Lê Nhân Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Lê Bang Cơ)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Nhân Tông
黎仁宗
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Hoàng đế Đại Việt
Trị vì 14421459
Tiền nhiệm Lê Thái Tông
Nhiếp chính Thái hậu Nguyễn Thị Anh
Kế nhiệm Lê Nghi Dân
Thông tin chung
Tên húy Lê Bang Cơ (黎邦基)
Niên hiệu
Thụy hiệu Khâm Văn Nhân Hiếu Tuyên Minh Thông Duệ Tuyên hoàng đế
(欽文仁孝宣明聰睿宣皇帝)
Miếu hiệu Nhân Tông (仁宗)
Triều đại Nhà Lê sơ
Thân phụ Lê Thái Tông
Thân mẫu Nguyễn Thị Anh
Sinh 9 tháng 5, 1441(1441-05-09)[1]
Đông Kinh, Đại Việt
Mất 3 tháng 10, 1459 (18 tuổi)
Đông Kinh, Đại Việt
An táng Mục Lăng (穆陵)

Lê Nhân Tông (chữ Hán: 黎仁宗, 9 tháng 5 năm 14413 tháng 10 năm 1459), là vị hoàng đế thứ ba của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, trị vì trong vòng 17 năm, từ năm 1442 sau khi Lê Thái Tông qua đời đến khi bị Lê Nghi Dân ám sát vào năm 1459.

Lê Nhân Tông lên ngôi lúc mới 1 tuổi, nên trong 10 năm đầu thời ông, mẹ ông là thái hậu Nguyễn Thị Anh nắm quyền trị nước. Nhà vua nhờ sự giúp sức của thái hậu và các công thần đã giữ được sự yên ổn trong nước. Ở phía Nam, năm 1444-45, Chiêm Thành hai lần đưa quân xâm lấn Hoá châu. Năm 1446, triều đình sai Lê Khả, Lê Thụ, Lê Khắc Phục đem đại quân chinh phạt đất Chiêm, đánh bại và bắt vua Chiêm Bí Cai. Nhà Lê còn sáp nhập xứ Bồn Man vào Đại Việt năm 1448.

Năm 1452, Lê Nhân Tông bắt đầu tự coi chính sự. Ông đã truy tặng cho các công thần khai quốc của triều Hậu Lê, ban ruộng đất cho hậu duệ của họ và tăng lương cho quan lại, vương hầu. Năm 1459, anh khác mẹ ông là Lê Nghi Dân làm binh biến giết Nhân Tông và thái hậu. Sử sách mô tả Nhân Tông là vị hoàng đế đức độ, coi trọng Nho học, không đam mê tửu sắc, và biết nghe can gián. Cái chết sớm của ông đã khiến cho quan lại "nuốt hận ngậm đau", và thần dân "như mất cha mất mẹ".[1]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Nhân Tông có tên thật là Lê Bang Cơ (黎邦基), tên dùng trong các văn kiện ngoại giao với nhà Minh là Lê Tuấn (黎濬).[2] Ông sinh vào ngày 9 tháng 5 âm lịch[1] năm 1441, là con trai thứ ba của Lê Thái Tông, mẹ là Tuyên Từ Văn hoàng hậu Nguyễn thị, người làng Bố Vệ huyện Đông Sơn, Thanh Hóa. Theo phỏng đoán của các tác giả thế kỷ 21 là Phạm Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ, Lê Bang Cơ không phải là con đẻ của Thái Tông, do Nguyễn Thị Anh đã mang thai ông với Lê Bang Sơn trước khi vào cung.[3]

Trước khi Bang Cơ ra đời, Lê Thái Tông mới gần 20 tuổi đã có hai người con trai: Dương Chiêu nghi sinh ra Lệ Đức hầu Nghi Dân; Bùi Quý nhân sinh ra Cung vương Lê Khắc Xương. Không lâu sau, vào năm 1442, Ngô Tiệp dư sinh ra Lê Tư Thành, là con trai út trong tổng số 4 người con trai của Lê Thái Tông.

Đầu năm 1441, vua Thái Tông lập Nghi Dân làm thái tử. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, sau việc này Dương Thị Bí càng trở nên kiêu ngạo, hỗn xược. Thái Tông giận, bèn giáng Thị Bí xuống làm Chiêu nghi, và phế ngôi thái tử của Nghi Dân. Ngày 16 tháng 11 âm lịch năm 1441,nhà vua lập Lê Bang Cơ làm Hoàng thái tử, giáng Nghi Dân làm Lạng Sơn vương (諒山王) và phong Khắc Xương làm Tân Bình vương (新平王)[1]. Trong chiếu phong Thái tử có viết:[1]

Năm 1442, Lê Thái Tông đi tuần miền đông, rồi đột ngột qua đời ở vườn Vải, huyện Gia Định. Ngày 12 tháng 8 năm lịch năm 1442, các đại thần Trịnh Khả, Lê Thụ, Nguyễn Xí, Lê Liệt, Lê Bôi lập Lê Bang Cơ (2 tuổi) lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thái Hòa (大和), sử gọi là Lê Nhân Tông.[1] Tháng 6 âm lịch năm 1443, triều đình lấy ngày sinh của Nhân Tông làm Hiến Thiên Thánh Tiết[1].

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Thái hậu nhiếp chính[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc đó ông mới lên 1 tuổi, Thần phi Nguyễn Thị Anh được tôn làm Hoàng thái hậu, buông rèm nghe chính sự. Hoàng thái hậu dùng phép sẵn có từ đời trước, được các huân hựu đại thần phò tá nên trong khoảng hơn 10 năm, nước Đại Việt bình yên. Ngày 2 tháng 2 âm lịch năm 1443, thái hậu thay mặt Nhân Tông ban chiếu:[1]

Tháng 5 âm lịch năm 1444, vua Chiêm Thành là Ma Ha Bí Cai[2] dẫn quân vào đánh Hóa Châu. Triều đình cử Nhập nội kiểm hiệu thái bảo Lê Bôi, Tổng quản Lê Khả mang 10 vạn quân đánh bại Chiêm Thành. Đến tháng 4 âm lịch năm 1445, quân Chiêm đánh vào thành An Dung của Hóa Châu, nhưng cũng bị thua.[4][5] Mùa xuân năm 1446, thái hậu thấy Chiêm Thành nhiều lần "dốc quân cả nước vào cướp", nên sai Lê Khả cùng Bình chương Lê Thụ, Thiếu phó Lê Khắc Phục dẫn 60 vạn quân chinh phạt Chiêm Thành. Đồng thời triều đình cử Đồng tri Thẩm hình viện sự Trình Chân, Chuyển vận sứ huyện Thanh Oai Nguyễn Đình Mỹ sang nước Minh báo việc Chiêm Thành lấn cướp. Trên mặt trận, quân Đại Việt liên tiếp thắng lợi, đánh chiếm quốc đô Đồ Bàn, bắt sống Bí Cai cùng nhiều tướng tá, thủ lĩnh bộ tộc, cung nữ và khí giới đem về Đông Kinh. Cháu gọi Bí Cai bằng cậu là Ma Ha Quý Lai sai các bồi thần Chế Cữu, Ma Thúc và Bà Bị dâng biểu xin thần phục Đại Việt, được lập làm vua mới của Chiêm.[1] Sau này Minh Anh Tông đã hạ chiếu đòi Lê Nhân Tông thả Bí Cai về nước, nhưng nhà Lê phớt lờ.[6]

Tháng 7 âm lịch năm 1448, nước Bồn Man (盆蠻) dâng 2 con voi, xin nội thuộc vào Đại Việt. Thái hậu và Nhân Tông sáp nhập Bồn Man, đổi làm châu Quy Hợp (歸合).[1][7]

Cuối năm 1448, Nhân Tông và thái hậu mở khoa thi Hội tuyển nhân tài làm quan. Khoa này có hơn 750 sĩ tử tham gia, trong đó 27 người được chấm đỗ. Sau đó triều đình tiếp tục cho thi Đình; nhà vua ra điện Tập Hiền, ban đề văn sách hỏi về lễ nhạc, hành chính, cuối cùng chọn được 3 đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ (Nguyễn Nghiêu Tư, Trịnh Thiết TrườngChu Thiêm Uy), 12 đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân và 12 đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.[1][8]

Năm 1449, nhà vua định lại phép thi lại điển. Trước đấy người thi lại điển chỉ cần thi ám tả, viết và toán, ai thi trúng sẽ được tuyển vào các cục. Đến thời Nhân Tông, các đại thần thấy thể lệ này khiến quá nhiều người thi đỗ, nên quy định "cho thi ám tả và nghĩa của bản kinhTứ thư mỗi thứ một bài, cho đề thi trái với những điều đã học"; do vậy, kỳ thi lại điển năm 1449 chỉ có 85 người thi đỗ. Từ đây bắt đầu lệ thi lại điển bằng ám tả và Tứ thư, Ngũ kinh.[1][9]

Tháng 2 âm lịch năm 1449, Nhân Tông và thái hậu sai Tư khấu Lê Khắc Phục đôn đốc cục Bách tác và các quân vệ Thiên Quan, Tứ sương phối hợp với quân dân trấn Thái Nguyên đào sông Bình Lỗ dài 25.000 trượng, trải từ Lãnh Kinh (gần Đáp Cầu, tỉnh Hà Bắc ngày nay) tới cầu Phù Lỗ (nay thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội), mang lại thuận lợi cho việc giao thông vận tải.[7]

Tháng 3 âm lịch năm 1449, vua Chiêm Quý Lai bị em là Quý Do cướp ngôi. Quý Do sai sứ sang triều cống Đại Việt, nhưng vua Nhân Tông từ chối không tiếp nhận lễ vật và phán: "Tôi giết vua, em giết anh là tội đại ác xưa nay, trẫm không nhận đồ dâng". Sau khi buộc sứ phải mang trả lại lễ vật về Chiêm, Nhân Tông truyền lệnh cho Đồng tri hữu tri sự Nguyễn Hữu Quang, Điện trung thị ngự sử Trình Ngự đem thư sang Chiêm Thành, với nội dung như sau: "Sự thực của các ngươi như thế nào thì phải sang trình bày cho rõ"[1][9].

Tháng 7 âm lịch năm 1449, vua Nhân Tông đổi tên, chia lại một số hiệu quân: quân Hỏa đồng được đổi làm quân Thần lôi và Thần điện; quân Thiện trạo đổi làm các quân Hải hồng, Hải mã, Hải kinh, Hải thu; hiệu quân Bát náo đổi làm quân Hải cốt.[1]

Tháng 11 âm lịch năm 1449, triều đình ban hành 14 điều luật về điền sản, đưa vào bộ hình luật.[1]

Ngày 26 tháng 7 âm lịch năm 1451, thái hậu xử tử Thái úy Lê Khả và Tư khấu Lê Khắc Phục, người đương thời cho rằng hai người bị oan.[1][7]

Đích thân chấp chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 âm lịch năm 1453, Hoàng đế lên 12 tuổi, có thể tự coi chính sự, Thái hậu trả lại quyền chính cho Hoàng đế rồi lui về ở cung riêng. Khi tự mình ra coi chính sự, Hoàng đế xuống lệnh đại xá, và đổi niên hiệu là Diên Ninh (延寧). Năm 1454 trở thành năm Diên Ninh thứ nhất.[1]

Năm Quý Hợi (1455), vua Lê Nhân Tông sai Phan Phu Tiên soạn Đại Việt sử ký tục biên, viết tiếp quyển thời Trần từ Trần Thái Tông cho đến khi khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng.[1]

Lê Nhân Tông tỏ ra độ lượng với các công thần khai quốc có tội bị xử tử trước đây, từ thời Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông đến khi Nguyễn Thái hậu chấp chính. Ngay khi ra cầm chính sự, ông ra nhiều chiếu chỉ biểu dương công lao của họ, hoặc trả lại của cải, ruộng đất cho con cháu họ. Ông khôi phục lại quan tước và ban cho con cháu Trịnh Khả (bị xử tử năm 1451) 100 mẫu ruộng; cấp 100 mẫu ruộng cho con cháu Lê SátLê Ngân (bị xử tử năm 1437); trả lại điền sản trước đây cho con cháu Phạm Văn Xảo (bị xử tử năm 1430) và Trần Nguyên Hãn (bị xử tử năm 1429). Ông biểu dương công lao sự nghiệp của Nguyễn Trãi (bị xử tử năm 1442): Nguyễn Trãi là người trung thành giúp đức Thái Tổ dẹp yên giặc loạn, giúp đức Thái Tông sửa sang thái bình. Văn chương và đức nghiệp của Nguyễn Trãi, các danh tướng của bản triều không ai sánh bằng. Tuy nhiên, ông vẫn chưa minh oan cho Nguyễn Trãi, điều mà Lê Thánh Tông đã làm sau này.

Trong các năm 1452, 1458, vua Nhân Tông tổ chức thi Hội, nhưng không thi Đình như ở năm 1448.[1][8]

Ngoài ra, Nhân Tông cũng ban hành nhiều chỉ dụ khuyến khích nông nghiệp, miễn giảm thuế khá, căn dặn các quan trấn, lộ, phủ, huyện phải "phải bảo dân gắng sức làm ruộng, xử án phải cho công bằng, nếu có trộm cướp, phải hết lòng lùng bắt", quan coi lăng tẩm ở Tây Kinh làm mọi việc "phải thành kính, tinh khiết như ngả cây, chặt che, kiếm củi", và cứu giúp những kẻ không vợ, góa chồng, mồ côi, cô đơn và biểu dương những người chồng nghĩa khí, người vợ trinh tiết.[1][10]

Theo phỏng đoán của một số sử gia hiện đại, điều đó liên quan tới nỗi oan khuất của Nguyễn Trãi trong vụ án Lệ Chi Viên mà chính Nguyễn Thái hậu là thủ phạm sát hại Thái Tông để giấu thân thế của ông;[11] lời dị nghị của mọi người ngày càng nhiều khiến ông phần nào nhận ra thân thế của mình.[11] Bản thân Nhân Tông cũng ở vào thế khó xử khi phải phân biệt đúng sai rành mạch.[11]

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khi bị mất ngôi thái tử, Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân vẫn thường có lòng oán hận và muốn đoạt ngôi của Nhân Tông. Các tác giả Phạm Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ phỏng đoán rằng ngày càng có nhiều người dị nghị về nguồn gốc của Nhân Tông[12] nên càng thúc đẩy Nghi Dân nổi loạn.[11] Theo Đại Việt thông sử, Nhân Tông nghĩ Nghi Dân là anh ruột nên không có ý đề phòng gì cả. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư còn chép rằng, ngày 3 tháng 1 âm lịch năm 1456, nhà vua đã mời Nghi Dân cùng ăn yến tiệc.[1]

Ngày 3 tháng 10 năm Kỷ Mão (tức 28 tháng 10 năm 1459), Nghi Dân đang đêm cùng các thủ hạ bắc thang vào tận trong cung cấm giết Nhân Tông. Hôm sau Hoàng thái hậu cũng bị hại. Khi đó ông mới 18 tuổi, trị vì được 17 năm. Theo ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư: ....Bấy giờ, Lê Đắc Ninh là Đô chỉ huy giữ cấm binh đương phiên trực, đã không chịu dẫn quân ra trước ngăn giữ, lại đem giúp kẻ phản nghịch. Cho nên Nghi Dân mới tiếm đoạt được ngôi báu, mà các quan văn võ phải nuốt hận ngậm đau, trăm họ bốn phương như mất cha mất mẹ[1].

Khi biết Nghi Dân sẽ làm đảo chính, Nội nhân thị thái hậu phó chưởng Đào Biểu đã giả mạo làm Lê Nhân Tông, khoác hoàng bào và lên long sàng mà nằm. Không may, Nghi Dân biết được, nên cũng giết Đào Biểu luôn.[13]

Nghi Dân tự xưng làm Hoàng đế, ban chiếu: "Trẫm là con trưởng của Thái Tông Văn Hoàng Đế, trước đây đã được giữ ngôi chính ở Đông cung. Chẳng may Tiên đế đi tuần miền đông, bỗng băng ở bên ngoài. Nguyễn Thái hậu muốn giữ vững quyền vị, ngầm sai nội quan Tạ Thanh dựng Bang Cơ làm đế, bắt Trẫm làm phiên vương. Sau Tạ Thanh tiết lộ việc ấy, lây đến cả Thái úy Trịnh Khả và Tư không Trịnh Khắc Phục, Thái hậu bắt giết cả đi để diệt hết người nói ra. Cho nên từ đó đến giờ, hạn hán sâu bệnh liên tiếp xảy ra, tai dị luôn luôn xuất hiện, đói kém tràn lan, trăm họ cùng khốn. Diên Ninh tự biết mình không phải là con của tiên đế, hơn nữa lòng người ly tán, nên ngày mồng 3, tháng 10 năm nay, đã ra lệnh cho Trẫm lên thay ngôi báu. Trẫm nhờ người trông xuống, tổ tông phù hộ, cùng các vương, đại thần, các quan văn võ trong ngoài đồng lòng suy tôn, xin trẫm nên nối đại thống, hai ba lần khuyên mời, trẫm bất đắc dĩ đã lên ngôi vào ngày mồng 7, tháng 10 năm nay, đổi niên hiệu là Thiên Hưng"[1]. Nghi Dân chỉ ở ngôi được 8 tháng. thì bị các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Nguyễn Đức Trung làm binh biến giết chết. Các đại thần xét trong con của Lê Thái Tông còn lại Gia vương Lê Tư Thành, thông minh, hiền đức, bèn thỉnh ý đưa Gia vương lên ngôi, sử gọi là Lê Thánh Tông.

Lê Thánh Tông lên ngôi đã làm lễ chiêu hồn cho Nhân Tông và an táng cho ông ở Mục Lăng (穆陵), Lam Sơn. Ông được tôn miếu hiệuNhân Tông (仁宗), thụy hiệuKhâm Văn Nhân Hiếu Tuyên Minh Thông Duệ Tuyên hoàng đế (欽文仁孝宣明聰睿宣皇帝). Đời sau gọi là Nhân Tông Tuyên hoàng đế (仁宗宣皇帝).

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà sử học Phan Phu Tiên nhận định về Lê Nhân Tông[1]:

Đại Việt Sử ký Toàn thư có lời đánh giá vua Lê Nhân Tông như sau[1]:

Bài văn bia tại Mục Lăng do Nguyễn Bá Kỷ sau có ghi nhận xét về Lê Nhân Tông như sau:

Tuy nhiên, bài Trung Hưng Ký thời Quang Thuận đã nhận xét tiêu cực về thời Lê Nhân Tông:[1]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Việt Sử ký Toàn thư (bản điện tử)
  • Đại Việt thông sử
  • Phủ biên tạp lục, tác giả: Lê Quý Đôn, người dịch: Ngô Lập Chí, Khoa Xã Hội - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1959.
  • Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục
  • Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim. Quyển I, Phần III, Chương XV.
  • Các triều đại Việt Nam - Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, Nhà xuất bản Thanh niên, 2001
  • Nhìn lại lịch sử - Phạm Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vỹ, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2003
  • Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Văn hóa, 1991.
  • Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 4, Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 11: Nhân Tông Tuyên hoàng đế
  2. ^ a ă Hồ Bạch Thảo, Phạm Hoàng Quân (2010), Minh thực lục quan hệ Trung Quốc-Việt Nam thế kỷ XIV-XVII, tập 3, Nhà xuất bản Hà Nội, trang các 44-48.
  3. ^ Phạm Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ, sách đã dẫn, tr. 1082
  4. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, 1993, trang 407
  5. ^ Phủ biên tạp lục, tác giả: Lê Quý Đôn, người dịch: Ngô Lập Chí, 1959, các trang 9-10.
  6. ^ Minh sử, tác giả: Trương Đình Ngọc, quyển 321 - liệt truyện đệ 209 - ngoại quốc nhị: An Nam
  7. ^ a ă â Việt Nam Sử Lược, Quyển I, Phần III, Chương XV, của Trần Trọng Kim
  8. ^ a ă Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Mậu Thìn niên hiệu Thái Hòa năm thứ 6 (1448)
  9. ^ a ă Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, 1998, tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn, dịch giả: Viện sử học, trang 452
  10. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, 1993, các trang 422-424.
  11. ^ a ă â b Phạm Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ, sách đã dẫn, tr. 1084
  12. ^ Phạm Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ, sách đã dẫn, tr. 1083
  13. ^ Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, trang 118

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]