Quan chế nhà Lê sơ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Quan chế Hậu Lê là hệ thống các định chế cấp bậc phẩm hàm quan lại phong kiến kiểu Trung Hoa, được áp dụng ở Việt Nam dưới thời Lê sơ và một phần dưới thời Lê trung hưng.

Tiêu biểu cho 2 thời kỳ trên của nhà Lê, là 2 kiểu: quan chế đời Hồng Đức (thời Lê sơ), và quan chế đời Bảo Thái (Lê trung hưng).

Lịch sử biến động của quan chế nhà Lê sơ[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Lê Thái Tổ, hệ thống quan chế chưa hoàn thiện. Ông cho chia đất nước ra làm 5 đạo gồm Đông Đạo, Tây Đạo, Nam Đạo, Bắc ĐạoHải Tây Đạo. Mỗi đạo đặt một vệ quân, mỗi Vệ đặt chức Tổng quản.

Bên trong, những quan chức đứng đầu gồm: Tả hữu tướng quốc, Kiểm hiệu bình chương quân quốc trọng sự, Đại tư đồ, Tư không, Đại tư mã, Tư khấu, Thái phó, Thái bảo, Thái úy, Thiếu phó, Thiếu bảo, Thiếu úy, Tả hữu bộc xạ, Hữu bật, Thượng thư lệnh, Đặc tiến khai phủ nghi đồng tam ti[1]. Là những chức hàng đầu, tham dự triều chính, ban cho bề tôi có công.

Ở các nơi lộ, châu, hiểm yếu, có các chức: Lộ đặt Tri phủ, Chưởng ấn, Trấn phủ sứ, An phủ sứ, Tuyên phủ sứ; Huyện đặt Tuần án, Chưởng ấn, Chuyển vận sứ, Chuyển vận phó sứ.

Phẩm trật các chức vụ vốn đã có đầy đủ, nhưng tài liệu đã mất nhiều nên chỉ còn tên gọi các chức và cao thấp cơ bản, không rõ cao thấp cụ thể chi tiết hơn. Đời Thiên Hưng Đế, bắt đầu đặt định đầy đủ Lục bộ, Lục khoa, đặt định các quan ở châu huyện.

Đến đời Lê Thánh Tông, hệ thống quan chế đã đạt tới độ hoàn thiện nhất thời Lê sơ, và đi vào ổn định, các đời sau của thời kỳ Lê sơ đều áp dụng mà ít thay đổi. Cùng với việc cải cách hành chính: chia đất nước thành các thừa tuyên với từng bộ máy hành chính địa phương; hệ thống quan chế thời Lê Thánh Tông còn được sử dụng về cơ bản trong cả các triều đại Việt Nam về sau.

Thời kỳ Lê trung hưng, các hoàng đế nhà Lê chỉ đóng vai trò nghi thức, mọi thực quyền đều tập trung trong tay chúa Trịnh. Phủ chúa Trịnh là nơi điều hành đất nước.

Quan chế Hồng Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Hồng Đức (1471 - 1497), Thánh Tông Thuần hoàng đế đã hoàn chỉnh bộ máy quan lại.

Ban văn gồm các cơ quan: Lục bộ, Lục tự, Lục khoa, Ngự sử đài, Hàn lâm viện, Đông các, Quốc tử giám, Quốc sử viện, Phủ doãn, Cung sư phủ (hầu hạ Đông cung), Tư thiên giám, Thái y viện, Bí thư giám, Trung thư giám, Hoa văn giám.

Ban võ gồm các cơ quan: năm Phủ; hai Vệ; bốn vệ Hiệu lực; bốn vệ Thần võ (tiền, hậu, tả, hữu); sáu vệ Điện tiền; bốn vệ Tuần tượng; bốn vệ Mã nhàn...là những chức Túc vệ, làm việc trong cung, bảo vệ hoàng cung và chăm sóc voi, ngựa. Còn các vệ, sở, đô ty, giang hải tuần kiểm...là những chức bên ngoài.

Văn giai[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chánh nhất phẩm: Thái sư, Thái phó, Thái bảo (tam thái).
  • Tòng nhất phẩm: Thái tử thái sư, Thái tử thái phó, Thái tử thái bảo.
  • Chánh nhị phẩm: Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo.
  • Tòng nhị phẩm: Thượng thư lục bộ, Thái tử thiếu sư, Thái tử thiếu phó, Thái tử thiếu bảo.
  • Tòng tam phẩm: Tả và Hữu Thị lang, Tả và Hữu Tôn chính phủ Tôn nhân (Tôn Nhân Phủ tả hữu tôn chính), Tả và Hữu Xuân phường, Tả và Hữu Dục đức, Thừa tuyên sứ.
  • Chánh tứ phẩm: Hàn lâm viện thừa chỉ, Phó Đô ngự sử, Tả và Hữu Trung Doãn.
  • Tòng tứ phẩm: Đông các đại học sĩ, Quốc tử giám tế tửu, Thông chính sứ, Tham chính.
  • Chánh ngũ phẩm: Hàn lâm viện thị đọc, Thiêm đô ngự sử, Tự khanh lục tự[2], Thiêm sự, Phụng Thiên phủ doãn.
  • Tòng ngũ phẩm: Hàn lâm viện thị giảng, Đông các học sĩ, Quốc tử giám tư nghiệp, Tả và Hữu thuyết thư, Tham nghị.
  • Chánh lục phẩm: Hàn lâm viện thị thư, Đông các hiệu thư, Hiến sát sứ, Lang trung lục bộ, Thiếu khanh lục tự, Phụng Thiên thiếu doãn, Đoán sự các Vệ, Kinh lịch ngũ phủ.
  • Tòng lục phẩm: Hàn lâm viện đãi chế, Bí thư giám điển thư, Tả và Hữu tư giản các vương phủ, Viên ngoại lang lục bộ, Tri phủ.
  • Chánh thất phẩm: Hàn lâm viện hiệu lý, Đề hình giám sát ngự sử, Giám sát ngự sử (13 đạo), Đô cấp sự trung (6 khoa), Tự thừa (lục tự), Phụng Thiên hiệu úy, Hiến sát phó sứ, Trưởng sử các vương phủ.
  • Tòng thất phẩm: Hàn lâm viện kiểm thảo, Thông phán, Bí thư giám điển hàn, Tri huyện, Tri châu.
  • Chánh bát phẩm: Tư Huấn ở Nho Lâm các và Tú Lâm cục; Cấp sự trung (6 khoa), Hàn lâm viện tu soạn, Quốc tử giám giáo thụ.

Võ giai[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tòng nhất phẩm: Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo, Tả và Hữu đô đốc.
  • Chánh nhị phẩm: Thiếu úy, Đô kiểm điểm, Đề đốc, Đô đốc đồng tri.
  • Tòng nhị phẩm: Đô đốc thiêm sự, tả và hữu kiểm điểm, tham đốc.
  • Chánh tam phẩm: Đô chỉ huy sứ, đô tổng binh sứ.
  • Tòng tam phẩm: Đô chỉ huy đồng tri.
  • Chánh tứ phẩm: Đô chỉ huy thiêm sự, chỉ huy sứ, Tổng binh thiêm sự.
  • Tòng tứ phẩm: Chỉ huy sứ đồng tri, Tổng binh đồng tri, Đô tri.
  • Chánh ngũ phẩm: Chỉ huy thiêm sự, Lực sĩ hiệu úy, Phó đô tri, Tổng lĩnh, Quản lĩnh, Thiên hộ.
  • Tòng ngũ phẩm: Phó thiên hộ, Trung úy, Phó quản lĩnh.
  • Chánh lục phẩm: Phó trung úy, Chánh võ úy, Bách hộ, Chánh đề hạt.
  • Tòng lục phẩm: Đề hạt, Hiệu úy các nha, Kinh lược đồng tri, Phòng ngự sứ, Tả và Hữu đề điệm.
  • Chánh thất phẩm: Phó võ úy, Phó đề hạt.
  • Tòng thất phẩm: Vệ úy, Phó vệ úy.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, tập 1, quan chức chí, trang 447-448.
  2. ^ [1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]