Trịnh Cương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
An Đô Vương
Chúa Trịnh (chi tiết...)
Trịnh Cương.png
Chân dung Trịnh Cương trong Trịnh gia chính phả
An Đô vương
Trị vì 1709 - 1729
Tiền nhiệm Trịnh Căn
Thời vua Lê Dụ Tông
Đế Duy Phường
Kế nhiệm Trịnh Giang
Thông tin chung
Thê thiếp Vũ Thị Ngọc Nguyên
Hậu duệ Trịnh Giang
Trịnh Doanh
Tên húy Trịnh Cương
Tước hiệu An Đô Vương (安都王)
Thụy hiệu Nhân Vương (仁王)
Miếu hiệu Hy Tổ (禧祖)
Gia tộc Chúa Trịnh
Thân phụ Trịnh Bính
Thân mẫu Trương Thị Ngọc Chử (mẹ sinh)
Nguyễn Thị Cảo (nhũ mẫu, mẹ nuôi)
Sinh 1686
Mất 1729
Việt Nam

An Đô Vương Trịnh Cương (chữ Hán: 鄭棡, 16861729), thụy hiệuHy Tổ Nhân vương (禧祖仁王), là vị chúa Trịnh thứ 6 thời Lê Trung Hưng, cầm quyền từ tháng 5 năm 1709 đến tháng 10 năm 1729. Ông là chúa Trịnh duy nhất có cuộc đời và sự nghiệp trong thời thái bình thịnh trị không hề có nạn binh đao.

Trịnh Cương với địa vị chắt nội lên kế nhiệm ngôi chúa từ Trịnh Căn bởi cha và ông của ông đều sớm qua đời. Trong thời gian cai trị, Trịnh Cương có đề ra một số chính sách cai trị mới nhằm ổn định tình hình chính trị xã hội ở Đàng Ngoài, thời đại của ông có thể nói là tương đối ổn định trong khoảng 200 năm cai trị của các chúa Trịnh. Tuy nhiên ông ham thích tuần du, đề ra các công trình xây dựng tốn kém để phục vụ nhu cầu cá nhân, khiến nhân dân đói khổ, mầm mống suy vong của họ Trịnh cũng xuất hiện kể từ đó. Sau khi ông qua đời, Dụ Tổ Thuận vương Trịnh Giang nối ngôi, họ Trịnh chính thức đi vào con đường suy vong.

Thân thế và cuộc sống ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Cương chào đời vào ngày 9 tháng 7 năm 1686 dưới triều vua Lê Hi Tông tại kinh thành Thăng Long. Ông là con trai trưởng của đức Tấn Quang vương Trịnh Bính, cháu chắt trưởng của đức Chiêu Tổ Khang vương Trịnh Căn[1]. Mẫu thân của ông là bà Trương Thị Ngọc Chủ, người huyện Gia Lạc. Thuở nhỏ ông được vợ thứ của đức Chiêu Tổ là Thuận phi Ngô Ngọc Uyên, nguyên quán ở xã Phượng Lịch (huyện Hoằng Hóa).

Năm 1700, Trịnh Cương lên 15 tuổi, được phong làm Phó tướng Phổ An hầu, năm 1702 thăng Đô đốc Phổ quận công[1]. Ngày 13 tháng 2 năm 1703, cha ông là Trịnh Bính, hiện đang giữ quyền thừa kế ngôi chúa, qua đời[2]. Lúc đó chúa tuổi đã cao mà ngôi thừa tự vẫn chưa ổn định, bèn triệu bồi tụng Nguyễn Quý Đức vào hỏi. Quý Đức nói

"Trọng trách trông coi việc nước, vỗ về quân lính, phải thuộc về người chắt trưởng, xin định ngay danh phận, để cắt đứt sự dòm ngó.

Chúa lại hỏi Đặng Đình Tướng, Đình Tướng cũng trả lời y như vậy, lúc đó ý chúa mới quyết. Mùa xuân năm 1703, Trịnh Căn xin với vua Lê Hi Tông phong cho Trịnh Cương làm Khâm sai Tiết chế các xứ thủy bộ mọi dinh kiêm giữ việc nước, hàm Thái úy An quốc công, mở phủ Lý quốc, điều này đồng nghĩa với việc Trịnh Cương sẽ là người kế thừa ngôi chúa[3].

Tháng 4 năm 1704, hai người con của tiết chế quá cố Trịnh BáchTrịnh Luân, Trịnh Phất, câu kết với Đào Quang Giai mưu cướp ngôi. Nhưng có hiệu thảo Nguyễn Công Cơ biết chuyện, tố giác với chúa. Chúa giết Luân và Phất, thăng Nguyễn Công Cơ làm Thị lang[3].

Ngày 17 tháng 6 năm 1709, Trịnh Căn mất, Trịnh Cương lên nối ngôi[1][4][5]. Mùa thu cùng năm, Trịnh Cương giả mệnh nhà vua, tự tiến phong làm Nguyên soái Tổng quốc chính, An Đô vương.

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kì đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1710, Trịnh Cương lại cho ban hành sáu giáo điều để khuyên răn bầy tôi và nhân dân, cho mọi người cùng biết. Khi cai trị, Trịnh Cương tỏ ra siêng năng cần mẫn, thường cùng quan Tham tướng Nguyễn Công Hãng bàn soạn công việc, từ đầu canh năm đến mặt trời lặn mới thôi[6].

Năm 1711, chúa bàn bạc với các quan trong phủ liêu để định lại thể lệ quân cấp ruộng công: 6 năm cấp một lần; châm chước thời hạ cấp để thích hợp với thời tiết làm ruộng của dân; và quy định tùy theo số người trong xã mà chia khẩu phần. Từ quan viên đến người cô quả, phế tật cũng được định lượng mà cấp ruộng. Ruộng công, đất bãi không được phép mua bán[5].

Cũng năm 1711, Trịnh Cương nhân danh vua Lê Dụ Tông, tiến phong ông là Trịnh Vịnh là Lương Mục vương, cha là Trịnh Bính làm Tấn Quang vương, thờ ở cung miếu tổ tiên họ Trịnh[5][6]. Lại vì thể lệ trường thi trước kia, đầu bài được giới hạn sẵn, nên có tình trạng học vẹt rồi chép nguyên văn, do đó người đỗ do thực học bị hạn chế. Nhân khi đó có khoa thi, cháu hạ lệnh cho quan chấm thi tùy ý ra đầu đề, không cần theo nếp cũ, nhờ đó tình hình mới được tạm cải thiện.

Mùa xuân năm 1712, chúa Trịnh ra lệnh cấm đạo Gia Tô, bắt nhưng người theo đạo Gia Tô phải cạo trán và khắc vào mặt 4 chữ: "Học Hà Lan đạo[7]" và thưởng cho những ai bắt được người giáo sĩ đi giảng đạo. Sau đó ông y theo lời bàn của Tham tụng Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Thế Bá, lệnh cho các quan trấn thủ ở biên giới phải đến đóng tại trấn lỵ.

Đầu năm 1713, vì đã lâu không mưa, dân chúng gặp nạn đói to có người phải ăn vỏ cây, rễ, cỏ, chết đói đầy đường, khói bếp tiêu điều lạnh lẽo. Vì thế triều đình hạ lệnh cho quan hoặc dân nộp thóc, tùy theo số lượng ban cho chức tước, lại cân nhắc việc xá thuế cho dân ở tứ trấn và ở Phụng Thiên, Trường Yên[5]. Sau đó lại mưa luôn, nước lụt làm vỡ đê, mùa màng bị thiệt hại nhiều. Trịnh Cương sai các quan cai sổ dân đinh để chiếu bổ lấy tiền sửa đắp đê điều[6].

Mùa thu năm 1714, Trịnh Cương tự tiến phong làm Đại nguyên soái tổng quốc chính, Thượng sư, An vương. Bấy giờ ở các tỉnh phía bắc Đại Việt có nhiều mỏ vàng, mỏ bạc, nhưng quyền lợi từ các mỏ phần lớn rơi vào tay người Tàu. Do đó năm 1717, Trịnh Cương định lệ hạn cho người Tàu sang khai mỏ chỗ đông lắm chỉ được 100 người mà thôi. Thế mà về sau có nơi phu khách đông đến hàng vạn người thường sinh sự đánh nhau, quan quân giẹp mãi mới yên[6].

Tháng 4 ÂL năm 1718, nhà vua sai sứ sang Trung Quốc, báo cáo việc Hy Tông mất và xin phong tước. Khi các viên quan ấy trở về, vua nhà Thanh chuẩn định: Cứ 6 năm hai lễ cống cùng dâng một lúc theo như thể lệ; nhân viên đi sứ, được cử 3 sứ thần và 20 hành nhân. Việc này định làm thể lệ lâu dài. Bấy giờ thượng hoàng mất đã 3 năm, đức vua lên ngôi đã 14 năm mà mới sai sứ sang xin phong, thì đủ biết chính trị lúc bấy giờ ra sao.

Mùa thu cùng năm, Trịnh Cương đặt ra Lục phiên ở phủ Liêu cũng như lục bộ bên nhà vua. Từ đó việc gì cũng ở bên Lục phiên cả, Lục bộ không có quyền gì nữa[5][6]. Lúc ấy người dân nhiều phần uống rượu mà trễ nãi công việc, nên chính quyền hạ lệnh bắt phải hạn chế lại: người nào tự ý tụ hợp uống rượu sẽ bị trị tội, ai tố cáo cũng sẽ có thưởng.

Thời kì giữa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1719, chúa hạ lệnh cho cho các viên phủ, huyện và hai ty Thừa chính, Hiến sát đo đạc ruộng đất trong dân gian, chia bổ ngạch thuế, để tạo sự cân bằng giàu nghèo. Cuối năm đó, sứ nhà Thanh Đặng Đình TriếtThanh Vân đem sắc phong cho nhà vua, bắt phải theo lễ tam quỳ cửu khấu. Trịnh Cương không nghe xin theo lễ nghi nước Việt Nam là tam khấu ngũ vái, sứ Thanh cuối cùng phải nghe theo.

Tháng 5 ÂL năm 1720, Trịnh Cương tự gia phong là Đại nguyên soái, Tổng quốc chính, Thượng sư Thượng phụ, Uy nhân minh công thánh đức An vương, gia phong con con là Trịnh Giang làm vương thế tử, bổ dụng Nguyễn Công Hãng, Lê Anh Tuấn cùng vào phủ giữ chức Tham tụng. Bấy giờ công việc trong triều đa phần đơn giản mà cẩu thả, Công Hãng bàn định nên thay đổi lại, chúa nghe theo[5]. Sách Việt sử Cương mục dẫn lại giai thoại như sau Khi mới tới canh năm, chúa đã triệu Công Hãng, Anh Tuấn vào phủ bàn việc, tự ông ngồi để đợi. Khi bọn Công Hãng vào, chúa nói:

Vừa rồi ta cảnh giác trong giấc ngũ, từ đời xưa có bao giờ như thế không.

Bọn Công Hãng tạ lỗi nói

"Chúa thương lo nghĩ siêng năng mọi việc, tài trí chúng tôi kém cỏi tầm thường không có thể theo kịp được. Đến như việc giục giả răn bảo bầy tôi, cảnh giác trong lúc đêm khuya, thì việc này từ đời trước đến nay chưa bao giờ có".

Cương bèn bảo hai người ngồi, cho uống nước trà, ung dung hỏi han mọi việc, ngày đã muộn hai người mới ra về.

Nguyễn Công Hãng cùng chưởng phủ Trịnh Quán xin Cương khi tiếp kiến bầy tôi nên mặc áo sắc vàng, chúa không theo vì đó là trang phục dành cho hoàng thượng, do đó chỉ dùng áo tía để phân biệt mà thôi[5]. Bấy giờ tệ gian lận trong trường thi chưa dứt, nên hạ lệnh cho bầy tôi có văn học nghĩa soạn đầu bài thi ở trong phủ, rồi cho chạy trạm phân phát cho các trường. Còn hai trường thi Thanh, Nghệ vì địa thế xa, nên vẫn theo chế độ cũ.

Trước can phạm đã phải tội lưu, còn phải chịu thêm tội chặt tay nữa. Vào năm 1721, Trịnh Cương bỏ luật chặt tay và đổi lại: Tội phải chặt hai bàn tay và phải lưu viễn châu thì phải đổi làm tội đồ trung thân; phải chặt một bàn tay và phải lưu ngoại châu thì cải sang 12 năm tội đó; phải chặt hai ngón tay trỏ và phải lưu cận châu thì dổi làm tội đồ 6 năm. Những việc đạo thiết không kể vào các trường hợp ấy. Năm 1723, có một đợt cải cách thuế khóa được diễn ra: thuế thân từ 1-2 quan, người 17 - 19 tuổi và 50 - 60 được giảm một nửa; thuế ruộng mỗi mẫu công điền phải nộp đồng niên 8 tiền; thuế sưu dịch mỗi năm 2 lần, mỗi lần 6 tiền; ngoài ra ông còn đặt ra các thuế mới như thuế thổ sản, thuế muối, thuế tuần ti...[6].

Cuối năm 1721, chúa tuyển binh ở tứ trấn, 5 suất đi lấy 1 người, ở Thanh Nghệ 3 suất đinh lấy 1 người; bọn lính hai xứ Thanh Nghệ coi như là nanh vuốt cật ruột của nhà chúa, được nhiều ưu đãi, dần sinh bụng kiêu căng, không thể nào ngăn cấm được, về sau gây ra nhiều tai họa.

Năm 1722, thổ tù châu Chiêu Tấn nổi dậy cướp phá vùng Lai Châu. Chúa sai Nguyễn Công ChínhBùi Sĩ Tiêm đem quân tiến đánh, giữ đường Công Chính chết, quan quân phải lui về. Ít lâu sau nội bộ của Đèo Mỹ Ngọc xảy ra lục đục, triều đình lại cử Thành Lý đi đánh, Mĩ Ngọc cùng một số thuộc hạ bỏ chạy, vùng bắc được tạm yên[8].

Lúc đó quyền lực của nhiều vương thất họ Trịnh quá lớn, trong đó có Trịnh Quán là thế lực lớn nhất. Trịnh Cương có ý e sợ, nên vừa dỗ dành vừa dọa nạt, ép Trịnh Quán phải bãi bỏ binh quyền. Cũng năm đó, Trịnh Cương đặt ra sáu quân Trung Dực, Trung Oai, Trung Thắng, Trung Khuông, Trung Nhuệ và Trung Tiệp, mỗi doanh 800 người, bổ dụng bọn Gia quận công Đặng Đình Lân và Thiêm quận công Trương Nhưng, cả thảy 6 người chia nhau thống lãnh. Sau đó ông bắt đầu cấp ruộng công cho lính tứ trấn thay vì chỉ cấp cho lính Thanh Nghệ như trước.

Năm 1723, Trịnh Cương chia đất nước thành 13 đạo thừa tuyên như thời Hồng Đức, chỉ có một số ít thay đổi[6][8]. Đầu năm 1724, vì hoàng thượng bị bệnh đau chân nên Trịnh Cương thay quyền làm lễ tế nam giao. Phụ thần xin Trịnh Cương vào tế ở chỗ nhà vua, nhưng ông không dám theo, chỉ đặt vị đứng tế ở sân điện Chiêu Sư, rồi Cương thắp hương lạy thay nhà vua mà thôi. Mùa hạ cùng năm, vì lí do kiện tụng mà thượng thư bộ Hình Trương Công Khải bị giáng làm Tả thị lang bộ Lại, Tả thị lang bộ Lại Hồ Phi Tích giáng chức Hữu thị lang bộ Lễ[8].

Thời kì cuối[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1724, chúa ra lệnh cho nhân dân được phép ca tụng hoặc chê bai việc tốt việc xấu của viên quan giữ việc cai trị dân. Năm 1726, các quan nhà Thanh có ý nghi ngờ ta lấn sang đất Trung Quốc, triều đình gửi thư sang biện hộ. Các quan Hồ Phi TíchVũ Công Tế cùng quan phái ủy nhà Thanh là Phan Doãn Mẫn đi đến nơi khám xét, cuối cùng lập mốc ở núi Xưởng Chi. Như vậy 120 dặm đất hai châu Vị Xuyên và Thủy Vĩ bị thổ ty phủ Khai Hóa chiếm, thì nay nhà Thanh trả 80 dặm, còn 40 dặm nơi có xưởng đồng vẫn phụ thuộc nước Tàu.

Khi đó việc thi cử phần nhiều nhũng lạm, con em nhà quyền thế thi đỗ rất nhiều, nên vào khoa 1726, chúa lệnh các sĩ tử phải thi lại, kết quả đánh hỏng 28 người, trong đó con trai tham tụng Lê Anh Tuấn, con trai Huân quận công Đặng Đình Gián, con nuôi Nội giám thiếu bảo Đỗ Bá Phẩm cùng cống sĩ ở các xứ. Chúa sai tra xét có điều gian dối gì không để trị tội[8].

Bấy giờ con trưởng của Dụ Tông hoàng đế là Duy Tường tuổi đã lớn, ở Đông cung hơn 10 năm, tuy chưa được phong nhưng ai cũng hiểu Duy Tường sẽ là người nối ngôi. Nhưng Trịnh Cương vì lẽ chị họ của mình là Trịnh Thị có con là Duy Phường, nên muốn bỏ người này lập người khác, bèn cùng tham tụng Nguyễn Công Hãng bàn luận về việc phong chức ban tước cho các hoàng thân một cách phân biệt hơn, bèn trao cho Duy Tường tước quận công, hàm chức tứ phẩm, và lập Duy Phường làm thái tử[8].

Cuối năm 1727, Trịnh Cương phong cho Trịnh Giang làm tiết chế, tước Uy quận công, mở phủ Điện quốc. Năm đó Trịnh Giang 17 tuổi, là người được chỉ định thừa kế ngôi chúa. Khi đó chúa tuổi đã cao, ham thích tuần du không kiêng kị gì nữa. Nhiều lần ông sai các hoạn quan sửa các chùa ở vùng núi Độc Tôn và Tây Thiên để phòng bị khi đi du ngoạn. Ông thường tuần du đến Cổ Bi, gần Như Kinh, quê mẹ của mình. Sau đó ông bị bọn thầy phong thủy to nhỏ, nên quyết định xây dựng phủ đệ mới ở đấy, gọi là phủ Kim Thành. Chúa đi tuần du không ngớt, vì thế cho xây dựng nhiều hành cung như thế, bóc lột sức dân thậm tệ, mầm mống diệt vong của họ Trịnh là từ đây.

Lúc bầy giờ mỏ đồng Tụ Long vẫn bị mất vào tay nhà Thanh. Bên Việt nhiều lần xin lập lại giới mốc cho đúng. Vua Thanh sai Ngạc Nhĩ Thái, tổng đốc Vân Quý đến khám xét, Vân Quý tâu rằng nước ta lấn đất Khai Hóa, vua Thanh nghe theo, buộc nước ta giao trả. Hoàng Văn Lâu ở Tuyên Quang không chịu tiếp thư. Vua Thanh được tin, sai sứ sang Đại Việt ban chỉ hiểu dụ. Ngay lúc đó quốc thư bên Việt gửi sang, bày tỏ lòng thành, vua Thanh vui mừng, đồng ý trả lại 40 dặm đất có mỏ đồng. Đó là vào năm 1728. Lúc ấy, biên giới phương bắc cảnh giới nghiêm ngặt, các quan nghi ngờ, nhưng Trịnh Cương cho rằng nhà Thanh chỉ uy hiếp vậy thôi, nên lệnh các quan vùng biên không hành động càn rỡ[9]. Tháng 6 ÂL, sứ Thanh là Dịch Lộc đến, buộc nhà vua hành lễ tam quỳ cửu khấu, triều đình gượng mà làm theo. Chúa sai bọn Nguyễn Huy Nhuận, Nguyễn Công Thái đi lập giới mốc, Công Thái phát giác mưu gian lận của quan nhà Thanh, mới lặn lội tìm ra được đúng sông Đỗ Chú mà lập giới mốc, từ đó việc tranh chấp ở biên cương mới dứt.

Tháng 4 năm 1729, Trịnh Cương ép vua hoàng thượng nhường ngôi cho Lê Duy Phường. Dụ Tông lên làm Thượng hoàng ra ở điện Kiến Thọ[6][9]. Sau việc đó, nước sông lên to, đê Cự Linh bị vỡ[10], nước tràn vào Cổ Bi, nhà cửa bị nước cuốn đi và đổ nát. Chúa sai hoạn quan đốc suất quân và dân sửa chữa đường sá, để phòng bị lúc đi di ngoạn. Nông dân bị thủy tai, cực khổ trăm bề mà còn bị bức ép lao dịch, oán thán không ngớt.

Tháng 9 ÂL, Trịnh Cương sau khi về từ Phật Tích lại đi du ngoạn Như Kinh, giữa đường bệnh chết vào ngày 28 tháng 11, các quan bí mật đưa di hài về kinh mới phát tang. Trịnh Giang lên nối ngôi chúa, tôn Trịnh Cương làm Hy Tổ Nhân vương[6][9].

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Không giống như các chúa Trịnh trước và sau mình, Trịnh Cương sinh ra, trưởng thành cũng như cai trị trong thời hoà bình, tuyệt nhiên không hề có chiến tranh hay bạo loạn dù nhỏ xảy ra trong dân chúng và hàng ngũ tướng sĩ. Ông là vị chúa Đàng Ngoài duy nhất được hưởng điều đó.

Nhưng xét cho kỹ, các dòng họ cầm quyền thường chỉ có vua khai quốc và các thế hệ vua phải trải qua chiến tranh, trau rèn qua gian khổ mới có ý thức giữ gìn xã tắc. Con em các triều đại lớn lên trong cảnh đất nước đã thái bình, no đủ khi được nối ngôi thường sa vào hưởng lạc mà những vua trước đây như Lý Cao Tông, Trần Dụ Tông, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực và chính Trịnh Giang sau này đã mắc phải. Trịnh Cương trái lại đã sớm tỏ ra là người chín chắn, tận tụy khi tiếp quản cơ nghiệp của Trịnh Căn và củng cố thêm nền cai trị ở Bắc Hà. Trưởng thành từ nhung lụa, không được trau rèn qua chiến trận mà vẫn không có biểu hiện xa hoa hưởng thụ, không có thái độ hống hách kiêu căng. Ở điều kiện như Trịnh Cương mà làm được như Trịnh Cương không phải dễ và cũng không có nhiều trong lịch sử Việt Nam[cần dẫn nguồn].

Trịnh Cương mất sớm và đột ngột khiến lịch sử Bắc Hà chuyển sang bước ngoặt mới.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chính phi Vũ Thị Ngọc Nguyên, Tôn phong là Ý công Hậu đức Trang hạnh Đoan Nghi Khuông vận Diễn phúc Quốc Thánh mẫu. Tên thụy là Từ Đức. Con gái Tuệ Trạch Công Vũ Tất Ru
  • Kì viên Đặng thị

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đức Dụ Tổ Thuận vương Trịnh Giang
  • Đức Nghị Tổ Ân vương [[Trịnh Doanh
  • Huy quận công Trịnh Tập
  • Khanh quận công Trịnh Kiều
  • Thọ quận công Trịnh Đang;
  • Phúc quận công Trịnh Quế;
  • Nham quận công

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Việt Nam sử lược
  • Khâm định Việt sử Thông giám cương mục
  • Các triều đại Việt Nam - Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, Nhà xuất bản Thanh niên, 2001

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Trịnh gia chính phả, đời thứ 12.
  2. ^ Trịnh gia chính phả, đời thứ 11
  3. ^ a ă Cương mục, chính biên quyển 34.
  4. ^ Trịnh gia chính phả, đời thứ 9
  5. ^ a ă â b c d đ Cương mục, chính biên quyển 35.
  6. ^ a ă â b c d đ e ê Trịnh gia chính phả, đời Hy Tổ Nhân vương Trịnh Cương.
  7. ^ Vì người Hà Lan sang buôn bán trước nhất ở xứ Bắc Kỳ nên mới gọi là đạo Hòa Lan.
  8. ^ a ă â b c Cương mục, chính biên quyển 36.
  9. ^ a ă â Cương mục, chính biên quyển 37.
  10. ^ Thuộc địa phận xã Cự Linh, huyện Gia Lâm

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]