĩ, mỗi người hiểu biết chuyên về một kinh để giảng dạy ở Quốc Tử Giám.[62] Ngoài ra, ông còn đặt chức Giáo tập bác sĩ ở các vệ quân, và chức Huấn đạo chuyên dạy Nho học ở các phủ.[33][86][87]

Tháng 10 âm lịch năm 1484, Lê Thánh Tông cho sửa sang, mở rộng Văn Miếu-Quốc Tử Giám; chi tiết được ghi lại trong Đại Việt Sử ký Toàn thư: "[Vua] làm điện Đại Thành ở Văn Miếu cùng nhà đông vu, tây vu, điện Canh phục, kho chứa ván in và đồ tế lễ, nhà Minh luân, giảng đường đông tây, nhà bia đông tây, phòng học của sinh viên ba xá, và các cửa, xung quanh xây tường bao".[46] Ông còn ra lệnh cho các phủ hàng năm phải làm lễ tế ở Văn miếu của địa phương mình vào các ngày thượng tuần tháng 2, tháng 8 (âm lịch).[88]

Khoa cử[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 âm lịch năm 1462, ông đặt lệ bảo kết thi Hương, quy định rằng: Người muốn dự thi, dù là bình dân hay quân lính, đều phải đi khai tên và căn cước ở đạo của mình trong thượng tuần tháng 8 (âm lịch) năm 1462. Sau đó, quan coi đạo sẽ cùng xã trưởng làm giấy cam kết về đạo đức của người ứng thí, ai được cam kết là có đức độ, trong sạch thì mới được vào thi. Những người "bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, loạn luân, điêu toa" thì học rộng, giỏi văn chương đến mấy cũng không được đi thi. Đối với người làm nghề xướng ca, người từng tham gia, thông đồng với các nhóm phản loạn và ngoại bang thì bản thân họ và con cháu đều bị cấm thi. Ai được dự thi thì phải nộp giấy thông thân cước, ghi chính xác nơi ở (phủ, huyện, xã), tuổi tác, lý lịch của cha mẹ và của bản thân, tên quyển kinh mà mình chuyên học. Thể lệ thi Hương gồm các bước:[89][90]

  • Thoạt tiên, cho làm một bài ám tả để loại bớt người ít năng lực; người vượt qua bước này tiếp tục phải thi 4 kỳ:
  • Kỳ thứ nhất, làm 5 bài về Tứ thư và kinh nghĩa
  • Kỳ thứ hai, làm bài chiếu, chế, biểu, theo lối văn tứ lục cổ thể
  • Kỳ thứ ba, thi thơ phú; thơ dùng Đường luật; phú dùng các thể Cổ thể, Ly tao, Văn tuyển; bài thi phải hơn 300 chữ
  • Ký thứ tư, làm 1 bài văn sách, nói về kinh, sử hoặc thế sự; bài thi phải không quá 1000 chữ

Sau khoa thi này, các thí sinh thi đỗ phải được lập thành danh sách, đệ trình cho Bộ Lễ, đến trung tuần tháng 1 năm tới sẽ cho thi Hội.[89][90]

Theo sử gia Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục, người nào đỗ 3 trong 4 kỳ thi Hương thì gọi là Sinh đồ, đến khoa thi Hương sau phải vào thi lại; còn người đỗ cả bốn kỳ được gọi là Hương cống, được phép vào thi Hội. Riêng người đã làm quan thì có không đỗ Hương cống cũng vẫn được dự thi Hội.[91]

Theo Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, trước thời Lê Thánh Tông, nhà nước chưa quy định cụ thể về thời gian thi Hội, chỉ cho thi Hội khoảng 5-6 năm 1 lần.[90] Đến năm 1463, vua Thánh Tông đặt lệ 3 năm mở 1 khoa thi, chọn các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu thi Hương, các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thi Hội.[89][92] Tháng 2 âm lịch năm này, ông mở khoa thi Hội, có đến hơn 4400 người dự thi, trong đó hơn 40 người trúng tiến sĩ. Ngày 16 tháng 12 âm lịch, nhà vua cho thi Đình để xếp loại các tiến sĩ, ông tự ra đề văn sách hỏi về đạo trị nước của đế vương. Các tiến sĩ từ Lương Thế Vinh trở xuống được đỗ cập đệ và xuất thân theo các thứ bậc khác nhau.[89][93]

Năm 1466, Lê Thánh Tông mở khoa thi Hội thứ hai, đây được xem là khoa đầu tiên làm đúng theo quy chế 3 năm lần thi. Khoa này có 1100 người dự thi, 27 người trúng cách. Ngày 12 tháng 3 âm lịch, nhà vua tổ chức thi Đình. Ông đích thân đến cửa điện Kính Thiên, ra đề văn sách về "đế vương trị thiên hạ", lấy đỗ 8 đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (đứng đầu là Dương Châu) và 19 đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (đứng đầu là Nguyễn Nhân Thiếp), không lấy tiến sĩ cập đệ (tam khôi)[92][93]. Cũng từ khoa thi 1466 bắt đầu có lệ: "Ngày 26 làm lễ xướng danh, ban cho ân mệnh. Quan Bộ Lễ rước bảng vàng ra treo ngoài cửa Đông Hoa để tỏ sự vinh quang, lại ban cho áo mũ, yến tiệc. Mồng 3 tháng 3 nhuận, các Tiến sĩ được vinh quy" (trích Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Bính Tuất niên hiệu Quang Thuận thứ 7 - 1466).[60][94]

Theo Lê Quý Đôn, thời Quang Thuận đã đặt thể lệ: người đậu cả bốn kỳ thi Hội thì được phong Tiến sĩ, người chỉ đậu 3 kỳ thì được nhận các chức thuộc lại, tá nhị, giáo chức ở các nha môn, người thi không đậu thì cho làm tăng quảng sinh ở Quốc Tử Giám. Các tiến sĩ sẽ được bổ vào các chức quan chính chức ở huyện, chỉ khi thiếu tiến sĩ thì mới dùng đến người đậu 3 kỳ thi. Đến năm Hồng Đức, Thánh Tông còn ban lệ cho phép con cháu quan lại thi Hội chỉ đỗ 1-3 kỳ được học Quốc Tử Giám. Họ được chia làm 3 hạng giám sinh: thượng xá sinh, trung xá sinh, hạ xá sinh, mỗi hạng 100 người. Thượng xá sinh gồm những người đã đỗ 3 kỳ thi Hội, mỗi tháng nhận 1 quan tiền do triều đình chu cấp; trung xá sinh gồm những người đỗ 2 kỳ, được chu cấp 9 quan tiền mỗi tháng; hạ xá sinh gồm những người đỗ 1 kỳ, nhận 9 tiền mỗi tháng. Học xong họ sẽ nhận làm các chức như tri huyện, giáo thụ, bạn độc, trưởng sử. Lê Quý Đôn nhận định: "Đấy là đãi ngộ nhà gia thế hơn nhà bạch đinh, có ý nghĩa đời cổ cho việc bồi dưỡng và tiến thân tất phải ở nhà quốc học".[91]

Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, năm 1472, Lê Thánh Tông đặt lại các bước thi Hội như sau:[88][93]

  • Kỳ thứ nhất: cho 8 đề về Tứ thư (4 đề Luận ngữ, 4 đề Mạnh Tử), thí sinh được chọn làm 4 trong 8 đề. Về Ngũ kinh, mỗi kinh 3 đề cho thí sinh chọn làm 1 đề; riêng kinh Xuân Thu có 2 đề nhưng phải gộp vào thành 1 bài văn
  • Kỳ 2: thi chế, chiếu, biểu, mỗi thể loại có 3 đề
  • Kỳ 3: thi thơ phú, mỗi thể 2 đề. Phú sử dụng thể Lý Bạch.
  • Kỳ 4: ra bài văn sách, hỏi những điểm khác nhau giữa Ngũ Kinh và Tứ Thư cùng chính sự xấu, tốt của các vua trước.

Cũng trong khoa thi năm này, ông bắt đầu phân loại rõ địa vị của các tiến sĩ: với hạng Đệ Nhất giáp, người đầu bảng (trạng nguyên) được phong hàm chánh lục phẩm, 8 tư; người đứng thứ hai (bảng nhãn) được phong tòng lục phẩm, 7 tư; người đứng thứ ba (thám hoa) được phong chánh thất phẩm, 6 tư. Cả ba người đều mang danh hiệu Tiến sĩ cập đệ. Người đỗ hạng Đệ Nhị giáp được phong tòng thất phẩm, 5 tư, gọi là Tiến sĩ xuất thân; hạng Đệ Tam giáp được phong chánh bát phẩm, 4 tư, gọi là Đồng tiến sĩ xuất thân. Các tiến sĩ nếu nhận chức trong Hàn Lâm Viện thì được thăng lên 1 cấp, còn nếu làm Tri huyện hoặc Giám sát ngự sử thì không đổi phẩm hàm.[88][95]

Theo mô tả trong Kiến văn tiểu lục, các khoa thi năm 1466, 1469, chỉ lấy tiến sĩ xuất thân, không lấy tiến sĩ cập đệ. Đến khoa thi năm 1472 mới có đủ 3 tiến sĩ cập đệ và các tiến sĩ xuất thân mang thứ bậc khác nhau. Việc này trở thành lệ cho đến thời Lê Cung Hoàng.[92]

Trước đây, năm 1442 Lê Thái Tông đã ra lệnh dựng bia ghi tên tiến sĩ, nhưng chưa thực hiện được. Đến tháng 8 âm lịch năm 1484, Lê Thánh Tông nghe lời tâu của Lễ bộ thượng thư Quách Đình Bảo, mới sai Bộ Công dựng bia Tiến sĩVăn Miếu-Quốc Tử Giám ghi lại họ tên, thứ bậc của những người đỗ tiến sĩ trong các khoa thi 1442 (thời Lê Thái Tông), 1448 (thời Lê Nhân Tông), 1463, 1466, 1472, 1475, 1478, 1481, 1484 (thời Thánh Tông). Việc biên soạn văn bia do Hàn lâm viện thừa chỉ Đông các đại thần học sĩ Thân Nhân Trung, Hàn lâm viện thị độc Đông các hiệu thư Đào Cử, Đàm Văn Lễ, Ngô Luân, Hàn lâm viện thị thư kiêm Tú lâm cục tư huấn Nguyễn Đôn Hậu, Hàn lâm viện thị thư kiêm Sùng văn quán Tú lâm cục tư huấn Lương Thế Vinh, Đông các hiệu thư Lê Tuấn Ngạn, Hàn lâm viện thị độc kiêm Tú lâm cục tư huấn Nguyễn Xung Xác cùng một số sĩ phu khác đảm trách. Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư có chép bài văn bia của Đỗ Nhuận:[96]

"Sự nghiệp trị nước lớn lao của Đế vương, không gì cần kíp hơn nhân tài, điển chương chế độ đầy đủ của nhà nước, tất phải chờ ở bậc hậu thánh. Là bởi trị nước mà không lấy nhân tài làm gốc, chế tác mà không dựa vào thánh nhân đời sau thì đều chỉ là cẩu thả tạm bợ mà thôi, sao có thể đạt tới chính trị phong hóa phồn vinh, văn vật điểm chương đầy đủ?.
Kể từ Thái Tổ bắt đầu sửa sang việc học vào kỷ nguyên Thuận Thiên, Thái Tông mở khoa thi đầu vào năm Đại Bảo thứ 3, Nhân Tông chọn người hiền, dùng bậc giới, kính cẩn tôn theo phép cũ. Đến như việc dựng (có sách chép là "phụ") bia ở nhà Thái học thì vẫn để đó chưa làm; văn vật đầy đủ, như còn chờ bậc hậu thánh.
Nay Thánh thượng như trời mở trung hưng, tự mình gánh vác đạo lớn, việc tôn sùng Nho giáo càng thành khẩn chăm lo. Huống chi nhân tài đã được các tiên thánh nuôi dạy từ lâu, hơn nữa lại nhờ công sức mười năm nâng vực. Trước đây 6 năm một lần thi lớn, nay thi châm chước theo chế độ nhà Chu đã định là 3 năm. Trước kia lấy đỗ đều không quá hai ba chục người, nay thi rộng xét thực tài, không lo nhiều quá.
Cho nên tôn trọng biểu dương, đức ý rất hậu, ân vinh thứ bậc. tiết mục tận tường, vẹn toàn, rực rỡ, vượt cả xưa nay. Cho nên bia đá khắc tên, vẫn ghi việc thực, đặt ở cửa hiền, tưởng lệ kẻ sĩ, công việc làm của nhà vua tốt đẹp nhường nào.
Thế thì triều Lê ta văn minh đầy đủ, khoa mục mở mang, mở nguồn từ thời Thuận Thiên, bắt đầu từ năm Đại Bảo, thịnh hành từ đời Thái Hòa, mà thịnh nhất vào đời Hồng Đức vậy. Nếu như không phải do Thánh thượng làm tròn trách nhiệm bậc thầy, thân hành nắm giữ quyền hành chế tác, thì sao có thể thực hiện cái chí của người trước chưa thực hiện được, hoàn thành sự nghiệp mà người trước chưa hoàn thành".

Các đời vua sau này tiếp tục bổ sung thêm các tấm bia vinh danh mới.

Trước năm 1486, quan viên tại chức mà chưa thi Hương đều được dự thi Hội. Đến tháng 6 âm lịch năm này, Lê Thánh Tông nghe theo lời tâu của Hàn lâm viện thị thư Lương Thế Vinh, nên ra lệnh: viên quan nào chưa đỗ thi Hương mà muốn thi Hội, nếu là quan Kinh sư thì phải thi ở phủ Phụng Thiên, nếu là quan địa phương thì phải thi ở ty Thừa ở thừa tuyên của mình. Thể lệ thi tương tự như thi Hương; ai đỗ kỳ thi này thì mới được quyền thi Hội.[97]

Theo thông lệ, thi Đình được dùng để phân loại những người đỗ thi Hội, nên không đánh trượt người nào. Tuy nhiên, trong khoa thi năm 1496, vua Thánh Tông triệu các sĩ tử vào sân điện Kim Loan để ông đích thân xem mặt, rồi đánh trượt 11 người.[98][99]

Tổng cộng từ năm 1463 đến 1496, Lê Thánh Tông đã mở 12 khoa thi lớn, lấy đỗ tổng cộng 9 trạng nguyên và 501 tiến sĩ.[36] Sử gia Phan Huy Chú trong sách Lịch triều hiến chương loại chí (phần "Khoa mục chí") khen ngợi chính sách khoa bảng của ông:[93]

Tuy nhiên, sử gia Tạ Chí Đại Trường có đề cập những khía cạnh tiêu cực của chính sách khoa cử thời này:[48]

Con đường khoa cử mở ra hướng đi đến danh vọng, quyền lực cho một số người không có căn bản thần thế gia đình, có thể không giàu lắm. Người lạc quan thời nay thì tán tụng tinh thần “dân chủ” trong cách chọn lựa nhân tài đó nhưng Lê Quý Đôn đã từng phê phán lối học dành cho thi cử làm lấn át tinh thần thực học cần thiết cho việc quản lí đất nước. Ảnh hưởng lâu dài đến ngày nay là lối văn trau chuốt đệm thêm một chút dáng vẻ “trí thức” đó đã thành một ý thức kiêu hãnh ngầm cho một lớp người đem ra phục vụ những người cầm quyền vốn không cần nhiều đến kiến thức cho lắm.

Ngoài việc tổ chức các khoa thi lớn, Lê Thánh Tông cũng đặt lệ: trước mỗi kỳ kiểm tra dân đinh, hai ty Thừa, Hiến của các thừa tuyên phải tổ chức thi khảo học trò, ai thi đỗ thì khỏi đi lính. Nhà vua rất nghiêm khắc trong việc bài trừ gian lận thi cử: năm 1485, thấy năm trước có hàng vạn học trò thi đỗ, ông nghĩ là có gian lận, nên ra lệnh bắt số người này thi lại. Ông còn quy định rõ rằng "đến khi phúc hạch lại, nếu còn có người nào khổng làm được bài để quyển giấy trắng, hoặc người nào làm bài không thành văn lý, thì viên quan đề điệu và giám thí niêm phong quyển lại tâu hặc về triều đình. Nếu xét thấy xứ nào có từ một người đến bốn, năm người phạm trường quy như thế, thì viên quan thừa chính và hiến sát xứ ấy sẽ phải luận vào tội biếm chức hoặc bãi chức, còn bản thân người phạm tội trường quy ấy sẽ phải tội đồ".[91][97]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bức đại tự "Minh đỉnh danh lam" - bút tích của Lê Thánh Tông tại động sáng ở chùa Bái Đính tỉnh Ninh Bình

Chính sách văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thánh Tông trị vì Đại Việt 38 năm và dưới thời ông nho học trở nên chiếm ưu thế, ông đã cho ra lệnh soạn nhiều tác phẩm có giá trị văn hóa xã hội. Các bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám được bắt đầu dựng vào thời đại của ông không chỉ có ý nghĩa về lĩnh vực giáo dục, mà chúng thực sự là các công trình văn hóa nghệ thuật đặc sắc, lưu lại tới ngày nay trở thành di sản văn hóa thế giới[100].

Việc biên soạn Lịch sử được Lê Thánh Tông ý thức hơn hết, với tư cách là những công cụ để nối liền đạo thống; khôi phục xây dựng kho tư liệu sử liệu dân tộc sau giai đoạn bị triệt tiêu văn hóa, sách vở thời thuộc Minh. Nhà vua kén chọn sử quan rất cẩn thận; thời bấy giờ có nhóm sử quan Lê Nghĩa được ca ngợi vì chép sử rất ngay thẳng, Thánh Tông có lần muốn xem quốc sử nhưng Lê Nghĩa không cho xem.[101] Tháng 1 âm lịch năm 1479, Lê Thánh Tông đã ra chỉ dụ lệnh cho Sử quan tu soạn Ngô Sĩ Liên biên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư, gồm 15 quyển, chép từ thời Hồng Bàng đến 3 triều Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông nhà Lê. Theo Lê Quý Đôn, phần chép về 3 đời vua Lê gọi là Tam triều bản kỷ.[101][102] Nhà vua cũng đã nhiều lần ra chiếu sưu tầm tư liệu, sách vở và dã sử trong dân gian.

Vào năm 1483, Lê Thánh Tông chủ biên bộ sách Thiên Nam dư hạ tập (天南餘暇集) sai các văn thần như Đỗ Nhuận, Nguyễn Trực biên soạn. Sách được biên soạn theo loại sách hội yếu, thông điển, gồm 100 quyển ghi chép đầy đủ các chế độ, luật lệ, văn thư, điển lệ, các giấy tờ văn thư hành chính (như chiếu, dụ, cáo, sắc...). Hiện nay, bộ sách thất lạc gần hết, chỉ còn lại 10 tập chép tay viết về các mảng quan chế, điều luật, bản đồ, sớ văn; Thơ, văn, điển lệ, điều luật, chinh chiến, quan chức, thiên văn, địa lý, lịch sử… của nhà Lê, từ Lê Thánh Tông trở về trước. Cụ thể như sau:

1. Điều luật và Quan chế.
2. Bình thi văn.
3. Liệt truyện, Tạp thức.
4. Khảo sử.
5. Thi tập; Đối liên.
6. Phú tập.
7. Thi tiền tập; Chinh tây kỉ hành; Minh lương cẩm tú và Quỳnh uyển cửu ca.
8. Chinh Chiêm Thành sự vụ; Chinh Tây kỉ hành.
9. Điển lệ; Phú tập.
10. Thiên hạ bản đồ; Quan chế.

Sáng tác văn thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thánh Tông là một nhà thơ và phê bình văn học, vừa sáng tác văn thơ, vừa nghiên cứu, phê bình. Năm 1495, ông sáng lập ra Hội Tao đàn, xưng làm Tao đàn nguyên soái, xướng họa thơ ca cùng Đông các đại học sĩ Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận và nhiều quần thần khác, tổng cộng 28 người.[59][103] Hội Tao đàn ra đời đánh dấu bước phát triển cao về văn chương đương thời.Thơ văn của ông chứa đựng tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sâu sắc. Ông sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị như: Quỳnh uyển cửu ca, Châu cơ thắng thưởng, Chinh tây kỉ hành, Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ xúy, Cổ tâm bách vịnh...tất cả khoảng trên 300 bài (bằng chữ Hán), Hồng Đức quốc âm thi tập (bằng chữ Nôm).

Những trước tác của Hội Tao đàn được ghi chép bằng chữ Hán trong bộ sách:

  • Thiên Nam dư hạ tập,
  • Quỳnh uyển cửu ca (瓊 苑 九 歌): Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, tập thơ này do Lê Thánh Tông và các bề tôi xướng họa nhân dịp hai năm liền được mùa theo chín chủ đề: 1. Phong niên (được mùa), 2. Quân đạo (đạo làm vua), 3. Thần tiết (tiết làm bề tôi), 4. Minh lương (vua sáng tôi hiền), 5. Anh hiền (các bậc anh tài hiền triết), 6. Kỳ khí (khí lạ), 7. Thảo tự (chữ Thảo), 8. Văn nhân, 9. Mai hoa.[104]
  • Minh lương cẩm tú (明 良 錦 繡): Gồm 18 bài, phần đa vịnh các cửa biển từ cửa Thần Phù đến Hải Vân quan.
  • Văn minh cổ súy (文明鼓吹): Tập thơ Lê Thánh Tông cùng các hoàng tử và triều thần viết nhân dịp về bái yết sơn lăng, viếng thăm lăng mộ hoàng tộc để tỏ lòng hiếu kính tổ tiên, cầu cho quốc thái dân an.
  • Chinh Tây kỷ hành (征西紀行): Tập thơ nhật ký theo lộ trình tiến đánh Chiêm Thành từ năm 1470 đến 1471, gồm 30 bài.
  • Cổ Tâm bách vịnh (古心百詠): Tập thơ họa thơ vịnh sử của nhà Nho đời Minh là Tiên Tử Nghĩa. Các từ thần là Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận phụng bình. Thơ đều làm theo thể ngũ ngôn tuyệt cú[105].
  • Châu cơ thắng thưởng (珠璣勝賞): Vần thơ châu ngọc được viết khi du ngoạn cảnh núi sông danh thắng của đất nước, như chùa Sài Sơn, núi Chiếu Bạch, động Long Quang,... gồm 20 bài.
  • Anh hoa hiếu trị (英華孝治)
  • Cổ kim cung từ thi tập (古今宮詞詩集)
  • Xuân vân thi tập (春雲詩集): 1 tuyển tập các tác phẩm thơ của Lê Thánh Tông, không rõ thời điểm biên tập.

Số lượng tác phẩm thi văn chữ Hán của Lê Thánh Tông thực tế có thể còn nhiều hơn, nhưng còn lại đến nay chỉ có khoảng 350 bài[106].

Ngoài thơ chữ Hán, Lê Thánh Tông còn có khá nhiều thơ Nôm, tập trung chủ yếu trong Hồng Đức quốc âm thi tập (洪 德國音詩集). Hiện vẫn chưa có con số thống kê chính xác các bài thơ Nôm của ông. Nhưng bài văn Nôm Thập giới cô hồn quốc ngữ văn (十戒孤魂國語文) có thể coi là bài văn biền ngẫu có giá trị bậc nhất của thế kỷ XV.

Trong đó, không chỉ ghi chép thơ văn, mà còn ghi chép về lý luận phê bình văn học, về lịch sử, kinh tế, quan chế, địa lý v.v...

Lê Thánh Tông là người dẫn đầu phong trào mới này, cả về nghệ thuật thể hiện, cả về tư tưởng triết học. Thánh Tông di thảo là dấu mốc quan trọng ghi nhận bước trưởng thành của truyện ký Đại Việt viết bằng chữ Hán, ra đời trước cả tập "Truyền kỳ mạn lục" của Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI).

Lê Thánh Tông khuyến khích các quan lại và tự mình tích cực sử dụng chữ Nôm như một sự tự tôn và tự cường. Trong một bài thơ Nôm, Lê Thánh Tông tự trình bày mình:

Trống dời canh còn đọc sách
Chiêng xế bóng chửa thôi chầu.

Minh oan Nguyễn Trãi[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Trãi, một văn thần làm việc cho Lê Thái Tổ trong khởi nghĩa Lam Sơn, đã bị tru di tam tộc cùn gia đình năm 1442 trong vụ án Lệ Chi Viên. Sau vụ án này, vua Lê Nhân Tông (1443-1459) đã khẳng định lại công lao sự nghiệp của Nguyễn Trãi: Nguyễn Trãi là người trung thành giúp đức Thái Tổ dẹp yên giặc loạn, giúp đức Thái Tông sửa sang thái bình. Văn chương và đức nghiệp của Nguyễn Trãi, các danh tướng của bản triều không ai sánh bằng[107]. Nhưng Lê Nhân Tông vẫn chưa minh oan cho Nguyễn Trãi.

Năm 1464, Lê Thánh Tông đã chính thức minh oan cho Nguyễn Trãi. Ông ca ngợi Nguyễn Trãi là Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo, truy tặng tước Tán Trù Bá, ban cho con là Anh Vũ chức huyện quan. Năm 1467, Lê Thánh Tông ra lệnh sưu tầm di cảo thơ văn Nguyễn Trãi. Việc làm này có thể đã góp phần bảo tồn một phần quan trọng các di sản văn hóa mà Nguyễn Trãi đã để lại.

Lê Thánh Tông như đã tạc bia cho Nguyễn Trãi bằng câu thơ:

Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo

Tạm dịch:

Tâm hồn Ức Trai sáng tựa sao Khuê
hay là: Văn chương Ức Trai lòng soi sáng

Nhiều người hiểu sai khi dịch nghĩa "Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo" là "Lòng Ức Trai sáng tựa sao khuê", dịch chính xác phải là "văn chương Ức Trai lòng soi sáng", với ý ca ngợi văn chương chứ không phải nhân cách Nguyễn Trãi[108].

Xã hội, tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới thời Hậu Lê nói chung, và trong thời vua Lê Thánh Tông nói riêng, Phật giáo, Đạo giáo bị đẩy lui xuống sinh hoạt ở các làng xã, trong khi đó, Tân Nho giáo lại được coi trọng và lên ngôi, đặc biệt là khu vực triều đình và giới Nho học. Đó là đặc điểm chính của thời kỳ này. Mặt khác do chính sách phá hủy văn hoá Việt của người Minh giai đoạn 1407-1427 nên nhiều chùa chiền, cung điện và các tinh hoa văn hoá Phật giáo ở các triều đại nhà Lý, nhà Trần đã bị xóa bỏ. Tuy nhiên Lê Thánh Tông không hẳn là hoàn toàn không tin các nền tâm linh ngoài Nho giáo. Ông nhiều lần đi thăm các chùa Phật giáo, và trong bộ "Hồng Đức quốc âm thi tập" của ông có nhiều bài vịnh như Chùa Trấn Quốc (chữ Nôm) và chữ Thơ khắc ở cột chùa Tu Mộng (Tu Mộng Tự Trụ Khắc, chữ Hán) ca ngợi vai trò của đạo Phật đối với việc giữ gìn đế đô, xây dựng đất nước.[109][110] Đối với đạo Lão, Thánh Tông cũng sử dụng các đạo sĩ để cúng tế thần linh khi có sâu lúa phá hoại mùa màng. Ông bảo các quan phải cúng tế mọi thần linh trong nước vào những lúc hạn hán, bão lũ, bệnh dịch...[71]

Tháng 1 âm lịch năm 1470, Lê Thánh Tông đặt lệ: con cái để tang cha mẹ, vợ để tang chồng bắt buộc phải trong vòng 3 năm. Người nào không làm theo là "trái lễ", "phạm pháp". Nội dung sắc chỉ được tóm lược trong Toàn thư như sau: "Con để tang cha mẹ, vợ để tang chồng phải theo quy chế chung là 3 năm, không được theo ý riêng tự tiện làm trái lễ, phạm pháp. Con để tang cha mẹ và vợ cả, vợ lẽ có chửa thì bắt tội đi đày. Vợ để tang chồng mà dâm loạn bừa bãi, hoặc chưa hết tang đã bỏ áo trở, mặc áo thường, hoặc nhận lễ hỏi của nguời khác, hay đi lấy chồng khác đều phải tội chết cả. Nếu đương có tang, ra ngoài thấy đám trò vui mà cứ mê mải xem không tránh, thì xử tội đi đày. Nếu kẻ nào tham của, hiếu sắc mà lấy vợ cả vợ lẽ của kẻ đại ác phản nghịch, cùng là người Man thông dâm với vợ cả vợ lẽ của anh em đã chết rồi, cùng những kẻ làm quan lại mà nhận hối lộ thì tùy tộ nặng nhẹ mà xử tội".[111]

Lê Thánh Tông cũng nghiêm cấm phụ nữ phá thai.[112] Sử Việt kể năm 1484 nhà vua có lệnh: "Loại đàn bà tàn nhẫn, vì muốn ít con cái để giữ lấy nhiều của, hoặc ngại việc sinh đẻ, muốn tránh khó nhọc, thấy mìmh có thai, dùng kế cho sẩy thai, thương tổn tính mệnh, làm hại luân thường, cùng là những kẻ phá thai cho người khác, đều phải tra xét, trị tội theo luật pháp... nếu có người đàn bà nào như hạng nói trên, mà mọi người đều biết, cùng là người chồng không biết răn cấm, đều trị tội theo luật pháp."[113]

Theo sử gia Trần Trọng Kim, đầu thời Lê Thánh Tông, trong nhân gian tồn tại nhiều tục lệ cổ hủ, lạc hậu, chẳng hạn như khi có tang thì soạn tiệc ăn uống, hò hát, chơi bời, đối với việc hôn nhân thì nhà trai làm lễ đính hôn rồi phải chờ 3-4 năm nữa mới được đón dâu về. Vua Thánh Tông đã xuống chiếu cấm những nhà có tang tổ chức tiệc tùng, hát xướng, cấm người dân hội họp chè chén vào những ngày không phải lễ giỗ, lễ tế, cưới hỏi, đám tang, ân mệnh, ăn mừng,... và quy định việc cưới hỏi phải được tiến hành theo nghi thức: "Khi lấy vợ, trước hết phải nhờ mối lái đi lại bàn định, rồi sau mới định lễ cầu thân; lễ cầu thân xong, rồi mới bàn việc dẫn cưới; dẫn cưới xong, rồi mới chọn ngày lễ đón dâu. Ngày hôm sau, [con dâu] chào cha mẹ chồng, ngày thứ ba đến làm lễ ở nhà thờ, phải theo đúng trình tự các nghi thức tiết văn đã ban xuống mà thi hành, không được như trước, nhà trai đã dẫn lễ cưới rồi còn để qua 3,4 năm sau mới cho đón dâu" (chỉ dụ ban hành ngày 23 tháng 12 âm lịch năm 1478). Ông còn ban bố 24 điều giáo huấn cho người dân sống có văn minh, cư xử với nhau hợp đạo lý.[1][46]

Mở rộng Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Chinh phạt Chiêm Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Tiến trình Nam tiến của Đại Việt

Sau thắng lợi của chiến dịch phạt Chiêm (1446), Tuyên Từ hoàng thái hậu phế truất quốc vương Chiêm Bí Cai, lập Ma Ha Quý Lai làm vua chư hầu. Năm 1449, Quý Lai bị em là Quý Do soán ngôi. Sau đó Quý Do lại bị Bàn La Trà Duyệt, người ở Thị Nại giết và đoạt ngôi. Trà Duyệt chết, truyền ngôi cho em là Trà Toàn (Pau Kubah). Đại Việt Sử ký Toàn thư mô tả: "Trà Toàn là đứa hung bạo làm càn, dối thần ngược dân, người Chiêm mưu phản, Toàn cũng không nghĩ chi đến, lại còn ngạo mạn kiêu căng, không sửa lễ tiến cống, lăng nhục sứ thần của triều đình, quấy nhiễu dân biên giới".[114]

Năm 1469, quân Chiêm Thành vượt biển sang đánh phá châu Hóa.[115] Năm 1470, Trà Toàn sai sứ thần sang cầu viện đế quốc Minh, thân hành đem 10 vạn quân thủy, bộ cùng voi ngựa đến đánh úp Hóa Châu. Tướng trấn thủ Hóa ChâuPhạm Văn Hiển cự địch không lại, phải đóng cửa thành chống giữ, cho người phi ngựa đem văn thư cáo cấp về Đông Kinh. Vua Thánh Tông lập tức ra lệnh bổ sung quân lính, trung thu lương thực, dụ Thừa tuyên sứ phủ Thiên Trường: "Dẹp loạn thì trước hết phải dùng võ, quân mạnh vốn là ở đủ lương ăn. Lệnh tới nơi, bọn ngươi phải trưng thu ở các hạng quân sắc, lại viên, sinh đồ mỗi người 15 ống gạo, hạng hoàng đình và người già mỗi người 12 ống, bắt người bị trưng thu lại phải đồ lên thành gạo chín, không được để chậm ngày giờ, đem nộp lên sứ ty. Quan hạt đó đựng làm nhà kho, kiểm nghiệm thu vào rồi làm bản tâu lên. Kẻ nào trốn chạy thì xử tội chém đầu".[116]

Tháng 10 năm 1470, Lê Thánh Tông sai Nguyễn Đình MỹQuách Đình Bảo đem việc Chiêm Thành đánh úp biên giới sang thông báo với Đại Minh.[59]

Lê Thánh Tông quyết định đem 26 vạn quân chinh phạt Chiêm Thành. Ông soạn chiếu thư đánh Chiêm để kể tội Trà Toàn, công bố cho dân chúng trong nước biết một cách công khai và rõ ràng về lý do xuất quân. Ngày 6 tháng 11 âm lịch (28 tháng 11 dương lịch) năm 1470, ông lệnh cho thái sư Lân quận công Đinh Liệt, thái bảo Kỳ quận công Lê Niệm đem 10 vạn quân xuất phát đi trước. 10 ngày sau nhà vua thân hành đốc xuất 15 vạn thủy quân xuôi vào đất Chiêm Thành. Giữa tháng 12 âm lịch năm 1470, đại quân vào bản thổ Chiêm Thành. Lê Thánh Tông sai người vẽ lại bản đồ nước Chiêm, và dặn quân binh phải tập luyện khẩn trương hơn nữa. Ông còn biên soạn sách Bình Chiêm Sách, viết về 10 lẽ tất thắng và 3 việc đáng lo, sau đó sai Chỉ huy Nguyễn Thế Mỹ dịch ra chữ Nôm, rồi ban phát cho tướng sĩ.[116]

Ngày 5 tháng 2 âm lịch năm 1471, quốc vương Trà Toàn sai Thi Nại cùng 6 viên tướng mang 5.000 quân và voi chiến áp sát ngự doanh. Hôm sau Thánh Tông sai Tả du kích tướng quân Lê Hi Cát, Hoàng Nhân Thiêm và Tiền phong tướng quân Lê Thế, Trịnh Văn Sái đem hơn 500 chiếc thuyền và 3 vạn lính vượt biển, lẻn vào cửa biển Sa Kỳ lập dinh lũy, hầu chặn đường về của quân Chiêm. Ông còn bí mật sai viên tướng giữ quân bộ là Nguyễn Đức Trung đem quân lẻn đi vào chân núi mai phục.[116]

Ngày 7 tháng 2 âm lịch, Lê Thánh Tông thân đem hơn 1000 chiếc thuyền và hàng trăm ngàn quân ra hai cửa biển Tân Áp và Cựu Tọa dựng cờ thiên tử vừa đánh trống vừa hò reo tiến thẳng về đằng trước mặt. Quân Chiêm vỡ trận, phải cắm đầu chạy về Đồ Bàn. Đến núi Mạc Nô, quân Chiêm bị cánh quân của Lê Hi Cát đón đánh. Người Chiêm lại bị đánh tan, phải chạy rẽ ngang trèo qua chân núi cao, xác người, ngựa và đồ quân bỏ lại đầy núi đầy đường. Các tướng Lê Niệm và Ngô Hồng tung quân ra đánh, chém chết một đại tướng và thu nhiều chiến lợi phẩm.[116]

Sau những thắng lợi bước đầu, Lê Thánh Tông thúc quân truy kích, tiêu diệt thêm hàng trăm quân Chiêm. Đến ngày 28 tháng 2 âm lịch, quân Đại Việt tiến sát và bao vây kinh thành Đồ Bàn.[116] Ngày 1 tháng 3 âm lịch, Đồ Bàn thất thủ. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, hơn 3 vạm người Chiêm bị bắt, 4 vạn lính Chiêm Thành đã tử trận. Cánh quân Thuận Hóa bắt được Trà Toàn dâng lên vua Thánh Tông. Ngày 2 tháng 3 âm lịch Thánh Tông bắt đầu dẫn quân về, dẫn theo Trà Toàn và nhiều thê thiếp.[117][118]. Tháng 4 âm lịch, khi đại quân về tới Nghệ An, Trà Toàn sinh bệnh chết.[119]

Sau khi Đồ Bàn bị hạ, bộ tướng của Trà Toàn là Bô Trì Trì chạy về đất Phan Lung, chiếm giữ 1/5 lãnh thổ Chiêm Thành, rồi cử sứ sang cống và xin thần phục Đại Việt.[117] Theo Việt Nam Sử Lược, vua Thánh Tông có ý muốn làm cho Chiêm Thành yếu đi, mới chia đất Chiêm ra làm 3 nước, phong 3 vua: 1 nước gọi Chiêm Thành, 1 nước nữa là Hóa Anh và 1 nước nữa là Nam Phan.[120] Lãnh thổ miền bắc Chiêm Thành (từ đèo Hải Vân tới bắc Phú Yên ngày nay) được sáp nhập vào Đại Việt, lập thành thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa. Lê Thánh Tông thực hiện chính sách bình định và Việt hóa dân chúng người Chiêm Thành

Sau khi Trà Toàn bị bắt, em là Trà Toại trốn vào núi, sai người sang cầu cứu Đại Minh và xin phong vương. Tháng 11 âm lịch năm 1471, Lê Thánh Tông sai Lê Niệm đem 3 vạn quân vào đánh, Trà Toại bị bắt giải về kinh. Về sau, vua MinhHiến Tông sai sứ sang bảo Lê Thánh Tông phải trả đất cho Chiêm Thành, nhưng ông nhất quyết không chịu.[59][88] Sau các cuộc chinh phạt thời Hồng Đức, phần còn lại của vương quốc Chiêm Thành (từ phía bắc Phú Yên trở vào) tồn tại trong nhiều thế kỷ sau, nhưng rất yếu và mất dần về tay các vua chúa Nguyễn của Đại Việt/Đại Nam về sau.[121]

Chinh phạt Bồn Man, Lan Xang[sửa | sửa mã nguồn]

Ở phía Tây, quan hệ giữa Đại Việt với Lan Xang (Lào, sử Việt còn viết là Ai Lao hay Lão Qua) đã căng thẳng từ đầu triều Lê. Khi Lê Thái Tổ dấy nghĩa ở Lam Sơn, Lan Xang đã đưa 3 vạn quân và 100 thớt voi sang phối hợp với quân Minh đánh úp. Năm 1441, Lan Xang lại giúp thổ tù châu Thuận Mỗi là Nghiễm nổi dậy chống Lê Thái Tông.[122] Đến đời Lê Thánh Tông, tháng 2 âm lịch năm 1467, quân Lan Xang sang quấy nhiễu biên giới, chiếm động Cự Lộng. Lê Thánh Tông sai Hành tổng binh Khuất Đả mang hơn 1.000 quân, cùng Đồng tổng binh Nguyễn Động và Tán lý quân vụ Nghiêm Nhân Thọ họp với quân đồn trú trấn Gia Hưng lên đánh, thắng được quân Lan Xang, bắt tướng Lan Xang là Đạo Đồng đem về kinh sư. Vua Thánh Tông định giết Đạo Đồng, nhưng thái sư Đinh Liệt can gián, Thánh Tông bèn sai giam Đạo Đồng vô ngục. Đại Việt Sử ký Toàn thư ghi nhận: "Trong chiến dịch này, cả đi lẫn về chỉ có 18 ngày, hành quân tới đâu, hàng ngũ nghiêm chỉnh, đến gà chó cũng không bị kinh động".[67]

Bản đồ Đại Việt đời Lê Thánh Tông, gồm cả Bồn Man và lãnh thổ chiếm được của Chiêm Thành năm 1471. Phần màu đỏ nhạt là lãnh thổ tạm chiếm năm 1478-1480 trong chiến dịch Lan Xang. Phần màu xanh nhạt là 3 vương quốc còn lại của Chiêm Thành.

Tháng 3 âm lịch năm 1467, thổ binh phủ An Tây do Hiệu úy Hoàng Liễu chỉ huy lại đánh nhau với Lan Xang ở Khâu Lạo. Sử Việt kể là quân Lan Xang thiệt hại 3000 người.[123]

Năm 1471, Đại Việt chinh phục Chiêm Thành, thanh thế lừng lẫy, nhiều nước láng giềng phía Tây cử sứ thần đến ra mắt và đưa cống phẩm. Ai Lao cũng sai sứ sang cống, nhưng không lâu sau quan hệ lại căng thẳng. Năm 1478, tù trưởng Bồn Man là Cầm Công làm phản[124], ngầm xin sự trợ giúp của vương quốc Lan Xang[125]. Lan Xang điều binh quấy nhiễu châu Quy Hợp của Đại Việt.[59][126]

Cùng năm 1478, vào tháng 7 Lê Thánh Tông quyết định xuống chiếu đánh dẹp mặt trận phía Tây, liền sai sai các danh tướng chỉ huy 5 đạo quân, huy động quân số lên đến 18 vạn (quân thường trực nhà Lê chỉ có 10 vạn), chia làm 5 đường tiến vào Lan XangBồn Man:[46]

  • Đoan Vũ hầu Trịnh Công Lộ, Đô đốc Lê Vĩnh, Tổng binh Nguyễn Lộng chỉ huy cánh quân chính phía Bắc gồm quân tinh nhuệ của 5 vệ thuộc Đông quân Đô đốc phủ, quân số 2.000 người theo đường phủ An Tây đánh thẳng vào thành Lão Qua (thủ đô Luang Prabang). Ngoài ra, Trịnh Công Lộ còn được toàn quyền chỉ huy cánh quân của Lê Lộng.
  • Phó tướng Lê Lộng, Tham tướng Đinh Thế Nghiêu theo đường Thuận Mỗi nằm trong tầm điều hành của cánh quân Trịnh Công Lộ, có vai trò yểm trợ cho cánh quân này đánh Lan Xang (Lão Qua), đồng thời đánh chẹn tàn quân.
  • Phó tướng Lê Nhân Hiếu chỉ huy cánh quân phía Bắc theo đường phủ Thanh Đô (Phủ Thọ Xuân, Thanh Hóa), đánh vào chỗ sơ hở của Lan Xang tại Hủa Phăn, đánh Lão Qua và vu hồi vào Bồn Man.
  • Tướng quân Lê Thọ Vực dẫn cánh quân trung tâm đi theo đường chính phủ Trà Lân (Thừa tuyên Nghệ An), chỉ huy các doanh du kích đánh trực tiếp vào Bồn Man (Xiêng Khoảng), rồi xuyên qua Bồn Man sang Lão Qua. Cánh quân này trực tiếp chịu sai khiến của nhà vua.
  • Tướng quân Lê Đình Ngạn chỉ huy cánh quân phía Nam theo đường phủ Ngọc Ma (Tây nam Nghệ An, khoảng Con Cuông, Thanh Chương tỉnh Nghệ An, Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh) ngược lên theo hướng tây bắc đánh Bồn Man rồi Lão Qua.

Cuộc chiến diễn ra ác liệt tại các mặt trận, quân Đại Việt thế mạnh hơn đã tiến sâu đánh lui, tiêu diệt; bắt sống nhiều cánh quân tướng lĩnh của Lan Xang. Vua Lan Xang là Xaiyna Chakhaphat đem gia quyết chạy khỏi thủ đô Luang Prabang. Các quân của Lê Thánh Tông tiến vào Luang Prabang, lấy đây làm bàn đạp để tiến sang phía Tây tiếp tục truy kích quân Lan Xang. Quân Đại Việt tiếp tục đuổi quân Lan Xang tới sông Kim Sa giáp với Miến Điện.[127] Quân Đại Việt toàn thắng.[128]

Khi tin thắng trận của cánh quân phía Bắc tới Thánh Tông đại giá trở về. Tuy nhiên, các cánh quân đánh Bồn Man có lẽ chưa thành công khi thư báo thắng trận của Lê Thọ Vực bị chặn mất.[46] Lê Thánh Tông liền sai hai tướng vận lương Khâm sai Trần Bảo, Phó tướng Nguyễn Cảnh Thanh mang sắc chỉ cho Lê Thọ Vực khi đó đang đóng tại vùng đất chiếm được ở Sa Quan, châu Niệm Tống Trung (ngã ba sông thượng du Lan Xang). Đầu năm 1479, nhà vua về tới Đông Kinh, rồi sai Lê Niệm dẫn 30 vạn quân đánh Bồn Man. Quân đội Đại Việt vượt qua được cửa ải, đốt phá các thành trì kháng cự, thiêu hủy kho tàng. Cầm Công bỏ chạy rồi chết. Dân Bồn Man khi đó đa phần bị chết đói, 9 vạn hộ chỉ còn 2.000 người bèn đầu hàng. Nhà vua bèn cho Cầm Đông (họ hàng của Cầm Công) làm Tuyên úy đại sứ để thu phục, đặt lại quan cai trị như trước. Từ đây Bồn Man hoàn toàn thuộc về Đại Việt.[46]

Quan hệ với Đại Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Việt bấy giờ có lệ xưng thần với Đại Minh, nhưng Lê Thánh Tông vẫn cẩn thận phòng bị mặt bắc. Ông rất quan tâm khuyến khích các quan biên giới cảnh giác với các âm mưu xâm nhập và xử lý kịp thời các sự việc lãnh thổ với bên ngoài. Trong Đại Việt sử ký toàn thư có nhắc đến việc nhà vua ra sắc chỉ cấm người vùng biên giới giao thiệp với người nước ngoài,[129] và cấm cấm gia nô người Ngô (số người Minh tự nguyện xin được ở lại sau khi bị bắt làm tù binh trong cuộc khởi nghĩa của Lê Thái Tổ trước đây) của quân, dân được phép giao thiệp với sứ Minh (tháng 2 âm lịch năm 1462, vua Minh sai Hành nhân ty hành nhân Lưu Trật sang tế Lê Nhân Tông, Thánh Tông truyền lệnh cho bá quan văn võ: "Các nhà quân, dân ở các lộ, huyện, phủ Trung Đô, nhà nào có nô tỳ là người Ngô, không được cho ra ngoài thông đồng với sứ nhà Minh").[89]

Ngày 16 tháng 2 âm lịch năm 1467, quan trấn phủ An Bang (Quảng Ninh ngày nay) báo có thuyền chở lương của người Minh trôi dạt vào đây. Lê Thánh Tông bắt giữ nhóm người Minh này, ông nói với Thái sư Đinh Liệt và Thái bảo Nguyễn Lỗi rằng: "Mới rồi, trẫm bảo bắt giữ người chở lương của nước Minh là vì có thể họ bày ra kế gì đó để lừa ta. Ta muốn ngăn ngừa mưu kế củ họ. Đó là việc quyền nghi nhất thời, chứ không phải đạo thường làm đâu". Nguyễn Lỗi muốn thả người Minh vì sợ họ có cớ để giật dây xung đột biên giới, nhưng hoàng đế không nghe theo, bèn giữ người Minh không cho về.[130]

Thời kỳ Lê Thánh Tông có đôi lần thổ quan nước Minh đem quân xâm lấn biên giới. Sử Việt kể tháng 3 âm lịch năm 1467, thổ phủ Trấn An (Quảng Tây) là Sầm Tổ Đức viện cớ đuổi bắt "giặc Sầm Vọng", đem 1000 quân vào các châu Thông Nông, Bảo Lạc (nay thuộc Cao Bằng) của Đại Việt, bắt người và trâu . Sầm Tổ Đức gửi thư cho vua Lê, thư viết: "Các thôn Man Ly, Man Nhung vốn trước giả dối quy phụ Trấn An, rồi cướp bắt người và sức vật, cúi xin thánh thượng gia ơn sai phái đại quân đi đánh các thôn Man Nhung và Man Ly, và xin trừng trị hai châu Thông Nông, Bảo Lạc, đuổi bọn phạm nhân Sầm Vọng về yên nghiệp". Lê Thánh Tông xét thấy lời Sầm Tổ Đức trong thư là không đúng sự thật, bèn sai trung thư soạn công văn đến Ty Bố chính Quảng Tây đòi lại người và súc vật. Nhà vua còn sai Bắc đạo Giám sát ngự sử Phan Tông Tiến đến phủ Bắc Bình khám xét, bắt các trấn thủ là Lê Lục, Nguyễn Lượng đem về kinh sư vì canh giữ biên giới không cẩn mật.[123] Theo Minh thực lục, một thời gian sau, quân Đại Việt đã đánh Sầm Tổ Đức chạy về nước.[128][131]

Tháng 5 âm lịch năm 1467, Sầm Tổ Đức lại sai Tông Thiệu xâm lấn ải Tỏa Thoát, cướp hoa màu súc vật. Lê Thánh Tông ra lệnh cho bá quan bàn cách dối phó. Thái sư Đinh Liệt tâu là "nên giữ kỹ bờ cõi, không nên gây hấn khích nơi biên giới, nếu thấy nó đến, chỉ chống giữ thôi". Đến đây sử cũ không nhắc thêm về việc này.[123]

Tháng 10 âm lịch năm 1467, thổ quan châu An Bình (Đại Minh) là Lý Lân lại mang 8000 quân, 300 ngựa đánh lấn châu Hạ Lang, bị quân Đại Việt đánh bại phải chạy về Minh. Lê Thánh Tông sai các quan trấn thủ Thái Nguyên là Đào Viện, Lê Bát Đạt bèn gửi thư chất vấn việc xâm lấn.[132]

Tháng 12 âm lịch năm 1472, Lê Thánh Tông nhận được tờ tâu của trấn An Bang, báo rằng quan quân Đại Minh từ Quảng Tây kéo sang biên giới với số lượng lớn. Thánh Tông sắc dụ cho Thái bảo Kiến Dương bá Lê Cảnh Huy phải hỏa tốc sai người đi thăm dò, nếu thấy bất an thì gửi công văn mau chóng cho các xứ tập hợp quân sĩ phòng bị mặt bắc.[133]

Lời của vua Lê Thánh Tông từng nói với các quan coi biên giới năm 1473 đã được ghi rõ trong Đại Việt sử ký toàn thư:

Ông thường bảo với triều thần:

Thời bấy giờ Đại Việt thực lực hùng mạnh, nên Đại Minh dù có dòm ngó cũng không dám làm gì. Khi Lê Thánh Tông đem đại quân vào Chiêm Thành (1471), Lan Xang và Bồn Man (1478-80), Minh Hiến Tông đều gửi thư trách vua Lê "hiếp kẻ yếu, gây hấn lớn", nhưng sau cùng, Đại Minh vẫn phải lấy lễ nghĩa mà đãi Đại Việt, quan hệ giữa hai nước vẫn được hoà bình.[59][128][134]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Theo ghi chép của sử quan Vũ Quỳnh thời Lê Tương Dực, cuối năm 1496, Lê Thánh Tông bị bệnh phù thũng. Quý phi Nguyễn Hằng (Trường Lạc hoàng hậu), con gái của đại thần Nguyễn Đức Trung bị giam ở cung khác, đến khi nhà vua ốm nặng mới được đến hầu bệnh, bèn ngầm giấu thuốc độc vào tay, xoa lên những chỗ loét của ông. Do vậy, bệnh Thánh Tông càng nặng thêm; ngày 29 tháng 1 âm lịch (2 tháng 3 dương lịch) năm 1497, nhà vua ngồi tựa ghế ngọc, chỉ định Hoàng thái tử lên kế ngôi. Giờ Thìn ngày hôm sau, 30 tháng 1 âm lịch (3 tháng 3 dương lịch), Lê Thánh Tông qua đời ở điện Bảo Quang, hưởng thọ 56 tuổi. Tương truyền, ngày hôm ấy, ấn thần và gươm thần đều biến mất.[46]

Trong bài "Sex và triều đại" in trong sách Sử Việt, đọc vài quyển, sử gia hiện đại Tạ Chí Đại Trường có đưa ra kiến giải riêng về cái chết của Lê Thánh Tông:[135]

"Vua bị thương không phải vì chinh chiến. Đánh Chiêm Thành khải hoàn, vua thấy có mẹ, con đón rước, "thay áo, lên thuyền rồi về hành điện," lành lặn. Mùa đông, tháng 11âl. (1496), "vua không khoẻ", còn gượng làm thơ khoe rằng "Dù Lí (Bạch), Đỗ (Phủ), Ấu (Dương Tu), Tô (Đông Pha) sống lại vị tất đã làm nổi, chỉ có Ta làm được". Thế mà chỉ hơn hai tháng sau, vua ốm nặng một ngày rồi băng, "gươm thần, ấn thần đều biến mất", chỉ còn lại bài thơ và mối hoài nghi người sau không dám nói. Thái tử lên ngôi, cho biết vua cha bị bệnh phong thũng. "Phong thũng" theo cách hiểu thông thường, và của cả y sinh ngày xưa, là chỉ hiện trạng bệnh lở lói, cùi hủi. Vua không bị chiến thương như đã nói, mà sử quan lại có lời mào đầu là vua mắc bệnh nặng "vì nhiều phi tần quá", vậy thì Thánh Tông đã mắc "bệnh xã hội". Vua bị lở lói ở chỗ đó, hay khắp mình mẩy vì giang mai ở thời kì cuối?"
"Cổ Ai Cập đã biết đến bệnh giang mai. Trung Quốc chậm hơn, mãi đến thế kỉ VII, VIII mới bắt đầu biết vài căn "bệnh xã hội" là do giao hợp mà ra. Đầu thế kỉ XVI, y học Minh nhận ra bệnh giang mai và cảnh giác dân chúng về việc giao hợp với gái làng chơi (Reay Tannahill, tr. 193). Y giới Tây phương trước khi biết đến loại kháng sinh, đã chữa bệnh giang mai bằng hợp chất arsenic, y giới Đông cũng chữa bằng thạch tín (arsenic). Thái Y viện đời Lê đã dùng vị mã tiền có thạch tín chữa cho Thánh Tông chăng? Vì thế mới có ghi nhận Trường Lạc Hoàng hậu bôi "thuốc độc" (thạch tín) cho vua?"

Ngày 6 tháng 2 âm lịch năm 1497, các đại thần gồm Thái bảo Bình Lương hầu Lê Chí, Binh bộ thượng thư Định Công bá Trịnh Công Đán, Tây quân đô đốc phủ tả đô đốc Sung Khê bá Lê Vĩnh đến điện Hoằng Văn đón Thái tử Lê Tranh lên ngôi, sử gọi là Lê Hiến Tông. Ngày 24 tháng 12 âm lịch năm 1497, Hiến Tông dâng vua cha miếu hiệuThánh Tông (聖宗).[46] Thụy hiệuSùng Thiên Quảng Vận Cao Minh Quang Chính Chí Đức Đại Công Thánh Văn Thần Vũ Đạt Hiếu Thuần Hoàng Đế (崇天廣運高明光正至德 大功聖文神武達孝淳皇帝), đời sau gọi là Thánh Tông Thuần hoàng đế (聖宗淳皇帝), hay Lê Thuần Hoàng (黎淳皇), Lê Thuần Hoàng Đế (黎淳皇帝), Lê Thuần Đế (黎淳帝), Thuần Hoàng (淳皇), Thuần Đế (淳帝).

Ngày 8 tháng 3 âm lịch năm 1497, quan tài Lê Thánh Tông được rước về Lam Kinh. Ngày 28 tháng 3 âm lịch năm này, ông được mai táng vào Chiêu Lăng (昭陵), bên tả Vĩnh Lăng (永陵) của Lê Thái Tổ. Vua Hiến Tông nghe lời Lễ quan, sai Đông các đại học sĩ kiêm Quốc tử giám tế tửu Thân Nhân Trung, Lễ bộ thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ Đàm Văn Lễ, Đông các đại học sĩ Lưu Hưng Hiếu soạn văn bia kể sự nghiệp của Thánh Tông tại Chiêu Lăng.[46]

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng đồng Lê Thánh Tông ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội).

Sách Đại Việt sử ký toàn thư có chép lại bình luận của một số sử thần về Lê Thánh Tông, đa phần nhận xét rất tích cực:

Tuy nhiên, Đại Việt Sử ký Toàn thư ở cuối bản kỷ về Thánh Tông có thuật lại lời tự phê bình của nhà vua:[136]

Hà Nhậm Đại, sĩ phu đời Mạc làm quan đến chức Lễ bộ thượng thư, có bài thơ vịnh Thánh Tông Thuần hoàng đế:[138]

Thánh Tông Thuần Hoàng đế
Nhật thướng thiên trung hoàng đạo khai,
Đế vương sự nghiệp hiện hùng tài.
Bình sinh học vấn chân cao mại,
Nữ tử yên tri thị hoạ thai.
Dịch nghĩa
Vầng dương lên giữa trời mở đường Hoàng đạo,
Sự nghiệp đế vương biểu hiện tài năng hùng mạnh.
Bình sinh học vấn thật là cao siêu,
Nào hay đứa con gái gây nên cái mầm mống tai họa!
Dịch thơ
Giữa trời hoàng đạo chói vầng dương,
Xuất hiện hùng tài bậc đế vương.
Học vấn bình sinh cao rộng thế,
Nào hay nhi nữ nghén tai ương !

Trong bộ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, sử quan thời Nguyễn có lời phê khi chép đoạn Thánh Tông xưng làm Tao đàn nguyên soái, lập ra Tao đàn nhị thập bát tú và đặt tên một tập thơ là Quỳnh uyển cửu ca:[139]

Sử gia thời Pháp thuộc Trần Trọng Kim cũng đánh giá trong cuốn Việt Nam sử lược rằng:

Sử gia Hoa Kỳ thế kỷ XXI Keith Weller Taylor nhận định trong sách A History of the Vietnamese (Lịch sử người Việt Nam):[140]

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu phi[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Huy Gia hoàng hậu Nguyễn thị (徽嘉皇后阮氏; 1441 - 1505), hay Trường Lạc hoàng hậu, húy là Hằng (晅), nguyên sơ phong là Quý phi, mẹ ruột của Lê Hiến Tông. Bà chưởng quản hậu cung, đứng đầu chúng phi tần của Thánh Tông.
  2. Nhu Huy hoàng hậu Phùng thị (柔徽皇后馮氏; 1444 - 1489), húy là Diệm Quý (琰貴), trước có tên là Thục Giang (淑江), nguyên là Chiêu nghi của Thánh Tông, sinh ra Kiến vương Lê Tân. Con cháu là Lê Tương Dực truy tôn làm Hoàng hậu.
  3. Minh phi Phạm thị (明妃范氏; 1448 - 1498), con gái của đô đốc Phạm Văn Liêu. Sinh ra Ý Đức công chúa Lê Oánh Ngọc, Lan Minh công chúa Lê Lan Khuê và Tống vương Lê Tung.
  4. Kính phi Nguyễn thị (敬妃阮氏; 1444 - 1485), người thuộc huyện Lôi Dương, Thanh Hoá. Cha bà là Đô đốc thiêm sự Đề đốc vệ Thần Vũ Nguyễn Đức Nghị (阮德毅). Bà mồ côi cha từ nhỏ, được Thái bảo Giản Cung hầu Lê Hưu (黎休) nhận làm con. Bà sinh ra Thụy Hoa công chúa Lê Minh Kính và 1 công chúa chết yểu, về sau được nhận Quảng vương Lê Táo làm con thờ tự.
  5. Quý phi Nguyễn thị (貴妃阮氏), người xã Hòa Thược, huyện Kim Trà. Xuất thân bình dân, khi Thánh Tông hoàng đế đi đánh Chiêm Thành đã ghé qua vùng này, thấy bà có nhan sắc mà nạp về cung. Bà sinh ra Triệu vương Lê Thoan.
  6. Tu dung Nguyễn thị (修容阮氏), người xã Bối Khê, huyện Thanh Oai, con gái Quan trung thư lệnh Nguyễn Trực. Năm 1472, tuyển vào cung, được đổi tên là Cẩn Kính. Tháng 8 năm 1491, thăng làm Dung hoa. Năm 1492, thăng làm Tiệp dư. Năm 1495, ban cho làm Tu dung. Bà không có con trai, vua cho lấy công chúa thứ 16 (không rõ tên) làm con nối.
  7. Tài nhân Nguyễn thị (才人阮氏; 1444 - 1479), người làng Thiên Mỗ, huyện Từ Liêm. Cha là Thái trung đại phu thượng thư tự khanh Hộ bộ tả thị lang Nguyễn Đình Hy (阮廷禧), mẹ là Chu phu nhân. Bà sinh ra Phúc vương Lê Tranh.
  8. Tu nghi Phạm thị, mẹ sinh của Gia Thục công chúa Lê Thanh Toại, mất ngay sau khi hạ sinh con gái.
  9. Tuyên vinh Hà thị, huý là , mẹ sinh của Đường vương Lê Cảo.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng tử[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Lê Tranh (黎鏳), tức vua Lê Hiến Tông (黎憲宗), mẹ là Huy Gia hoàng hậu.
  2. Lương vương Lê Thuyên (梁王黎銓).
  3. Tống vương Lê Tung (宋王黎鏦), sinh năm 1466, mẹ là Phạm Minh phi[141].
  4. Đường vương Lê Cảo (唐王黎鎬; 1466 - 1493), mẹ là Hà Tuyên vinh.
  5. Lê Tân (黎鑌), được truy tôn là Lê Đức Tông (黎德宗), mẹ là Nhu Huy hoàng hậu. Lê Tân là cha của vua Lê Tương Dực (黎襄翼) và là ông nội của vua Lê Chiêu Tông (黎昭宗)
  6. Phúc vương Lê Tranh (福王黎錚), mẹ là Nguyễn Tài nhân.
  7. Diễn vương Lê Thông (演王黎鏓).
  8. Quảng vương Lê Táo (廣王黎鐰), mẹ không rõ, được Nguyễn Kính phi nhận nuôi[142].
  9. Lâm vương Lê Tương (臨王黎鏘).
  10. Ứng vương Lê Chiêu (應王黎昭).
  11. Nghĩa vương Lê Cảnh (義王黎耿).
  12. Trấn vương Lê Kinh (鎮王黎鋞).
  13. Triệu vương Lê Thoan (肇王黎鋑), mẹ là Nguyễn Quý phi.
  14. Kinh vương Lê Kiện (荆王黎鍵), mẹ là ái thiếp của Thánh Tông nên ông cũng được vua cha yêu quý, sau này loạn Uy Mục Đế, không rõ tung tích[143].

Công chúa[sửa | sửa mã nguồn]

Thánh Tông còn có 20 công chúa. Một số hoàng nữ chưa kịp thụ phong thì sớm qua đời[144].

  1. Gia Thục công chúa Lê Thanh Toại (嘉淑公主黎清鐩; 1461 - 1474), trưởng nữ của Thánh Tông, mẹ là Phạm Tu nghi. Công chúa vừa lọt lòng thì mẹ mất, được bà nội là Quang Thục Thái hậu nuôi dưỡng. Năm Hồng Đức thứ 5 (1474), hạ giá lấy con trai của Thái Bảo Kiến Dương hầu Lê Cảnh Huy, tên là Tòng, sinh được 1 trai 1 gái nhưng đều mất sớm. Chúa là người phụ nữ nết na hiền hậu, tuy là con hoàng đế nhưng vẫn giữ đạo làm vợ, lại hay giúp người khó, không ai chê vào đâu được. Chúa mất khi còn khá trẻ, phụ nữ trong cung ai cũng than khóc tiếc thương, có kẻ khóc tru kêu trời[145].
  2. Ý Đức công chúa Lê Oánh Ngọc (懿德公主黎瑩鈺), hoàng nữ thứ 2, sinh năm 1463, mẹ là Phạm Minh phi[141].
  3. Thụy Hoa công chúa Lê Minh Kính (瑞華公主黎明鏡), hoàng nữ thứ 3, mẹ là Nguyễn Kính phi[142].
  4. Chiêu Huy công chúa Lê Triệt San (昭徽公主黎徹鏟), hoàng nữ thứ 4.
  5. Thiều Dương công chúa Lê Bính Hiểu (韶陽公主黎炳䥵), hoàng nữ thứ 5.
  6. Lan Minh công chúa Lê Lan Khuê (黎兰圭兰明公主).
  7. Cảnh Bình công chúa Lê Bảo Huyền (景平公主黎寶鉉).
  8. Quỳnh Phương công chúa Lê Lệ Khanh (瓊芳公主黎麗鏗).
  9. Xuân Minh công chúa Lê Lan Đường (春明公主黎蘭鏜).
  10. Thọ Mai công chúa Lê Cẩm Thương (壽梅公主黎錦鏘)
  11. Cẩm Vinh công chúa Lê Mỹ Thuần (錦榮公主黎美錞), hoàng nữ thứ 12.
  12. 7 hoàng nữ Hoằng, Trừng, Miên, Châu, Tuỵ, Tinh và Uyển còn nhỏ, chưa kịp sắc phong thì Thánh Tông qua đời[144].

Tên đường[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Nội, có một con đường mang nguyên gốc miếu hiệu ông là Lê Thánh Tông. Trong khi đó, ở Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, Cần ThơThành phố Hồ Chí Minh lại viết là Lê Thánh Tôn do theo lệ xưa kỵ húy vua Thiệu Trị (Nguyễn Phúc Miên Tông).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, trang 99
  2. ^ a ă Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ thực lục: Quyển XII, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1993, trang 429
  3. ^ Đại học Hồng Đức 2002, tr. 17.
  4. ^ Minh thực lục - Quan hệ Trung quốc - Việt Nam thé̂ kỷ XIV-XVII, Nhà xuất bản Hà Nội, 2010, các trang 82, 95.
  5. ^ a ă Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 154, 155
  6. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 429
  7. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 429
  8. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 428,429
  9. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Nhà xuất bản giáo dục, 1998, trang 467
  10. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 428,429
  11. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 432
  12. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 428,429,430
  13. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 428,429,430
  14. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 428,429,430
  15. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 431
  16. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Nhà xuất bản giáo dục, 1998, trang 468
  17. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, 1998, Nhà xuất bản Giáo dục, trang 470
  18. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư,Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1993, trang 517
  19. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, 1993, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, trang 432
  20. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, 1998, Nhà xuất bản Giáo dục, trang 475
  21. ^ Tạ Chí Đại Trường (2009), Sơ thảo: Bào sử khác cho Việt Nam, trang 171
  22. ^ Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, trang 98
  23. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, trang 464
  24. ^ a ă â Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, trang 480
  25. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 435
  26. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 439
  27. ^ a ă Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 441
  28. ^ a ă â b K. W. Taylor (2013), A History of the Vietnamese, các trang 213-215.
  29. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 444
  30. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, các trang 486-487.
  31. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 451
  32. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 472
  33. ^ a ă â b c d Phan Huy Chú, Viện sử học - Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, các trang 537-538.
  34. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 538
  35. ^ Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, trang 291
  36. ^ a ă â b Ben Kiernan (2017), Viet Nam: A History from Earliest Times to the Present, các trang 205-208.
  37. ^ Tạ Chí Đại Trường (2009), Sơ thảo: Bài sử khác cho Việt Nam, các trang 172-173.
  38. ^ K. W. Taylor (2013), A History of the Vietnamese, trang 216
  39. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 506
  40. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 503
  41. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 453
  42. ^ Baldanza 2016, tr. 80-84.
  43. ^ K. W. Taylor (2013), A History of the Vietnamese, trang 212
  44. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 512
  45. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 474
  46. ^ a ă â b c d đ e ê g h Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Bản Kỷ Thực Lục, Quyển XIII: Thánh Tông Thuần Hoàng Đế (phần hạ)
  47. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 437
  48. ^ a ă Tạ Chí Đại Trường 2009, tr. 190.
  49. ^ a ă Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, các 472-473.
  50. ^ a ă â b Phan Huy Chú, Viện sử học - Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, các trang 628-630.
  51. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, các trang 511-514.
  52. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 452
  53. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 509
  54. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 473
  55. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 440
  56. ^ a ă Phan Huy Chú, Viện sử học-Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2, các trang 336-337.
  57. ^ Tạ Chí Đại Trường (2009), Sơ thảo: Bài sử khác cho Việt Nam, trang 176
  58. ^ a ă â b Phan Huy Chú, Viện sử học-Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2, các trang 319-320.
  59. ^ a ă â b c d đ e ê Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, trang 101
  60. ^ a ă â Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 443
  61. ^ Phan Huy Chú, Viện sử học-Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2, các trang 352-354.
  62. ^ a ă Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, các trang 444-449.
  63. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 486
  64. ^ Lê Quỳnh (2004). “Công nghệ quân sự TQ và Đại Việt”. BBC. Truy cập 20 tháng 6 năm 2017. 
  65. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1993, trang 487
  66. ^ Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa 2004, tr. 123.
  67. ^ a ă Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, các trang 447-449.
  68. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, các trang 478-480.
  69. ^ Viện Sử học, Lịch sử Việt Nam, tập 3, tr 187
  70. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 433
  71. ^ a ă â K. W. Taylor (2013), A History of the Vietnamese, các trang 217-218.
  72. ^ a ă Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, các trang 454-460.
  73. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, các trang 506-511.
  74. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, 1998, Nhà xuất bản Giáo dục, trang 567
  75. ^ Đào Duy Anh 2003, tr. 414.
  76. ^ Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 47.
  77. ^ Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, trang 96
  78. ^ Mindy Chen-Wishart, Alexander Loke, Stefan Vogenauer (biên tập) (2018), Formation and Third Party Beneficiaries, trang 450
  79. ^ Nguyễn Ngọc Huy. Quốc triều Hình luật Quyển A. Viet Publisher, 1989. tr 177
  80. ^ Giáo sư Oliver Oldman, chủ nhiệm khoa Luật Á Đông của Đại học Harvard đánh giá cao Luật Hồng Đức, coi nó là hệ thống luật tiến bộ với nhiều sự tương đương về chức năng so với những quan niệm luật pháp Tây phương cận hiện đại
  81. ^ Ronald J. Cima (1989), Vietnam: a country study, trang 19
  82. ^ LÊ THÁNH TÔNG – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP QUA NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CỦA MỘT SỐ NHÀ SỬ HỌC NƯỚC NGOÀI - PGS.TS Nguyễn Văn Kim
  83. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, 1993, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, trang 448
  84. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 447
  85. ^ K. W. Taylor (2013), A History of the Vietnamese, trang 213
  86. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 445
  87. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 515
  88. ^ a ă â b Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, các trang 475-477.
  89. ^ a ă â b c Đại Việt Sử ký Toàn thư, 1993, các trang 434-435.
  90. ^ a ă â Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, các trang 474-476.
  91. ^ a ă â Lê Quý Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục, các trang 98-102.
  92. ^ a ă â Lê Quý Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục, các trang 92-94.
  93. ^ a ă â b Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, các trang 15-20.
  94. ^ “Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Bính Tuất niên hiệu Quang Thuận năm thứ 7 (1466)”. Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Truy cập 13 tháng 7 năm 2017. 
  95. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, trang 536
  96. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 499
  97. ^ a ă Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, các trang 558-560.
  98. ^ Lê Quý Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục, trang 103
  99. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, trang 567
  100. ^ First inscription from Macao on Memory of the World Register at MOWCAP 4
  101. ^ a ă Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, các trang 393-395.
  102. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 486
  103. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 513
  104. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 513, nguyên văn: "Vua thấy hai năm Quý Sửu, Giáp Dần, thóc lúc được mùa, đặt các bài ca vịnh để ghi điềm lành. Nội dung gồm những bài về đạo làm vua, khí tiết bề tôi, vua giỏi tôi hiền, nhớ bậc anh tài kỳ tuấn và đùa viết vộn thành văn... nhân gọi là Quỳnh uyển cửu ca thi tập. Sai bọn Đông các đại học sĩ Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận; Đông các hiệu thư Ngô Luân, Ngô Hoán; Hàn lâm viện thị độc chưởng sự Nguyễn Xung Xác; Hàn lâm viện thị thư Nguyễn Quang Bật, Nguyễn Đức Huấn, Vũ Dương, Ngô Thầm; Hàn lâm viện đãi chế Ngô Văn Cảnh, Phạm Trí Khiêm, Lưu Thư Ngạn; Hàn lâm viện hiệu lý Nguyễn Nhân Bị, Nguyễn Tôn Miệt, Ngô Quyền, Nguyễn Bảo Khuê, Bùi Phổ, Dương Trực Nguyên, Chu Hoãn; Hàn lâm viện kiểm thảo Phạm Cẩn Trực, Nguyễn Ích Tốn, Đỗ Thuần Thứ, Phạm Nhu Huệ, Lưu Dịch, Đàm Thận Huy, Phạm Đạo Phú cùng họa lại vần".
  105. ^ Phan Huy Chú. 1961. Lịch triều hiến chương loại chí. Phần Văn tịch chí. (Đào Duy Anh hiệu đính). Nhà xuất bản. Sử học. Hà Nội. tr.76.
  106. ^ Mai Xuân Hải. 2007. Lê Thánh Tông và thơ chữ Hán. trong “Lê Thánh Tông- về tác gia và tác phẩm”. Nhà xuất bản Giáo dục. H. tr.432
  107. ^ Nguyễn Trãi toàn tập, đd, tr. 246
  108. ^ Bùi Duy Tân, sách đã dẫn, tr 96-97
  109. ^ Thích Phước Sơn; Đào Nguyên (2010). “Văn Học Phật giáo Việt Nam đồng hành với 1000 năm Thăng Long Hà Nội”. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nqam. 
  110. ^ Ban Hoằng pháp Trung ương, GHPGVN (2002). “Phật học cơ bản 3”. Nguyệt san Giác Ngộ. 
  111. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 463
  112. ^ K. W. Taylor (2013), A History of the Vietnamese, trang 217
  113. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 484
  114. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 464
  115. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 461
  116. ^ a ă â b c Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, các trang 462-469
  117. ^ a ă Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 470
  118. ^ Ben Kiernan (2017), Viet Nam: A History from Earliest Times to the Present, các trang 211-212.
  119. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 471
  120. ^ Việt Nam Sử Lược, sách đã dẫn, trang 101
  121. ^ Tạ Chí Đại Trường (2009), Sơ thảo: Bài sử khác cho Việt Nam, trang 179
  122. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, trang 438
  123. ^ a ă â Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 450
  124. ^ Nguyên một phần đất Bồn Man (vùng thuộc Khăm Muộn, Hà Tĩnh, Quảng Bình ngày nay), thời Lê Thái TôngLê Nhân Tông đã xin nội thuộc, đổi thành châu Quy Hợp thuộc xứ Nghệ An (về sau đến thời nhà Nguyễn, thuộc đạo Hà Tĩnh), nhưng vẫn dưới quyền các tù trưởng họ Cầm. Sau đổi thành phủ Trấn Ninh xứ Nghệ, và đặt quan phủ huyện để trị vì.
  125. ^ Ở vùng Luang Prabang, vương quốc lớn mạnh của người Lào lúc đó
  126. ^ Lão Qua, tức Luang Prabang, là đất Thượng Lào ở về phía Tây Bắc Việt bấy giờ. Còn được gọi là nước Nam Chướng.
  127. ^ Theo địa dư Trung Quốc, sông Kim Sa là khúc trên sông Trường Giang. Sông này chảy qua tỉnh Tây KhươngTứ Xuyên. Đây có lẽ nhà chép sử lẫn với khúc sông Lan Thương trên sông Mê Kông
  128. ^ a ă â Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, tr. 102
  129. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, trang 470
  130. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 447
  131. ^ Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, trang 285
  132. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 456
  133. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 476
  134. ^ Nguyễn Bá Dũng; Hồ Bạch Thảo; Phạm Hoàng Quân (2010), Minh thực lục: Quan hệ Trung Quốc – Việt Nam thế kỷ XIV - XVII, Nhà xuất bản Hà Nội, các trang 84-90.
  135. ^ Tạ Chí Đại Trường 2004, tr. 81-83..
  136. ^ a ă Đại Việt Sử ký Toàn thư,Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1993, các trang 518-519.
  137. ^ Đại Việt Sử Ký Toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, trang 591
  138. ^ Tổng tập văn học Việt Nam: trọn bộ 42 tập có chỉnh lý và bổ sung, tập 5, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2000, trang 811
  139. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, trang 566
  140. ^ K. W. Taylor (2013), A History of the Vietnamese, trang 222
  141. ^ a ă Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, trang 160
  142. ^ a ă Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, trang 161
  143. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, trang 186
  144. ^ a ă Hoàng Việt văn tuyển, tập 2: Thánh Tông Chiêu lăng Bi minh
  145. ^ “Những tư liệu dòng họ Đinh trên đất Thái Bình có liên quan tới việc lên ngôi Vua của Lê Thánh Tông”. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngô Sĩ Liên (1993). Đại Việt sử ký toàn thư. Nội các quan bản. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. 
  • Ngô Thì Sĩ; Hội Việt Nam Nghiên cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu (phiên dịch) (1991). Việt sử tiêu án. Nhà xuất bản Văn Sử. 
  • Phan Huy Chú; Viện Sử học - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2007). Lịch triều hiến chương loại chí 1. Nhà xuất bản Giáo dục. 
  • Phan Huy Chú; Viện Sử học - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2007). Lịch triều hiến chương loại chí 2. Nhà xuất bản Giáo dục. 
  • Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục 
  • Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, Sài Gòn: Trung tâm Học liệu Xuất bản thuộc Bộ Giáo dục 
  • Tạ Chí Đại Trường (2004), Sử Việt, đọc vài quyển, Nhà xuất bản Văn mới 
  • Tạ Chí Đại Trường (2009), Sơ thảo: Bài sử khác cho Việt Nam, Nhà xuất bản Kệ sách 
  • Bùi Duy Tân (1999), Khảo và luận về một số tác gia-tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, tập 1, Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học giáo dục
  • Đại học Hồng Đức (2002), Kỷ yếu hội thảo khoa học về Hoàng đế Lê Thánh Tông, 1442-1497, Thanh Hóa: Nhà xuất bản Thanh Hóa 
  • Đào Duy Anh (2003). Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Việt Nam, từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX ; Cổ sử Việt Nam ; Việt Nam văn hóa sử cương ; Đất nước Việt Nam qua các đời: nghiên cứu địa lý học lịch sử Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội. 
  • Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2004). Danh nhân Thanh Hóa 2. Thanh Hóa: Nhà xuất bản Thanh Hóa. 
  • Nhung Tuyết Trần & Anthony Reid (2004). Vietnam: Borderless Histories. University of Wisconsin Press.
  • Kho báu Tiền cổ Đại Việt. Bảo tàng lịch sử Việt Nam Hà Nội, 2006
  • Đào Duy Anh (2007), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
  • Lê Quý Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
  • Viện Sử học (2007) Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
  • Viện Sử học (2007) Lịch sử Việt Nam, tập 4, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
  • Đại Việt mở rộng về phía Tây, Nam trên BBC Vietnamese
  • K. W. Taylor (2013). A History of the Vietnamese. Cambridge University Press. ISBN 0521875862.
  • Ben Kiernan (2017). Viet Nam: A History from Earliest Times to the Present. Oxford University Press. ISBN 0190627298.
  • Brantly Womack (2006). China and Vietnam: The Politics of Asymmetry'. Cambridge University Press. ISBN 1139448447.
  • Mindy Chen-Wishart, Alexander Loke, Stefan Vogenauer (2018), Formation and Third Party Beneficiaries. Oxford University Press. ISBN 0192535633.
  • Baldanza, Kathlene (2016). Ming China and Vietnam. Cambridge: Cambridge University Press. 
  • Cima, Ronald J. (1989). Vietnam: a country study. Washington D. C.: The Federal Research Division. ISBN 1107124247. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]