Lê Thánh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Lê Thánh Tôn)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Thánh Tông
黎聖宗
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Lê Thánh Tông.jpg
Tượng đồng Lê Thánh Tông ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội)
Hoàng đế Đại Việt
Trị vì 14601497
Tiền nhiệm Lê Nghi Dân
Kế nhiệm Lê Hiến Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Trường Lạc hoàng hậu
Nhu Huy hoàng hậu
Hậu duệ
Tên húy Lê Tư Thành (黎思誠)
Tước hiệu Thiên Nam động chủ (天南洞主)
Niên hiệu
Thụy hiệu Sùng Thiên Quảng Vận Cao Minh Quang Chính Chí Đức Đại Công Thánh Văn Thần Vũ Đạt Hiếu Thuần Hoàng đế
(崇天廣運高明光正至德大功聖文神武達孝淳皇帝)
Miếu hiệu Thánh Tông (聖宗)
Triều đại Nhà Lê sơ
Thân phụ Lê Thái Tông
Thân mẫu Ngô Thị Ngọc Dao
Sinh 25 tháng 8, 1442(1442-08-25)
Chùa Huy Văn (nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội)
Mất 3 tháng 3, 1497 (54 tuổi)
Điện Bảo Quang, Đông Kinh
An táng Chiêu lăng (昭陵)

Lê Thánh Tông (chữ Hán: 黎聖宗; 25 tháng 8 năm 14423 tháng 3 năm 1497), là hoàng đế thứ năm của nhà Lê sơ nước Đại Việt. Ông trị vì từ năm 1460 đến năm 1497, tổng cộng 38 năm, là vị hoàng đế trị vì lâu nhất thời Lê sơ và cũng là một trong những vị vua cai trị trong thời kỳ hòa bình lâu nhất trong lịch sử Việt Nam.

Lê Thánh Tông được xem là một vị hoàng đế anh minh thời Hậu Lê.[1][2] Trong thời kỳ cầm quyền của ông, nhà nước Đại Việt quật khởi mạnh mẽ thực sự, phát triển rực rỡ ở mọi phương diện kinh tếvăn hóaxã hộigiáo dục và quân sự. Ông cũng mở rộng đáng kể lãnh thổ Đại Việt sau nhiều cuộc chiến với các nước xung quanh như Chiêm Thành, Ai LaoBồn Man. Các thành tựu về nội trị và đối ngoại của Lê Thánh Tông đã đưa Đại Việt trở thành một cường quốc lớn mạnh trong khu vực Đông Nam Á, cũng như đã khiến nền quân chủ Việt Nam đạt đến đỉnh cao hoàng kim nhất của nó, trước và sau không có thời vua nào của Việt Nam đạt được sự thịnh vượng như thời này.

Thân thế và niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thánh Tông có tên húy Tư Thành (思誠), tên sử dụng trong các văn kiện ngoại giao với nhà Minh là Lê Hạo (黎灝),[3] hiệu Thiên Nam động chủ (天南洞主), Đạo Am chủ nhân (道庵主人), Tao Đàn nguyên súy (騷壇元帥), là con trai thứ tư của Lê Thái Tông. Mẹ của ông là Ngô Thị Ngọc Dao, người làng Động Bàng, huyện Yên Định, phủ Thanh Hóa. Cha bà là Ngô Từ, gia thần của Lê Thái Tổ, làm đến chức Thái bảo. Chị gái Ngô Thị Ngọc Dao tên Xuân, vào hầu Lê Thái Tông ở hậu cung. Ngô Thị Ngọc Dao theo chị vào nội đình, vua Lê Thái Tông thấy liền gọi vào cho làm cung tần.[4]

Tháng 6, năm Đại Bảo thứ nhất (1440), Ngô thị nhập cung khi 14 tuổi, được phong làm Tiệp dư (婕妤), ở tại Khánh Phương Cung. Sinh thời Ngô Tiệp dư sùng Phật giáo thường cầu tự, một hôm mộng thấy thượng đế ban cho một vị tiên đồng, bèn có mang. sinh Lê Tư Thành vào ngày 20 tháng 7 âm lịch (25 tháng 8 dương lịch) năm Đại Bảo thứ 3 (1442)[4].

Khi Lê Tư Thành sinh ra, ông được sách Đại Việt sử ký toàn thư miêu tả: ’’Thiên tư tuyệt đẹp, thần sắc khác thường, vẻ người tuấn tú, nhân hậu, rạng rỡ, nghiêm trang, thực là bậc thông minh xứng đáng làm vua, bậc trí dũng đủ để giữ nước’’[5]

Năm Thái Hòa thứ 3 (1445), Lê Tư Thành được phong làm Bình Nguyên vương (平原王), làm phiên vương vào ở kinh sư, học cùng các vương khác ở Kinh diên. Các quan ở Kinh diên như Trần Phong thấy Bình Nguyên vương dáng điệu đường hoàng, thông minh hơn hẳn người khác, nên họ cho ông là bậc khác thường. Bình Nguyên vương lại càng sống kín đáo, không lộ vẻ anh minh ra ngoài, chỉ vui với sách vở cổ kim, nghĩa lý thánh hiền, ưa điều thiện, thích người hiền, chăm chẵm không biết mệt mỏi. Bình Nguyên vương được thái hậu Nguyễn Thị Anh yêu mến như con đẻ, và được Lê Nhân Tông coi như người em hiếm có[6]

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 3 tháng 10 âm lịch năm 1459, niên hiệu Diên Ninh thứ 6, Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân đang đêm bắc thang lên tường thành, rồi chia làm ba đường lẻn vào cung cấm làm binh biến. Vua Lê Nhân Tông và Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh bị giết, Lê Nghi Dân lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Thiên Hưng (天興). Nghi Dân phong Bình Nguyên vương Tư Thành làm Gia vương (嘉王), và sai dựng phủ Gia Hưng bên trái nội cung để Tư Thành ở[7][8].

Lê Nghi Dân lên ngôi, tin dùng các nịnh thần, sát hại bề tôi cũ và thay đổi pháp chế, cho nên không được lòng dân và các đại thần, văn võ[9]. Một nhóm các trọng thần là Lê Ê, Lê Thụ, Đỗ Bí, Lê Ngang muốn binh biến lật đổ Thiên Hưng Đế (Lê Nghi Dân) nhưng việc bị bại lộ, tất cả đều bị giết[10]

Sau đó, các huân hựu đại thần gồm Thái phó Á quận hầu Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Nhập nội kiểm hiệu Á thượng hầu Lê Lăng, Tư mã tham dự triều chính Đình thượng hầu Lê Niệm, Tổng tri ngự tiền hậu quân Á hầu Lê Nhân Thuận, Tổng tri ngự tiền trung quân Quan nội hầu Lê Nhân Khoái, Tổng tri ngự tiền thiện trạo doanh quân Quan phục hầu Trịnh Văn Sái, Thiêm tri Bắc đạo quân dân bạ tịch Trịnh Đạc, Điện tiền ty đô chỉ huy Nguyễn Đức Trung, thiết đột tả quân đại đội trưởng Nguyễn Yên, Nhập nội đại hành khiển Lê Vĩnh Trường,....cùng bàn với nhau làm binh biến, lật đổ Lê Nghi Dân[11]

Ngày 6 tháng 6, năm Canh Thìn (1460), các quan vào ngồi ở nghị sự đường ngoài cửa Sùng vũ. Nguyễn Xí, Đinh Liệt xướng nghĩa giết hai người cầm đầu là Đồn, Ban trước Nghị sự đường. Sau đó, hai ông sai đóng các cửa, mỗi người đem cấm binh dẹp nội loạn, giết bè đảng của Trần Lăng hơn 100 người. Binh biến thành công, nhóm đại thần bàn với nhau rằng:[12]

Ngày 8 tháng 6 âm lịch năm 1460, Gia vương Lê Tư Thành lên ngôi ở điện Tường Quang, lấy niên hiệu là Quang Thuận (光順) và ban chiếu đại xá thiên hạ. Ông cũng truy tặng miếu hiệu, thụy hiệu cho mẹ con Lê Nhân Tông và lập bài vị thờ hai người họ trong Thái miếu.[13].

Tháng 7 âm lịch năm 1460, Lê Thánh Tông muốn đảm bảo an ninh trong nội cung, đề phòng sự tái diễn của vụ ám sát Lê Nhân Tông, nên ông ban lệnh cho quan lại, nhân viên ở Nội mật viện cùng các cung nhân rằng: "Từ nay về sau, nếu thấy chiếu chỉ và các việc cung thì không được lén lút tiết lộ ra trước cho người ngoài và con thân thích".[14][15]

Sau khi lên ngôi, vua Thánh Tông đã thăng quan chức cho những người thực hiện đảo chính Lê Nghi Dân thành công để đưa Lê Thánh Tông lên ngôi như Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Niệm,.. Nhà vua còn ban tặng ruộng đất cho 30 công thần của cuộc đảo chính, trong đó sử sách cho biết Nguyễn Xí và Đinh Liệt đều nhận 350 mẫu ruộng, Lê Lăng được nhận 300 mẫu, Lê Niệm nhận 200 mẫu, Lê Nhân Thuận nhận 150 mẫu, Lê Thọ Vực, Nguyễn Sư Hồi và Lê Nhân Khoái đều nhận 130 mẫu.[16] Nhưng với những người tham gia vụ đảo chính Nghi Dân trước đó bị thất bại và bị Nghi Dân giết như Lê Ê, Lê Thụ, Đỗ Bí, Lê Ngang, khi Nguyễn Xí đề nghị truy phong tiết liệt cho họ thì Lê Thánh Tông không chấp thuận, ngược lại vào tháng 10 năm 1460, ông còn ban ý chỉ coi việc họ binh biến thất bại như tội thần:[17]

Đã xem hết tờ tâu, trong ấy có xin cho bọn Lê Ê, Lê Thụ, Đỗ Bí, Lê Ngang theo như lệ công thần đã mất, nhưng câu ấy còn có thể bẻ lại được, là vì khoảng năm Diên Ninh, Đỗ Bí, Lê Ê ở chức cao nhất vào hàng tể thần; Lê Ngang, Lê Thụ tay cầm cấm quân, giữ việc an nguy, đáng lẽ phải dẹp yên giặc loạn, chuyển nguy thành an mới phải, thế mà chỉ biết sắp gà vào trong nồi mà để cá kình lọt ra ngoài lưới. Đến sau mưu việc không kín, đến nỗi phải phơi thây ở bên đường. Đó lại thêm một tội khác trong các tội của bọn Bí, Ngang, có khác gì tội giết vua của Triệu Thuẫn ngày xưa, sau được để cùng với những công thần đã mất?

Với công thần Lê Lăng tham gia cùng Nguyễn Xí, sau khi biết Lăng từng có ý lập con thứ hai của Lê Thái Tông là Cung vương Khắc Xương, Lê Thánh Tông cũng kết án xử tử Lê Lăng vào năm 1462.[18]

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Quan chế-hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Quan chế nhà Lê sơ

Đầu thời Lê, triều đình sử dụng lại quan chế thời Trần, đứng đầu các quan là Tả, Hữu Tướng quốc Bình chương quân quốc trọng sự, dưới là Lễ Bộ, Lại Bộ, Nội các viện, Trung thư, Hoàng môn, ba sở Môn hạ, ngoài ra còn đặt chức Hành khiển ở 5 đạo để quản lý quân dân ngoài kinh đô. Năm 1459, Lê Nghi Dân đặt thêm bốn bộ là Binh, Hộ, Hình, Công và sáu khoa gồm Trung thư khoa, Hải khoa, Đông khoa, Tây khoa, Nam khoa, Bắc khoa.[19][20][21] Sau khi lên ngôi, vua Lê Thánh Tông ban hành những chính sách mới để hoàn thiện bộ máy quan chế-hành chính Đại Việt.

Tháng 10 âm lịch năm 1462, Lê Thánh Tông cho các quan văn, võ ở độ tuổi 65 và các thư lại, giám sinh ở độ tuổi 60 được đệ đơn với Lại Bộ để xin trí sĩ.[22] Ông còn bãi bỏ luật cha truyền con nối cho các gia đình có công - công thần. Tháng 12 âm lịch năm 1464, nhà vua có chỉ dụ:[23]

Rồng đá Điện Kính Thiên được xây thời Lê Thánh Tông

Tháng 3 âm lịch năm 1465, Lê Thánh Tông bỏ sáu bộ, đặt ra sáu viện, mỗi viện đều có Thượng thư và Tả, hữu thị lang đứng đầu. Theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, sáu viện này gồm Viện Nghi lễ, Viện Khâm hình, Viện Ty bình, 3 viện còn lại không rõ tên. Các khoa Trung thư khoa, Hải khoa, Đông khoa, Nam khoa, Tây khoa, Bắc khoa lần lượt được tổ chức lại thành Lại khoa, Hộ khoa, Lễ khoa, Binh khoa, Hình khoa, Công khoa; mỗi khoa do một viên Đô sự cấp trung đứng đầu, được một viên Cấp sự trung trợ thủ.[21][24] Sáu khoa có nhiệm vụ giám sát công việc của sáu bộ tương ứng và báo cáo trực tiếp với nhà vua.[25] Nhà vua cũng đổi cơ quan Hành khiển 5 đạo thành các ty Tuyên chính sứ, mỗi ty gồm các chức Tuyên chính sứ. Tham chính, Tham nghị và Chủ sự (theo thứ tự từ cao xuống thấp).[21][24]

Tháng 4 âm lịch năm 1466, vua Lê Thánh Tông lại đổi sáu viện thành sáu bộ như trước năm 1465, mỗi bộ vẫn do Thượng thư và Tả hữu thị lang cai quản. Dưới các chức này, Lê Thánh Tông đặt chức Lang trung, Viên ngoại lang, Tư vụ. Thánh Tông cũng lập ra sáu tự để phụ việc cho sáu bộ; sáu tự gồm Đại lý tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Thái bộc tự, Hồng lô tự, Thượng bảo tự. Mỗi tự do các quan Tự khanh, Thiếu khanh, Tự thừa phụ trách.[26][27] Trong sáu tự, Đại lý tự bổ trợ cho Bộ Hình, bốn tự Thượng bảo tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Hồng lô tự phụ việc Bộ Lễ. Đối với Thái bộc tự, không rõ cơ quan này bổ trợ cho bộ nào, nhưng sử gia K. W. Taylor phỏng đoán rằng Thái bộc tự ít ra đã phải cộng tác với Bộ Binh, Bộ Hộ và Bộ Lễ.[25]

Mùa thu năm 1471, vua Thánh Tông cải cách quan chế, bỏ các chức tướng quốc, bình chương và bộc xạ; đặt thái sư, thái úy, thái phó, thái bảo, thiếu sư, thiếu úy, thiếu phó, thiếu bảo làm các chức quan đầu triều, coi cả văn lẫn võ. Dưới các chức này, ban văn trong triều có các cơ quan sáu bộ, sáu tự, sáu khoa, Ngự sử đài, Hàn lâm viện, Đông các, Quốc tử giám, Quốc sử viện, Phủ doãn, Cung sư phủ, Tư thiên giám, Thái y viện, Bí thư giám, Trung thư giám, Hoa văn giám,..., ở các thừa tuyên, phủ, nhiệm, châu có các nha môn, các quan Khuyến nông, Hà đê; bên võ có các cơ quan: năm phủ, hai vệ, bốn vệ Hiệu lực, bốn vệ Thần võ (tiền, hậu, tả hữu), sáu vệ Điện tiền, bốn vệ Tuần tượng, bốn vệ Mã nhàn,... lo việc bảo vệ hoàng cung, chăm sóc voi, ngựa; ngoài ra còn có các vệ, sở, đô ty, giang hải tuần kiểm... đóng ở các địa phương.[28][29] Các cải tổ của Lê Thánh Tông đã giúp bộ máy chính quyền được mở rộng đáng kể; theo sử gia Đào Duy Anh, tổng sổ quan văn, võ phục vụ dưới thời Thánh Tông có đến 5370 người, gồm 2755 quan triều đình và 2645 quan địa phương.[30][31]

Mùa đông năm 1487, Lê Thánh Tông đặt phép tắc về việc bàn luận của quan viên: khi có thánh chỉ xuống, thì theo thứ tự, Lục khoa và Ngự sử đài bàn bạc trước, sau đó đến Lục bộ, Lục tự, rồi tới lượt công, hầu, bá, đô đốc năm phủ. Các quan đều phải trình bày rõ ý kiến của mình, không được giữ im lặng, trốn tránh hoặc a dua theo người khác. Quan nào vi phạm luật lệ này, sẽ bị ngự sử trách hỏi rồi tâu lên vua.[28][32]

Tháng 3 âm lịch năm 1493, vua Thánh Tông đặt lệ về thứ tự đứng chầu của đình thần: đối với các quan cùng phẩm, thì người lớn tuổi và làm việc lâu năm đứng trước, người trẻ và làm việc chưa lâu đứng sau. Với các chức quan cai quản thì: "người phẩm thấp mà chức cao, như tam phẩm làm Đô đốc thì đứng vào ban nhị phẩm; thất, bát phẩm làm Lang trung thì đứng vào ban lục phẩm. Nếu phẩm cao mà chức thấp, như nhị phẩm làm Vệ quan thì đứng vào ban tam phẩm; từ, ngũ phẩm làm Viên ngoại lang thì đứng vào ban lục phẩm; còn lại cứ theo thế mà suy ra".[28][33]

Lê Thánh Tông rất quan tâm tiến cử, phong thưởng những quan viên có tài đức, giáng chức người bất tài, tham ô. Ông đã nhiều lần dụ các bộ triều đình, 3 ty Đô, Thừa, Hiến các xứ, phải xem xét "xứ người nào liêm khiết hay được xét các quan lại trong bộ thuộc của mình, người nào liêm khiết hay tham ô, chuyên cần hay lười biếng, cùng các quan nho học dạy dỗ nhân tài, hằng năm có người được sung cống sĩ hay không, nhiều hay ít, đều ghi tên tâu lên để định việc thăng hay giáng", hay "các quan cai quản quân dân trong kinh ngoài trấn, trong đó có người liêm khiết, cũng có kẻ tham nhũng, nếu không phân biệt nêu lên thì khuyên răn thế nào được? Trong thi Đô đốc năm phủ, ngoài thì đường quan ba ty Đô, Thừa, Hiến, các quan hãy công bằng mà bảo cử các quan vệ, phủ, huyện, châu trong ngoài, người nào liêm khiết, người nào tham nhũng đều phải khai rõ sự thực, hẹn trong 3 tháng kể từ ngày sắc chỉ đưa tới, làm bản tâu lên, giao cho Ngự sử đài xét lại mà thi hành khu xử để tỏ rõ cách khuyên răn và để nới sức cho quân dân". Ông cũng ban hành hàng loạt sắc lệnh, cảnh báo và nghiêm cấm các quan tham ô, hối lộ, gian dối, biếng nhác, trễ nãi, thu thuế chậm chạp, không hoàn tất công việc đúng kỳ hạn, sống phóng đãng, chìm đắm tửu sắc, thông dâm với vợ người, gia đạo không nghiêm, cưới người đàn bà ở nơi mình trấn nhậm, lễ lạc quá đà, nhổ trầu, vứt bã trầu lung tung trong sân điện,... Sự quản lý chặt chẽ này đã khiến bá quan phải cẩn thận với hành vi của mình.[25][34] Trong sách Việt Nam sử lược, sử gia Trần Trọng Kim viết: "Ngài [Lê Thánh Tông] lại lập ra quan chế và lễ-nghi theo như bên Tàu. Các quan văn võ có phần ruộng đất, lại được tiền tuế bổng. Nhưng ai mà làm điều gì nhũng-lạm thì đều phải nghiêm trị".[1]

Quy định về tước hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 âm lịch năm 1471, Lê Thánh Tông ban bố quy định về việc phong tước cho tôn thất, quan lại: hoàng tử hoặc con cả của hoàng tử được lãnh tước Vương, đối với hoàng tử (tức thân vương) thì lấy chữ trong tên phủ mà đặt hiệu (chẳng hạn như Kiến Hưng vương lấy từ tên của phủ Kiến Hưng), với con trưởng của hoàng tử (tức tự thân vương) thì dùng tên huyện làm hiệu (chẳng hạn như hiệu Hải Lăng vương lấy từ tên của huyện Hải Lăng). Các con thứ của hoàng thái tử và thân vương thì được giữ tước Công, dùng mỹ tự (từ hoa mỹ) làm tên hiệu, chẳng hạn Triệu Khang công. Con trưởng của tự thân vương hoặc tôn thất có tước Công thì được trao tước Hầu, cũng dùng mỹ tự làm tên hiệu, ví dụ như Vĩnh Kiến hầu. Ngoài ra còn có tước Bá được dành cho hoàng thái tôn, các con thứ của tôn thất có tước Công, con trưởng của thân công chúa; tước Tử được đặt tương đương với chánh nhất phẩm, dành cho con thứ của thân công chúa, con trưởng của tôn thất mang tước Hầu, tước Bá; tước Nam tương đương với tông nhất phẩm, dành cho con trưởng của thân công chúa được truy tặng, con thứ của tôn thất mang tước Hầu, tước Bá, cả ba tước này đều lấy tên hiệu theo mỹ tự (tỷ như Tĩnh Cung bá, Kiến Xương tử, Quảng Trạch nam,...).[35][36]

Lê Thánh Tông còn đặt lệ cho các công thần được phong tước quốc công, quận công, hầu, bá. Những người không có đức độ, công lao rõ ràng đối với triều đại, thì không được xem như công thần và không được phong các tước đó. Đối với người mang tước quốc công, quận công thì lấy một chữ trong tên phủ, huyện để đặt hiệu (chẳng hạn Tĩnh quốc công Lê Niệm, Phủ quốc công Lê Thọ Vực); với người mang tước hầu, tước bá thì lấy cả hai chữ trong tên xã để đặt hiệu (ví dụ tước Nam Xương hầu đặt theo tên xã Nam Xương, tước Diên Hà bá đặt theo tên xã Diên Hà).[36]

Lê Thánh Tông cũng ban hành rất nhiều chính sách về việc đặt cấp bậc cho quan, tướng có đại công, được mô tả chi tiết trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (quyển XVII - Quan chức chí (V) - Tước ấm và đường xuất thân khác nhau).[36] Đại Việt Sử ký Toàn thư chép đại lược rằng:[35]

"Về cấp bậc của người có công lao thì bên văn từ Thượng trụ quốc đến Tu thận thiếu doãn gồm 5 phẩm, đều có chánh, tòng. Bên võ từ Thượng trụ quốc đến Thiết kỵ úy gồm 5 phẩm cũng có chánh, tòng. Tản quan bên văn, từ chánh nhất phẩm, sơ thụ Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, cho đến chánh cửu phẩm sơ thụ Tướng sĩ thứ lang, gồm 9 phẩm, đều có chánh, tòng. Tản quan bên võ từ chánh nhất phẩm sơ thụ Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân đến tòng lục phẩm, sơ thụ Quả cảm tướng quân gồm 6 phẩm, đều có chánh tòng. Nội quan tản từ Thị trung lệnh chánh tam phẩm đến Phó lịch sứ tòng cửu phẩm gồm 7 bậc, cũng có chánh, phó. Về thông tư thỉ thượng trật 24 tư đến hạ liệt 1 tư gồm 19 bậc. Về công thần được vinh phong thì từ chữ "suy trung" đến chữ "tuyên lực", gồm 24 chữ. Đại để các quan văn võ có công thì ban đầu được phong từ 2 chữ đến 8 chữ. Người nào đáng được phong chữ nào thì tới lúc đó sẽ đặc xét gia phong."

Sử gia Phan Huy Chú đã ca ngợi các chính sách phân chia cấp tước của Lê Thánh Tông:

Sự phân biệt về tước cấp, từ thời Hồng Đức đã quy định từng hạng rõ ràng. Trong những bậc tản quan, thông tư, vinh phong, đều có phép sẵn, các đời noi theo không thay đổi. Đó là thể lệ phong tước bái quan, trong hơn 300 năm nhà Lê vẫn theo như thế, nên nay chép cả ra đây.[36]

Phân chia hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Đời vua Lê Thái Tổ, Đại Việt được chia làm 5 đạo, các đơn vị hành chính dưới đạo là phủ, lộ, trấn, châu, huyện, xã. Quan cai trị đạo là Hành khiển, Tuyên phủ chánh phó sứ; cai trị phủ là Tri phủ; cai trị lộ là An phủ sứ; cai trị trấn là Trấn phủ sứ; cai trị huyện là Chuyển vận sứ, Tuần sát sứ; cai trị xã là Xã quan.[1] Đến thời Lê Thánh Tông, năm 1466, nhà vua chia nước thành 12 đạo thừa tuyên và phủ Trung đô phủ, lại đặt các ty Đô, Thừa để cai quản. Thánh Tông đổi lộ thành phủ, trấn thành châu, đổi chức An phủ thành Tri phủ, Trấn phủ thành Đồng tri phủ, Chuyển vận sứ thành Tri huyện, Tuần sát sứ thành Huyện thừa, Xã quan thành Xã trưởng.[28]

An Nam quốc đồ thời Hồng Đức (1490)

Năm 1469, Lê Thánh Tông đổi phủ Trung đô làm phủ Phụng Thiên, quản lĩnh 2 huyện Quảng Đức, Thọ Xương.[37]

Năm 1471, sau khi chinh phục Chiêm Thành, Lê Thánh Tông lập đạo thừa tuyên Quảng Nam, nâng số thừa tuyên của Đại Việt lên 13.[28] Ông còn lập thêm ty Hiến, chia nhau cùng các ty Đô, Thừa cai quản thừa tuyên. Ty Đô do chánh phó Đô tổng binh đứng đầu, nắm việc quân sự; ty Thừa do Thừa chính chánh phó sứ đứng đầu, nắm việc hành chính; còn ty Hiến do Hiến sát chánh phó sứ đứng đầu, coi việc luật pháp.[1] 13 thừa tuyên thời Lê Thánh Tông (năm 1490 đổi làm xứ) bao gồm:

  1. Nam Sách gồm (Hải Dương, Hải Phòng ngày nay), quản lĩnh 4 phủ, 18 huyện;
  2. Thiên Trường (Sơn Nam) gồm (Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên ngày nay), quản lĩnh 11 phủ, 42 huyện;
  3. Quốc Oai (Sơn Tây) gồm Hà Tây, Sơn Tây, Vĩnh Phúc ngày nay), quản lĩnh 6 phủ, 24 huyện;
  4. Bắc Giang (Kinh Bắc) gồm (Bắc Giang, Bắc Ninh ngày nay), quản lĩnh 4 phủ, 19 huyện;
  5. An Bang là (Quảng Ninh ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 3 huyện, 4 châu;
  6. Tuyên Quang gồm (Tuyên Quang, Hà Giang ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 2 huyện, 5 châu;
  7. Hưng Hóa gồm (Phú Thọ, Yên Bái ngày nay), quản lĩnh 3 phủ, 4 huyện, 17 châu;
  8. Lạng Sơn gồm (Lạng Sơn ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 7 châu;
  9. Thái Nguyên (Ninh Sóc) gồm (Thái Nguyên, Bắc Kạn và Cao Bằng ngày nay), quản lĩnh 3 phủ, 8 huyện, 7 châu;
  10. Thanh Hóa gồm (Thanh Hóa, Ninh Bình ngày nay), quản lĩnh 4 phủ, 16 huyện, 4 châu;
  11. Nghệ An gồm (Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay), quản lĩnh 8 phủ, 18 huyện, 2 châu;
  12. Thuận Hóa gồm (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế ngày nay), quản lĩnh 2 phủ, 7 huyện, 4 châu;
  13. Quảng Nam gồm (Bình Định, Quảng NgãiQuảng Nam ngày nay)

Tháng 6 âm lịch năm 1467, vua Lê Thánh Tông dụ các thừa tuyên xem xét, tìm hiểu địa thế núi, sông và các sự tích trong địa phương mình, để vẽ địa đồ nơi đó, rồi trình lên cho Bộ Hộ tổng hợp thành bản đồ hoàn chỉnh của Đại Việt.[38] Ngày 4 tháng 4 âm lịch năm 1490, bộ bản đồ Đại Việt được hoàn tất, gọi là bản đồ Hồng Đức. Bản đồ ghi nhận nước Việt có 13 thừa tuyên, 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường, 6851 xã, 322 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguồn, 30 trường.[39]

Tháng 9 âm lịch năm 1471, Lê Thánh Tông đặt chức Giám sát ngự sử 13 đạo để giám sát công việc của quan lại các đạo, ngăn không cho họ nhũng lạm.[1][40]

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thánh Tông cũng ban bố rất nhiều chính sách nhằm củng cố, mở rộng sức mạnh quân đội Đại Việt. Ngay sau khi lên ngôi, vào tháng 7 âm lịch năm 1460, ông đã chỉ thị cho các tổng quản, chỉ huy các vệ quân năm đạo và quân các phủ, trấn:[14]

Khoảng năm 1465-1470, Lê Thánh Tông ban hành chính sách tuyển quân: cứ 3 năm một lần làm lại hộ khẩu gọi là "tiểu điển", 6 năm một lần gọi là "đại điển. Cứ 6 năm 1 lần, các xã trưởng mang sổ hộ khẩu của mình tới Thăng Long chiếu vào viết lại trong chính thư của triều đình về số dân hiện tại trong xã.[41][42] Cũng định kỳ 6 năm một lần, triều đình cử một số nội thần và quan văn, võ) về địa phương dựng lập trường tuyển, sau đó duyệt tân binh. Trừ các hàng chức sắc, quan lại, các dân đinh từ 18 tuổi trở lên đều phải đăng ký vào hộ tịch và được chia làm các bậc: tráng hạng, quân hạng, dân hạng, lão hạng, cố hạng, cùng hạng. Khi cần điều động, sẽ đưa tráng đinh làm lính, dâng tráng sung vào hạng quân ở nhà làm ruộng. Khi nào thải người già yếu, thì chiếu theo thứ tự lấy bổ sung vào. Lệ tuyển dân đinh vào làm lính như sau: nhà có 3 dân đinh thì 1 người vào hạng lính tráng, 1 người vào hạng quân, 1 người vào hạng dân; nhà có bốn người thì bổ 2 người hạng dân; nhà từ 5 đinh trở lên thì 2 người bổ hạng lính, 1 người bổ hạng quân ứng vụ.[42]

Trước đây Lê Thái Tổ đã chia quân đội (ngoài cấm quân) làm năm vệ quân: Bắc đạo, Nam đạo, Đông đạo, Tây đạo và Hải Tây đạo, trấn giữ năm đạo hành chính trong nước. Sang thời Thánh Tông, năm 1466 nhà vua đổi vệ quân năm đạo thành quân năm phủ, bao gồm: Bắc quân phủ đóng ở mạn Kinh Bắc, Lạng Sơn; Trung quân phủ cai quản vùng Thanh Hóa-Nghệ An; Đông quân phủ cai quản vùng Hải Dương, Yên Bang; Tây quân phủ cai quản vùng Tam Giang, Hưng Hóa; Nam quân phủ cai quản các vùng Sơn Nam, Thuận Hóa, Quảng Nam. Riêng mạn Thái Nguyên, Tuyên Quang có quân Phụng trực trấn thủ. Mỗi quân có phủ đô đốc chỉ huy; chức quan cao nhất trong phủ này là Tả Hữu Đô đốc. Biên chế mỗi quân có 6 vệ, mỗi vệ có 5-6 sở, mỗi sở có 20 đội, mỗi đội gồm 20 người. Sử gia Trần Trọng Kim ước tính cả năm phủ đô đốc cộng lại là 6-7 vạn quân.[43][44] Cùng năm 1466, Lê Thánh Tông lần lượt đổi tên các chức chánh ngũ trưởng, phó ngũ trưởng, đội sử thành tổng kỳ, tiểu tổng kỳ, quân lại.[43]

Đối với cấm quân, năm 1470, Lê Thánh Tông lập các vệ quân Kim ngô, Cẩm y. Vệ Kim ngô được hợp thành từ 2 ty Tráng sĩ, Thần tý; vệ Cẩm y được hợp thành từ 2 ty Binh mã, Nghi vệ. Nhà vua còn lập thêm bốn vệ Hiệu lực, bốn vệ Thần vũ (đều được chia làm tiền, hậu, tả, hữu), 6 vệ Điện tiền (gồm vệ quân Vũ lâm, Tuyên trung, Thiên uy, Thủy quân, Thần sách, Ứng thiên), 4 vệ Tuần tượng cùng 4 vệ Mã nhàn. Năm 1490, Lê Thánh Tông mở rộng biên chế các vệ Kim ngô, Cẩm y, Thần vũ, Điện tiền; từ đây vệ Cẩm y có tới 20 ty, vệ Kim ngô có tới 100 ty.[43]

Sử gia Phan Huy Chú đã nhận xét về cách tổ chức quân đội thời Lê Thánh Tông:[43]

Cuối năm 1465, Lê Thánh Tông đặt ra phép tập trận đồ quân thủy bộ. Đối với thủy quân, ông ban các trận đồ: Trung hư, Thường sơn xà, Mãn thiên tinh, Nhạn hàng, Liên châu, Ngư đội, Tam tài, Thất môn, Yển nguyệt, cùng 32 điều quân lệnh về thủy trận. Bộ quân thì có các trận đồ: Trương cơ, Tương kích, Cơ binh, và 32 điều quân lệnh về tượng trận, 27 điều quân lệnh về mã trận, 42 điều về bộ trận dành cho quân Kinh vệ (về sau, tháng 3 âm lịch năm 1484, ông còn ban bố điều lệnh Hồng Đức quân vụ, gồm 27 điều)[34].[45][46] Mùa xuân năm 1467, Thánh Tông đi tuần nhiều nơi, tổ chức nhiều đợt diễn tập lớn cho quân đội: ngày 20 thủy quân tập trận đồ Trung hư trên sông Lỗ, ngày 23 tập trận đồ Tam tài, Nhất môn trên sông Vĩ, ngày 26 lại tập trận đồ Ngư đội, Nhạn hàng trên sông An Cha, tập trận đồ Thường sơn trên ngã ba sông Bạch Hạc. Kỷ luật tập trận rất nghiêm ngặt: trong cuộc diễn tập trên sông Vĩ ngày 23, Thánh Tông đã bắt trói Tây quân đô đốc Lê Thiệt và thuộc hạ vì bất tuân lệnh vua (về sau được tha).[47]

Lê Thánh Tông còn đặt lệ tổ chức thi võ 3 năm 1 lần ở kinh sư; những người mang tước công, hầu, bá, tử, nam và mọi quan võ trong triều, ngoài địa phương đều phải dự thi. Các quan, tướng thi đạt đều được phong thưởng, người thi không đạt phải bị xử phạt. Thể lệ thi được ghi lại trong Đại Việt Sử ký Toàn thư: "Mỗi người thi bắn cung tên 5 phát, ném thủ tiễn 4 chiếc, đấu mộc 1 tao. Trúng được từ 8 đến 10 là thượng cấp; từ 7 sáu đến 7 là trung cấp, từ 4 đến 5 là hạ cấp; đều được thưởng theo thứ bậc khác nhau. Nếu trúng từ 2 đến 3 thì không được thưởng cũng không bị phạt; trúng từ 1 đến không trúng thì phải phạt tiền cũng theo thứ bậc khác nhau".[44][48]

Theo một số sử gia hiện đại (trong đó có Sun Laichen - người Trung Quốc), thì vũ khí quân sự dưới thời Lê Thánh Tông đã có những tiến bộ vượt bậc, do vốn có các kỹ thuật và sáng chế cùng kĩ năng chế tạo vũ khí cực kì tinh xảo của Đại Việt thời nhà Hồ về vũ khí tầm xa như hỏa thương, hỏa hổ, súng thần công,... hợp với số vũ khí khá tân tiến thu được trước đây trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã tạo nên cho Đại Việt một kho vũ khí đa dạng và hùng mạnh, có thể vượt xa so với vũ khí châu Âu cùng thời về sát thương và chất lượng.[49]

Lê Thánh Tông rất chú ý đến việc tích trữ lương thảo ở các vùng biên cương để sử dụng cho quân lương khi cần thiết. Một nghệ thuật làm lương khô thời Lê Thánh Tông được sử sách ghi lại là một kỹ thuật đặc biệt của Đại Việt, đó là đồ (hấp) thóc chín và sấy khô.[50] Loại lương khô này có thể cất giữ vài năm không bị mất phẩm chất và rất tiện cho việc vận chuyển và sử dụng trong chiến tranh, đặc biệt là dùng cho quân đội viễn chinh.

Dưới thời vua Lê Thánh Tông, nước Đại Việt tương đối yên ổn. Có vài lần ông phải điều binh đánh quân Lan Xang quấy rối phía Tây (1467), quân Sơn Man từ châu Bằng Tường (Đại Minh) quấy nhiễu phía Bắc (1473, 1474), nhưng chỉ khi chinh phục Chiêm Thành (1471) và Bồn Man, Lan Xang (1478-80) mới dùng đến đại quân.[44][51][52] Các chính sách quân sự của Thánh Tông đã góp phần củng cố nền cai trị của triều Lê, và đưa Đại Việt trở thành cường quốc ở bán đảo Trung-Ấn, khiến nhiều nước như Chiêm Thành, Chân Lạp, Lan Xang, Chiang Mai, AyutthayaJava phải thần phục[53].

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thánh Tông còn đặc biệt quan tâm các chính sách nhằm phát triển kinh tế như: sửa đổi luật thuế khóa, điền địa, khuyến khích nông nghiệp, mở đồn điền,kêu gọi người phiêu tán về quê,đặt ra luật quân điền chia đều ruộng đất cho mọi người. Chủ trương trọng nông của Lê Thánh Tông cũng được tỏ rõ qua việc nhà vua tự mình cầu đảo vào những lúc trời không mưa, hạn hán.[31][54]

Lê Thánh Tông đã lập các chức quan Hà đê, Khuyến nông để dễ chăm lo việc nông tang. Ông còn ra lệnh cho Bộ Hộ và các quan địa phương báo cho ông biết nơi nào có đất hoang, rồi ông dụ phủ huyện đôn đốc dân đi khai hoang, mở ruộng.[1]

Những nỗ lực nhằm xây dựng phát triển Đại Việt của Lê Thánh Tông đã được kiểm chứng qua các bài chiếu, chỉ dụ do ông trực tiếp chấp bút và ban bố, như Chiếu khuyến nông, Chiếu định quan chế, v.v... Ngoài ra, năm 1481, Lê Thánh Tông cho lập 42 sở đồn điền trong cả nước, chia thành 3 bậc thượng, trung, hạ, nhằm "dùng hết tiềm lực của nghề nông, mở rộng nguồn trích trữ cho nhà nước".[1][34]

Các ngành nghề thủ công nghiệp và xây dựng dưới thời trị vì của Lê Thánh Tông cũng phát triển rực rỡ. Nghề in và làm giấy ở Đại Việt đạt một trình độ cao của thế giới thời bấy giờ. Số lượng sách in thời này khá đồ sộ. Đặc biệt nhất thời kỳ này là thành tựu trong công nghệ chế tạo vũ khí và đồ sắt chiếm ưu thế. Đồ gốm, sứ thời Lê sơ phát triển đạt được độ tinh xảo và hoa văn đẹp. Việc giao thương buôn bán đã chắp cánh cho đồ gốm thời này đi xa và hiện nay bộ sư tập về đồ gốm Lê sơ cũng rất phong phú.

Thương mại và giao dịch buôn bán với các lân bang phát triển mạnh, cùng với bước chân viễn chinh xa xôi của đội quân đế chế Đại Việt. Để tạo thuận tiên cho việc mua bán Lê Thánh Tông đã từng khuyến dụ các quan rằng:

Có thể dưới thời Lê Thánh Tông, phiên chợ được mở mang nhiều.

Chính nhờ sự quan tâm đến việc phát triển thương nghiệp nên nền nông nghiệp đã phát triển mạnh mẽ. Các nghề thủ công như: Dệt lụa, ươm tơ, dệt vải, nghề mộc, nghề chạm, nghề đúc đồng cũng phát triển. Kinh đô Thăng Long 36 phố phường sầm uất, nhộn nhịp tồn tại phát triển đến tận ngày nay. Phường Yên Thái làm giấy, Phường Nghi Tàm dệt vải lụa, Phường Hà Tân nung vôi, Phường Hàng Đào nhuộm điều, Phường Ngũ Xá đúc đồng, Phường gạch và gốm sứ Bát Tràng và nhiều phường khác nữa, v.v...

Nhờ những cải cách tích cực này mà nền kinh tế Đại Việt nhanh chóng dược phục hồi và phát triển.

Luật pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Luật Hồng Đức

Bộ Quốc triều hình luật của nhà Hậu Lê đã được hoàn thiện trong thời Lê Thánh Tông[55], nên còn được gọi là Luật Hồng Đức. Với bộ luật này, Đại Việt đã hình thành một nhà nước pháp quyền sơ khởi và thuộc loại sớm trên thế giới.

Lê Thánh Tông đã lấy những quan điểm của Nho giáo làm hệ tư tưởng, chỉ đạo việc biên soạn, ban hành luật pháp, nhằm thể chế hoá một nhà nước phong kiến Đại Việt, với truyền thống nhân nghĩa, lấy dân làm gốc.

Bộ luật Hồng Đức được lưu lại đến ngày nay bao gồm 13 chương với 700 điều, nội dung cơ bản của bộ luật như sau:

  • Giữ cho đất nước luôn ở thế chủ động đối phó với sự xâm lược từ bên ngoài;
  • Giữ nghiêm kỷ cương, phép nước;
  • Chấn hưng nông nghiệp, coi nông nghiệp là nền tảng của sự ổn định kinh tế xã hội;
  • Mở rộng giao lưu khuyến khích thủ công nghiệp, thương nghiệp lành mạnh;
  • Bảo vệ quyền sở hữu tài sản của muôn dân, chống tham nhũng triệt để, chống sự lạm quyền và ức hiếp dân chúng.
  • Khuyến khích nuôi dưỡng thuần phong mỹ tục và phát triển kinh tế
  • Bênh vực và bảo vệ quyền lợi phụ nữ (khác với luật pháp Trung Hoa đương thời, luật Hồng Đức cho phép phụ nữ thừa kế có quyền thừa kế, và ly hôn.)[31]
  • Bảo vệ quyền lợi của vua và quan lại, bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị địa chủ phong kiến

Lê Thánh Tông là người thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật đã ban hành. Một lần, ông đã thu lại quyền chỉ huy của tổng quân đô đốc Lê Thiệt vì con trai Lê Thiệt là Bá Đạt phóng ngựa trên đường phố giữa ban ngày và dung túng gia nô đánh người.[56] Lê Thánh Tông thường bảo với các quan rằng:

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thánh Tông đã lập nhà Tế sinh để chữa bệnh giúp dân. Ông còn quy định, ở địa phương nào có dịch bệnh xảy ra, các quan nơi này được phép trích tiền thuế để mua thuốc trị bệnh cho dân.[1][57]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng với việc xây dựng thiết chế mới, Lê Thánh Tông rất chú trọng việc mở mang giáo dục, bồi dưỡng nhân tài. Triều đình thời ông có Hàn lâm viện, Đông các viện, Quốc sử viện, Quốc Tử Giám, nhà Thái học là những cơ quan chuyên phụ trách văn hóa-giáo dục trong nước.[44][58]

Tháng 3 âm lịch năm 1467, vua Thánh Tông thấy học sinh Quốc Tử Giám đa số học Kinh Thi, Kinh Thư, ít chịu học Kinh Lễ, Kinh DịchXuân Thu, nên ông đặt chức Ngũ kinh bác sĩ, mỗi người hiểu biết chuyên về một kinh để giảng dạy ở Quốc Tử Giám.[47] Ngoài ra, ông còn đặt chức Giáo tập bác sĩ ở các vệ quân, và chức Huấn đạo chuyên dạy Nho học ở các phủ.[28][59][60]

Tháng 10 âm lịch năm 1484, Lê Thánh Tông cho sửa sang, mở rộng Văn Miếu-Quốc Tử Giám; chi tiết được ghi lại trong Đại Việt Sử ký Toàn thư: "[Vua] làm điện Đại Thành ở Văn Miếu cùng nhà đông vu, tây vu, điện Canh phục, kho chứa ván in và đồ tế lễ, nhà Minh luân, giảng đường đông tây, nhà bia đông tây, phòng học của sinh viên ba xá, và các cửa, xung quanh xây tường bao".[34] Ông còn ra lệnh cho các phủ hàng năm phải làm lễ tế ở Văn miếu của địa phương mình vào các ngày thượng tuần tháng 2, tháng 8 (âm lịch).[61]

Khoa cử[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 âm lịch năm 1462, ông đặt lệ bảo kết thi Hương, quy định rằng: Người muốn dự thi, dù là bình dân hay quân lính, đều phải đi khai tên và căn cước ở đạo của mình trong thượng tuần tháng 8 (âm lịch) năm 1462. Sau đó, quan coi đạo sẽ cùng xã trưởng làm giấy cam kết về đạo đức của người ứng thí, ai được cam kết là có đức độ, trong sạch thì mới được vào thi. Những người "bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, loạn luân, điêu toa" thì học rộng, giỏi văn chương đến mấy cũng không được đi thi. Đối với người làm nghề xướng ca, người từng tham gia, thông đồng với các nhóm phản loạn và ngoại bang thì bản thân họ và con cháu đều bị cấm thi. Ai được dự thi thì phải nộp giấy thông thân cước, ghi chính xác nơi ở (phủ, huyện, xã), tuổi tác, lý lịch của cha mẹ và của bản thân, tên quyển kinh mà mình chuyên học. Thể lệ thi Hương gồm các bước:[62][63]

  • Thoạt tiên, cho làm một bài ám tả để loại bớt người ít năng lực; người vượt qua bước này tiếp tục phải thi 4 kỳ:
  • Kỳ thứ nhất, làm 5 bài về Tứ thư và kinh nghĩa
  • Kỳ thứ hai, làm bài chiếu, chế, biểu, theo lối văn tứ lục cổ thể
  • Kỳ thứ ba, thi thơ phú; thơ dùng Đường luật; phú dùng các thể Cổ thể, Ly tao, Văn tuyển; bài thi phải hơn 300 chữ
  • Ký thứ tư, làm 1 bài văn sách, nói về kinh, sử hoặc thế sự; bài thi phải không quá 1000 chữ

Sau khoa thi này, các thí sinh thi đỗ phải được lập thành danh sách, đệ trình cho Bộ Lễ, đến trung tuần tháng 1 năm tới sẽ cho thi Hội.[62][63]

Theo sử gia Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục, người nào đỗ 3 trong 4 kỳ thi Hương thì gọi là Sinh đồ, đến khoa thi Hương sau phải vào thi lại; còn người đỗ cả bốn kỳ được gọi là Hương cống, được phép vào thi Hội. Riêng người đã làm quan thì có không đỗ Hương cống cũng vẫn được dự thi Hội.[64]

Theo Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, trước thời Lê Thánh Tông, nhà nước chưa quy định cụ thể về thời gian thi Hội, chỉ cho thi Hội khoảng 5-6 năm 1 lần.[63] Đến năm 1463, vua Thánh Tông đặt lệ 3 năm mở 1 khoa thi, chọn các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu thi Hương, các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thi Hội.[62][65] Tháng 2 âm lịch năm này, ông mở khoa thi Hội, có đến hơn 4400 người dự thi, trong đó hơn 40 người trúng tiến sĩ. Ngày 16 tháng 12 âm lịch, nhà vua cho thi Đình để xếp loại các tiến sĩ, ông tự ra đề văn sách hỏi về đạo trị nước của đế vương. Các tiến sĩ từ Lương Thế Vinh trở xuống được đỗ cập đệ và xuất thân theo các thứ bậc khác nhau.[62][66]

Năm 1466, Lê Thánh Tông mở khoa thi Hội thứ hai, đây được xem là khoa đầu tiên làm đúng theo quy chế 3 năm lần thi. Khoa này có 1100 người dự thi, 27 người trúng cách. Ngày 12 tháng 3 âm lịch, nhà vua tổ chức thi Đình. Ông đích thân đến cửa điện Kính Thiên, ra đề văn sách về "đế vương trị thiên hạ", lấy đỗ 8 đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (đứng đầu là Dương Châu) và 19 đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (đứng đầu là Nguyễn Nhân Thiếp), không lấy tiến sĩ cập đệ (tam khôi)[65][66]. Cũng từ khoa thi 1466 bắt đầu có lệ: "Ngày 26 làm lễ xướng danh, ban cho ân mệnh. Quan Bộ Lễ rước bảng vàng ra treo ngoài cửa Đông Hoa để tỏ sự vinh quang, lại ban cho áo mũ, yến tiệc. Mồng 3 tháng 3 nhuận, các Tiến sĩ được vinh quy" (trích Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Bính Tuất niên hiệu Quang Thuận thứ 7 - 1466).[45][67]

Theo Lê Quý Đôn, thời Quang Thuận đã đặt thể lệ: người đậu cả bốn kỳ thi Hội thì được phong Tiến sĩ, người chỉ đậu 3 kỳ thì được nhận các chức thuộc lại, tá nhị, giáo chức ở các nha môn, người thi không đậu thì cho làm tăng quảng sinh ở Quốc Tử Giám. Các tiến sĩ sẽ được bổ vào các chức quan chính chức ở huyện, chỉ khi thiếu tiến sĩ thì mới dùng đến người đậu 3 kỳ thi. Đến năm Hồng Đức, Thánh Tông còn ban lệ cho phép con cháu quan lại thi Hội chỉ đỗ 1-3 kỳ được học Quốc Tử Giám. Họ được chia làm 3 hạng giám sinh: thượng xá sinh, trung xá sinh, hạ xá sinh, mỗi hạng 100 người. Thượng xá sinh gồm những người đã đỗ 3 kỳ thi Hội, mỗi tháng nhận 1 quan tiền do triều đình chu cấp; trung xá sinh gồm những người đỗ 2 kỳ, được chu cấp 9 quan tiền mỗi tháng; hạ xá sinh gồm những người đỗ 1 kỳ, nhận 9 tiền mỗi tháng. Học xong họ sẽ nhận làm các chức như tri huyện, giáo thụ, bạn độc, trưởng sử. Lê Quý Đôn nhận định: "Đấy là đãi ngộ nhà gia thế hơn nhà bạch đinh, có ý nghĩa đời cổ cho việc bồi dưỡng và tiến thân tất phải ở nhà quốc học".[64]

Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, năm 1472, Lê Thánh Tông đặt lại các bước thi Hội như sau:[61][66]

  • Kỳ thứ nhất: cho 8 đề về Tứ thư (4 đề Luận ngữ, 4 đề Mạnh Tử), thí sinh được chọn làm 4 trong 8 đề. Về Ngũ kinh, mỗi kinh 3 đề cho thí sinh chọn làm 1 đề; riêng kinh Xuân Thu có 2 đề nhưng phải gộp vào thành 1 bài văn
  • Kỳ 2: thi chế, chiếu, biểu, mỗi thể loại có 3 đề
  • Kỳ 3: thi thơ phú, mỗi thể 2 đề. Phú sử dụng thể Lý Bạch.
  • Kỳ 4: ra bài văn sách, hỏi những điểm khác nhau giữa Ngũ Kinh và Tứ Thư cùng chính sự xấu, tốt của các vua trước.

Cũng trong khoa thi năm này, ông bắt đầu phân loại rõ địa vị của các tiến sĩ: với hạng Đệ nhất giáp, người đầu bảng (trạng nguyên) được phong hàm chánh lục phẩm, 8 tư; người đứng thứ hai (bảng nhãn) được phong tòng lục phẩm, 7 tư; người đứng thứ ba (thám hoa) được phong chánh thất phẩm, 6 tư. Cả ba người đều mang danh hiệu Tiến sĩ cập đệ. Người đỗ hạng Đệ nhị giáp được phong tòng thất phẩm, 5 tư, gọi là Tiến sĩ xuất thân; hạng Đệ tam giáp được phong chánh bát phẩm, 4 tư, gọi là Đồng tiến sĩ xuất thân. Các tiến sĩ nếu nhận chức trong Hàn Lâm Viện thì được thăng lên 1 cấp, còn nếu làm Tri huyện hoặc Giám sát ngự sử thì không đổi phẩm hàm.[61][68]

Theo mô tả trong Kiến văn tiểu lục, các khoa thi năm 1466, 1469, chỉ lấy tiến sĩ xuất thân, không lấy tiến sĩ cập đệ. Đến khoa thi năm 1472 mới có đủ 3 tiến sĩ cập đệ và các tiến sĩ xuất thân mang thứ bậc khác nhau. Việc này trở thành lệ cho đến thời Lê Cung Hoàng.[65]

Tháng 8 âm lịch năm 1484, Lê Thánh Tông sai Thượng thư Bộ Lễ Quách Đình Bảo khởi công dựng bia Tiến sĩVăn Miếu-Quốc Tử Giám ghi lại họ tên, thứ bậc của những người đỗ tiến sĩ trong các khoa thi 1442 (thời Lê Thái Tông), 1448 (thời Lê Nhân Tông), 1463, 1466, 1472, 1475, 1478, 1481, 1484 (thời Thánh Tông).[69] Các đời vua sau này tiếp tục bổ sung thêm các tấm bia vinh danh mới.

Trước năm 1486, quan viên tại chức mà chưa thi Hương đều được dự thi Hội. Đến tháng 6 âm lịch năm này, vua Thánh Tông nghe theo lời tâu của Hàn lâm viện thị thư Lương Thế Vinh, nên ra lệnh: viên quan nào chưa đỗ thi Hương mà muốn thi Hội, nếu là quan Kinh sư thì phải thi ở phủ Phụng Thiên, nếu là quan địa phương thì phải thi ở ty Thừa ở thừa tuyên của mình. Thể lệ thi tương tự như thi Hương; ai đỗ kỳ thi này thì mới được quyền thi Hội.[70]

Theo thông lệ, thi Đình được dùng để phân loại những người đỗ thi Hội, nên không đánh trượt người nào. Tuy nhiên, trong khoa thi năm 1496, vua Thánh Tông triệu các sĩ tử vào sân điện Kim Loan để ông đích thân xem mặt, rồi đánh trượt 11 người.[71][72]

Tổng cộng từ năm 1463 đến 1496, Lê Thánh Tông đã mở 12 khoa thi lớn, lấy đỗ tổng cộng 9 trạng nguyên và 501 tiến sĩ.[31] Sử gia Phan Huy Chú trong sách Lịch triều hiến chương loại chí (phần "Khoa mục chí") nhận định về chính sách khoa bảng của ông:[66]

Ngoài việc tổ chức các khoa thi lớn, Thánh Tông cũng đặt lệ: trước mỗi kỳ kiểm tra dân đinh, hai ty Thừa, Hiến của các thừa tuyên phải tổ chức thi khảo học trò, ai thi đỗ thì khỏi đi lính. Nhà vua rất nghiêm khắc trong việc bài trừ gian lận thi cử: năm 1485, thấy năm trước có hàng vạn học trò thi đỗ, ông nghĩ là có gian lận, nên ra lệnh bắt số người này thi lại. Ông còn quy định rõ rằng "đến khi phúc hạch lại, nếu còn có người nào khổng làm được bài để quyển giấy trắng, hoặc người nào làm bài không thành văn lý, thì viên quan đề điệu và giám thí niêm phong quyển lại tâu hặc về triều đình. Nếu xét thấy xứ nào có từ một người đến bốn, năm người phạm trường quy như thế, thì viên quan thừa chính và hiến sát xứ ấy sẽ phải luận vào tội biếm chức hoặc bãi chức, còn bản thân người phạm tội trường quy ấy sẽ phải tội đồ".[64][70]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bức đại tự "Minh đỉnh danh lam" - bút tích của Lê Thánh Tông tại động sáng ở chùa Bái Đính tỉnh Ninh Bình

Chính sách văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thánh Tông trị vì Đại Việt 38 năm và dưới thời ông nho học trở nên chiếm ưu thế, ông đã cho ra lệnh soạn nhiều tác phẩm có giá trị văn hóa xã hội. Các bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám được bắt đầu dựng vào thời đại của ông không chỉ có ý nghĩa về lĩnh vực giáo dục, mà chúng thực sự là các công trình văn hóa nghệ thuật đặc sắc, lưu lại tới ngày nay trở thành di sản văn hóa thế giới[73].

Việc biên soạn Lịch sử được Lê Thánh Tông ý thức hơn hết, với tư cách là những công cụ để nối liền đạo thống; khôi phục xây dựng kho tư liệu sử liệu dân tộc sau giai đoạn bị triệt tiêu văn hóa, sách vở thời thuộc Minh. Tháng 1 âm lịch năm 1479, vua Lê Thánh Tông đã ra chỉ dụ lệnh cho Sử quan tu soạn Ngô Sĩ Liên biên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư, gồm 15 quyển. Nhà vua cũng đã nhiều lần ra chiếu sưu tầm tư liệu, sách vở và dã sử trong dân gian.

Vào năm 1483, Lê Thánh Tông chủ biên bộ sách Thiên Nam dư hạ tập (天南餘暇集) sai các văn thần như Đỗ Nhuận, Nguyễn Trực biên soạn. Sách được biên soạn theo loại sách hội yếu, thông điển, gồm 100 quyển ghi chép đầy đủ các chế độ, luật lệ, văn thư, điển lệ, các giấy tờ văn thư hành chính (như chiếu, dụ, cáo, sắc...). Hiện nay, bộ sách thất lạc gần hết, chỉ còn lại 10 tập chép tay viết về các mảng quan chế, điều luật, bản đồ, sớ văn; Thơ, văn, điển lệ, điều luật, chinh chiến, quan chức, thiên văn, địa lý, lịch sử… của nhà Lê, từ Lê Thánh Tông trở về trước. Cụ thể như sau:

1. Điều luật và Quan chế.
2. Bình thi văn.
3. Liệt truyện, Tạp thức.
4. Khảo sử.
5. Thi tập; Đối liên.
6. Phú tập.
7. Thi tiền tập; Chinh tây kỉ hành; Minh lương cẩm tú và Quỳnh uyển cửu ca.
8. Chinh Chiêm Thành sự vụ; Chinh Tây kỉ hành.
9. Điển lệ; Phú tập.
10. Thiên hạ bản đồ; Quan chế.

Sáng tác văn thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thánh Tông là một nhà thơ và phê bình văn học, vừa sáng tác văn thơ, vừa nghiên cứu, phê bình. Ông đã sáng lập ra Hội Tao đàn, xưng làm Tao đàn nguyên soái, xướng họa thơ ca cùng Đông các đại học sĩ Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận và nhiều quần thần khác, tổng cộng 28 người.[44][74] Hội Tao đàn ra đời đánh dấu bước phát triển cao về văn chương đương thời.Thơ văn của ông chứa đựng tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sâu sắc. Ông sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị như: Quỳnh uyển cửu ca, Châu cơ thắng thưởng, Chinh tây kỉ hành, Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ xúy, Cổ tâm bách vịnh...tất cả khoảng trên 300 bài (bằng chữ Hán), Hồng Đức quốc âm thi tập (bằng chữ Nôm).

Những trước tác của Hội Tao đàn được ghi chép bằng chữ Hán trong bộ sách:

Số lượng tác phẩm thi văn của Lê Thánh Tông thực tế có thể còn nhiều hơn, nhưng còn lại đến nay chỉ có khoảng 350 bài[77].

Ngoài thơ chữ Hán, Lê Thánh Tông còn có khá nhiều thơ Nôm, tập trung chủ yếu trong Hồng Đức quốc âm thi tập (洪 德國音詩集). Hiện vẫn chưa có con số thống kê chính xác các bài thơ Nôm của ông. Nhưng bài văn Nôm Thập giới cô hồn quốc ngữ văn (十戒孤魂國語文) có thể coi là bài văn biền ngẫu có giá trị bậc nhất của thế kỷ XV.

Trong đó, không chỉ ghi chép thơ văn, mà còn ghi chép về lý luận phê bình văn học, về lịch sử, kinh tế, quan chế, địa lý v.v...

Lê Thánh Tông là người dẫn đầu phong trào mới này, cả về nghệ thuật thể hiện, cả về tư tưởng triết học. Thánh Tông di thảo là dấu mốc quan trọng ghi nhận bước trưởng thành của truyện ký Đại Việt viết bằng chữ Hán, ra đời trước cả tập "Truyền kỳ mạn lục" của Nguyễn Dữ (thế kỷ 16).

Lê Thánh Tông khuyến khích các quan lại và tự mình tích cực sử dụng chữ Nôm như một sự tự tôn và tự cường. Trong một bài thơ Nôm, Lê Thánh Tông tự trình bày mình:

Trống dời canh còn đọc sách
Chiêng xế bóng chửa thôi chầu.

Minh oan Nguyễn Trãi[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Trãi, một văn thần làm việc cho Lê Thái Tổ trong khởi nghĩa Lam Sơn, đã bị tru di tam tộc cùn gia đình năm 1442 trong vụ án Lệ Chi Viên. Sau vụ án này, vua Lê Nhân Tông (1443-1459) đã khẳng định lại công lao sự nghiệp của Nguyễn Trãi: Nguyễn Trãi là người trung thành giúp đức Thái Tổ dẹp yên giặc loạn, giúp đức Thái Tông sửa sang thái bình. Văn chương và đức nghiệp của Nguyễn Trãi, các danh tướng của bản triều không ai sánh bằng[78]. Nhưng Lê Nhân Tông vẫn chưa minh oan cho Nguyễn Trãi.

Năm 1464, Lê Thánh Tông đã chính thức minh oan cho Nguyễn Trãi. Ông ca ngợi Nguyễn Trãi là Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo, truy tặng tước Tán Trù Bá, ban cho con là Anh Vũ chức huyện quan. Năm 1467, Lê Thánh Tông ra lệnh sưu tầm di cảo thơ văn Nguyễn Trãi. Việc làm này có thể đã góp phần bảo tồn một phần quan trọng các di sản văn hóa mà Nguyễn Trãi đã để lại.

Lê Thánh Tông như đã tạc bia cho Nguyễn Trãi bằng câu thơ:

Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo

Tạm dịch:

Tâm hồn Ức Trai sáng tựa sao Khuê
hay là: Văn chương Ức Trai lòng soi sáng

Nhiều người hiểu sai khi dịch nghĩa "Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo" là "Lòng Ức Trai sáng tựa sao khuê", dịch chính xác phải là "văn chương Ức Trai lòng soi sáng", với ý ca ngợi văn chương chứ không phải nhân cách Nguyễn Trãi[79].

Phong tục, tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới thời Hậu Lê nói chung, và trong thời vua Lê Thánh Tông nói riêng, Phật giáo, Đạo giáo bị đẩy lui xuống sinh hoạt ở các làng xã, trong khi đó, Nho giáo lại được coi trọng và lên ngôi, đặc biệt là khu vực triều đình và giới Nho học. Đó là đặc điểm chính của thời kỳ này. Mặt khác do trước đó chịu sự tận diệt của nhà Minh nên nhiều chùa chiền, cung điện và các Phật tử phát triển rực rỡ ở các triều đại nhà Lý, nhà Trần đã bị xóa bỏ. Bên cạnh đó, Lê Thánh Tông cũng đánh giá cao đạo Phật và trong bộ "Hồng Đức quốc âm thi tập" của ông có nhiều bài vịnh như Chùa Trấn Quốc (chữ Nôm) và chữ Thơ khắc ở cột chùa Tu Mộng (Tu Mộng Tự Trụ Khắc, chữ Hán) ca ngợi vai trò của Phật giáo đối với việc giữ gìn đế đô, xây dựng đất nước. Ngoài ra, trạng nguyên Lương Thế Vinh – một trong những danh thần thời Lê Thánh Tông – cũng là một người theo Phật giáo.[80][81]

Theo sử gia Trần Trọng Kim, thời bấy giờ, trong nhân gian tồn tại nhiều hủ tục "trái với lẽ thường", như khi có tang thì soạn tiệc ăn uống, hò hát, chơi bời, đối với việc hôn nhân thì nhà trai làm lễ đính hôn rồi phải chờ 3-4 năm nữa mới được đón dâu về. Vua Thánh Tông đã xuống chiếu cấm những nhà có tang tổ chức tiệc tùng, hát xướng, cấm người dân hội họp chè chén vào những ngày không phải lễ giỗ, lễ tế, cưới hỏi, đám tang, ân mệnh, ăn mừng,... và quy định việc cưới hỏi phải được tiến hành theo nghi thức: "Khi lấy vợ, trước hết phải nhờ mối lái đi lại bàn định, rồi sau mới định lễ cầu thân; lễ cầu thân xong, rồi mới bàn việc dẫn cưới; dẫn cưới xong, rồi mới chọn ngày lễ đón dâu. Ngày hôm sau, [con dâu] chào cha mẹ chồng, ngày thứ ba đến làm lễ ở nhà thờ, phải theo đúng trình tự các nghi thức tiết văn đã ban xuống mà thi hành, không được như trước, nhà trai đã dẫn lễ cưới rồi còn để qua 3,4 năm sau mới cho đón dâu" (chỉ dụ ban hành ngày 23 tháng 12 âm lịch năm 1478). Ông còn ban bố 24 điều giáo huấn cho người dân sống có văn minh, cư xử với nhau hợp đạo lý.[1][34]

Mở rộng Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Nam tiến[sửa | sửa mã nguồn]

Tiến trình Nam tiến của Đại Việt

Sau thắng lợi của chiến dịch phạt Chiêm (1446), nhà Lê phế truất vua Chiêm Bí Cai, lập Ma Ha Quý Lai làm vua chư hầu của Đại Việt. Năm 1449, Quý Lai bị em là Quý Do soán ngôi. Sau đó Quý Do lại bị Bàn La Trà Duyệt, người ở Thị Nại giết và đoạt ngôi. Trà Duyệt chết, truyền ngôi cho em là Trà Toàn (Pau Kubah). Đại Việt Sử ký Toàn thư mô tả: "Trà Toàn là đứa hung bạo làm càn, dối thần ngược dân, người Chiêm mưu phản, Toàn cũng không nghĩ chi đến, lại còn ngạo mạn kiêu căng, không sửa lễ tiến cống, lăng nhục sứ thần của triều đình, quấy nhiễu dân biên giới".[82]

Năm 1469, quân Chiêm Thành vượt biển sang đánh phá châu Hóa.[83] Năm 1470, Trà Toàn sai sứ thần sang cầu viện nhà Minh, thân hành đem 10 vạn quân thủy, bộ cùng voi ngựa đến đánh úp Hóa Châu. Tướng trấn thủ Hóa ChâuPhạm Văn Hiển cự địch không lại, phải đóng cửa thành chống giữ, cho người phi ngựa đem văn thư cáo cấp về kinh đô Thăng Long. Vua Thánh Tông lập tức ra lệnh bổ sung quân lính, trung thu lương thực, dụ Thừa tuyên sứ phủ Thiên Trường: "Dẹp loạn thì trước hết phải dùng võ, quân mạnh vốn là ở đủ lương ăn. Lệnh tới nơi, bọn ngươi phải trưng thu ở các hạng quân sắc, lại viên, sinh đồ mỗi người 15 ống gạo, hạng hoàng đình và người già mỗi người 12 ống, bắt người bị trưng thu lại phải đồ lên thành gạo chín, không được để chậm ngày giờ, đem nộp lên sứ ty. Quan hạt đó đựng làm nhà kho, kiểm nghiệm thu vào rồi làm bản tâu lên. Kẻ nào trốn chạy thì xử tội chém đầu".[84]

Tháng 10 năm 1470, Lê Thánh Tông sai Nguyễn Đình MỹQuách Đình Bảo đem việc Chiêm Thành đánh úp biên giới sang thông báo với nhà Minh.[44]

Lê Thánh Tông quyết định đem 26 vạn quân chinh phạt Chiêm Thành. Ông soạn chiếu thư đánh Chiêm để kể tội Trà Toàn, công bố cho dân chúng trong nước biết một cách công khai và rõ ràng về lý do xuất quân. Ngày 6 tháng 11 âm lịch (28 tháng 11 dương lịch) năm 1470, ông lệnh cho thái sư Đinh Liệt, thái bảo Lê Niệm đem 10 vạn quân xuất phát đi trước. 10 ngày sau nhà vua thân hành đốc xuất 15 vạn thủy quân xuôi vào đất Chiêm Thành. Giữa tháng 12 âm lịch năm 1470, đại quân vào bản thổ Chiêm Thành. Lê Thánh Tông sai người vẽ lại bản đồ nước Chiêm, và dặn quân binh phải tập luyện khẩn trương hơn nữa. Ông còn biên soạn sách Bình Chiêm Sách, viết về 10 lẽ tất thắng và 3 việc đáng lo, sau đó sai Chỉ huy Nguyễn Thế Mỹ dịch ra chữ Nôm, rồi ban phát cho tướng sĩ.[84]

Ngày 5 tháng 2 âm lịch năm 1471, Trà Toàn sai Thi Nại cùng 6 viên tướng mang 5.000 quân và voi chiến áp sát ngự doanh. Hôm sau Thánh Tông sai Tả du kích tướng quân Lê Hi Cát, Hoàng Nhân Thiêm và Tiền phong tướng quân Lê Thế, Trịnh Văn Sái đem hơn 500 chiếc thuyền và 30.000 lính vượt biển, lẻn vào cửa biển Sa Kỳ lập dinh lũy, hầu chặn đường về của quân Chiêm. Ông còn bí mật sai viên tướng giữ quân bộ là Nguyễn Đức Trung đem quân lẻn đi vào chân núi mai phục.[84]

Ngày 7 tháng 2 âm lịch, Lê Thánh Tông thân đem hơn 1000 chiếc thuyền và hàng trăm ngàn quân ra hai cửa biển Tân Áp và Cựu Tọa dựng cờ thiên tử vừa đánh trống vừa hò reo tiến thẳng về đằng trước mặt. Quân Chiêm vỡ trận, phải cắm đầu chạy về Đồ Bàn. Đến núi Mạc Nô, quân Chiêm bị cánh quân của Lê Hi Cát đón đánh. Người Chiêm lại bị đánh tan, phải chạy rẽ ngang trèo qua chân núi cao, xác người, ngựa và đồ quân bỏ lại đầy núi đầy đường. Các tướng Lê Niệm và Ngô Hồng tung quân ra đánh, chém chết một đại tướng và thu nhiều chiến lợi phẩm.[84]

Sau những thắng lợi bước đầu, Lê Thánh Tông thúc quân truy kích, tiêu diệt thêm hàng trăm quân Chiêm. Đến ngày 28 tháng 2 âm lịch, quân Đại Việt tiến sát và bao vây kinh thành Đồ Bàn.[84] Ngày 1 tháng 3 âm lịch, Đồ Bàn thất thủ. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, hơn 30.000 người Chiêm bị bắt, 40.000 lính Chiêm Thành đã tử trận. Cánh quân Thuận Hóa bắt được Trà Toàn dâng lên vua Thánh Tông. Ngày 2 tháng 3 âm lịch Thánh Tông truyền cho đại quân về nước, dẫn theo Trà Toàn và nhiều thê thiếp.[85][86]. Tháng 4 âm lịch, khi đại quân về tới Nghệ An, Trà Toàn sinh bệnh chết.[87]

Sau khi Đồ Bàn bị hạ, bộ tướng của Trà Toàn là Bô Trì Trì chạy về đất Phan Lung, chiếm giữ 1/5 lãnh thổ Chiêm Thành, rồi cử sứ sang cống và xin thần phục Đại Việt.[85] Theo Việt Nam Sử Lược, vua Thánh Tông có ý muốn làm cho Chiêm Thành yếu đi, mới chia đất Chiêm ra làm 3 nước, phong 3 vua: 1 nước gọi Chiêm Thành, 1 nước nữa là Hóa Anh và 1 nước nữa là Nam Phan.[88] Lãnh thổ miền bắc Chiêm Thành (từ đèo Hải Vân tới bắc Phú Yên ngày nay) được sáp nhập vào Đại Việt, lập thành thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa. Lê Thánh Tông thực hiện chính sách bình định và Việt hóa dân chúng người Chiêm Thành

Sau khi Trà Toàn bị bắt, em là Trà Toại trốn vào núi, sai người sang cầu cứu nhà Minh và xin phong vương. Tháng 11 âm lịch năm 1471, Lê Thánh Tông sai Lê Niệm đem 3 vạn quân vào đánh, Trà Toại bị bắt giải về kinh. Về sau, vua nhà Minh sai sứ sang bảo Lê Thánh Tông phải trả đất cho Chiêm Thành, nhưng ông nhất quyết không chịu.[44][61]

Tây tiến[sửa | sửa mã nguồn]

Ở phía Tây, quan hệ Đại Việt-Lan Xang đã căng thẳng từ đầu triều Lê. Khi Lê Thái Tổ dấy nghĩa ở Lam Sơn, Lan Xang đã đưa 3 vạn quân và 100 thớt voi sang phối hợp với quân Minh đánh úp. Năm 1441, Lan Xang lại giúp thổ tù châu Thuận Mỗi là Nghiễm nổi dậy chống Lê Thái Tông.[89] Đến đời Lê Thánh Tông, tháng 2 âm lịch năm 1467, quân Lan Xang sang quấy nhiễu biên giới, chiếm động Cự Lộng. Lê Thánh Tông sai Hành tổng binh Khuất Đả mang hơn 1.000 quân, cùng Đồng tổng binh Nguyễn Động và Tán lý quân vụ Nghiêm Nhân Thọ họp với quân đồn trú trấn Gia Hưng lên đánh, đuổi được quân Lan Xang, bắt tướng Lan Xang là Đạo Đồng đem về kinh sư. Vua Thánh Tông định giết Đạo Đồng, nhưng thái sư Đinh Liệt can gián, Thánh Tông bèn sai giam Đạo Đồng vô ngục. Đại Việt Sử ký Toàn thư ghi nhận: "Trong chiến dịch này, cả đi lẫn về chỉ có 18 ngày, hành quân tới đâu, hàng ngũ nghiêm chỉnh, đến gà chó cũng không bị kinh động".[51]

Tháng 3 âm lịch năm 1467, thổ binh phủ An Tây do Hiệu úy Hoàng Liễu chỉ huy lại đánh nhau với Lan Xang ở Khâu Lạo. Quân Lan Xang thiệt hại 3000 người.[90]

Năm 1471, Đại Việt chinh phục Chiêm Thành, thanh thế lừng lẫy, nhiều nước láng giềng phía Tây cử sứ thần đến ra mắt và đưa cống phẩm. Ai Lao cũng sai sứ sang cống, nhưng không lâu sau quan hệ lại căng thẳng. Năm 1478, tù trưởng Bồn Man là Cầm Công làm phản[91], ngầm xin sự trợ giúp của vương quốc Lan Xang[92]. Lan Xang điều binh quấy nhiễu châu Quy Hợp của Đại Việt.[44][93]

Cùng năm 1478, vào tháng 7 Lê Thánh Tông quyết định xuống chiếu đánh dẹp mặt trận phía Tây, liền sai sai các danh tướng chỉ huy 5 đạo quân, huy động quân số lên đến 18 vạn (quân thường trực nhà Lê chỉ có 10 vạn), chia làm 5 đường tiến vào Lan XangBồn Man:[34]

  • Đoan Vũ hầu Trịnh Công Lộ, Đô đốc Lê Vĩnh, Tổng binh Nguyễn Lộng chỉ huy cánh quân chính phía Bắc gồm quân tinh nhuệ của 5 vệ thuộc Đông quân Đô đốc phủ, quân số 2.000 người theo đường phủ An Tây đánh thẳng vào thành Lão Qua (Kinh đô Luang Prabang). Ngoài ra, Trịnh Công Lộ còn được toàn quyền chỉ huy cánh quân của Lê Lộng.
  • Phó tướng Lê Lộng, Tham tướng Đinh Thế Nghiêu theo đường Thuận Mỗi nằm trong tầm điều hành của cánh quân Trịnh Công Lộ, có vai trò yểm trợ cho cánh quân này đánh Lan Xang (Lão Qua), đồng thời đánh chẹn tàn quân.
  • Phó tướng Lê Nhân Hiếu chỉ huy cánh quân phía Bắc theo đường phủ Thanh Đô (Phủ Thọ Xuân, Thanh Hóa), đánh vào chỗ sơ hở của Lan Xang tại Hủa Phăn, đánh Lão Qua và vu hồi vào Bồn Man.
  • Tướng quân Lê Thọ Vực dẫn cánh quân trung tâm đi theo đường chính phủ Trà Lân (Thừa tuyên Nghệ An), chỉ huy các doanh du kích đánh trực tiếp vào Bồn Man (Xiêng Khoảng), rồi xuyên qua Bồn Man sang Lão Qua. Cánh quân này trực tiếp chịu sai khiến của nhà vua.
  • Tướng quân Lê Đình Ngạn chỉ huy cánh quân phía Nam theo đường phủ Ngọc Ma (Tây nam Nghệ An, khoảng Con Cuông, Thanh Chương tỉnh Nghệ An, Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh) ngược lên theo hướng tây bắc đánh Bồn Man rồi Lão Qua.

Cuộc chiến diễn ra ác liệt tại các mặt trận, quân Đại Việt thế mạnh hơn đã tiến sâu đánh lui, tiêu diệt; bắt sống nhiều cánh quân tướng lĩnh của Lan Xang. Buộc triều đình, hoàng tộc của vua Xaiyna Chakhaphat phải bỏ chạy. Quân đội Đại Việt tiến vào kinh thành Luang Prabang, lấy đây làm bàn đạp để tiến sang phía Tây tiếp tục truy kích quân Lan Xang. Quân Đại Việt tiếp tục đuổi quân Lan Xang tới sông Kim Sa giáp với Miến Điện.[94] Quân Đại Việt toàn thắng.[95]

Khi tin thắng trận của cánh quân phía Bắc tới nhà vua đại giá trở về. Tuy nhiên, các cánh quân đánh Bồn Man có lẽ chưa thành công khi thư báo thắng trận của Lê Thọ Vực bị chặn mất.[34] Lê Thánh Tông liền sai hai tướng vận lương Khâm sai Trần Bảo, Phó tướng Nguyễn Cảnh Thanh mang sắc chỉ cho Lê Thọ Vực khi đó đang đóng tại vùng đất chiếm được ở Sa Quan, châu Niệm Tống Trung (ngã ba sông thượng du Lan Xang). Đầu năm 1479, nhà vua về tới Thăng Long, rồi sai Lê Niệm thống suất 30 vạn quân sang tiếp viện cho mặt trận Bồn Man. Quân đội Đại Việt vượt qua được cửa ải, đốt phá các thành trì kháng cự, thiêu hủy kho tàng. Cầm Công bỏ chạy rồi chết. Dân Bồn Man khi đó đa phần bị chết đói, 9 vạn hộ chỉ còn 2.000 người bèn đầu hàng. Nhà vua bèn cho Cầm Đông (họ hàng của Cầm Công) làm Tuyên úy đại sứ để thu phục, đặt lại quan cai trị như trước. Từ đây Bồn Man hoàn toàn thuộc về Đại Việt.[34]

Quan hệ với Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Việt bấy giờ có lệ xưng thần với nhà Minh, nhưng vua Lê Thánh Tông vẫn hết lòng phòng bị mặt bắc. Thỉnh thoảng có những thổ dân sang quấy nhiễu, thì lập tức vua cho quan quân lên dẹp yên và cho sứ sang Trung Quốc để phân giải mọi sự cho minh bạch. Có lần được tin có người nhà Minh đem quân qua địa giới, Thánh Tông liền cho người do thám thực hư.

Việc canh phòng và khuyến khích các quan lại ở biên cương thường cảnh giác với các âm mưu xâm nhập và xử lý kịp thời các sự việc lãnh thổ với bên ngoài ở thời ông là rất chặt chẽ và cẩn thận. Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư còn nhắc đến việc Lê Thánh Tông ra sắc chỉ cấm người vùng biên giới giao thiệp với người nước ngoài,[96] và cấm cấm gia nô người Ngô (số người nhà Minh tự nguyện xin được ở lại sau khi bị bắt làm tù binh trong cuộc khởi nghĩa của Lê Thái Tổ trước đây) của quân, dân được phép giao thiệp với sứ Minh (tháng 2 âm lịch năm 1462, vua Minh sai Hành nhân ty hành nhân Lưu Trật sang tế Lê Nhân Tông, Thánh Tông truyền lệnh cho bá quan văn võ: "Các nhà quân, dân ở các lộ, huyện, phủ Trung Đô, nhà nào có nô tỳ là người Ngô, không được cho ra ngoài thông đồng với sứ nhà Minh").[62]

Lời của vua Lê Thánh Tông từng nói với các quan coi biên giới năm 1473 đã được ghi rõ trong Đại Việt sử ký toàn thư:

"Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước núi, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di!"

Ông thường bảo với triều thần:

Thời bấy giờ Đại Việt thực lực hùng mạnh, nên nhà Minh dù có dòm ngó cũng không dám làm gì. Khi Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành (1471) và Lan Xang (1478-80), Minh Hiến Tông đều gửi thư trách Lê Thánh Tông "hiếp kẻ yếu, gây hấn lớn", nhưng sau cùng, nhà Minh vẫn phải lấy lễ nghĩa mà đãi Đại Việt, quan hệ giữa hai nước vẫn được hoà bình.[44][95][97]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sử gia Vũ Quỳnh, năm 1497, Lê Thánh Tông lâm bệnh phù thũng. Quý phi Nguyễn Hằng, con gái của đại thần Nguyễn Đức Trung, vốn bị thất sủng xa lánh lâu ngày, lấy cớ vào thăm bệnh rồi ngầm bôi thuốc vào tay, xoa lên những chỗ loét của ông. Do vậy bệnh Thánh Tông càng nặng thêm; đến ngày 30 tháng 1 âm lịch (3 tháng 3 dương lịch) năm 1497, ông qua đờiđiện Bảo Quang, hưởng thọ 56 tuổi. Tương truyền, ngày hôm ấy, ấn thần và gươm thần đều biến mất.[34]

Thái tử Lê Tranh lên ngôi Hoàng đế, sử gọi là Lê Hiến Tông.

Ngày 28 tháng 3 âm lịch năm 1497, Hiến Tông cho an táng vua cha ở Chiêu Lăng (昭陵). Triều đình dâng miếu hiệuThánh Tông (聖宗). Thụy hiệuSùng Thiên Quảng Vận Cao Minh Quang Chính Chí Đức Đại Công Thánh Văn Thần Vũ Đạt Hiếu Thuần Hoàng Đế (崇天廣運高明光正至德 大功聖文神武達孝淳皇帝), đời sau gọi là Thánh Tông Thuần hoàng đế (聖宗淳皇帝), hay Lê Thuần Hoàng (黎淳皇), Lê Thuần Hoàng Đế (黎淳皇帝), Lê Thuần Đế (黎淳帝), Thuần Hoàng (淳皇), Thuần Đế (淳帝).

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư có chép lại bình luận của một số sử thần về Lê Thánh Tông, đa phần nhận xét rất tích cực:

Sử gia thời Pháp thuộc Trần Trọng Kim cũng đánh giá trong cuốn Việt Nam sử lược rằng:

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu phi[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Huy Gia hoàng hậu Nguyễn thị (徽嘉皇后阮氏; 1441 - 1505), hay Trường Lạc hoàng hậu, húy là Hằng (晅), nguyên sơ phong là Quý phi, mẹ ruột của Lê Hiến Tông. Bà chưởng quản hậu cung, đứng đầu chúng phi tần của Thánh Tông.
  2. Nhu Huy hoàng hậu Phùng thị (柔徽皇后馮氏; 1444 - 1489), húy là Diệm Quý (琰貴), trước có tên là Thục Giang (淑江), nguyên là Chiêu nghi của Thánh Tông, sinh ra Kiến vương Lê Tân. Con cháu là Lê Tương Dực truy tôn làm Hoàng hậu.
  3. Minh phi Phạm thị (明妃范氏; 1448 - 1498), con gái của đô đốc Phạm Văn Liêu. Sinh ra Ý Đức công chúa Lê Oánh Ngọc, Lan Minh công chúa Lê Lan Khuê và Tống vương Lê Tung.
  4. Kính phi Nguyễn thị (敬妃阮氏; 1444 - 1485), người thuộc huyện Lôi Dương, Thanh Hoá. Cha bà là Đô đốc thiêm sự Đề đốc vệ Thần Vũ Nguyễn Đức Nghị (阮德毅). Bà mồ côi cha từ nhỏ, được Thái bảo Giản Cung hầu Lê Hưu (黎休) nhận làm con. Bà sinh ra Thụy Hoa công chúa Lê Minh Kính và 1 công chúa chết yểu, về sau được nhận Quảng vương Lê Táo làm con thờ tự.
  5. Quý phi Nguyễn thị (貴妃阮氏), người xã Hòa Thược, huyện Kim Trà. Xuất thân bình dân, khi Thánh Tông hoàng đế đi đánh Chiêm Thành đã ghé qua vùng này, thấy bà có nhan sắc mà nạp về cung. Bà sinh ra Triệu vương Lê Thoan.
  6. Tu dung Nguyễn thị (修容阮氏), người xã Bối Khê, huyện Thanh Oai, con gái Quan trung thư lệnh Nguyễn Trực. Năm 1472, tuyển vào cung, được đổi tên là Cẩn Kính. Tháng 8 năm 1491, thăng làm Dung hoa. Năm 1492, thăng làm Tiệp dư. Năm 1495, ban cho làm Tu dung. Bà không có con trai, vua cho lấy công chúa thứ 16 (không rõ tên) làm con nối.
  7. Tài nhân Nguyễn thị (才人阮氏; 1444 - 1479), người làng Thiên Mỗ, huyện Từ Liêm. Cha là Thái trung đại phu thượng thư tự khanh Hộ bộ tả thị lang Nguyễn Đình Hy (阮廷禧), mẹ là Chu phu nhân. Bà sinh ra Phúc vương Lê Tranh.
  8. Tu nghi Phạm thị, mẹ sinh của Gia Thục công chúa Lê Thanh Toại, mất ngay sau khi hạ sinh con gái.
  9. Tuyên vinh Hà thị, huý là , mẹ sinh của Đường vương Lê Cảo.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng tử[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Lê Tranh (黎鏳), tức Hiến Tông Duệ hoàng đế (憲宗睿皇帝), mẹ là Huy Gia hoàng hậu.
  2. Lương vương Lê Thuyên (梁王黎銓).
  3. Tống vương Lê Tung (宋王黎鏦), sinh năm 1466, mẹ là Phạm Minh phi[101].
  4. Đường vương Lê Cảo (唐王黎鎬; 1466 - 1493), mẹ là Hà Tuyên vinh.
  5. Lê Tân (黎鑌), tức Đức Tông Kiến hoàng đế (德宗建皇帝), mẹ là Nhu Huy hoàng hậu.
  6. Phúc vương Lê Tranh (福王黎錚), mẹ là Nguyễn Tài nhân.
  7. Diễn vương Lê Thông (演王黎鏓).
  8. Quảng vương Lê Táo (廣王黎鐰), mẹ không rõ, được Nguyễn Kính phi nhận nuôi[102].
  9. Lâm vương Lê Tương (臨王黎鏘).
  10. Ứng vương Lê Chiêu (應王黎昭).
  11. Nghĩa vương Lê Cảnh (義王黎耿).
  12. Trấn vương Lê Kinh (鎮王黎鋞).
  13. Triệu vương Lê Thoan (肇王黎鋑), mẹ là Nguyễn Quý phi.
  14. Kinh vương Lê Kiện (荆王黎鍵), mẹ là ái thiếp của Thánh Tông nên ông cũng được vua cha yêu quý, sau này loạn Uy Mục Đế, không rõ tung tích[103].

Công chúa[sửa | sửa mã nguồn]

Thánh Tông còn có 20 công chúa. Một số hoàng nữ chưa kịp thụ phong thì sớm qua đời[104].

  1. Gia Thục công chúa Lê Thanh Toại (嘉淑公主黎清鐩; 1461 - 1474), trưởng nữ của Thánh Tông, mẹ là Phạm Tu nghi. Công chúa vừa lọt lòng thì mẹ mất, được bà nội là Quang Thục Thái hậu nuôi dưỡng. Năm Hồng Đức thứ 5 (1474), hạ giá lấy con trai của Thái Bảo Kiến Dương hầu Lê Cảnh Huy, tên là Tòng, sinh được 1 trai 1 gái nhưng đều mất sớm. Chúa là người phụ nữ nết na hiền hậu, tuy là con hoàng đế nhưng vẫn giữ đạo làm vợ, lại hay giúp người khó, không ai chê vào đâu được. Chúa mất khi còn khá trẻ, phụ nữ trong cung ai cũng than khóc tiếc thương, có kẻ khóc tru kêu trời[105].
  2. Ý Đức công chúa Lê Oánh Ngọc (懿德公主黎瑩鈺), hoàng nữ thứ 2, sinh năm 1463, mẹ là Phạm Minh phi[101].
  3. Thụy Hoa công chúa Lê Minh Kính (瑞華公主黎明鏡), hoàng nữ thứ 3, mẹ là Nguyễn Kính phi[102].
  4. Chiêu Huy công chúa Lê Triệt San (昭徽公主黎徹鏟), hoàng nữ thứ 4.
  5. Thiều Dương công chúa Lê Bính Hiểu (韶陽公主黎炳䥵), hoàng nữ thứ 5.
  6. Cảnh Bình công chúa Lê Bảo Huyền (景平公主黎寶鉉).
  7. Quỳnh Phương công chúa Lê Lệ Khanh (瓊芳公主黎麗鏗).
  8. Xuân Minh công chúa Lê Lan Đường (春明公主黎蘭鏜).
  9. Thọ Mai công chúa Lê Cẩm Thương (壽梅公主黎錦鏘).
  10. Cẩm Vinh công chúa Lê Mỹ Thuần (錦榮公主黎美錞), hoàng nữ thứ 12.
  11. 7 hoàng nữ Hoằng, Trừng, Miên, Châu, Tuỵ, Tinh và Uyển còn nhỏ, chưa kịp sắc phong thì Thánh Tông qua đời[104].

Tên đường[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Nội, có một con đường mang tên ông và được ghi đúng. Trong khi đó, ở Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, Cần ThơThành phố Hồ Chí Minh lại viết là Lê Thánh Tôn.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, trang 99
  2. ^ a ă Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ thực lục: Quyển XII, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1993, trang 429
  3. ^ Minh thực lục - Quan hệ Trung quốc - Việt Nam thé̂ kỷ XIV-XVII, Nhà xuất bản Hà Nội, 2010, các trang 82, 95.
  4. ^ a ă Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 154, 155
  5. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 429
  6. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 429
  7. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 428,429
  8. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Nhà xuất bản giáo dục, 1998, trang 467
  9. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 428,429
  10. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 432
  11. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 428,429,430
  12. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 428,429,430
  13. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 428,429,430
  14. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 431
  15. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Nhà xuất bản giáo dục, 1998, trang 468
  16. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, 1998, Nhà xuất bản Giáo dục, trang 470
  17. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, 1993, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, trang 432
  18. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, 1998, Nhà xuất bản Giáo dục, trang 475
  19. ^ Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, trang 98
  20. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, trang 464
  21. ^ a ă â Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, trang 480
  22. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 435
  23. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 439
  24. ^ a ă Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 441
  25. ^ a ă â K. W. Taylor (2013), A History of the Vietnamese, các trang 213-215.
  26. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 444
  27. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, các trang 486-487.
  28. ^ a ă â b c d Phan Huy Chú, Viện sử học - Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, các trang 537-538.
  29. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 538
  30. ^ Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, trang 291
  31. ^ a ă â b Ben Kiernan (2017), Viet Nam: A History from Earliest Times to the Present, các trang 205-208.
  32. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 506
  33. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 512
  34. ^ a ă â b c d đ e ê Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Bản Kỷ Thực Lục, Quyển XIII: Thánh Tông Thuần Hoàng Đế (phần hạ)
  35. ^ a ă Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, các 472-473.
  36. ^ a ă â b Phan Huy Chú, Viện sử học - Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, các trang 628-630.
  37. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, các trang 511-514.
  38. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 452
  39. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 509
  40. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 473
  41. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 440
  42. ^ a ă Phan Huy Chú, Viện sử học-Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2, các trang 336-337.
  43. ^ a ă â b Phan Huy Chú, Viện sử học-Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2, các trang 319-320.
  44. ^ a ă â b c d đ e ê Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, trang 101
  45. ^ a ă Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 443
  46. ^ Phan Huy Chú, Viện sử học-Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2, các trang 352-354.
  47. ^ a ă Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, các trang 444-449.
  48. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 486
  49. ^ Lê Quỳnh (2004). “Công nghệ quân sự TQ và Đại Việt”. BBC. Truy cập 20 tháng 6 năm 2017. 
  50. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1993, trang 487
  51. ^ a ă Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, các trang 447-449.
  52. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, các trang 478-480.
  53. ^ Viện Sử học, Lịch sử Việt Nam, tập 3, tr 187
  54. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, 1998, Nhà xuất bản Giáo dục, trang 567
  55. ^ Giáo sư Oliver Oldman, chủ nhiệm khoa Luật Á Đông của Đại học Harvard đánh giá cao Luật Hồng Đức, coi nó là hệ thống luật tiến bộ với nhiều sự tương đương về chức năng so với những quan niệm luật pháp Tây phương cận hiện đại
  56. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, 1993, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, trang 448
  57. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 447
  58. ^ K. W. Taylor (2013), A History of the Vietnamese, trang 213
  59. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 445
  60. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 515
  61. ^ a ă â b Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, các trang 475-477.
  62. ^ a ă â b c Đại Việt Sử ký Toàn thư, 1993, các trang 434-435.
  63. ^ a ă â Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, các trang 474-476.
  64. ^ a ă â Lê Quý Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục, các trang 98-102.
  65. ^ a ă â Lê Quý Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục, các trang 92-94.
  66. ^ a ă â b Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, các trang 15-20.
  67. ^ “Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Bính Tuất niên hiệu Quang Thuận năm thứ 7 (1466)”. Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Truy cập 13 tháng 7 năm 2017. 
  68. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, trang 536
  69. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 499
  70. ^ a ă Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, các trang 558-560.
  71. ^ Lê Quý Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục, trang 103
  72. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, trang 567
  73. ^ First inscription from Macao on Memory of the World Register at MOWCAP 4
  74. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trnag 513
  75. ^ Tập thơ do vua tôi xướng họa nhân dịp hai năm liền được mùa theo chín chủ đề: 1. Phong niên (được mùa), 2. Quân đạo (đạo làm vua), 3. Thần tiết (tiết làm bề tôi), 4. Minh lương (vua sáng tôi hiền), 5. Anh hiền (các bậc anh tài hiền triết), 6. Kỳ khí (khí lạ), 7. Thảo tự (chữ Thảo), 8. Văn nhân, 9. Mai hoa.
  76. ^ Phan Huy Chú. 1961. Lịch triều hiến chương loại chí. Phần Văn tịch chí. (Đào Duy Anh hiệu đính). Nhà xuất bản. Sử học. Hà Nội. tr.76.
  77. ^ Mai Xuân Hải. 2007. Lê Thánh Tông và thơ chữ Hán. trong “Lê Thánh Tông- về tác gia và tác phẩm”. Nhà xuất bản Giáo dục. H. tr.432
  78. ^ Nguyễn Trãi toàn tập, đd, tr. 246
  79. ^ Bùi Duy Tân, sách đã dẫn, tr 96-97
  80. ^ Thích Phước Sơn; Đào Nguyên (2010). “Văn Học Phật giáo Việt Nam đồng hành với 1000 năm Thăng Long Hà Nội”. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nqam. 
  81. ^ Ban Hoằng pháp Trung ương, GHPGVN (2002). “Phật học cơ bản 3”. Nguyệt san Giác Ngộ. 
  82. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 464
  83. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 461
  84. ^ a ă â b c Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, các trang 462-469
  85. ^ a ă Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 470
  86. ^ Ben Kiernan (2017), Viet Nam: A History from Earliest Times to the Present, các trang 211-212.
  87. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 471
  88. ^ Việt Nam Sử Lược, sách đã dẫn, trang 101
  89. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, trang 438
  90. ^ Nhiều tác giả (1993), Đại Việt Sử ký Toàn thư, trang 450
  91. ^ Nguyên một phần đất Bồn Man (vùng thuộc Khăm Muộn, Hà Tĩnh, Quảng Bình ngày nay), thời Lê Thái TôngLê Nhân Tông đã xin nội thuộc, đổi thành châu Quy Hợp thuộc xứ Nghệ An (về sau đến thời nhà Nguyễn, thuộc đạo Hà Tĩnh), nhưng vẫn dưới quyền các tù trưởng họ Cầm. Sau đổi thành phủ Trấn Ninh xứ Nghệ, và đặt quan phủ huyện để trị vì.
  92. ^ Ở vùng Luang Prabang, vương quốc lớn mạnh của người Lào lúc đó
  93. ^ Lão Qua, tức Luang Prabang, là đất Thượng Lào ở về phía Tây Bắc Việt bấy giờ. Còn được gọi là nước Nam Chướng.
  94. ^ Theo địa dư Trung Quốc, sông Kim Sa là khúc trên sông Trường Giang. Sông này chảy qua tỉnh Tây KhươngTứ Xuyên. Đây có lẽ nhà chép sử lẫn với khúc sông Lan Thương trên sông Mê Kông
  95. ^ a ă Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, tr. 102
  96. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, trang 470
  97. ^ Nguyễn Bá Dũng; Hồ Bạch Thảo; Phạm Hoàng Quân (2010), Minh thực lục: Quan hệ Trung Quốc – Việt Nam thế kỷ XIV - XVII, Nhà xuất bản Hà Nội, các trang 84-90.
  98. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư,Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1993, trang 517
  99. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư,Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1993, các trang 518-519.
  100. ^ Đại Việt Sử Ký Toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, trang 591
  101. ^ a ă Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, trang 160
  102. ^ a ă Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, trang 161
  103. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2007, trang 186
  104. ^ a ă Hoàng Việt văn tuyển, tập 2: Thánh Tông Chiêu lăng Bi minh
  105. ^ “Những tư liệu dòng họ Đinh trên đất Thái Bình có liên quan tới việc lên ngôi Vua của Lê Thánh Tông”. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (bản điện tử)
  • Việt Nam Sử Lược (bản điện tử)
  • Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục
  • Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, 2
  • Bùi Duy Tân (1999), Khảo và luận về một số tác gia-tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, tập 1, Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học giáo dục
  • Nhung Tuyết Trần & Anthony Reid (2004). Vietnam: Borderless Histories. University of Wisconsin Press.
  • Kho báu Tiền cổ Đại Việt. Bảo tàng lịch sử Việt Nam Hà Nội, 2006
  • Đào Duy Anh (2007), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
  • Lê Quý Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
  • Viện Sử học (2007) Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
  • Viện Sử học (2007) Lịch sử Việt Nam, tập 4, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
  • Đại Việt mở rộng về phía Tây, Nam trên BBC Vietnamese
  • K. W. Taylor (2013). A History of the Vietnamese. Cambridge University Press. ISBN 0521875862.
  • Ben Kiernan (2017). Viet Nam: A History from Earliest Times to the Present. Oxford University Press. ISBN 0190627298.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]